Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

Bai 5 khai quat ve luat HS TTHS mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (335.8 KB, 24 trang )

Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

Bài 5: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÌNH SỰ,
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
Phần A: Luật Hình sự
I/ Khái niệm Luật Hình sự.
1Định nghĩa: Luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống
pháp luật Việt nam, bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt với các
tội phạm.
2Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự: Là những quan hệ xã hội phát
sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện một hành vi mà nhà
nước qui định là tội phạm.
3Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự: là phương pháp quyền uy.
Trong đó nhà nước có quyền tối cao trong việc định đoạt số phận của người phạm
tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã gây ra. Trách
nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra là trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm
tội, phải do chính người phạm tội trực tiếp gánh chịu, mà không thể “chuyển” hoặc
“ủy thác” cho người khác.
4Bộ luật hình sự – Hình thức pháp luật chủ yếu của ngành luật hình
sự Việt nam.
Bộ luật Hình sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11
năm 2015
Ngoài lời nói đầu, Bộ luật hình sự được cấu tạo gồm 3 phần, 26
chương, 426 điều: phần chung và phần các tội phạm. 2 phần này có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi phần được chia thành các
chương. Mỗi chương được chia thành mục với nhiều điều luật,
phần 3 qui định điều khoản thi hành.
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa


đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hết hiệu lực thi hành
kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành.
II/ Khái niệm tội phạm, phân loại tội phạm.
1-

Khái niệm tội phạm:
1.1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương
mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Trang 1- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

1.2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý
bằng các biện pháp khác.
(điều 8, BLHS)
Từ điều luật trên, ta có thể rút gọn khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là cá
nhân hoặc pháp nhân thương mại có hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui
định trong Bộ luật hình sự, có lỗi, có năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu
hình phạt.
2Những dấu hiệu cơ bản của tội phạm.
2.1 Tính nguy hiểm cho xã hội: Là thuộc tính khách quan, là dấu hiệu vật chất của

tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm phải là hành vi gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xh được luật hình sự bảo vệ.
2.2 Tính có lỗi của tội phạm: Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi
nguy hiểm cho xh của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Trong Bộ luật hình sự, tính có lỗi là một dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho
xh. Không thể buộc tội một người mà chỉ căn cứ vào hành vi khách quan họ đã thực hiện.
2.3
Tính trái pháp luật hình sự: Hành vi nguy hiểm cho xh chỉ được coi là tội
phạm nếu nó được quy định trong luật hình sự.
2.4
Tính phải chịu hình phạt: Bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe
dọa phải chịu hình phạt. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, tội càng nghiêm
trọng thì hình phạt áp dụng càng nghiêm khắc.
3Phân loại tội phạm.
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như đã trình bày, nhưng những hành vi phạm
tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xh rất khác nhau. Chính vì vậy mà vấn đề
phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt được coi là một nguyên tắc quan
trọng của luật hình sự. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là
phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà
mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm
đến 07 năm tù;
3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất
lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên
07 năm đến 15 năm tù;
4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là

từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Trang 2- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

III/Chủ thể của luật hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự và những qui định đối với
người chưa thành niên phạm tội. (CTNPT)
A. Chủ thể của luật hình sự là cá nhân.
 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: (Điều 12 BLHS)
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ
những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ
đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong
các điều sau đây:
a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán
người dưới 16 tuổi);
b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội
trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất
ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái
phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần
mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình
tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện

điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính,
mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng
máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản);
e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện
quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật
quân sự).
 Những qui định đối với người CTNPT
 CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO DỤC ÁP DỤNG TRONG
TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1. Điều kiện áp dụng (Điều 92).

Trang 3- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

 Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình
sự và áp dụng biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn, nếu người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp
pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này.
1.1. Khiển trách (Điều 93). Được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
trong những trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu
quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng;
b) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
 Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển
trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến

của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
 Người bị khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
c) Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao
động với hình thức phù hợp.
 Tùy từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các
nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c từ 03 tháng đến 01 năm.
1.2. Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94)
1.2.1. Hòa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
trong những trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
1.2.2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân
cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Trang 4- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

1.2.3. Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các
nghĩa vụ sau đây:
a) Xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại;
b) Nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này.
1.3. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95)
1.3.1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo

dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội trong những trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
1.3.2. Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban
nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động;
b) Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn;
c) Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép;
d) Các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này.
1.3.3. Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành một phần hai
thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao
trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định
chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
 BIỆN PHÁP TƯ PHÁP GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
1. Giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96).
1.1. Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng từ 01 năm đến
02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của
hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người
đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

Trang 5- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

1.2. Người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải chấp hành đầy đủ những nghĩa
vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà

trường.
2. Chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều
97).
 Nếu người được giáo dục tại trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời
hạn, có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm
quản lý, giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường
giáo dưỡng.
 Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Người CTNPT chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội
phạm: Cảnh cáo, phạt tiền;cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn.
 Phạt tiền: Được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành
niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài
sản riêng; Mức phạt tiền áp dụng không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều
luật qui định.
 Cải tạo không giam giữ:
 Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18
tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm
trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng
do cố ý.
 Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội,
thì không khấu trừ thu nhập của người đó.
 Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá
một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.
 Tù có thời hạn: Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi
phạm tội, nếu điều luật được áp dụng qui định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình,
thì mức phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư (¾ )mức phạt tù mà
điều luật qui định.
Đối với người CTNPT từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều

luật được áp dụng qui định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai (1/2) mức phạt tù mà điều
luật qui định.
B. Chủ thể của luật hình sự là Pháp nhân thương mại
1.Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 75).

Trang 6- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

1.1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của
pháp nhân thương mại;
d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 27 của Bộ luật này.
1.2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách
nhiệm hình sự của cá nhân.
2. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 76).
Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm sau đây:
2.1. Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ
qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội
sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều
194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều
195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc

thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều
200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che
giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ
để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều
213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm
quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan);
Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy
định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy
định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản); Điều 234 (tội vi phạm quy định
về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);
2.2. Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn
công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ
bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội hủy
hoại nguồn lợi thủy sản); Điều 243 (tội hủy hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy
định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các
quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các
loài ngoại lai xâm hại).

Trang 7- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

IV/ Khái niệm hình phạt, các loại hình phạt.
1/ Khái niệm hình phạt: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc
nhất được quy định trong luật hình sự do Tòa án quyết định nhằm tước bỏ hoặc hạn chế
quyền, lợi ích của người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.

Đặc điểm của hình phạt:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất, nó có thể tước bỏ
những quyền và lợi ích của người bị kết án như: quyền tự do, quyền về tài sản,
quyền về chính trị, thậm chí cả quyền sống.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự và
chỉ được áp dụng cho chính cá nhân người đã thực hiện tội phạm.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước do Tòa án áp dụng với người phạm tội
và được tuyên bố công khai bằng 1 bản án.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt đảm bảo cho luật hình sự có
thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ, giáo dục.
2/ Các loại hình phạt đối với cá nhân phạm tội.
Hình phạt có 2 loại: Hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
2.1 Hình phạt chính là hình phạt cơ bản được áp dụng cho một tội phạm và được
tuyên độc lập; đối với mỗi tội phạm tòa án chỉ có thể tuyên độc lập 1 hình phạt chính, bao
gồm:
Cảnh cáo: Được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình
tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.
Phạt tiền: Được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và
một số tội phạm khác do BLHS quy định.; Được áp dụng là hình phạt bổ sung đối
với các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do BLHS quy định;
Mức phạt tiền không được thấp hơn 1 triệu đồng.
Cải tạo không giam giữ: Được áp dụng từ 6 tháng dến 3 năm đối với người phạm tội
ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc
có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội
khỏi xã hội.; nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian đó được trừ
vào thời gian chấp hành hình phạt theo tỉ lệ: 1 ngày tạm giữ, tạm giam = 3 ngày cải
tạo không giam giữ; Bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà
nước.
Trục xuất: Là buộc người nước ngoài rời khỏi lãnh thổ Việt nam.

Tù có thời hạn: Là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam
trong một thời gian nhất định; Mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là 20 năm; thời
hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù: 1 ngày tạm
giữ, tạm giam = 1 ngày tù.
Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít
nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.
Tù chung thân:Là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình; không áp dụng tù
chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội.
Tử hình.
 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia,

Trang 8- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một
số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.
 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội,
phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75
tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
 Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án
đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực
với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công

lớn.
 Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị
kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù
chung thân.
2.2 Hình phạt bổ sung là hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên
kèm theo hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm tòa án có thể tuyên một hoặc nhiều hình
phạt bổ sung nếu điều luật có quy định các hình phạt này,bao gồm:
Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định:
Thời hạn từ 1 năm đến 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày
bản án có hiệu lực nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam
giữ, hoặc được hưởng án treo.(Điều 41)
Cấm cư trú: (Điều 42)
Là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa
phương nhất định; thời hạn từ 1 đến 5 năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.
Quản chế: (Điều 43)
Là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa
phương nhất định, có sự kiểm soát giáo dục của chính quyền và nhân dân địa
phương; Không được tự ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân, bị cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định; được áp dụng đối với người phạm tội xâm
phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm; Thời hạn từ 1 đến 5 năm kể từ
ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Tước một số quyền công dân: (Điều 44BLHS)
1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội
phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc
một số quyền công dân sau đây:
a) Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;

Trang 9- Môn Pháp luật Việt nam đại cương



Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ
trang nhân dân.
Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp
hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường
hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Tịch thu tài sản: Là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hưũ của người bị
kết án sung quỹ nhà nước; áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.(điều 45)
Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;
Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
3. Các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt nam.
Các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt nam là những biện pháp cưỡng chế hình sự
được áp dụng đối với những người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có dấu hiệu của tội
phạm. Trong nhiều trường hợp các biện pháp tư pháp được áp dụng với người không có
năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xh. Bao gồm:
3.1.Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:
 Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp
dụng đối với:
a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản
thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
 Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì
không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
 Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho
người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.


3.2.Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi:
 Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người
quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được
xác định do hành vi phạm tội gây ra.
 Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người
phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

3.3.Bắt buộc chữa bệnh:

Trang 10- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

 Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh
quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào
kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa
họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
 Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng
trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở
điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có
thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
 Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết
luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định
đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi
khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người
đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
4. Các hình phạt đối với pháp nhân
4.1. Phạt tiền (Điều 77)
4.1.1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân
thương mại phạm tội.
4.1.2. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá
cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.
4.2.Đình chỉ hoạt động có thời hạn(Điều 78)
4.2.1. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại
trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính
mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây
ra có khả năng khắc phục trên thực tế.
4.2.2. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
4.3.Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn Điều 79.
4.3.1. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong
một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả
năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây

Trang 11- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả
gây ra.
4.3.2. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh
viễn toàn bộ hoạt động.
4.4.Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 80).
4.4.1. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi

xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong
lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã
hội.
4.4.2. Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.
4.4.3. Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01
năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
4.5.Cấm huy động vốn (Điều 81).
4.5.1. Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án
huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.
4.5.2. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:
a) Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư;
b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;
c) Cấm huy động vốn khách hàng;
d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;
đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.
4.5.3. Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định tại
khoản 2 Điều này.
4.5.4. Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật.
4.6. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều
82).

Trang 12- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

4.6.1. Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện tư pháp sau đây đối với pháp nhân thương
mại phạm tội:
a) Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật này;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
c) Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.
4.6.2. Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp buộc pháp nhân thương mại
phạm tội phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm phạm tội của
mình gây ra.
4.6.3. Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp
nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây nhằm khắc
phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm:
a) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng
không đúng với giấy phép;
b) Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng
hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không
tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu
nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí
tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm;
d) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng
và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị
tiêu hủy theo quy định của pháp luật;
đ) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật
phẩm;
e) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường
5/ Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với
từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo qui định sau đây:
5.1 Đối với hình phạt chính:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù
có thời hạn thì các hình phạt đó được cộng thành hình phạt chung. Hình phạt chung không


Trang 13- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

được quá 3 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có
thời hạn.
- Nếu hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải
tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỉ lệ: 3 ngày cải tạo không
giam giữ = 1 ngày tù để tổng hợp hình phạt.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình
phạt chung là tù chung thân.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt
chung là tử hình.
- Phạt tiền, hoặc trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác. Các khoản
tiền phạt được công lại thành hình phạt chung.
5.2 Đối với hình phạt bổ sung
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong
giới hạn do BLHS quy định; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng
lại thành hình phạt chung.
- Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả
các hình phạt đã tuyên.
6. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc bị kết án phạt tù nếu đã chấp hành hình
phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ thì được xét giảm thời gian chấp hành
hình phạt, cụ thể là:
- Thời gian chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 1/3 thời hạn đối với hình
phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ 30 năm trở xuống. 12 năm đối với tù chung
thân.

- Một người có thể được giảm nhiều lần nhưng phải bảo đảm chấp hành được ½ mức
hình phạt đã tuyên.
- Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung

thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15
năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp
hành là 25 năm.
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm

tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã
chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm
tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ
xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt
chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
- Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình
thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này
thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được
giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30
năm.

Trang 14- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

7. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: (Điều 27 BLHS)
Khái niệm: Là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội
không bị truy cưú trách nhiệm hình sự.

7.1Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện
hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày
thực hiện hành vi phạm tội mới.
 Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh
và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc
bị bắt giữ.
7.2 Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 28 BLHS)
Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ
luật này đối với các tội phạm sau đây:
 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;
 Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại
Chương XXVI của Bộ luật này;
 Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của
Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều
354 của Bộ luật này.
8. Xóa án tích.
Khái niệm:Người bị kết án được xoá án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp
giấy chứng nhận.
Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người
được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.
8.1 Đương nhiên được xóa án tích (Điều 70)

Trang 15- Môn Pháp luật Việt nam đại cương



Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

 Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về
các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp
hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành
bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
 Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt
chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt
bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới
trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù
nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã
được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công
dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này
thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong
hình phạt bổ sung.
 Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản
án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều này.
 Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về
tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp
xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3
Điều này.

8.2 Xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71)
8.2.1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các
tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong
hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng
các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại
Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực
hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án.

Trang 16- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

8.2.2. Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình
phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung,
các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau
đây:
a) 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến
05 năm;
b) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
c) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã
được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước
một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a
khoản này thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình
phạt bổ sung.
 Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi
hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy
định tại khoản 2 Điều này.

 Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa
án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích.
8.3 Cách tính thời hạn để xóa án tích (Điều 73)
8.3.1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn
cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
8.3.2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và
bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ
được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách
án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.
8.3.3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp
đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định
của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án
quyết định việc xóa án tích đối với người đó.
8.3.4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã
chấp hành xong hình phạt.
Lưu ý: 1. Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại (Điều 89).

Trang 17- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm
kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản
án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện
hành vi phạm tội mới.
2.Án treo (Điều 65).
1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình
tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng
án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ

trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức
nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo
dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền
địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung
nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có
nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa
án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy
định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi
phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng
hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Phần B: Luật tố tụng hình sự
I- Khái niệm luật tố tụng hình sự.
1/ Khái niệm tố tụng hình sự: Là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng (cơ quan điều tra,VKS, tòa án), người tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ
quan nhà nước và tổ chức xh góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự theo quy
định của luật tố tụng hình sự
Luật tố tụng hình sự Việt nam chia hoạt động giải quyết vụ án hình sự thành
các giai đoạn sau:
Khởi tố vụ án hình sự;
Điều tr;
Truy tố;
Xét xử;
Thi hành án hình sự.
Trang 18- Môn Pháp luật Việt nam đại cương



Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

2/ Khái niệm luật tố tụng hình sự: Là một ngành luật độc lập trong hệ thống
pháp luật Việt nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là những quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự giữa các chủ thể của quan hệ
pháp luật tố tụng hình sự.
Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có các đặc điểm:
+ Mang tính chất quyền lực nhà nước
+ Liên quan mật thiết tới quan hệ pháp luật hình sự.
+Liên quan hữu cơ tới các hoạt động tố tụng hình sự.
Phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là phương pháp quyền uy và
phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để điều chỉnh
các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự.
3/ Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự.
3.1 Các nguyên tắc chung:
Nguyên tắc pháp chế XHCN: Mọi trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự
phải được thực hiện theo đúng qui định của luật tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.
Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, và nhân phẩm của công dân
Bảo đảm về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín của công dân.
3.2 Các nguyên tắc riêng:
Xác định sự thật khách quan của vụ án
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực
pháp luật.
Thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Có hội thẩm nhân dân tham
gia.
Nguyên tắc xét xử công khai.
Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước tòa án.
4. Các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự
4.1 Khởi tố vụ án hình sự: Là giai đoạn đầu của hoạt động tố tụng hình sự, các cơ
quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm
để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này được bắt
đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm và
kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, tòa án, thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng,cơ quan hải quan, kiểm lâm, lực
luợng cảnh sát biển và thủ trưởng các cơ quan khác của công an nhân dân (điều 104
BLTTHS năm 2003).
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án
hình sự. Trong trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài hơn
nhưng không quá 2 tháng.

Trang 19- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

4.2 Điều tra vụ án hình sự: Cơ quan điều tra được sử dụng mọi biện pháp do luật tố
tụng hình sự quy định để thu thập các chứng cứ nhằm xác định sự việc phạm tội và
người phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của tòa án.

+ Các cơ quan điều tra hình sự:
Cơ quan điều tra trong công an ND điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội
phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong QĐND và cơ
quan điều tra của VKSND tối cao.
Cơ quan điều tra trong quân đội ND.
Cơ quan điều tra của VKSND.
Ngoài ra luật còn qui định một số cơ quan khác được tiến hành một số hoạt
động điều tra: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát
biển và các cơ quan khác của CAND, QĐND.
+ Các hoạt động điều tra:
Khởi tố bị can và hỏi cung bị can. Tạm đình chỉ chức vụ mà bị can đang đảm
nhiệm.
Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại…;
Đối chất, nhận dạng, giám định, thực nghiệm điều tra;
Khám xét người, nhà ở, đồ vật, thư tín; thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản;
Khám nghiệm hiện truờng, khám nghiệm tử thi… ;
Đình chỉ và tạm đình chỉ điều tra. Căn cứ để đình chỉ điều tra (như căn cứ
không khởi tố vụ án (k2 điều 105; điều 107BLHS), đã hết thời hạn điều tra
mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm); Căn cứ để tạm
đình chỉ điều tra (bị can mắc bệnh tâm thần, bị can bỏ trốn không biết ở đâura lệnh truy nã)
Kết thúc điều tra, đề nghị truy tố.
Thời hạn điều tra được qui định tại điều 119 BLTTHS.
+Các biện pháp ngăn chặn:
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để
tạm giam được quy định tại điều 80, 81 BLTTHS; Thời hạn tạm giam để điều
tra được qui định tại điều 120 BLTTHS, cụ thể:
Loại tội phạm
Ít nghiêm trọng
Nghiêm trọng


Thời hạn tạm giam
Không quá 2 tháng
Không quá 3 tháng

Rất nghiêm trọng

Không quá 4 tháng

Đặc biệt nghiêm
trọng

Không quá 4 tháng

Gia hạn tạm giam
1 lần không quá 1 tháng
2 lần (Lần 1: không quá 2 tháng;
Lần 2: không quá 1 tháng)
2 lần (Lần 1: không quá 3 tháng;
Lần 2: không quá 2 tháng)
3 lần, mỗi lần không quá 4 tháng

Tạm giữ người (đối với người bị bắt khẩn cấp hoặc bị bắt quả tang). Thời hạn
tạm giữ không được quá 3 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày;
trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ 2 nhưng không quá 3 ngày
(điều 87 BLTTHS) .
Cấm đi khỏi nơi cư trú

Trang 20- Môn Pháp luật Việt nam đại cương



Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam (người bảo
lĩnh có thể là cá nhân-phải có ít nhất 2 người; tổ chức)
Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế
biện pháp tạm giam. Đ 93.
4.3 Truy tố bị can ra trước tòa án.
Truy tố bị can ra trước tòa án vưà là quyền, là nhiệm vụ của VKSND khi thực hiện
quyền công tố được nhà nước giao.
Thời hạn quyết định truy tố; Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm
trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều
tra, VKS phải ra một trong những quyết định sau:
Truy tố bị can bằng bản cáo trạng;
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng VKS có thể gia hạn nhưng không quá 10
ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, Không quá 15
ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.
4.4 Xét xử.
Việc xét xử thuộc thẩm quyền của các tòa án. Là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó
tòa án xử lý sự việc phạm tội và người phạm tội và quyết định áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội bằng các bản án và quyết định của mình
4.4.1 Các cấp tòa án và thẩm quyền xét xử:
Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những
tội phạm mà BLHS quy định hình phạt đến 15 năm tù (cũ là từ 7 năm tù trở
xuống). Tuy nhiên việc thực hiện qui định này đang được chuẩn bị theo lộ
trình của cơ quan chức năng trong việc xác định tòa án cấp huyện nào đủ

điều kiện mới giao thẩm quyền.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm
những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của tòa án
nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm
quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
4.4.2 Chuẩn bị xét xử - xét xử sơ thẩm.
Sau khi nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa
nghiên cứu hồ sơ. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng,
45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm
trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ
vụ án, thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc
trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ
vụ án.
Trong thời hạn 15 ngày (hoặc 30 ngày nếu có lý do chính đáng) kể từ ngày
có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Thủ tục tố tụng
tại phiên tòa được quy định cụ thể trong BLTTHS.
4.4.3 Xét xử phúc thẩm.
Xét xử phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại
quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo hoặc kháng nghị.

Trang 21- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

 Những người có quyền kháng cáo, bao gồm:
Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản
án, quyết định sơ thẩm;
- Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành

niên, hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất;
- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có
quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi
thường thiệt hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp
của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ. (Tham khảo điều 231 BLTTHS)
 Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với bị
cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản
án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu
điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng
dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua ban giám thị trại
giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày ban giám thị trại giam
nhận được đơn.
Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực
tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
 Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa bản án sơ thẩm;
- Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
 Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
-

4.4.4 Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
@ Thủ tục giám đốc thẩm.
 Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
trong việc xử lý vụ án. Như:
Việc điều tra xét hỏi tại phiến diện hoặc không đầy đủ.

Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan
của vụ án.
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét
xử.
Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.
 Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:
- Chánh án TANDT và viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp trừ quyết định của hội
đồng TPTANDTC.
- Chánh án tòa án quân sự trung ương và viện trưởng VKSQSTW có quyền
kháng nghị bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự cấp
dưới.

Trang 22- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

- Chánh án TAND tỉnh và viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Chánh án TAQS cấp
quân khu và viện trưởng VKSQS cấp quân khu kháng nghị bản án hoặc quyết
định có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới.
 Thẩm quyền giám đốc thẩm:
- Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh (gồm: Chánh án, các phó chánh án TAND
Tỉnh, Tp trực thuộc trung ương + một số thẩm phán TAND tỉnh, tp trực thuộc
trung ương do Chánh án TANDTC quyết định theo đề nghị của chánh án
TAND tỉnh, tp trực thuộc trung ương nhưng không quá 9 người); Uỷ ban
thẩm phán TAQS cấp quân khu; (Khi GĐT phải có ít nhất 2/3 tổng số thành
viên)
- Toà HS TANDTC; Toà án quân sự trung ương; (Khi giám đốc thẩm phải có 3
thẩm phán)

- Hội đồng thẩm phán TANDTC (gồm: Chánh án, các phó chánh án, các chánh
toà, phó chánh toà các toà chuyên trách của TANDTC, một số thẩm phán
TAND do Chánh án TANDTC quyết định và phải được UBTVQH phê
chuẩn). Khi giám đốc thẩm phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên.
@ Thủ tục tái thẩm.
 Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình mới được phát hiện
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà tòa án
không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.
 Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
- Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị đối với bản án hoặc quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp trừ quyết định của
HĐTPTANDTC;
- Viện trưởng VKSQSTƯ; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh; Viện trưởng
VKSND cấp quân khu.
 Thẩm quyền tái thẩm:
- Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh; Uỷ ban thẩm phán TAQS cấp quân khu;
- Toà Hình sự TANDTC; TAQS trung ương;
- Hội đồng thẩm phán TANDTC.
4.5 Thi hành bản án hình sự.
-Cơ quan công an thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân; tham gia hội
đồng thi hành án tử hình;
-Chính quyền xã, phường, thị trấn, hoăc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án
cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người
được huởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ;
-Cơ sở y khoa thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc
bệnh tâm thần có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
-Chấp hành việc thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại,
phải có cơ quan công an phối hợp khi áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Câu hỏi:

1. Trình bày khái niệm ngành luật hình sự.
2. Tội phạm là gì? Phân loại tội phạm.
3. Hình phạt là gì? Nêu các loại hình phạt theo qui định của BLHS.

Trang 23- Môn Pháp luật Việt nam đại cương


Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp HCM

4. Tố tụng hình sự là gì? Nêu đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh
của ngành luật tố tụng hình sự.
5. Trình bày nội dung cơ bản của các giai đoạn trong tố tụng hình sự.
6. Phân biệt xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,tái thẩm.

Trang 24- Môn Pháp luật Việt nam đại cương



×