UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
GIÁO ÁN
Bài 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG THỨC
SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Người soạn: Lê Minh Đồng
Khoa: Lý luận Cơ sở
Cà Mau, tháng 8 năm 2014
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
GIÁO ÁN
Bài 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG THỨC
SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Người soạn: Lê Minh Đồng
Học vị: Thạc sỹ
Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế chính trị
Đối tượng giảng: Cán bộ công chức cấp xã, huyện, TP
Số tiết lên lớp: ........16...... (mỗi tiết 45 phút)
Cà Mau, tháng 8 năm 2014
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích: Sau bài học này nhằm trang bị cho học viên
* Về kiến thức
- Hiểu được điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa, khái niệm hàng hoá và hai
thuộc tính của hàng hoá.
- Nêu được nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ và quy luật lưu thông
tiền tệ.
- Nắm được nội dung, cơ chế tác động, chức năng và tác dụng của quy luật giá
trị.
- Giá trị thặng dư - quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, các hình thái biểu
hiện của giá trị thặng dư
- Chủ nghĩa tư bản độc quyền và những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản
độc quyền
* Về kỹ năng
- Biết phân biệt giá trị với giá cả của hàng hoá.
- Biết nhận xét tình hình sản xuất và tiêu thụ một số sản phẩm hàng hoá ở
địa phương.
- Từ việc nhận thức và hiểu rõ được những phạm trù, những quy luật kinh tế
cơ bản trên, học viên có thể vận dụng các quy luật đó một cách có ý thức vào các
hoạt động kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao; đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
* Về thái độ
- Coi trọng đúng mức vai trò của hàng hoá, tiền tệ và sản xuất hàng hoá.
- Nhận thức rõ về bản chất bót lột của nhà tư bản trong xã hội TBCN
- Góp phần tích cực vào việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và
niềm tin sâu sắc với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân. Đồng thời,
phải đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát
triển sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
2. Yêu cầu
- Trong bài học này yêu cầu học viên phải nắm được những nội dung cốt lõi
nhất: Quy luật giá trị, quy luật giá trị thặng dư, các hình thái biểu hiện giá trị thặng
dư, chủ nghĩa tư bản độc quyền.
- Học viên vận dụng những kiến thức ở mục 1, 2 để làm được các bài tập
- Vận dụng tốt các kiến thức đã học vào trong xử lý công việc, trong cuộc
sống..,
B. KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN, TRỌNG TÂM
CỦA BÀI
1. SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN
SẢN XUẤT HÀNG HÓA (giảng 180 phút = 4 tiết)
1.1. Hàng hóa (giảng ....120...... phút)
1.1.1 Hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa (giảng 45 p)
1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa (giảng 25 phút)
1.2.3 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa (giảng 25 p)
1.2.4 Lượng giá trị của hàng hóa (giảng 25 phút)
1. 2. Tiền tệ và chức năng của tiền tệ (giảng 30 phút)
1.2.1 Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ (giảng 15 phút)
1.2.2 Chức năng của tiền tệ (giảng 15 phút)
1.3. Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa (giảng 30 phút)
2. Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật kinh tế của tư bản chủ nghĩa
(giảng 180 phút)
2. 1 Quá trình sản xuất hàng hóa giản đơn chuyển thành sản xuất
hàng hóa tư bản chủ nghĩa (giảng 40 phút)
2.1.1 Hai điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa
2.1.2 Sự chuyển hóa tiền thành tư bản và sức lao động thành hàng hóa
2.2 Sản xuất giá trị thặng dư (giảng .....65..... phút)
2.2.1 Hai mặt của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa
2.2.2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến
2.2.3 Tỷ suất giá trị thặng dư, khối lượng giá trị thặng dư
2.2.4 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
2.2.5 Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của CNTB
2.3 Tiền công dưới chủ nghĩa tư bản (giảng 25 phút)
2.3.1 Bản chất của tiền công
2.3.2 Những hình thức cơ bản của tiền công
2.3.3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế, xu hướng hạ thấp
tiền công
2.4 Tích lũy tư bản (giảng 25 phút)
2.4.1 Bản chất tích lũy tư bản
2.4.2 Những nhân tố quyết định quy mô tích lũy tư bản
2.4.3 Quy luật phổ biến của tích lũy tư bản
2.5 Tuần hoàn và chu chuyển tư bản (giảng 25 phút)
2.5.1 Tuần hoàn tư bản
2.5.2 Chu chuyển tư bản
3. Các hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư (giảng 180 phút)
3.1 Quy luật điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa tư do cạnh tranh (giảng 90 phút)
3.1.1. Sự chuyển hóa của giá trị thặng dư thành lợi nhuận, tỷ suất giá
trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận
3.1.2 Lợi nhuận bình quân - quy luật điều tiết hoạt động sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tư do cạnh tranh
3.2 Biểu hiện và tác động của quy luật trong một số lĩnh vực của đời
sống kinh tế (giảng 90 phút)
3.2.1 Tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp
3.2.2 Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản
3.2.2 Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa.
4. Lý luận của V.Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyền (giảng 170 phút)
4.1 Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và nguyên nhân
chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tư do cạnh tranh sang độc
quyền (giảng 20 phút)
4.2 Các đặc trưng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc trong các tác
phẩm của V.Lênin. (giảng 55 phút)
4.2.1 Tích tụ sản xuất và các tổ chức độc quyền (10 phút)
4.2.2 Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính (10 phút)
4.2.3 Xuất khẩu tư bản (15 phút)
4.2.4 Sự phân chia thị trường thế giới giữa các liên minh độc quyền
(10 phút)
4.2.5 Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc (10 phút)
4.3 Các luận điểm cơ bản của V.Lênin về địa vị lịch sử của chủ nghĩa đế
quốc (giảng 45 phút)
4.3.1 Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền (10 phút)
4.3.2 Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản ăn bám (10 phút)
4.3.3 Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản thối nát (10 phút)
4.3.4 Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản "giãy chết" là giai đoạn
tột cùng của chủ nghĩa tư bản (15 phút)
4.4 Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền (giảng 50 phút)
4.4.1 Vai trò độc quyền trong nền kinh tế tư bản hiện đại
4.4.2 Biểu hiện mới về tính ăn bám của chủ nghĩa tư bản ngày nay
4.4.3 Sự thối nát của chủ nghĩa tư bản độc quyền trong thời đại ngày
nay
4.4.4 Những biểu hiện tự phủ định của chủ nghĩa tư bản độc quyền
trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
* Trọng tâm của bài:
- Mục 1, tiết 2,3
- Mục 2, tiết 1,2
- Mục 3, tiết 1
- Mục 4, tiết 3,4
C. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG VÀ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
1. Phương pháp
1.1. Phương pháp giảng giải
1.2. Phương pháp thuyết trình kết hợp với phát vấn.
1.3. Phương pháp tình huống.
1.4 Phương pháp sàng lọc
1.5 Phương pháp nêu ý kiến ghi lên bảng
1.6 Phương pháp học nhóm
2. Đồ dùng dạy học
2.1. Máy chiếu
2.2 Bảng và phấn
2.3 Máy tính (Laptop)
2.4 Cần sử dụng thêm các phương tiện dạy học trực quan như chuẩn
bị trước các sơ đồ, biểu bảng, hoặc dùng hình ảnh liên quan.
D. TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN, GIẢNG
- Bộ Giáo dục & Đào tạo (2006), Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Giáo trình),
Nxb. Chính trị, Hà Nội.
- Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2009), Những vấn
đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh "Kinh tế chính trị
Mác - Lênin" (giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính), Nxb. Lý luận
chính trị, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2014), Những vấn đề cơ bản
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh (giáo trình Trung cấp lý luận
chính trị - hành chính), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
- C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị Quốc gia
sự thật, Hà Nội.
- C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 24, Nxb. Chính trị Quốc gia
sự thật, Hà Nội.
- C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 25, Nxb. Chính trị Quốc gia
sự thật, Hà Nội.
- C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 26, Nxb. Chính trị Quốc gia
sự thật, Hà Nội.
Đ. NỘI DUNG CÁC BƯỚC LÊN LỚP VÀ PHÂN CHIA THỜI GIAN
Bước 1: Ổn định lớp (30 giây)
- Lớp trưởng báo cáo sĩ số, ổn định trật tự lớp
Bước 2: Kiểm tra bài cũ
- Không kiểm tra bài cũ (Do chuyển sang nghiên cứu phần Kinh tế chính trị
nên không kiểm tra bài cũ, thay vào đó là giới thiếu một số tài liệu nghiên cứu, học
tập liên quan tới phần học này) (2 phút)
+ Hôm nay chúng ta chuyển sang nghiên cứu phần thứ hai trong giáo trình
"Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh ", đó là
phần Kinh tế chính trị, liên quan đến phần này có một số tài liệu để sử dụng trong
quá trình học tập, nghiên cứu như sau: Thứ nhất, các anh (chị) bắt buộc phải có
giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính (2014) "Những vấn đề cơ bản
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh" . Thứ hai, các anh (chị) có
thể nghiên cứu thêm, giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính (2009)
“Kinh tế chính trị”; giáo trình Kinh tế chính trị của Bộ GD&ĐT; giáo trình Kinh tế
chính trị của Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Mác - Ăngghen toàn tập, tập 23,
24, 25, 26.
Bước 3: Giảng bài mới
- Nêu vấn đề, dẫn dắt vào bài mới (2.5 phút)
Anh (chị) nào cho cả lớp cùng biết, Việt Nam chuyển mô hình kinh tế từ
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần từ Đại hội Đảng lần mấy và vào năm nào? (Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12
năm 1986). Chúng ta đã thấy từ khi Việt Nam chuyển mô hình kinh tế từ kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp (một nền kinh tế tự cung, tự cấp) sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, mà hiện nay phát triển ở giai đoạn cao hơn đó là nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Đây là một quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, qua đó đạt được nhiều
thành tựu to lớn về kinh tế, văn hoá, xã hội; nước ta từ một nước thiếu lương thực,
hàng hóa khan hiếm, lưu thông hàng hóa bị ngăn cấm; nhưng, nhờ có sự quyết
định đúng đắn đó của Đảng ta; hiện nay, trong xã hội với một lượng hàng hóa
khổng lồ được sản xuất ra, chủng loại, mẫu mã rất đa dạng và phong phú, chất
lượng ngày càng tăng cao, các chủ thể được tự do trao đổi, mua bán, tuy nhiên các
chủ thể tham gia trên thị trường phải tuân theo các quy luật kinh tế... Vậy, sản xuất
hàng hóa là gì? có ưu điểm gì so với sản xuất của nền kinh tế tập trung, bao cấp (tự
cấp, tự túc)? Phải tuân theo những quy luật kinh tế nào?...Để biết được điều này,
hôm nay chúng ta cùng nhau nghiên cứu bài 3: Những vấn đề cơ bản của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sẽ giúp cho các anh (chị) nắm chắc
được các vấn đề trên.
Bài 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT
TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
1. Hàng hóa và nội dung quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa
- Trong phần này người dạy sử dụng một số phương pháp và đồ dùng dạy
học sau:
+ Phương pháp sàng lọc, phát vấn, giảng giải và thuyết trình, nhóm, nêu ý
kiến ghi lên bảng.v.v.
+ Bảng, phấn, máy chiếu, laptop, giấy A4, tranh ảnh....
1.1. Hàng hóa (giảng 120 phút)
1.1.1 Hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa (45 phút)
1.1.1.1 Khái niệm hàng hóa
- Người dạy dùng phương pháp sàng lọc: Giảng viên cung cấp thông
tin về một số sản phẩm (có một số sản phẩm là hàng hóa, một số sản phẩm không
phải là hàng hóa) yêu cầu học viên sàng lọc những sản phẩm nào là hàng hóa xếp
vào cùng một nhóm, những sản phẩm nào không phải là hàng hóa xếp vào cùng
một nhóm và yêu cầu học viên giải thích tại sao? Từ đó giảng viên rút ra kết luận.
Tôm nuôi để ăn, nước suối trong tự nhiên, nước đóng chai Lavie, điện thoại Iphone
6, rau muống trồng để ăn,...Các anh (chị) hãy sàng lọc những sản phẩm trên đâu là
hàng hóa, đâu không phải là hàng hóa, tại sao?
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người, được trao đổi và mua bán
* Trong định nghĩa này chúng ta cần chú ý 3 vấn đề:
- Hàng hóa phải là sản phẩm của lao động, còn những sản phẩm khác
không do lao động tạo ra dù rất cần thiết cho con người (nước, không khí...) đều
không phải là hàng hóa .
- Hàng hóa phải thông qua trao đổi và mua bán. Nếu sản xuất ra để tiêu
dùng (như nông dân sản xuất ra lúa để ăn) thì không phải là hàng hóa
- Hàng hóa phải được tiêu dùng, nếu nó là vô dụng thì không phải là hàng
hóa
* Vì vậy, một sản phẩm để trở thành hàng hoá phải thoả mãn đủ 3 điều
kiện trên.
Nếu căn cứ vào hình dạng vật chất thì có thể chia hàng hóa ra làm hai
dạng: Hàng hóa vật thể (hữu hình), như quần áo, giầy dép, TLSX ...; hoặc ở dạng
phi vật thể (vô hình) như sản phẩm của các dịch vụ vận tải, dịch vụ khám chữa
bệnh, vui chơi giải trí...
- Người dạy đặt vấn đề: Vậy Hàng hóa hữu hình và vô hình khác nhau
như thế nào? Cho học viên trao đổi nhóm đôi cùng bàn (1 phút)
Sự khác nhau giữa hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình
Hàng hóa hữu hình
Hàng hóa vô hình
- Là hàng hóa vật thể - có hình dạng vật
- Là hàng hóa phi vật thể - không tồn
chất cụ thể
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời
tại dưới hình dạng vật chất cụ thể
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn
nhau
ra đồng thời
- Ổn định về chất lượng
- Không ổn định về chất lượng
- Cất trữ được
- Không cất trữ được
Ví dụ: Cái bàn, chai nước suối là hàng hóa hữu hình; dịch vụ ngân hàng,
dịch vụ giao thông vận tải, dịch vụ khám chữa bệnh của bác sĩ...là hàng hoá vô
hình (dịch vụ)
- Theo các anh (chị) đất đai ở Việt Nam hiện nay có phải là hàng hóa
không? Vấn đề này các anh (chị) về nghiên cứu khi kết thúc bài học này chúng ta
giải đáp.
1.1.1.2 Hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp, tự túc và sản xuất hàng hóa (giai đoạn cao là
nền kinh tế thị trường).
* Sản xuất tự cấp tự túc Là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động
tạo ra nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất.
Khi LLSX phát triển, kinh tế tự nhiên bị hạn chế và tỏ ra không thích hợp,
tất yếu đòi hỏi một loại hình kinh tế mới, kinh tế hàng hóa ra đời.
* Khái niệm sản xuất hàng hóa:
Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức sản xuất, mà trong đó sản phẩm làm ra
không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra
nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi,
mua bán. (Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán)
- Vậy, sản xuất hàng hóa ra đời với những điều kiện gì?
Thứ nhất, có sự phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi xã
hội, phân chia lao động xã hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
Phân công lao động xã hội làm cho mỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản xuất một
hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải
có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ phải cần đến sản phẩm của nhau bằng
cách trao đổi với nhau. Mặt khác, nhờ có phân công lao động xã hội, chuyên môn
hóa sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm được sản xuất ra ngày
càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến.
Ví dụ: Công ty A, chuyên sản xuất nước giải khát; công ty B, chuyên
may quần áo; công ty C, chuyên sản xuất mì gói.v.v. Do nhu cầu trong sản
xuất và tiêu dùng, buộc công ty A, B, C phải trao đổi sản phẩm với nhau.
Như vậy, phân công lao động xã hội dẫn đến có nhu cầu trao đổi và khả
năng trao đổi nên là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã
hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng
hơn.
- Giảng viên thuyết trình và gảng giải: Tuy nhiên, chỉ có phân công lao
động thôi thì sản xuất hàng hóa chưa có thể ra đời, phân công lao động xã hội chỉ
mới là điều kiện cần chứ chưa đủ. Bởi vì, C. Mác đã chứng minh trong công xã thị
tộc thời cổ ở Ấn Độ, đã có sự phân công lao động xã hội khá chi tiết, nhưng sản
phẩm của lao động chưa trở thành hàng hoá và sản xuất hàng hoá chưa ra đời, vì
lúc này trong công xã thị tộc thời cổ Ấn Độ vẫn còn sở hữu chung về tự liệu sản
xuất, nên các sản phẩm làm ra điều của chung, công xã phân bổ trực tiếp cho từng
thành viên để thoả mãn nhu cầu. Vì vậy, cần có điều kiện thứ hai.
Thứ hai, có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những chủ thể sản
xuất độc lập nhất định.
Sự tách biệt này do quan hệ sở hữu khác nhau về TLSX, mà khởi thuỷ là tư
hữu nhỏ về TLSX, đã xác định người sở hữu TLSX là người sở hữu sản phẩm lao
động. Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về TLSX đã làm cho những người
sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao
động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện
ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sự mua bán
hàng hoá, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hoá.
=> Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời, tồn tại cần phải có hai điều kiện: Có sự
phân công lao động xã hội và có sự tách biệt tương đối giữa những chủ thể sản
xuất độc lập nhất định. Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng
hóa.
1.1.1.3 Những ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Từ việc so sánh nền kinh tế tự cấp, tự túc và nền kinh tế hàng hóa, từ
đó anh (chị) hãy nhận xét những ưu thế sản xuất hàng hóa?
Đặc
Sản xuất tự cấp, tự túc (KT tự nhiên)
Sản xuất hàng hoá (kinh tế hàng hoá)
điểm
Xuất
- Là hình thức kinh tế đầu tiên của xã - Sản xuất tự cấp, tự túc dần dần
hiện
Mục
hội loài người.
chuyển hoá thành sản xuất hàng hoá.
- Người sản xuất làm ra sản phẩm chỉ - Người sản xuất làm ra sản phẩm chỉ
đích
để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân.
Qui
hội.
- Qui mô khép kín theo từng vùng, địa - Qui mô rộng lớn
mô
Trình
phương và lãnh thổ.
- Trình độ lực lượng sản xuất còn thấp
- Trình độ phát triển cao, khoa học -
độ
kém, lạc hậu
công nghệ hiện đại
để phục vụ cho tiêu dùng của toàn xã
LLSX
* Người dạy chuyển ý
- Lịch sử đã chứng minh rằng: SXHH ra đời đã nhanh chóng chiếm ưu thế
hơn hẳn so với sản xuất tự cấp, tự túc. Nó đã đánh dấu một mốc quan trọng trong
tiến trình phát triển KT của nhân loại, nó có nhiều ưu thế hơn hẳn so với sản xuất
tự cấp, tự túc.
- Thứ nhất, khai thác tốt mọi nguồn lực phát triển kinh tế
+ Do sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa trong sản xuất => nó
khai thác tốt các lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở
cũng như từng vùng, từng địa phương...
- Thứ hai, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất
* Người dạy giảng giải thêm
+ Chính quá trình SXHH đã làm cho nền KT của các quốc gia đan xen và
phụ thuộc vào nhau. Do đó, ngày nay, để làm ra một sản phẩm không thể chỉ có
một xí nghiệp, mà là hàng trăm xí nghiệp của nhiều quốc gia, SX các linh kiện
khác nhau.
+ VD: Để SX ra 1 chiếc máy bay Boing, phải cần tới trên 650 công ty của 30
quốc gia, với 200.000 chi tiết.
- Thứ ba, sản xuất hàng hóa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
* Người dạy giảng giải thêm
+ Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của những quy luật vốn có của
sản xuất và trao đổi hàng hoá như quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh..., buộc
người sản xuất phải luôn luôn năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
- Thứ tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho người dân.
* Người dạy cho học viên trình bày những hạn chế của nền sản xuất
hàng hóa.
1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa (giảng 25 phút)
1.1.2.1 Giá trị sử dụng của hàng hóa
- Theo C.Mác, hàng hóa có hai thuộc tính đó là: giá trị sử dụng và giá trị
* Khái niệm giá trị sử dụng (GTSD) của HH: là công dụng hay tính có ích
của hàng hoá đó, nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
* Đặc điểm:
- Thứ nhất: GTSD của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của nó quy định.
* Người dạy giảng giải thêm
Mỗi một hàng hoá đều có một hay một số công dụng nhất định có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người, nhu cầu đó có thể là: Nhu cầu sinh hoạt, tiêu
dùng như : ăn ở, đi lại (gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, xe để đi lại...); Nhu cầu cho
sản xuất : Máy móc, nguyên liệu ...
Bất cứ một vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định. Nhờ sự phát
triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ( LLSX) mà con người ngày càng phát hiện
và sử dụng nhiều thuộc tính có ích của vật phẩm
Ví dụ: Ngày xưa than đá chỉ dùng làm chất đốt, về sau dùng để làm nguyên
liệu cho công nghiệp hóa chất ....
- Xã hội càng tiến bộ, khoa học, kỹ thuật, phân công lao động xã hội và
LLSX càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá
trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
- Thứ hai: GTSD của hàng hoá là GTSD cho xã hội, chứ không phải cho
người sản xuất ra nó, nên nó là vật mang giá trị trao đổi.
+ Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn quan tâm đến nhu
cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì
hàng hoá của họ mới bán được.
- Thứ ba: GTSD của hàng hoá chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay
tiêu dùng nó.
+ Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của trao đổi đối với sản xuất, sản xuất
phải gắn với tiêu dùng, nếu sản xuất mà không tiêu dùng thì sản xuất trở nên vô
nghĩa. Vì vậy, phải đẩy mạnh tiêu dùng thì mới thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Thứ tư: Giá trị sử dụng của hàng hoá là một phạm trù vĩnh viễn.
+ Tức là GTSD không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội nào.
Ví dụ: Bất cứ xã hội phong kiến, tư bản hay chủ nghĩa xã hội thì gạo bao giờ
cũng để ăn và vải bao giờ cũng để mặc.
1.1.2.2 Giá trị của hàng hóa
- Để nghiên cứu giá trị, trước hết C.Mác phải đi nghiên cứu từ giá trị trao đổi
(GTTĐ), nghĩa là nghiên cứu từ thị trường, từ quá trình trao đổi, từ hình thức bên
ngoài để tìm ra bản chất bên trong.
- Giá trị trao đổi (GTTĐ): trước hết được biểu hiện ra là một quan hệ về số
lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa những hàng hoá có GTSD khác nhau.
Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc.
* Người dạy phát vấn học viên: Tại sao 1m vải lại được trao đổi với 5kg
thóc?
- Điều đầu tiên chúng có giá trị sử dụng khác nhau (đây là điều kiện cần thiết
để các chủ thể tiến hành trao đổi với nhau).
- Thứ hai, chúng đều là sản phẩm của lao động và sức lao động của con
người kết tinh trong mỗi hàng hóa, đồng thời, thời gian để sản xuất ra 1m vải
tương đương với thời gian sản xuất ra 5kg thóc (có thể là 5 giờ, hoặc là con số
khác).
=> Theo C.Mác, hai hàng hoá khác nhau có thể trao đổi được với nhau, vì
giữa chúng có một cơ sở chung giống nhau, đó là: chúng đều là sản phẩm của lao
động, là sự hao phí sức lao động của con người.
* Khái niệm giá trị của hàng hoá: là lao động xã hội của người sản xuất
hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
* Đặc điểm:
+ Thứ nhất, Giá trị của hàng hoá là do lao động trừu tượng của người sản
xuất hàng hoá kết tinh.
+Thứ hai, Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa
người sản xuất và trao đổi hàng hoá được ẩn giấu đằng sau quan hệ vật với vật.
+Thứ ba, Giá trị của hàng hoá là một phạm trù lịch sử.
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính
* GTSD và Giá trị là hai thuộc tính của hàng hoá, chúng có mối quan hệ
chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Biểu hiện:
- Tính thống nhất: GTSD và giá trị là hai thuộc tính cùng đồng thời tồn tại
trong một hàng hoá, nó có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề và điều kiện
cho nhau. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính ấy thì sản phẩm không trở thành hàng
hoá.
- Sự mâu thuẫn
+ Thứ nhất, Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là tách rời nhau cả
về không gian và thời gian: Quá trình thực hiện giá trị diễn ra trước và trong lĩnh
vực lưu thông; còn quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau và trong lĩnh vực
tiêu dùng.
+ Thứ hai, Với tư cách là GTSD, các hàng hoá không đồng nhất với nhau về
chất (mỗi hàng hoá khác nhau có GTSD khác nhau). Nhưng với tư cách là giá trị,
thì các hàng hoá khác nhau lại đồng nhất với nhau về chất (vì đều là sản phẩm của
lao động)
+ Thứ ba: Xuất phát từ mục đích của người sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
khác nhau.
Trong nền sản xuất hàng hoá, người sản xuất làm ra hàng hoá để bán, cho
nên mục đích của họ không phải là GTSD mà là GT, là lợi nhuận. Trong tay họ có
giá trị chẳng qua là để đạt được GT cao hơn. Ngược lại, người tiêu dùng (người
mua) lại cần GTSD, nhưng muốn có GTSD để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng thì họ
phải thực hiện GT của hàng hoá trước, rồi mới chi phối được tiêu dùng.
1.2.3 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa (giảng 25 phút)
Lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: vừa mang tính
chất là lao động cụ thể; lại vừa mang tính chất là lao động trừu tượng. C.Mác là
người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó.
1.1.3.1 Lao động cụ thể
*Khái niệm lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ
thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
VD: Người thợ mộc làm ra bàn, ghế; còn người thợ may làm ra quần, áo...
* Đặc điểm cơ bản của LĐCT:
- Một là, mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động,
đối tượng lao động và kết quả lao động riêng.
* Người dạy yêu cầu học viên lấy ví dụ hai hình thức lao động cụ thể để
phân tích đặc điểm thứ nhất.
- VD: Lao động người thợ mộc khác với lao động của người thợ may...ở 5
điểm:
Thợ mộc
Thợ may
Đối tượng
gỗ...
vải...
Mục đích
tạo ra bàn, ghế..
tạo ra quần, áo...
Công cụ
cưa, đục, bào...
máy khâu, kim, chỉ...
Phương pháp
thiết kế mẫu, cưa, bào ...
T.K mẫu, cắt, may...
Kết quả
bàn, ghế...
áo, quần...
- Hai là, mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định.
- Ba là, LĐCT là một phạm trù vĩnh viễn, không phụ thuộc vào hình thái
kinh tế – xã hội nào.
1.1.3.2 Lao động trừu tượng
* Khái niệm lao động trừu tượng: là lao động của người sản xuất hàng hoá
khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó. Hay đó chính là sự tiêu phí sức lao
động nói chung (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hoá.
* Đặc điểm của LĐTT:
- Một là, LĐTT tạo ra giá trị của hàng hoá - Đó chính là mặt chất của giá trị
hàng hoá.
Vì sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán, nên việc trao đổi
hàng hoá không thể căn cứ vào LĐCT được mà phải quy mọi LĐCT khác nhau về
cùng một lao động chung đồng nhất - LĐTT.
- Hai là, không phải bất cứ sự tiêu phí sức lực nào của người lao động cũng
là LĐTT mà chỉ có sự hao phí thần kinh, bắp thịt của người sản xuất hàng hoá mới
được coi là LĐTT.
- Ba là, LĐTT là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với nền sản xuất hàng
hoá.
1.1.3.3 Mối quan hệ của LĐCT và LĐTT trong quá trình sản xuất hàng hoá
- Tính thống nhất: Chúng là hai mặt của cùng một quá trình lao động sản
xuất hàng hoá (vừa là LĐCT vừa là LĐTT).
- Tính mâu thuẫn:
+ Với tư cách là LĐCT, lao động của người sản xuất hàng hoá đã tạo ra giá
trị sử dụng với số lượng và chất lượng nhất định cho xã hội. Nhưng với tư cách là
LĐTT, sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hoá có thể không phù hợp
(lớn hơn hoặc nhỏ hơn) so với mức hao phí lao động của xã hội.
+ Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá - mâu thuẫn giữa lao động tư
nhân và LĐXH còn được thể hiện ở mâu thuẫn LĐCT và LĐTT, giữa giá trị sử
dụng và giá trị của hàng hoá.
1.1.4 Lượng giá trị của hàng hóa (giảng 25 phút)
1.1.4.1 Thời gian lao động xã hội cần thiết
Như đã trình bày ở trên chúng ta biết rằng: giá trị của hàng hóa là lao động
xã hội, trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
=> Lượng giá trị của hàng hóa phải tính theo lượng lao động hao phí để sản
xuất ra hàng hóa đó. Lượng lao động hao phí ấy được tính bằng thời gian lao động
như: giờ, ngày, tuần, tháng.... Vậy lượng giá trị phải tính theo thời gian lao động.
Ví dụ: Cùng làm nghề dệt vải:
- Người thứ nhất dệt 1 tấm vải phải hao phí 10h lao động.
- Người thứ hai dệt 1 tấm vải (5m2) hết 8h lao động.
- Trong trao đổi, người ta không căn cứ vào hao phí thời gian lao động cá
biệt, vì nếu căn cứ vào lượng lao động cá biệt thì người nào có điều kiện sản xuất
xấu, sức khoẻ yếu... sẽ chi phí lao động nhiều hơn hàng hoá của họ càng có giá trị
lớn hơn và họ sẽ có lợi hơn trong sản xuất và trao đổi. Như thế là không đúng, sẽ
không khuyến khích được sản xuất.
- Do đó, khi trao đổi, người ta phải căn cứ vào lượng lao động trung bình
của xã hội hay thời gian lao động xã hội cần thiết.
- Như vậy, lượng giá trị của hàng hoá không phải được tính bằng thời gian
lao động cá biệt, mà được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
* Khái niệm thời gian lao động xã hội cần thiết: là thời gian lao động cần
thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó, trong điều kiện sản xuất bình thường của
xã hội, với một trình độ lao động thành thạo trung bình và một cường độ lao động
trung bình trong xã hội.
- Thông thường, TGLĐXH cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt
(mức hao phí lao động cá biệt) của người sản xuất hàng hoá nào, mà cung cấp đại
bộ phận hàng hoá đó trên thị trường.
* Trong phần này người dạy có thể cho học viên làm bài tập về tính thời
gian lao động xã hội cần thiết.
Bài 1: Có 1000 thùng mì gói, do 3 nhóm lao động sản xuất với số lượng
khơng đều nhau và thời gian lao động cá biệt sản xuất 1 thùng mì gói khác nhau
Nhóm sản xuất
Số lượng hàng hóa
Thời gian lao động cá biệt
(thùng mì)
để SX 1 thùng mì gói (giờ)
A
200
1
B
500
2
C
300
3
- Tính thời gian lao động XHCT để sản xuất ra 1 thùng mì? Nhận xét kết quả
đạt được?
* Người dạy u cầu học viên trao đổi nhóm đơi cùng bàn để trả lời câu
hỏi: Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một hàng hóa?
1.1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
- Tất cả những yếu tố nào ảnh hưởng đến thời gian LĐXH cần thiết thì đều
ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hố. Trong đó, có 3 yếu tố cơ bản nhất đó là:
* Năng suất lao động
- NSLĐ: là năng lực sản xuất của người lao động, được đo bằng số lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng TGLĐ hao phí để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (hàng hố).
NSLĐ tăng lên có nghĩa là: cùng trong một TGLĐ nhưng khối lượng hàng
hố sản xuất ra tăng lên làm cho TGLĐCT để sản xuất ra một đơn vị hàng hố
giảm xuống Do đó, khi NSLĐ tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hố sẽ
giảm xuống và ngược lại Như vậy, lượng giá trị của hàng hố tỷ lệ nghịch với
NSLĐ.
- NSLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo (thành thạo), trung bình của người cơng nhân;
+ Mức độ phát triển khoa học - kỹ thuật và ứng dụng những thành tựu đó
vào sản xuất;
+ Trình độ tổ chức quản lý;
+ Quy mơ và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên.
* Thứ hai, cường độ lao động
- Cường độ lao động (CĐLĐ): là mức độ hao phí sức lao động trong một
đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của
lao động.
Cường độ lao động tăng lên, có nghĩa là hao phí sức lao động trong một đơn
vị thời gian tăng lênmức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động
tăng lên làm cho số lượng hàng hoá sản xuất ra tăng lên.
Vậy, Tăng CĐLĐ không làm cho lượng giá trị HH giảm. Lượng giá trị 1
đơn vị HH thường không thay đổi thậm chí tăng lên .
- Như vậy, tăng NSLĐ và tăng CĐLĐ giống nhau ở chỗ: đều thuộc sức sản
xuất của lao động; đều dẫn đến số lượng hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất ra
trong một đơn vị thời gian tăng lên. Nhưng khác nhau ở chỗ:
- Tăng NSLĐ còn làm cho lượng giá trị của một hàng hoá giảm xuống (giá
thành rẻ hơn). Hơn nữa, tăng NSLĐ dựa trên cơ sở vận dụng nhiều yếu tố nên nó
gần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn;
- Còn tăng CĐLĐ là hao phí thêm LĐTT để có số lượng sản phẩm sản xuất ra
nhiều hơnlượng giá trị của 1 hàng hoá có thể tăng lên, giảm đi hoặc không đổi.
Hơn nữa, tăng CĐLĐ phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao
động. Cho nên, nó là một yếu tố “sức sản xuất” có giới hạn nhất định.
Vì vậy, tăng NSLĐ có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế.
* Thứ ba, mức độ phức tạp của lao động bao gồm:
- Lao động giản đơn: là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường
nào không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được.
VD: Bốc vác, rửa bát...
- Lao động phức tạp: Là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện
thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được.
VD: Lao động của bác sĩ, giáo viên...
Tóm lại:
- GT của hàng hoá là lao động xã hội, trừu tượng, giản đơn trung bình của
người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
- Lượng giá trị của 1 hàng hoá là thời gian lao động xã hội cần thiết của
người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
1. 2. Tiền tệ và chức năng của tiền tệ (giảng 30 phút)
* Chuyển ý: Các nhà kinh tế trước Mác đã đề cập tới vấn đề tiền tệ từ rất
sớm, từ thời cổ đại, trung đại rồi đến các trường phái kinh tế trong CNTB. Song
hạn chế lớn nhất của họ là chưa tìm rõ nguồn gốc - bản chất và đầy đủ các chức
năng của tiền, nên đã đưa tới việc sùng bái tiền tệ. Để tìm ra nguồn gốc và bản chất
của tiền, Mác đã đi nghiên cứu sự phát triển của các hình thái biểu hiện của giá trị
trong lịch sử từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp.
1.2.1 Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ (giảng 15 phút)
* Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
- Hình thái này là "mầm mống đầu tiên của trao đổi, khi mà các sản phẩm
lao động chỉ biến thành hàng hóa trong những hành vi đơn nhất và ngẫu nhiên"
Ví dụ: 1 cái áo = 5 đấu thóc.
- Ở đây, giá trị của hàng hóa này (cái áo) chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng
hóa khác (thóc), và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy
hàng, tỷ lệ trao đổi cũng ngẫu nhiên được hình thành.
Hàng hóa thứ nhất (áo) đóng vai trò hình thức giá trị tương đối.
Hàng hóa thứ hai (thóc) đóng vai trò vật ngang giá.
Mặc dù, lúc đầu quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, nhưng dần dần
nó trở thành một quá trình xã hội đều đặn, thường xuyên thúc đẩy sản xuất hàng
hóa ra đời và phát triển. Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai - hình thái đầy đủ hay
mở rộng của giá trị.
* Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị
Hình thái này thể hiện khi mà một sản phẩm lao động nào đó, được trao đổi
với nhiều hàng hóa khác một cách thông thường rồi, "chứ không phải dưới hình
thức một ngoại lệ nữa".
Thí dụ:
= 5 đấu thóc
= 5 kg chè
1 cái áo
= 2 kg cà phê
= 0,2 gam vàng...
Ở đây, giá trị của một hàng hóa (1 cái áo) được biểu hiện ở nhiều hàng hóa
khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá.
Đồng thời, tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần
do hao phí lao động quy định. Vì ở đây, ngay từ đầu người ta sản xuất ra với mục
đích là để trao đổi, do đó, trong trao đổi họ phải tính toán đến mức lao động đã hao
phí.
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn đòi hỏi phải có một vật
ngang giá chung, xuất hiện hình thái thứ ba – hình thái chung của giá trị.
* Hình thái chung của giá trị
Thí dụ: 1 cái áo =
5 kg chè =
5 kg thóc
2 kg cà phê =
0,2 gam vàng =
Ở đây giá trị của mọi hàng hóa đều biểu hiện ở một hàng hóa đóng vai trò
làm vật ngang giá chung "vật ngang giá phổ biến" (5 đấu thóc).
Lúc này, các hàng hóa đều được đổi lấy vật ngang giá chung trước, sau đó
mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng, nhờ đó khắc phục được nhược điểm của hình
thái trước đây, vật ngang giá trở thành môi giới, thành phương tiện trong trao đổi
hàng hóa.
Tuy nhiên, ở hình thái này vật ngang giá chung chưa cố định ở một hàng
hóa nào cả và vẫn trao đổi trực tiếp, hàng đổi hàng (H - H').
Sản xuất và trao đổi hàng phát triển hơn nữa thì vật ngang giá chung được
"gắn một cách vững chắc với một số loại hàng hóa đặc thù", khi đó xuất hiện hình
thái thứ tư - hình thái tiền.
* Hình thái tiền
Thí dụ: 5 đấu thóc =
1 cái áo =
0,03 gam vàng
1 đấu chè =
2 đấu cà phê =
ở đây, giá trị của tất cả mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng hóa
đóng vai trò tiền tệ (0,03 gam vàng).
Lúc đầu, có nhiều loại hàng hóa đóng vai trò tiền tệ. Nhưng dần dần vai trò
tiền tệ được chuyển sang các kim loại quý (tiền kim loại) như đồng, rồi bạc và
vàng, và cuối cùng là ở vàng.
Khi bạc và vàng cùng làm chức năng tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là
chế độ song bản vị. Khi chỉ còn vàng độc chiếm vai trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ
được gọi là chế độ bản vị vàng.
Tại sao vàng và bạc, đặc biệt là vàng lại có được vai trò tiền tệ như vậy?
Thứ nhất, nó cũng là một hàng hóa, cũng có giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng của vàng, bạc là dùng làm đồ trang sức;
Giá trị của vàng, bạc cũng được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để
sản xuất ra nó (để tìm kiếm, khai thác, tinh luyện...).
Thứ hai, nó có những ưu thế từ thuộc tính tự nhiên, đặc biệt thích hợp với
vai trò tiền tệ, như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, dễ bảo quản, hơn nữa
với một lượng và thể tích nhỏ nhưng có giá trị lớn (vì vàng và bạc là những kim
loại hiếm, phải tốn nhiều công sức mới có được).
Như vậy; tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi
hàng hóa.
Tiền là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cố định
cho tất cả các hàng hóa, là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện
quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa. Đó chính là bản chất của
tiền.
1.2.2 Chức năng của tiền tệ (giảng 15 phút)
* Thước đo giá trị
- Thực hiện chức năng này tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các
hàng hóa khác.
- Để thực hiện chức năng này chỉ cần một lượng tiền tưởng tượng, không
cần thiết phải có tiền mặt.
- Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị, thì giá trị của hàng hóa
được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định là giá cả hàng hóa. Hay nói cách
khác, giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
=> Giá trị là cơ sở của giá cả. Trong các điều kiện khác không đổi, giá trị
của hàng hóa càng cao thì giá cả của nó cũng càng cao và ngược lại. Giá cả hàng
hóa có thể lên xuống xoay xung quanh giá trị (phụ thuộc vào những yếu tố khác),
nhưng tổng số giá cả vẫn luôn bằng tổng số giá trị.
* Phương tiện lưu thông
- Thực hiện chức năng này tiền làm môi giới trao đổi hàng hóa.
- Nếu thời gian đầu của trao đổi, công thức chung của trao đổi là hàng hoáhàng hóa(H- H) thì khi có tiền tệ làm phương tiện chức năng phương tiện lưu
thông, công thức của trao đổi là: H- T- H
- Lưu thông hàng hoá gồm hai giai đoạn( hai sự biến đổi)
+ Giai đoạn thứ nhất H – T
+ Giai đoạn thứ hai T- H
Trong giai đoạn thứ nhất, giá trị của hàng hoá “nhảy” từ vật thể hàng hoá
sang vật thể tiền. Đó là 1 bước “nhảy” nguy hiểm của hàng hoá. Trong điều kiện
sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuất tư bản chủ nghĩa người sở hữu hàng hoá
không biết trước được mình sẽ bán hàng hoá với giá cao hơn hay thấp hơn giá trị
và có bán được hay không. Do đó có thể nói: giai đoạn bán hàng hoá để lấy tiền
bao hàm cả khả năng khủng hoảng kinh tế. Trong giai đoạn này lao động tư nhân
của người sản xuất hàng hoá có được chuyển hoá thành lao động xã hội hay khôngđiều đó không hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý muốn của người sản xuất.
* Phương tiện cất trữ
- Tiền tệ cất trữ là tiền tệ rút khỏi lưu thông và được người ta cất giữ lại để
khi cần thì đem ra mua hàng.
- Tiền tệ có thể làm phương tiện cất trữ bởi vì trong xã hội có sản xuất hàng
hoá, tiền tệ là vật ngang giá chung, có thể mua bất cứ hàng hoá nào khác, là đại
biểu cho mọi thứ của cải của xã hội.
- Làm chức năng này tiền tệ nhất thiết phải có đủ giá trị. Vì vậy, chỉ có tiền
vàng, tiền bạc, vàng thoi, bạc nén và những của cải bằng vàng, bạc mới làm được
chức năng cất trữ.
* Phương tiện thanh toán
- Tiền làm phương tiện thanh toán là tiền dùng để chi trả sau khi công việc
mua - bán đã hoàn thành.
Ví dụ: trả tiền mua chịu hàng, thuê nhà, nộp thuế v.v..
- Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, xuất hiện nhiều
hình thức của tiền: tiền tín dụng, tiền séc... nên giảm được lượng tiền mặt.
* Tiền tệ thế giới
- Làm chức năng tiền tệ thế giới thì phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được
công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Mọi ký hiệu đều không có giá trị.
- Tiền tệ thế giới có 3 chức năng:
+ Làm phương tiện thanh toán số chênh lệch trong bảng cân đối thanh
toán quốc tế.
+ Làm phương tiện mua hàng hoá
+ Di chuyển của cải từ nước này sang nước khác.
- Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia và hình thành quan hệ
buôn bán giữa các nước thì chức năng tiền tệ thế giới ra đời.
=> Kết luận: Trong các xã hội xây dựng trên chế độ tư hữu, tiền tệ trở thành
công cụ của các giai cấp thống trị dùng để bóc lột nhân dân lao động, còn trong xã
hội XHCN tiền tệ lại là một công cụ dùng để xây dựng CNXH, nâng cao đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân. Tiền tệ thực ra là một quan hệ xã hội chứ không
phải là một vật nên bản chất của nó là do quan hệ xã hội quyết định.
1.3. Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa (giảng 30 phút)
1.3.1 Nội dung của quy luật giá trị
* Yêu cầu của Quy luật: sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ
sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong sản xuất: đòi hỏi người sản xuất phải làm cho giá trị cá biệt bằng
hoặc nhỏ hơn giá trị xã hội thì mới có lãi.
- Còn trong lưu thông: đòi hỏi mọi người phải trao đổi ngang giá, nghĩa là
phải căn cứ vào giá trị xã hội của hàng hoá.
1.3.2 Cơ chế tác động của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị hoạt động được thể hiện thông qua sự biến đổi lên, xuống
của giá cả trên thị trường, thông qua sự biến đổi của quan hệ cung - cầu hàng hóa.
Nếu điều kiện sức mua không thay đổi, không kể đến điều tiết của Nhà nước, độc
quyền
+ Cung = Cầu => Giá cả tương đồng giá trị
+ Cung > Cầu => Giá cả < giá trị
+ Cung < Cầu => Giá cả > giá trị