LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Những số liệu
nghiên cứu trình bày trong Luận án được trích dẫn từ nguồn cụ thể, có độ tin cậy. Những kết
quả nghiên cứu của Luận án là trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
1
1
LÊ QUANG THÀNHMỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN
Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO
CHIÉM ĐOẠT TÀI SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN 28 Ở VIỆT
NAM
2.1. Nhận thức chung về phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người 28 nước
ngoài thực hiện
2.2. Nội dung và biện pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do 47 người nước
ngoài thực hiện
Chương 3. THỰC TIỄN PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIÉM ĐOẠT TÀI
58
SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
3.1. Tình hình và nguyên nhân, điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài 58 sản do người
nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
1
1
3.2 Thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người 85 nước ngoài thực
hiện ở Việt Nam
Chương 4. PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIÉM ĐOẠT TÀI SẢN DO
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI 117 GIAN
TỚI
4.1. Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài 117 thực hiện
trong thời gian tới
4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài 120 sản do
người nước ngoài thực hiện
4.3.
4.4.
4. 57.
PHỤ LỤCBẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
4.1.
4.58.
4.59.
4.75
. 3
.5
4.81
. 3
.7
4.84
. 3
.8
4.76.
DANH MỤC
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU CÓ TRONG LUẬN ÁN
Số vụ phạm pháp hình sự CQĐT đã phát hiện, khởi
4.77.
167
tố, điều tra, và VKSND đã truy tố, trên phạm vi cả nước và ở
4.82.
Tổng số vụ phạm tội do người nước ngoài thực hiện
4.83.
169
và số vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản do
4.85.
Thống kê tỷ lệ phần trăm tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam trên tổng số
vụ việc phạm tội do người người nước ngoài thực hiện trong
4.86.
170
4. 96.
4. 2.
4.97.
3.12
4.98.
Tình hình công tác khám phá, điều tra, truy tố, xét xử
4.99.
177
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện
4.10
0. 3
.13
4.11
5. 3
.18
4. 3.
4.124.
4.101.
Thống kê điển hình tội phạm do người nước ngoài
thực hiện ở Việt Nam và tỷ lệ tội lừa đảo do người nước
4.116.
Thống kê các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người
nước ngoài thực hiện tại các địa bàn trọng điểm, điển hình và
4.102
. 1
7
4.117
. 1
8
4.125.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
4.126. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) - gọi tắt là Cương lĩnh 2011 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định trong định hướng thứ 4: “... Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà
bình, hợp tác và phát triển... chủ động và tích cực hội nhập quốc tế ...” [34]. Điều 12 Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội
nhập, hợp tác quốc tế...” [49], Đây là sự thể hiện về mặt chính trị, pháp lý đường lối đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta, với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế
giới, nhằm thực hiện chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Với xu thế này, ngày càng có nhiều
người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống và làm việc. Phần lớn trong số họ đều chấp hành tốt
kỷ cương pháp luật của nước mà họ là công dân, cũng như pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, lợi
dụng chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta, cũng có không ít các đối
tượng là người nước ngoài đã vào Việt Nam để hoạt động phạm tội. Từ đầu năm 2010 đến nay
đã xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là
những hoạt động hết sức tinh vi của các đối tượng người nước ngoài thực hiện các hành vi lừa
đảo CĐTS.
4.127. Theo thống kê của Cục Thống kê tội phạm & CNTT - Viện KSNDTC và Bộ
Công an, từ năm 2000 đến năm 2010 đã phát hiện, điều tra xử lý khoảng 1.300 vụ với gần 3000
đối tượng người nước ngoài thực hiện tội phạm ở Việt Nam. Trong đó, phát hiện và xử lý 130
vụ người nước ngoài phạm tội lừa đảo CĐTS, chiếm khoảng 10% tổng số vụ án. Từ đầu năm
2010 đến nay, tình hình người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam diễn biến khá phức tạp. Trong
năm 2014, Công an TPHCM đã phát hiện, xử lý 137 vụ việc do người nước ngoài thực hiện,
với 151 đối tượng, trong đó có 18 vụ lừa đảo CĐTS, với 39 đối tượng. Chỉ riêng 6 tháng đầu
8
8
năm 2015, Công an TPHCM đã phát hiện, xử lý được 52 vụ với 127 đối tượng người nước
ngoài phạm pháp hình sự và trong tổng số 52 vụ đó đã có tới 13 vụ với 32 đối tượng thực hiện
các hoạt động lừa đảo CĐTS. TAND TPHCM, trong năm 2014 đã xét xử 37 vụ án do người
nước ngoài gây ra, trong đó có 8 vụ lừa đảo CĐTS. Tại Hà Nội, từ tháng 12/2011 đến tháng
11/2015, toàn thành phố Hà Nội đã phát hiện 117 vụ tội phạm có yếu tố nước ngoài, tăng 52 vụ
(89%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động lừa đảo, CĐTS do người nước ngoài thực
hiện cũng có xu hướng gia tăng. Tháng 10/2014, tại Hội nghị tăng cường hợp tác quốc tế về
phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao xâm phạm TTATXH, Trung tướng Phan Văn
Vĩnh - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an đã nêu rõ từ năm 2010 đến nay, Cục
CSPCTP Công nghệ cao đã phối hợp, trao đổi thông tin, điều tra gần 100 vụ án, vụ việc, chiếm
10% số vụ án do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam, trong đó có gần 1/3 là những hành vi
sử dụng công nghệ cao lừa đảo CĐTS. Ngày 6/1/2016, trong Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện
Chỉ thị 48/CT- TƯ, Thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết: “Năm
2015 tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực viễn thông, tin học, mạng internet gia
tăng hoạt động gây thiệt hại ngày càng lớn, nhất là hành vi trộm cắp, làm giả thẻ tín dụng, lừa
đảo CĐTS”. Hoạt động lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện đã xuất hiện trên hầu hết
các lĩnh vực kinh tế như kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa, đầu tư, cho vay vốn, huy động
vốn, sử dụng công nghệ cao, lừa đảo qua mạng internet... Số lượng các vụ lừa đảo CĐTS do
người nước ngoài thực hiện chiếm tỷ lệ không nhiều song sự xuất hiện với tần suất khá đều
đặn, tính chất, quy mô, mức độ nghiêm trọng ngày càng phức tạp và hậu quả thiệt hại gây ra thì
đặc biệt lớn. Phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện là yêu
cầu rất cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với loại
tội phạm này vẫn còn nhiều những khó khăn, vướng mắc. Nhiều quy định của pháp luật hình sự
về vấn đề này đã ban hành từ lâu, hiện nay không còn phù hợp; nhiều quy định mới ban hành
lại khá chung chung, trừu tượng dẫn đến việc nhận thức và vận dụng của các chủ thể không
thống nhất. Bên cạnh đó vẫn còn những sơ hở trong các văn bản quy phạm pháp luật, vẫn còn
một sốvăn bản chưa thực sự chặt chẽ và thiếu đồng bộ.
4.128. Thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài nói chung, tội
lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng thời gian qua cho thấy: Tội phạm do
người nước ngoài thực hiện thường khó bị phát hiện, hoặc nếu bị phát hiện thì khó áp dụng các
9
9
biện pháp xử lý hình sự; việc áp dụng pháp luật hình sự, các biện pháp tư pháp và biện pháp tố
tụng đối với người nước ngoài nhiều khi còn có sự can thiệp về mặt ngoại giao nên rất khó
khăn trong công tác điều tra, xử lý; trình độ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ, tin học của cán
bộ làm công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý đối với tội phạm người nước ngoài còn hạn chế;
đối tượng phạm tội đa dạng, nhiều quốc tịch. Mặt khác, hoạt động phòng ngừa, điều tra xử lý
gặp vướng mắc vì các đối tượng người nước ngoài ngày càng tinh vi, xảo quyệt và chủ yếu lợi
dụng những sơ hở, điểm yếu trong các lĩnh vực mới như chứng khoán, tín dụng, ngân hàng... để
lừa đảo CĐTS. Những lý do nói trên càng làm cho công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện gặp nhiều khó khăn.
4.129. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội
phạm người nước ngoài nói chung, tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói
riêng, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự, TTHS, tạo cơ sở pháp
lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là tội lừa đảo CĐTS do
người nước ngoài thực hiện; đảm bảo xử l đối tượng phạm tội một cách nghiêm minh trước
pháp luật, tạo niềm tin đối với nhân dân về uy tín của Nhà nước đồng thời không làm ảnh
hưởng đến đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong xu thế hội nhập toàn cầu
hóa, NCS chọn nghiên cứu đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do
người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học.
2. Mụ c đ ích và nhiệ m vụ nghi ên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
4.130. Luận án đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện lý luận
và nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở
Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
10
10
4.131. Để đạt mục đích trên, luận án đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm và phòng ngừa tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện;
- Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và chỉ ra
nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện trong
thời gian qua;
- Làm rõ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa
đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; những khó khăn, hạn chế về lý luận và nguyên nhân
của những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước
ngoài thực hiện;
- Dự báo tình hình tội phạm do người nước ngoài thực hiện, tình hình tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tới và đưa ra những giải pháp,
kiến nghị.
3. Đối tượng và phạ m vi nghi ên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
4.132. Luận án nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước
11
11
ngoài thực hiện; tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và thực tiễn hoạt
động phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam,chủ yếu trên
phương diện hoạt động của lực lượng CAND.
- Về địa bàn: Toàn quốc (Tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, trọng điểm về
kinh tế - thương mại).
- Về thời gian: Từ năm 2005 - 2014.
4.
Phương phá p 1 uận và phương phá p nghi ên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối,
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong tình hình mới.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp điều tra chọn mẫu theo lát cắt ngang
4.133. NCS đi vào phân tích điển hình số liệu các vụ việc lừa đảo CĐTS do người nước
ngoài thực hiện từ năm 2005 đến năm 2014 với các tiêu chí về loại hành vi phạm tội; quốc tịch
bị can; những vụ việc đã áp dụng chế tài hình sự, các bị can đã bị áp dụng chế tài hình sự; các
vụ việc và bị can chưa bị áp dụng hoặc không bị áp dụng chế tài hình sự; nguyên nhân của việc
chưa áp dụng chế tài hình sự đối với những hành vi phạm tội? Từ đó đưa ra những đánh giá về
hiệu quả thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện.
Phương pháp này được áp dụng tại Chương 3 của Luận án.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng trong các Chương
1, 2 và 4 của Luận án, dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài
12
12
liệu đã có hoặc đã được nghiên cứu trước đây để củng cố, xây dựng cơ sở luận cứ nhằm chứng
minh giả thuyết đưa ra: Hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý về phòng ngừa tội phạm nói
chung, tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện như thế nào?
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong
Chương 2 của luận án, để phân tích nguồn tài liệu thu thập được (tạp chí và báo cáo khoa học,
tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin...). Sau đó, liên kết những mặt, những bộ phận,
những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra
một hệ thống lý thuyết mới hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn về chủ đề nghiên cứu là “phòng ngừa tội
lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam”.
- Phương pháp thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng hỏi): Loại số liệu thu thập
trong phương pháp này để chứng minh giả thuyết: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự, pháp
luật TTHS đối với người nước ngoài ra sao? Thực tiễn hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội
lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện như thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra những đánh
giá, dự báo và giải pháp hạn chế tình trạng này, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh.
Phương pháp này được sử dụng trong Chương 3, 4 của luận án.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các đồng chí là cán bộ Tòa án, Viện
Kiểm sát; các đồng chí là Điều tra viên, cán bộ quản giáo ở trại giam (nơi giam giữ người nước
ngoài); các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý; các chuyên gia quản l . để lấy ý kiến nhằm làm rõ
nội dung thực trạng hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài; những
hạn chế, yếu kém cần khắc phục và nguyên nhân của chúng; đề xuất giải pháp và kiến nghị
trong Chương 4 của luận án.
- Phương pháp điều tra điển hình: NCS lựa chọn địa bàn điển hình là Thành phố Hồ
Chí Minh và những địa bàn, lĩnh vực xảy ra nhiều vụ án lừa đảo CĐTS do người nước ngoài
thực hiện; chỉ ra nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực
hiện; đưa ra sự liên quan, tính quy luật về sự phát sinh, tồn tại và phát triển của loại tội phạm
13
13
này và trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét, đánh giá chung và đưa ra những kết luận về vấn đề
nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ các nội dung ở Chương 3,
Mục 3.2.
5. Đóng góp m ới về khoa học của luận án
- Luận án góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do
người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam;
- Chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện của loại tội này và đưa ra dự báo về đặc điểm của
tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua;
- Làm rõ những ưu điểm trong nhận thức và thực tiễn áp dụng lý luận về phòng ngừa
tội phạm; các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS trong phòng ngừa, đấu tranh với
tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, đồng thời chỉ ra những điểm còn hạn chế;
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hơn nữa
hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện
ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học: Luận án hệ thống cơ sở lý luận về phòng ngừa tội phạm, trong đó
có lý luận về phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện. Những kết quả
nghiên cứu của luận án góp phần đánh giá một cách khách quan về lý luận cũng như thực tiễn
phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam; góp phần bổ sung,
phát triển hệ thống lý luận về phòng ngừa tội phạm, làm phong phú thêm tri thức khoa học về
tội phạm học;
14
14
- Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp, kiến nghị của luận án có thể áp dụng vào hoạt
động thực tiễn, giúp công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài
thực hiện đạt hiệu quả cao hơn; Luận án còn có giá trị làm tài liệu để các chủ thể làm công tác
thực tiễn tìm hiểu cũng như cho những tổ chức, cá nhân có quan tâm đến vấn đề này tham khảo,
nghiên cứu.
7. Cơ cấu của luận án
4.134. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu thành 4 chương như sau:
4.135. Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
4.136. Chương 2. Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội lừa đảo chiế m đoạt tài
sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
4.137. Chương 3. Thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo chiế m đoạt tài sản do người
nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
15
15
4.138.
Chương 4. Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài
thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tớiChương 1
4.139. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐÉN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
4.140. Từ những công trình của nhiều nhà nghiên cứu đã công bố có thể thấy rằng liên
quan đến đề tài luận án cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau của các nhà khoa học. Phần lớn các tác giả nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý
luận của Tội phạm học; nghiên cứu về tội lừa đảo CĐTS theo quy định của pháp luật Hình sự;
hoặc nghiên cứu tội phạm lừa đảo CĐTS dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm như về
diễn biến của tình hình tội lừa đảo CĐTS; về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo
CĐTS; đặc điểm hình sự của tội lừa đảo CĐTS; về hoạt động phòng ngừa, hoạt động điều tra tố
tụng của lực lượng CSND, hoạt động xử lý đối với loại tội phạm này. Có thể khái quát như sau:
- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận của Tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm, điển hình là: Sách chuyên khảo “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa
tội phạm”, Nxb CAND, Hà Nội, 2001 do GS, TS Nguyễn Xuân Yêm chủ biên; Sách chuyên
khảo “Phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới”, của tập thể tác giả, Nxb CAND, Hà Nội
2001; Giáo trình Tội phạm học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999, (tái bản năm 2011) của GS, TS Võ
Khánh Vinh; Sách chuyên khảo, Viện NCNN&PL (2004), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố
tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa” của GS,TS Nguyễn Xuân
Yêm và PGS, TS Nguyễn Minh Đức, Nxb CAND, năm 2011; Giáo trình Tội phạm học của GS,
TS Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 - Trường ĐH CSND; Giáo trình Tội phạm học, Nxb CAND
năm 2013 của GS, TS Võ Khánh Vinh viết cho Đại học Huế 2013; Giáo trình Đặc điểm tội
phạm học của tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - chức vụ và biện pháp phòng ngừa, của
GS,TS Hồ Trọng Ngũ và PGS, TS Phạm Quang Phúc, Nxb CAND, Hà Nội 2015...
16
16
- Một số các công trình viết về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm bằng các
biện pháp và hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CSND, trong đó có hoạt động phòng ngừa,
điều tra đối với tội lừa đảo CĐTS và tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu tố nước ngoài. Điển hình
là: Công trình “Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trongphồng ngừa tội phạm do
người nước ngoài gây ra ở Việt Nam ”, Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Phương Đạt, bảo vệ tại
Đại học CSND (nay là Học viện CSND) năm 2001; Công trình “Hoạt động của lực lượng
Cảnh sát nhân dân trong phồng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Luận án Tiến sĩ
của NCS Phạm Quang Phúc, bảo vệ tại Học viện CSND năm 2003;
- Những công trình nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm hình sự nói
chung cũng như tội phạm do người nước ngoài thực hiện và tội phạm lừa đảo CĐTS do người
nước ngoài thực hiện có các công trình như: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo theo
luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Sĩ Lý, năm 1997; “Đấu tranh phòng,
chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Quang Phúc năm 1999; “Đấu tranh phòng, chống tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ của NCS Lê Đăng Doanh, năm 2008;
- Một số tác giả khác lại dành sự chú ý cho các nghiên cứu theo trục phòng ngừa, điều
tra tội phạm thuộc chức năng của lực lượng CSND. Điển hình như: “Hoạt động của lực lượng
Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Luận án Tiến sĩ
của NCS Phạm Quang Phúc, bảo vệ tại Học viện CSND năm 2003; hoặc theo trục lý luận về
phòng, chống tội phạm như: “Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt
Nam”, Luận án Tiến sĩ của NCS Lê Đăng Doanh, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2008;
hoặc Đề tài “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phố phía
Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, Đề tài khoa học cấp Bộ của PGS, TS
Trịnh Văn Thanh, năm 2009;
- Những nghiên cứu về lý luận và phương pháp điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, theo chức năng của lực lượng CSND hoặc theo từng lĩnh vực, cụ thể như:
17
17
“Phươngpháp điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Mạo Anh năm 1996, bảo vệ tại Trường Đại học CSND; “Tổ chức hoạt động điều tra vụ án lừa
đảo chiếm đoạt tài sản”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Nguyễn Văn Yên, Trường Đại học CSND
năm 1997. Trong số này có một số đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động của lực lượng CSND
trong điều tra, xử lý đối với tội phạm trong các lĩnh vực cụ thể về ngân hàng, thuế, xuất khẩu
lao động... như: Đề tài “Phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt
động đưa người đi lao động ở nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân ”, của Đinh Anh
Tuấn, Học viện CSND năm 2005; Đề tài “Tội phạm lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng trong
giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta - Thực trạng và các giải pháp đấu tranh
của lực lượng Cảnh sát kinh tế”, Đề tài khoa học của Học viện CSND năm 1999; Hoạt động
lừa đảo trong việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh của
lực lượng Cảnh sát nhân dân ”, Đề tài khoa học của Học viện CSND 2005; hoặc về phương
diện hợp tác quốc tế phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng
CSND có công trình “Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố
nước ngoài của lực lượng Cảnh sát nhân dân
-
Lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp Bộ của ThS Nguyễn Giang Nam, năm 2010;
- Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tội phạm học, lý luận về phòng ngừa tội phạm
và những công trình nghiên cứu chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có
tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện còn có những đề tài nghiên cứu đề cập đến
những vấn đề về người nước ngoài và quy chế pháp lý của họ ở Việt Nam. Đáng chú ý là các
công trình: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài
ở Việt Nam ”, Luận án Tiến sĩ của NCS Bùi Quảng Bạ - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội 1996; ”Quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài tại Việt Nam",
Luận án Tiến sĩ của NCS Ngô Phúc Thịnh - Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002; "Những
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý người nước ngoài nhằm bảo đảm an ninh trật tự của lực
lượng công an nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Đề
tài cấp Bộ của Vụ quản lý Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Hà Nội năm 2002.
18
18
- Ngoài ra còn có các công trình của Khoa học luật Hình sự nghiên cứu về quy định của
BLHS 1999 về tội lừa đảo CĐTS; về nội dung pháp lý, dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm
này như: Giáo trình Luật Hình sự của Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật
-
Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Huế, Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại
học Cảnh sát nhân dân... và trong các sách chuyên khảo về luật Hình sự khác như Bình
luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 của GS, TS Võ Khánh Vinh, GS, TS Hồ Trọng
Ngũ, TS Đinh Văn Quế; sách chuyên khảo luật Hình sự của GS, TSKH Lê Cảm, GS,TS
Võ Khánh Vinh. Tất cả những sách, chuyên khảo nói trên đều có những phần, nội dung
về tội phạm, dấu hiệu pháp l đặc trưng, cấu thành của tội phạm, chính sách hình sự đối
với tội phạm.... Những quan điểm, luận điểm khoa học đó đã được thừa nhận rộng rãi và
đây có thể được coi như nguồn hình thành cơ sở lý thuyết cho NCS trong quá trình
nghiên cứu, cũng như những công trình nghiên cứu sau này.
4.141. Bên cạnh các công trình nêu trên còn có những bài báo khoa học đăng trên các
tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí TAND, Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ pháp luật,
Tạp chí CAND... đề cập tới một số vấn đề có liên quan đến người nước ngoài, tội lừa đảo
CĐTS ở các góc độ khác nhau như: “Bàn về việc giải quyết những vụ lừa đảo trên thẻ của
người nước ngoài”, của tác giả Vũ Trọng Thưởng, Tạp chí Kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, số tháng 02/2011, tr. 58 - 59, 62; “Xác định ranh giới các tội lừa đảo, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản với giao dịch dân sự”, của tác giả Vũ Quốc Thắng, tạp chí Kiểm sát,
số 6/1999. và một số bài báo, tạp chí khoa học khác.
4.142. Những công trình, kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo,
nghiên cứu, hệ thống lại cho thấy không nhiều công trình có hướng nghiên cứu với nội dung
chuyên sâu về lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là lý luận
và thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam. Nhiều
công trình nghiên cứu chủ yếu là trên phương diện tội phạm và điều tra tội phạm lừa đảo
CĐTS; những nội dung chủ yếu mà các tác giả nghiên cứu hầu hết đều liên quan đến công tác
19
19
hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND. Hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội)
của các chủ thể có thẩm quyền như TAND, VKSND, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể,
quần chúng nhân dân còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức; không nhiều nghiên cứu
chuyên sâu về áp dụng pháp luật Hình sự, pháp luật TTHS đối với người nước ngoài. Bên cạnh
đó, vấn đề hoàn thiện quy trình phối hợp trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm
lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện cũng chưa được khai thác, nghiên cứu một cách
hệ thống. Mặt khác, đa số các công trình mà các tác giả nghiên cứu cũng đã diễn ra khá lâu từ
đầu những năm 2000, hiện nay đã gần 20 năm. Điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội trong xu
thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi, kéo theo đó là những thay
đổi của đặc điểm tình hình tội phạm và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm nói chung, tội lừa
đảo CĐTS nói riêng. Mặt khác, tình hình người nước ngoài đến Việt Nam để làm ăn, sinh sống,
lượng kiều bào ở nước ngoài trở về Việt Nam cũng tăng lên, thậm chí những thay đổi của kinh
tế quốc tế thời gian qua cũng có những biến đổi sâu sắc. Chính vì vậy, rất cần thiết phải có
những nghiên cứu tiếp theo về tội phạm có tính quốc tế, tội phạm do người nước ngoài thực
hiện, đặc biệt là tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam thời gian
qua. Từ đó, có thể đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao
hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện
trong thời gian tới.
4.143. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc và hệ thống lại những kết quả nghiên
cứu của các nhà khoa học thể hiện thông qua nội dung của những công trình đã nói trên, chúng
tôi đã cơ bản có đủ dữ liệu để đưa ra những nhận xét chung về tình hình nghiên cứu của các
công trình đã thực hiện có liên quan trực tiếp đến đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” dưới những góc độ sau đây:
4.144. Thứ nhất, về khía cạnh pháp lý hình sự của tội lừa đảo CĐTS đã được các tác
giả nghiên cứu tương đối đầy đủ, thể hiện thông qua những nội dung cơ bản như sau:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 134 BLHS
20
20
1985; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung
năm 2009); gần đây nhất, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS
2015;
- Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
xã hội chủ nghĩa theo quy định của BLHS 1985 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định
của BLHS 1999 như: mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của tội
phạm; trách nhiệm hình sự, đường lối xử l đối với người thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo
CĐTS... Những vấn đề nói trên đã được các tác giả đề cập tương đối đầy đủ, rõ ràng với cơ sở
lý luận khá vững chắc và có thể sử dụng để tham khảo khi nghiên cứu các công trình tiếp theo;
4.145. Thứ hai, về người nước ngoài và chế độ pháp lý người nước ngoài
4.146. Những vấn đề lý luận về người nước ngoài và chế độ pháp lý của người nước
ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam; về thực trạng tình hình người nước ngoài ở Việt
Nam; về việc quản lý xuất nhập cảnh, cư trú của nười nước ngoài. đã được một số công trình đề
cập khá đầy đủ, chi tiết. Các công trình đã đưa ra và làm rõ thêm một số khái niệm: về người
nước ngoài; về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản l nhà nước đối với người nước ngoài ở
Việt Nam; làm rõ địa vị pháp l của người nước ngoài và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà
nước đối với họ ở Việt Nam. Các công trình đã khái quát thực tiễn quản lý nhà nước đối với
người nước ngoài, tình hình vi phạm pháp luật của người nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động
xử l vi phạm của các cơ quan chức năng trong những năm cuối 1990 của thế kỷ XX. Từ đó, đưa
ra những định hướng, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản l người nước
ngoài; nâng cao thức pháp luật, văn hóa pháp l ; đổi mới bộ máy, cán bộ, cơ chế quản l nhằm
thực hiện quản l nhà nước có hiệu quả đối với người nước ngoài ở Việt Nam. Chẳng hạn như
công trình "Quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài tại Việt Nam", Luận án Tiến
sĩ của NCS Ngô Phúc Thịnh - Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002. Một số kiến nghị có
tính khả thi của một số tác giả về sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đã ban hành khi đó,
tập trung vào một số điều của Bộ luật Hình sự, đặc biệt là kiến nghị: "Cần bổ sung hình phạt
21
21
trục xuất vào hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự được áp dụng vừa l hình phạt chính vừa l
hình phạt bổ sung", được nêu trong Luận án của Bùi Quảng Bạ từ năm 1996, đã được pháp điển
hóa thành Điều luật trong BLHS.
4.147. Thứ ba, về các chủ thể đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam
4.148. Ở Việt Nam, đấu tranh phòng, chống tội phạm từ trước đến nay luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm. Phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp
bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự
quản lý, chỉ đạo Điều hành thống nhất của Nhà nước. Phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ của
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó các cơ quan chức năng làm nòng cốt, vai trò, trách
nhiệm người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương nhằm huy
động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; đề cao vai trò, trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của
Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân.
4.149. Chủ thể tiến hành hoạt động phòng, chống tội phạm ở nước ta bao gồm: các tổ
chức Đảng, với vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng và lãnh đạo trực tiếp các lực
lượng tiến hành phòng ngừa tội phạm; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; các
tổ chức quần chúng được thành lập ở cơ sở với mục đích phòng, chống tội phạm ở cộng đồng
dân cư; các tổ chức kinh tế - xã hội khác; các tập thể lao động và công dân; trong đó, cần xác
định rõ vai trò của lực lượng CAND là nòng cốt và vai trò của lực lượng CSND là chủ đạo
trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm. Vai trò, chức năng, của các cơ quan này; cơ sở pháp
lý cho việc thực hiện vai trò, chức năng của các chủ thể đã được nhiều công trình nghiên cứu,
trình bày tương đối đầy đủ, kể cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Chẳng hạn như: Giáo
trình “Tội phạm học” của GS, TS Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, Hà Nội 2003; Sách chuyên
khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa”
của GS,TS Nguyễn Xuân Yêm và PGS, TS Nguyễn Minh Đức, Nxb CAND, năm 2011; Giáo
trình “Tội phạm học” của GS, TS Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 - Trường ĐH CSND; Giáo trình
22
22
“Tộiphạm học”, Nxb CAND, Đại học Huế 2013 của GS, TS Võ Khánh Vinh;
4.150. Thứ tư, về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện tội phạm nói chung,
tình hình tội lừa đảo CĐTS và đặc điểm tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam.
- Có thể nhận thấy, hầu hết các giáo trình, sách chuyên khảo cũng như bài báo khoa học
của các tác giả đã hệ thống, phân tích, đánh giá được một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên
quan đến:
4.151. Một là, đặc điểm của tình hình tội phạm nói chung, đặc điểm tình hình tội phạm
có yếu tố nước ngoài và đặc điểm tình hình của tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực
hiện;
4.152. Hai là, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra những nguyên nhân, điều kiện
của tội phạm lừa đảo CĐTS và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người
nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua. Chẳng hạn như công trình “Đấu tranh
phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học của NCS Lê
Đăng Doanh, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2008; hoặc Đề tài khoa học cấp Bộ của GS,
TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành
phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, TP HCM năm 2009.
4.153. Thứ năm, những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm người nước ngoài;
phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện.
- Về vấn đề này, nhiều tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm
lừa đảo CĐTS theo chức năng của các chủ thể tham gia phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo
23
23
CĐTS. Cũng đã có công trình đưa ra khái niệm “phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do người
nước ngoài thực hiện” theo phương diện hoạt động của lực lượng CAND. Chẳng hạn như Đề
tài cấp Bộ của GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại
các tỉnh, thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, TP HCM
năm 2009. Theo đó, phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS là hoạt động sử dụng các biện pháp
phòng ngừa xã hội và biện pháp phòng ngừa chuyên biệt phù hợp với chức năng và nhiệm vụ
của từng chủ thể, trong khuôn khổ quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu là làm hạn
chế, tiến tới loại trừ nguyên nhân và điều kiện tội phạm lừa đảo CĐTS.
4.154. Các công trình nghiên cứu như chúng tôi đã hệ thống trước đây, cũng đã đề cập
nhiều đến những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý, nguyên tắc hoạt động cũng như thực trạng việc
tổ chức lực lượng, hoạt động đấu tranh phòng, chống của các chủ thể, nhất là của lực lượng
CSND trong phòng ngừa, điều tra, xử lý với loại tội phạm lừa đảo CĐTS, tội phạm lừa đảo
CĐTS có yếu tố nước ngoài; về thực tiễn phòng ngừa, điều tra tội phạm do người nước ngoài
thực hiện; việc xác định trách nhiệm hình sự và áp dụng chế tài hình sự đối với các hành vi
phạm tội của các chủ thể là người nước ngoài ở Việt Nam. Tiêu biểu là công trình nghiên cứu
của PGS,TS Trần Phương Đạt “Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa
tội phạm do người nước ngoài gây ra ở Việt Nam”, năm 2001; hoặc Đề tài khoa học cấp Bộ của
GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh,
thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”năm 2010.
4.155. Thứ sáu, về các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm có yếu tố nước ngoài
4.156. Hầu hết, các công trình nghiên cứu về tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm lừa
đảo CĐTS có yếu tố nước ngoài đều đã đưa ra những dự báo về tình hình tội phạm lừa đảo
CĐTS, tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài; Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trước
đây cũng đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận về phòng ngừa,
góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung và
24
24
phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, các
tác giả đã đưa ra những định hướng, giải pháp cơ bản như: Huy động sức mạnh tổng hợp của
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng CAND làm nòng cốt. Tích cực phòng ngừa,
chủ động tấn công, tấn công liên tục các loại tội phạm nhằm tạo ra sự chuyển biến và ổn định
về an ninh trật tự; đây là hai mặt của phòng, chống tội phạm. Trong đó, phòng ngừa là yếu tố
quyết định, có ý nghĩa chiến lược cơ bản; tấn công tích cực có ý nghĩa quan trọng vừa có tác
dụng răn đe, ngăn chặn, hỗ trợ cho phòng ngừa có hiệu quả. Thực hiện tốt các chính sách xã hội
nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trong tình hình mới như: chính sách giải quyết
việc làm; chính sách xoá đói giảm nghèo; chính sách xã hội đối với đồng bào có đạo, đồng bào
dân tộc ít người; chính sách giáo dục, cảm hoá người lầm lỗi.
4.157. Để thực hiện được các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời
gian tới, đa số các tác giả cho rằng, cần tiến hành đồng bộ các yêu cầu: dự báo chính xác bằng
các căn cứ khoa học; tổ chức tốt công tác nắm tình hình đối với các đối tượng; tiến hành điều
tra cơ bản trên các địa bàn nhất là các địa bàn trọng điểm; quản lý các đối tượng thuộc diện
quản lý nghiệp vụ và tập trung trinh sát đối với các đối tượng kiểm tra nghiệp vụ; tổ chức đấu
tranh ngăn chặn các hoạt động của các loại đối tượng trong và ngoài nước xâm phạm an ninh
trật tự; thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị 28/CT-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ ANQG, Nghị
quyết số 09/NQ-CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình
hình mới; tăng cường công tác trinh sát, công tác điều tra, bắt giữ, xử lý kiên quyết tội phạm;
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.158. Những kết luận, giải pháp và kiến nghị khoa học đó phần nào cũng là căn cứ để
các nghiên cứu tiếp theo tham khảo, trong đó có luận án của NCS. Mặt khác, tiếp tục nghiên
cứu những vấn đề mà các công trình trước đây còn chưa đề cập tới hoặc đã đề cập tới song theo
một hướng tiếp cận khác.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoà i nước
25
25