Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay trong xu thế phát triển, hội nhập vào nền kinh tế mới, nhu cầu lương
thực thực phẩm của con người ngày một được nâng cao về chất lượng và số lượng, do
đó đòi hỏi ngành nông nghiệp phải có những bước thay đổi để đáp ứng nhu cầu bức
thiết trên, trong đó ngành chăn nuôi nói chung mà cụ thể là chăn nuôi heo nói riêng
đóng một vai trò quan trọng.
Việc chạy theo thị trường như vậy đã thúc đẩy các nhà chăn nuôi áp dụng nhiều
biện pháp kỉ thuật tiên tiến để gia tăng sản xuất, tạo ra nhiều đàn heo, nhiều con giống
chất lượng, cho tỉ lệ nạc cao và việc quan tâm đến sự sinh sản của đàn heo bắt đầu
được chú trọng nhiều hơn về mặt kỉ thuật và phương pháp.
Thực tế cho thấy rằng việc nuôi heo sinh sản đã mang lại cho người chăn nuôi
nguồn thu nhập đáng kể, tuy nhiên không hề dễ dàng, đàn heo sinh sản dễ mắc bệnh về
đường sinh dục nếu không được quan tâm, chú ý nhiều mà trong đó hội chứng MMA
thường xuyên xuất hiện. Tuy không gây chết đàn heo nhưng lại làm ảnh hưởng rất lớn
về mặt kinh tế cho nhà chăn nuôi: heo nái kéo dài thời gian động dục trở lại, giảm tiết
sữa, heo con tiêu chảy, chậm tăng trưởng, giảm sức đề kháng…
Đứng trước thực trạng trên, cũng như để hiểu biết thêm về thực tế và hiểu rõ hơn
về hội chứng MMA, được sự đồng ý của bộ môn Nội Dược khoa Chăn Nuôi Thú Y
trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ
Trần Văn Dư với sự giúp đở của Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I, chúng tôi thực hiện đề
tài:
“ Khảo sát hội chứng MMA trên đàn heo nái sinh sản tại Xí Nghiệp Heo Giống
Cấp I ”
1
1.2 MỤC ĐÍCH
Khảo sát hội chứng MMA và tác hại của hội chứng MMA đến thành tích sinh sản
ở heo nái.
1.3 YÊU CẦU
Khảo sát tỉ lệ heo nái nhiễm MMA tại trại Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I.
Khảo sát thời gian xuất hiện triệu chứng và các chứng trong hội chứng MMA.
Khảo sát nguyên nhân gây hội chứng MMA.
Khảo sát hậu quả của hội chứng MMA.
2
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 SƠ LƯỢC XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I
2.1.1 Vị trí địa lý
Xí Nghiệp Heo Giống Cấp 1 toạ lạc tại số 37/11 phường linh xuân, quận
Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm Thành Phố 18km. Xí nghiệp được
xây dựng trên một triền đồi, nằm ở khu dân cư, cách quốc lộ 1A về hướng tây khoảng
700m, Xí Nghiệp nằm trên quốc lộ 1K nên rất thuận tiện cho việc giao thông, vận
chuyển thức ăn và bán heo.
Diện tích xí nghiệp: khoảng 4 ha
2.1.2 Lịch sử phát triển
Trước năm 1975, xí nghiệp có tên là trại heo Chấn Hưng thuộc tư nhân.
Sau năm 1975, các cơ sở chăn nuôi được nhà nước tiếp thu và quản lí. Hai cơ sở Chấn
Hưng và Quyết Thắng cũng được nhà nước tiếp quản và sát nhập thành 1 trại duy nhất
lấy tên là Chấn Hưng. Trong thời gian này trại trực thuộc công ty Chăn Nuôi Heo II.
Năm 1981, trại đổi tên thành Xí Nghiệp Heo Giống Cấp 1. Cũng trong
thời gian này, Sở Nông Nghiệp đã nhập 3 giống heo: YY, LL, DD với tổng số nái là
300 con, nọc 42 con, với mục đích làm phong phú va đa dạng nguồn gen của trại.
Từ năm 1992, xí nghiệp trực thuộc Sở Nông Nghiệp và phát Triển Nông
Thôn, Thành Phố Hồ Chí Minh. Và từ năm 1997 đến nay, xí nghiệp trực thuộc Tổng
Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn. Tháng 10/1998, xí nghiệp sát nhập thêm trại heo việt
Bỉ do Xí Nghiệp Chăn nuôi Heo quản lí và đồng thời có thêm giống PP.
2.1.3 Chức năng và cơ cấu tổ chức
Chức năng :
3
Xí nghiệp Heo Giống Cấp 1 hoạt động với mục đích chính là tiếp nhận
nguồn giống cao sản của các nước tiên tiến để nâng cao phẩm chất đàn giống hiện có,
tránh đồng huyết ở các đàn đang sử dụng.
Là đơn vị giống cấp 1 duy nhất ở miền Nam, xí nghiệp tự xác định
nhiệm vụ của mình là phải quản lí và bảo tồn được nguồn gen của các giống hiện có,
nâng cao chất lượng đàn giống bằng các biện pháp kĩ thuật và tổ chức khoa học và
hiệu quả quá trình sản xuất con giống. Là nơi cung cấp con giống, tinh có chất lượng
cho các nhà chăn nuôi trong cả nước.
Cơ cấu tổ chức :
Xí nghiệp được sư chi phối của Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn
dưới sự quản lí của Giám Đốc Xí Nghiệp, bên dưới là các bộ phận chức năng chuyên
biệt đảm nhận các công việc khác nhau. Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp được trình bày
qua sơ đồ :
TỔNG CÔNG TY NÔNG NGHIỆP SÀI GÒN
GIÁM ĐỐC
TỔ
NGHIỆP
VỤ
TỔ PHỤC
VỤ CƠ
KHÍ
TỔ SẢN
TỔ SẢN
XUẤT
XUẤT
HEO
HEO NÁI
ĐỰC
SINH
GIỐNG
SẢN
Sơ đồ. Cơ cấu tổ chức quản lí của Xí Nghiệp
Nhân sự: gồm
Giám đốc: 1 người
Tổ nghiệp vụ: 3 người
Tổ phục vụ - cơ khí : 11 người
Tổ sản xuất heo đực giống: 3 người
Tổ sản xuất heo nái sinh sản : 8 người
Tổ sản xuất heo hậu bị: 7 người
4
TỔ SẢN
XUẤT
HEO
HẬU BỊ
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống
*Cơ cấu đàn
Cơ cấu đàn tính đến ngày 10/10/2008
Đàn sinh sản:
-Heo đực giống: 78 con
-Heo cái sinh sản: 424 con
Đàn hậu bị: 1100 con
Đàn heo con giống (28-90 ngày): 1587 con
Heo con theo mẹ: 1167 con
Tổng đàn: 4356 con
*Công tác giống
Là một xí nghiệp heo giống nên việc duy trì nguồn gen quý để
cung cấp các con giống tốt cho các cơ sở chăn nuôi trong nước nên vấn đề công tác
giống của xí nghiệp được đặt lên hàng đầu và được thực hiện rất chặt chẽ và liên tục.
+Các bước tiến hành chọn giống
Heo con sơ sinh: phải từ 1,20 kg trở lên không dị tật, da lông bóng mượt,
linh hoạt, có 12 vú trở lên, các núm vú cách đều nhau, không so le, bộ phận sinh dục
bình thường, cắt răng, bấm tai, cắt đuôi.
Heo con cai sữa: cân trọng lượng heo và yêu cầu phải đạt trọng lượng từ
5 kg trở lên.
Heo lúc 2 – 3 tháng tuổi: ngoại hình đẹp, linh hoạt không dị tật, da lông
bóng mượt, có 12 vú trở lên, các núm vú cách đều nhau, không so le, bộ phận sinh dục
bình thường, lộ rõ đặc điểm giới tính.
Heo đực và cái hậu bị: trước khi chúng được đưa vào sử dụng đều được
các chuyên gia giám định ngoại hình thể chất lại. Mỗi cá thể được chọn làm hậu bị
được lập một phiếu theo dõi sức sinh trưởng, thành tích sinh sản, có chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng riêng để tiện theo dõi tình trạng sức khỏe. Đồng thời dựa vào phiếu lí lịch
để dễ dàng quản lí dòng, giống, bản thân anh chị em và đời sau.
+ Phương pháp phối giống
Đàn heo nái của Xí Nghiệp tất cả đều được gieo tinh nhân tạo.
+Chương trình nhân giống
5
Xí Nghiệp thực hiện nhân giống thuần các giống YY, LL, DD, PP và
nhân giống lai giữa các giống thuần trên với nhau.
2.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.2.1 Sự sinh sản heo nái
2.2.1.1 Sự thành thục
Sự thành thục đó là tuổi bắt đầu động dục, hoặc tuổi bắt đầu xuất noãn hoặc có
thể mang thai. Heo cái thành thục sau khi đạt 4 – 8 tháng tuổi. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến tuổi thành thục : giống ( yếu tố di truyền ), điều kiện dinh dưỡng, thể trạng
từng cá thể, mùa trong năm…Heo cái sau khi thành thục có khả năng sinh sản, tuy
nhiên những cái tơ này sẽ không được phối giống ở lần động dục đầu tiên, do sự thành
thục về tầm vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về giới tính, ngoài ra nhu cầu
dinh dưỡng ở giai đoạn này còn cần cho sự phát triển của cơ thể, do đó nếu heo mang
thai trong giai đoạn này thì sẽ dẫn tới đẻ khó và heo con đẻ ra sẽ yếu. Hiện nay trung
bình tại trại chăn nuôi cho cái tơ phối vào khoảng 7,5 – 8 tháng tuổi.
2.2.1.2 Chu kì lên giống
KÍCH THÍCH TỐ ĐIỀU KHIỂN CHU KÌ LÊN GIỐNG
Hypothalamus
(-)
LRF
Tử cung
FRF
Tuyến yên
Prostaglandin
Rụng trứng
Sự hủy hoàng thể
LH
FSH
Chín mùi
nang noãn
Tạo hoàng thể
(-)
(+)
Progesterone
phát triển
Lượng Estrogen rất
và kích
cao được giải phóng
thích tế
Bào tạo
Làm xuất hiện và duy trì
(+): Kích thích
các đặc điểm sinh dục thứ cấp
(-): Ức chế
6
Estrogen
Thú cái thành thục sẽ có những thay đổi về mặt sinh lí có tính chu kì. Toàn bộ
diễn tiến sinh lí bắt đầu lần lên giống này đến lần lên giống kế tiếp gọi là chu kì lên
giống. Ở heo chu kì lên giống là 21 ngày.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng chu kì lên giống : nhiệt độ, dinh dưỡng, pheromone,
thể trạng từng thú…Ngoài ra sự viêm nhiễm, bệnh về đường sinh dục cũng có thể kéo
dài thời gian lên giống trở lại.
2.2.1.3 Sự mang thai
Sau khi phối giống 21 ngày nếu không thấy heo cái có dấu hiệu động dục trở lại
xem như đã đậu thai. Thời gian mang thai trung bình là 114 ngày ( 3 tháng 3 tuần 3
ngày ).
Dựa vào sự phát triển của thai, người ta chia làm 2 giai đoạn trong kì mang thai:
+Chữa kỳ 1 ( kéo dài 84 ngày ) : bào thai còn nhỏ, ít sử dụng dưỡng chất, heo
mẹ hấp thụ và dự trữ chất dinh dưỡng. Sự dự trữ này cần thiết cho sự tạo sữa sau này.
Nếu thiếu dưỡng chất ở kì này bào thai bị ảnh hưởng đầu tiên và nái mất sữa sau khi
sanh; nếu dư thừa, nái sẽ có nguy cơ mập mỡ và sinh khó sau này.
+ Chữa kì 2 (từ ngày 85 đến đẻ ) : thời kì này thai đã lớn và sử dụng nhiều
dưỡng chất để phát triển, do đó nếu thức ăn dư thừa thì bào thai sẽ tăng trọng nhanh,
tầm vóc sẽ lớn dẫn tới nái đẻ khó. Nếu thiếu dưỡng chất thì bào thai nhỏ, sức đề kháng
yếu, khó nuôi. Ở thời kì này nái rất cần được vận động để có hệ cơ tốt, chân khỏe và
khung xương chậu nở rộng đối với nái đẻ lứa đầu.
2.2.1.4 Nái đẻ và nuôi con
Nái sắp sanh thường có dấu hiệu đi đứng không yên, bồn chồn, lo lắng, thường
hay làm ổ, có tiếng kêu rất đặc biệt. Cơ quan sinh dục: âm hộ sưng đỏ, tiết dịch nhờn,
bầu vú căng đầy sữa.
Nái thường sinh vào ban đêm và thường sinh được khoảng 8 – 14 con.. Trung
bình cứ 15 – 20 phút nái hạ 1 con, khoảng 3 – 4 giờ nái sẽ đẻ hết con và nhau được
tống ra cuối cùng.
Heo con đẻ ra sau khi cắt rốn, bấm răng nên cho bú sữa đầu vì sữa đầu đậm đặc
hơn sữa thường, nhiều vitamin A, nhiều protein mà đặc biệt là gamma globulin
( kháng thể ).
2.2.1.5 Sự tiết sữa
7
Heo nái sau khi sanh đã có khả năng tiết sữa cho con bú liền. Sự phát triển bầu
vú cũng như quá trình tạo sữa đã xảy ra trước trong giai đoạn mang thai, quá trình phát
triển tuyến vú, tạo sữa và tiết sữa được điều tiết của thần kinh và thể dịch. Các yếu tố
tham gia vào sự phát triển, khơi mào và duy trì tiết sữa bao gồm:
Não thùy sau
Oxytocin
não thùy trước
TSH
STH
Prolactin
ACTH
Tuyến
LH
Prolactin
Vỏ thượng
giáp
thận
Tăng áp lực
bể sữa
FSH
buồng Thể vàng
trứng
thyroxin
Progesteron
Estrogen
Kích thích cơ
Glucocorticoid
vòng đầu vú
Hình thành và phát triển hệ
thống ống dẫn và nang tuyến
Thải sữa
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân tiết sữa bao gồm: tiểu khí hậu, chuồng nuôi,
dinh dưỡng, tuổi tác, thể trạng, bệnh tật và các yếu tố dẫn tới sự xáo trộn, rối loạn nội
tiết.
2.2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản của nái
Thành tích sinh sản của nái được thể hiện qua khả năng sinh đẻ, nuôi con, chỉ
số tiêu tốn thức ăn, số con đẻ ra mỗi lứa, trọng lượng heo con sơ sinh, heo con cai sữa
và số lứa đẻ trong năm…Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản của nái là: Di
truyền, nuôi dưỡng, môi trường và bệnh tật mà trong đó hội chứng MMA rất được
chú ý.
2.2.2 Hội chứng MMA
2.2.2.1 Khái niệm
Tình trạng xáo trộn sinh lí của nái sau khi sanh thường được ghi nhận trên chẩn
đoán lâm sàng gồm có: vú sưng cứng đỏ, sữa giảm hoặc ngừng, tử cung tiết dịch viêm
8
chảy ra bên ngoài. Những hiện tượng bệnh lí này gọi là hội chứng MMA, thường xảy
ra khoảng 12 – 72 giờ sau khi sinh. Viêm vú, viêm tử cung, mất sữa thường đi kèm với
nhau hoặc xảy ra riêng lẻ, khi chúng xảy ra với mức độ nặng thì có rất nhiều tác hại
đối với heo mẹ và heo con.
2.2.2.2 Viêm tử cung ( Metritis )
Là chứng thường gặp nhất trong hội chứng MMA với nhiều cấp độ khác nhau.
Thông qua tiết dịch viêm từ tử cung gặp các dạng viêm dịch nhờn, viêm có mủ và
viêm máu lẫn mủ.
Dạng viêm nhờn: Thường xuất hiện rất sớm sau khi sanh, lớp niêm mạc tử cung
bị tổn thương nhẹ, kích thích tiết dịch nhờn tử cung, dịch viêm thường loãng, lợn cợn,
mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần. Nhiều khi không cần điều trị cũng tự khỏi.
Dạng viêm mủ: thể viêm này tương đối nặng, niêm mạc tử cung bị tổn thương
nặng, có sự xâm nhập của vi trùng sinh mủ và hầu hết các vi trùng cơ hội, nó đôi khi là
hậu quả của viêm nhờn. Dạng viêm mủ thường biểu hiện với các triệu chứng sốt, chán
ăn, tiết dịch viêm nhiều mủ có thể lẫn 1 ít máu.
Dạng viêm mủ lẫn máu: đây là dạng viêm rất nặng, thường đi kèm với nguyên
nhân đẻ khó, sót nhau, tử cung bị tổn thương nặng. Nái có biểu hiện sốt cao, dịch viêm
rất hôi, thường dẫn đến viêm vú mất sữa. Nếu không can thiệp kịp thời nái rất dễ tử
vong sau 1 thời gian hoặc không còn khả năng nuôi con.
2.2.2.3 Viêm vú ( Matitis )
Thường ít gặp hơn viêm tử cung. Viêm vú xảy ra ở 1 vú hay vài vú hay cả bầu
vú, vú bị viêm thường sưng cứng, màu đỏ bầm, khi ấn còn để lại vết, vú không tiết sữa
hoặc tiết sữa có lẫn máu. Viêm vú thường kèm với sốt cao, vú bị đau, heo hay nằm xấp
không cho con bú. Viêm vú ít xảy ra nhưng khi xảy ra thì tác hại rất lớn vì tác động
trực tiếp trên heo con sơ sinh. Nếu không chữa trị kịp thời, vú viêm sẽ bị teo lại, mất
sữa, cũng có khả năng xơ hóa và mất khả năng cho sữa.
2.2.2.4 Mất sữa (Agalactia )
Kém sữa hay mất sữa là hậu quả của 2 chứng viêm tử cung và viêm vú. Những
xáo trộn về sinh lí của 2 chứng trên làm cho nái không tạo sữa ở mức bình thường,
biểu hiện là sản lượng sữa giảm và mất hẳn. Bệnh thường xảy ra từ 1 – 3 ngày sau khi
sanh hoặc có thể thấy ở bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con.
9
2.2.2.5 Các nguyên nhân gây hội chứng MMA
- Quản lí – chăm sóc
- Rối loạn sinh sản nội tiết
- Dinh dưỡng
- Sinh đẻ không bình thường
- Do vi khuẩn xâm nhập.
2.2.3 Tóm lược các công trình nghiên cứu về hội chứng MMA
2.2.3.1 Một số tỉ lệ về hội chứng MMA
Theo nguyễn như Pho và cộng tác viên (1990), tỉ lệ về hội chứng MMA sau khi
sanh là 28 % tại khu vực chăn nuôi quốc doanh.(Trích dẫn Nguyễn Hữu Lộc, 2001)
Ghi nhận một số báo cáo tốt nghiệp thì tỉ lệ heo nái mắc chứng MMA được
trình bày như sau :
Tác giả
Nguyễn Ngọc Thành Minh (2001)
Tỉ lệ mắc hội chứng MMA (%)
28.18
Nguyễn Hữu Lộc (2001)
40.16
Dương Minh Hùng (2006 )
2.2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh
31.5
2.2.3.2.1 Quản lí- chăm sóc
Trong thời gian mang thai, nái ít vận động, nhốt chung quá đông, vệ sinh kém,
sự thay đổi đột ngột của môi trường, thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian
sinh sản cũng là nguyên nhân gây hội chứng MMA (Hasting, 1995 và Vicker, 1960).
Theo nguyễn như Pho và Nguyễn Văn Bé (1980), khảo sát hội chứng MMA tại
trại chăn nuôi Phước Long, tác giả cho rằng: vệ sinh kém, quy trình chăm sóc nái chưa
hợp lí là nguyên nhân gây bệnh tại trại. (Trích dẫn Nguyễn Hữu Lộc, 2001)
Lấy phân hằng ngày, khử trùng chuồng trại, tắm kĩ cho nái trước khi sanh…có
thể ngăn ngừa sự tích tụ vi trùng và giảm bớt hội chứng MMA. Broodsbank (1950),
Bain (966), Black (1968), Olmedo (1972).
Trong thời gian dưỡng thai, heo nái được cho hoạt động đầy đủ, chuồng heo nái
đẻ không nên để quá lạnh hay quá nóng, cần thoáng khí, nên chú ý đến chương trình
phối giống cũng như thời gian nghĩ dưỡng sức giữa chu kì sinh nở (Gambiani và Firth,
1969).
2.2.3.2.2 Rối loạn kích thích tố
10
Tuyến yên và tuyến giáp trạng giữ vai trò quan trọng trong sự sản xuất sữa.
Năm 1067 Martin và cộng tác viên nhận thấy heo nái mắc hội chứng MMA có buồng
trứng nhỏ đi, tuyến giáp teo lại, tuyến thượng thận lớn lên, các mô trong tuyến thượng
thận và tuyến yên thoái hóa, các tác giả kết luận : Sự mất cân bằng về sản xuất kích
thích tố có thể giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên trạng thái bệnh này.( Tập san
Khoa Học Nông nghiệp_Đặng Đắc Thiệu, 1978).
2.2.3.2.3 Dinh dưỡng
Nhiều tác giả cho rằng hội chứng này xảy ra trên heo quá mập trước và trong
thời kì mang thai hơn là heo được cho ăn ít.
Cornette (1950) cho rằng hội chứng MMA xảy ra là thiếu ăn nên khả năng
chống bệnh giảm, vi trùng lan tràn từ bộ máy tiêu hóa đến bộ máy sinh dục, nhũ tuyến
hay các nơi khác.
Beat (1956) báo cáo: Nguyên nhân của hội chứng MMA là thiếu dinh dưỡng có
thể do thiếu một hay nhiều sinh tố chủ yếu, thiếu chất khoáng, protein, bột đường hay
nước.
Một số ý kiến khác cho rằng nuôi heo bằng thực phẩm đậm đặc trong những
ngày cuối có mang và trong khi nuôi con, có thể là căn do chính của hội chứng này.
Đạm: Beat (1956) và Vicker (1960) cho rằng khẩu phần heo nái thiếu protein có
lẽ gây hội chứng MMA. Trái lại Summer và Ringarp (1960) đã chứng tỏ khẩu phần dư
đạm sẽ gây hội chứng MMA.
Các tác giả đã bố trí thí nghiệm với tỉ lệ chất đạm thay đổi từ 14 – 18% trong
khẩu phần. Kết quả các lô thí nghiệm ăn khẩu phần đạm từ 17% đạm trở lên có tỉ lệ
MMA cao hơn. Venr ( 1954) tin rằng khẩu phần thừa hay thiếu protein đều có thể gây
viêm vú, tắt sữa.
Khoáng :
Cu (đồng): Pestin và Coll (1958) đồng trong máu ảnh hưởng đến hoạt
động của tuyến giáp bằng cách tăng sản xuất Thyroxin, kích thích sản xuất sữa và tăng
toàn diện sự biến dưỡng của heo nái.
Mn (Mangan): 1953 Voiner cho biết thức ăn thiếu Mangan làm giảm khả
năng sinh sản. ngoài ra còn liên hệ mật thiết đến sự hình thành kích thích tố tuyến sữa.
11
Co (cobalt): Theo Sansted (1953) hội chứng MMA có thể phát sinh do
thiếu Cobalt trong khẩu phần, tác giả đã bổ sung Cobalt và nhận thấy tỉ lệ mắc hội
chứng MMA giảm rõ rệt.
Ca, P (Calci, Phosphor): Theo wilz (1956) nếu thiếu một vài dưỡng chất
trong khẩu phần như Calci, phosphor hay các khoáng vi lượng là nguyên nhân gây nên
hội chứng MMA cho heo nái.
Năm 1955 Boley báo cáo hàm lượng Calci trong máu thấp, khi sinh có
thể tắt sữa. Ngược lại theo Martin và cộng tác viên (1967) lượng Calci, Phosphor vô
cơ trong máu heo nái mắc hội chứng MMA thay đổi không đáng kể.
Se (Selennium): Ulbrey (1969) kết luận có sự tương quan mật thiết giữa
sự thiếu Selennium và sự phát sinh MMA.
Vitamin :
Hai loại vitamin có liên quan đến hội chứng MMA là vitamin A và
vitamin E đã được một số tác giả nghiên cứu.
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên (1990) đã thăm dò các mức vitamin A
cho heo nái trong thời kì mang thai, tác giả kết luận liều cấp 60000 UI vitamin
A/nái/ngày có tác dụng làm giảm tỉ lệ mắc hội chứng MMA và bệnh tiêu chảy heo con
theo mẹ.
Mới đây tác giả cũng tiến hành khảo sát với liều cấp 25000 UI vitamin
A/kg thức ăn và 80 UI vitamin E/kg thức ăn, kết hợp với vệ sinh chăm sóc hợp lí, các
tác giả công bố rằng có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm hội chứng MMA. (Trích dẫn
Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001).
Ullrey (1969), Cockerill (1971) bổ sung 22 UI vitamin E/kg thức ăn cho
nái trong suốt thời gian mang thai sẽ làm giảm hội chứng MMA. Theo Clausen, thiếu
vitamin E sẽ làm sự oxy hóa vitamin A, làm giảm thấp hàm lượng vitamin A trong
máu (trích Nguyễn Như Pho, 1995).
Các thí nghiệm tiến hành ở thời kì mang thai và nuôi con cho thấy không
cung cấp đủ vitamin E sẽ giảm thấp khả năng sinh sản, chết thai, heo con sinh ra yếu
ớt, kém vận động do cơ bị thoái hóa; các triệu chứng trên là hậu quả của hiện tượng
kết hợp vừa thiếu vitamin A và vitamin E, giữa 2 loại vitamin này có mối liên hệ khá
chặt chẽ, sự thiếu hụt vitamin E dẫn đến thiếu cả vitamin A (Tony, 1957).
12
Chất xơ :
Becker (1974) khuyến cáo nên dùng thực phẩm chứa chất xơ trong
khoảng 7-14 ngày trước khi sanh. Ensor (1957), Broodbank (1958) và Firth (1960) cho
rằng chứng táo bón là nguyên nhân chính gây hội chứng MMA. Crampon và Harris
(1969) thảo luận về vai trò của chất xơ trong việc giúp tiêu hóa, để ngừa chứng táo bón
vì chất Hemicellulose trong chất xơ có khả năng hút nước. Ngoài ra chất xơ trong thức
ăn bị vi trùng tác kích sẽ tạo ra khi kích thích sự co bóp của ruột. Tuy vậy, Aherrle
(1973) báo cáo, thêm chất độn hay xơ vào khẩu phần không có tác dụng gì trong sự
phòng ngừa chứng MMA hay khả năng nuôi con của heo nái (Đặng Đắc Thiệu, 1978).
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên (1990) tiến hành thăm dò các mức xơ
cho nái mang thai và áp dụng các quy trình vệ sinh chăm sóc, các tác giả nhận thấy với
khẩu phần 9% chất xơ, heo nái giảm được táo bón và từ đó giảm hội chứng MMA.
(Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Nước :
Nước có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của cơ thể. Ngoài những
tiêu chuẩn vệ sinh thú y quy định cho nước uống, mới đây viện bào chế Virbac đã đưa
ra rằng nái mang thai nhu cầu nước uống 20-25 lít/ngày, nái nuôi con nhu cầu 35-50
lít/ngày. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Nước uống cho nái mang thai là rất cần thiết, nái cần lượng nước rất
nhiều. Ngoài cung cấp cho chính cơ thể nái trong việc chuyển hóa năng lượng, điều
hòa thân nhiệt, hấp thụ thức ăn, nước còn tham gia vào quá trình tạo sữa, trong sữa
nước chiếm 74%, chính vì vậy mà phải cần cung cấp đủ lượng nước và vệ sinh nước
phải được quan tâm.
Theo Nguyễn Phước Nhuận (1994) nhu cầu nước của động vật thay đổi
tùy theo loài, giống, tính năng sản xuất, thời tiết và thức ăn…Đối với gia súc, người ta
thường tính lượng nước cần thiết cho 1kg thức ăn khô, đối với heo là 7-8 lít nước/ kg.
(Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Nước có 1 ý nghĩa đặc biệt trong tất cả các chất cần thiết cho sự sống, vì
tất cả các quy trình sống đều liên quan tới nước. Mất 15% nước làm cho cơ thể bị chết,
nhưng làm thiếu nước cũng làm giảm mãnh liệt ngay tức khắc sức sản xuất.
2.2.3.2.4 Sinh đẻ không bình thường
13
Đẻ khó : Heo đẻ khó thường phải áp dụng các thủ thuật sản khoa làm màng
niêm mạc bộ phận sinh dục có thể bị tổn thương. Điều này sẽ dễ dàng gây ra hội
chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (P.A Voloscop, N.N Mikhalop- 1970).
Sót nhau : Ít xảy ra trên heo nái. Ensor (1957), Brookbank (1958), Victor
(1960) và Tharp (1970) đều đồng ý rằng sót nhau sẽ đưa đến chứng tắt sữa, nhiễm
trùng và viêm tử cung. Dù là miếng nhau nhỏ hay là bào thai còn sót lại trong tử cung
đều đưa đến chứng viêm tử cung.
Sốt sữa : Ensor (1957) nhận thấy heo nái bị sốt sữa cũng có triệu chứng như bò
bị sốt sữa.
Hasting (1955) cho rằng sốt sữa ở heo nái chỉ biểu hiện tắt sữa, nóng, sốt, sưng
và vú cứng (Đặng Đắc Thiệu_Tập San Khoa Học Kỉ Thuật Nông Nghiệp số 1-2,
1978).
2.2.3.2.5 Vi khuẩn gây bệnh
Hội chứng MMA, theo nhiều tác giả không phải là bệnh truyền nhiễm, những vi
sinh vật phân lập được là những vi sinh vật cơ hội, chúng xâm nhập vào bộ phận sinh
dục trong khi đẻ do điều kiện vệ sinh kém, các tác giả đã phân lập được nhiều loài vi
sinh vật khác nhau.
Amstrong và cộng tác viên (1968) cho rằng những vi trùng quan hệ đến hội
chứng MMA gồm có : Citrobacter, Enterobacter, Proteus, Escherichia, Klebsiella,
Pseudomonas, Staphylococcus, Streptococcus.
Năm 1983, Ngô Thanh Long và Thái Thị Thúy Phượng phân lập vi trùng từ các
mẫu sữa bệnh, mủ tử cung đã tìm thấy : E.coli, Streptococcus, Staphylococcus aureus,
Klebsiella pneumonia. Đây là những vi trùng cơ hội chúng có thể xâm nhập vào bầu
vú qua vết trầy, cũng có thể qua ống dẫn sữa và dể dàng xâm nhập vào tử cung lúc cổ
tử cung mở.
P.A Voloscop, N.N Mikhalop, I.Ia Triskiakop (1971) cho rằng: các vi khuẩn
gây bệnh có điều kiện như trực khuẩn đường ruột, trực khuẩn mủ xanh, song cầu
khuẩn, Proteus, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, Pasteurella, nấm, vi khuẩn yếm khí gây
viêm đường sinh dục, giữ vai trò không nhỏ trong gây rối loạn sự sinh sản. Ngoài ra,
nấm Mucor, Aspergillus, Candida cùng tham gia gây nhiễm đường sinh dục.
14
Theo kết quả khảo sát của Lê Minh Trí và Nguyễn Như Pho, từ năm 1979 đến
năm 1994, vi sinh vật gây hội chứng MMA tại các trại heo ở thành Phố Hồ Chí Minh
và Sông Bé gồm : E.coli, Streptococcus, Staphylococcus aureus, Klebsiella
pneumonia, Citrobacter, Enterobacter aerogenes. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành
Minh, 2001)
Trong một số báo cáo tốt nghiệp, kết quả phân lập vi sinh vật từ nái viêm tử
cung được ghi nhận như sau :
Trần Tuấn Kiệt (1979) : E.coli, Streptococcus, Staphylococcus aureus,
Klebsiella pneumonia, Citrobacter, Corynebacterium, Candida. (Trích dẫn Nguyễn
Ngọc Thành Minh, 2001)
Hồ Thị Kim Hoa (1990) : E.coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella
spp, Shigella spp. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Nguyễn Hữu Lộc (2001) : E.coli, Streptococcus spp, Staphylococcus aureus.
Tóm lại hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh
vật cơ hội. Những vi sinh vật này có sẵn trong môi trường xung quanh chuồng trại,
phân, nước tiểu…đặc biệt với vệ sinh kém khi nái đẻ cổ tử cung mở, nái mệt mỏi, sức
đề kháng giảm, niêm mạc tử cung bị tổn thương, sản dịch ứ đọng là điều kiện tốt cho
vi sinh vật phát triển gây nhiễm tạo nên những biến chứng toàn diện và điển hình của
bệnh viêm tử cung.
2.2.3.3 Phòng ngừa hội chứng MMA
2.2.3.3.1 Dinh dưỡng
Khẩu phần dinh dưỡng:
Fosrter (1969), Olmedo (1972), Becker (1974), Leif Goransson(1984)
cho biết để làm giảm hội chứng MMA nên cho nái ăn từ 2,2- 2,4 kg thức ăn trong giai
đoạn mang thai, giảm thấp còn 1 kg trước khi sinh 2 tuần, kết hợp cho ăn nhiều cỏ
tươi. (Trích dẫn Nguyễn Hữu Lộc, 2001)
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên đã tiến hành và công bố lượng thức
ăn cho nái chữa kì 1 cho ăn 2- 2,5kg/ngày, từ 84 đến trước khi sanh 1 tuần, cho ăn từ
2,5-3kg/ngày, trước khi sanh 1 tuần giảm xuống còn 1,2kg/nái/ngày và tăng cường rau
xanh, chất xơ, đồng thời tăng cường thêm vitamin, chất khoáng, thay thế lượng thức ăn
giảm xuống bằng chất xơ. Quy trình này giúp cho nái tránh được hiện tượng giảm ăn
15
sau khi sanh, tránh được táo bón, có hiệu quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng
MMA. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Chất bột đường và chất xơ:
Cockerill (1970) cho rằng quá nhiều chất bột đường hay lượng chất xơ
quá ít cộng với sự thiếu vận động của heo nái dẫn đến hội chứng MMA. Gorasson
(1988) bố trí hai khẩu phần chứa 5,8% và 10,6% xơ cho heo nái, kết quả thí nghiệm
cho thấy mức xơ 10,6% tỉ lệ heo nái mắc hội chứng MMA thấp hơn lô thí nghiệm ăn
khẩu phần 5,8% xơ.
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên đã tiến hành thí nghiệm cung cấp các
chất xơ và đã công bố khẩu phần chứa 9 % xơ cùng với những biện pháp vệ sinh chặt
chẽ, bổ sung chất khoáng, vitamin đầy đủ sẽ giảm hội chứng MMA. (Trích dẫn
Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Chất khoáng:
Có nhiều công bố về phòng ngừa bệnh bằng việc bổ sung và cân đối các
chất khoáng. Theo một số tác giả như Hồ Thị Phương Liên (1981), Nguyễn Thị Hiền
(1981), Nguyễn Bá Thành (1985), Bùi Thị Thúy Lan (1991), việc cung cấp chất
khoáng : Cu 100ppm, Zn 200ppm – 250ppm, Mn 100 ppm…có tác dụng tốt trong
phòng ngừa bệnh sinh sản. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Đạm:
Leif Gornansson (1989) thuộc trung tâm nghiên cứu heo Thụy Điển sử
dụng thức ăn cung đạm có nguồn gốc thực vật vào giai đoạn 3 tuần cuối của thời kì
mang thai đã cho biết hội chứng MMA giảm 20 %.
Nhiều tác giả cũng tin rằng sự thừa hay thiếu protein trong khẩu phần,
nguồn cung cấp protein cũng lá nguyên nhân gây viêm vú kém sữa. (Trích dẫn Nguyễn
Ngọc Thành Minh, 2001)
Vitamin:
Theo Đặng Đắc Thiệu (1978), Ullrey (1969) nhận thấy 50 % số heo nái
ăn khẩu phần căn bản mắc chứng MMA, trong khi đó chỉ có 14 % số bầy heo cho ăn
thêm vitamin E mắc chứng này. (22 UI vitamin A trong mỗi kg thức ăn).
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên đã tiến hành thăm dò các mức
vitamin, các tác giả đã công bố rằng với mức bổ sung 25.000 UI vitamin A và 80 UI
16
vitamin E/kg thức ăn có kết quả tốt trong phòng ngừa và làm giảm hội chứng MMA.
(Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
2.2.3.3.2 Chăm sóc quản lí
Có nhiều quan điểm về vấn đề vệ sinh,chăm sóc, nhưng tập chung là các tác giả
đều thống nhất là vệ sinh chăm sóc quản lí tốt sẽ làm giảm hội chứng MMA.
Năm 1970 Frazer nhận xét về các trường hợp mắc hội chứng MMA ở Jaimaica
do thời tiết quá nóng, nếu được tắm mát, nhất là giai đoạn trước khi sanh đẻ sẽ làm
giảm tỉ lệ mắc bệnh. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên trong các năm từ 1986- 1999 đã áp dụng
quy trình vệ sinh chăm sóc nghiêm ngặt, nhất là vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể
trước khi sanh, thụt rửa tử cung sau khi sanh, sử dụng nguồn nước sạch và cung cấp
đầy đủ cho nái, cắt răng, cho bú ngay sữa đầu, ghép bầy khi nái ít con, các tác giả công
bố quy trình này có kết quả rất tốt trong việc làm giảm hội chứng MMA và giảm tỉ lệ
tiêu chảy ở heo con theo mẹ. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
2.2.3.3.3 Sử dụng kháng sinh phòng ngừa
Có rất nhiều nguyên nhân gây hội chứng MMA, phần lớn các trường hợp đều
có sự xâm nhiễm của vi sinh vật. Vì vậy, sử dụng kháng sinh là việc cần thiết trong
việc phòng ngừa và trị hội chứng này. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về công dụng
các loại thuốc kháng sinh có sự trái ngược nhau.
Ringarp (1960) cung cấp 4 gam streptomycin mỗi ngày, bắt đầu từ 4 ngày trước
khi sanh tới 1 ngày sau khi sanh đã làm giảm tỉ lệ nái mắc bệnh.
Mc Cutchan (1966) nhận thấy trộn thêm 100 gam tetracycline vào mỗi tấn thức
ăn có thể ngừa được bệnh.
Cockerill (1970) bổ sung 500 gam nitrofurazone trong mỗi tấn thức ăn cũng thu
được kết quả tốt.
Tharp (1970) kết hợp kháng sinh tetracycline và tylosin ( 1 gam tetracycline + 1
gam tylosin ) chích bắp 2-3 ngày trước khi sanh là một biện pháp ngừa bệnh tốt.
Lê Minh Trí và Nguyễn Như Pho (1985) báo cáo sử dụng tetracycline hay phối
hợp penicilline và streptomycine chích cho heo nái 1 lần khi sanh có tác dụng ngăn
ngừa bệnh. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
17
Ngược lại một số tác giả cho rằng việc bổ sung kháng sinh không giải quyết
được vấn đề phòng bệnh.
Bain (1966) cho rằng việc bổ sung kháng sinh vào thức ăn trong thời gian mang
thai chỉ có hiệu quả nhỏ và không đáng kể trong ngừa bệnh này. Ellis (1969) trộn 50
gam procain penicillin G vào mỗi tấn thức ăn cho nái 4-5 ngày, trước khi sanh và
trong thời gian nuôi con đã không làm giảm MMA trong bầy heo.
Ngày nay do sự đề kháng của vi khuẩn, nhiều kháng sinh không còn tác dụng
đối với một số loại vi khuẩn. Vì vậy việc sử dụng kháng sinh phòng ngừa và chữa trị là
vấn đề đáng quan tâm.
2.2.3.3.4 Sử dụng kích thích tố
Johnson, Cockerill (1970) nhận xét : Thyroxin có tác dụng kích thích sản xuất
vừa làm tăng toàn diện sự biến dưỡng của cơ thể. Tác giả đã dùng 200 gam thyroxin
trộn trong 1 tấn thức ăn cho nái ăn 1 tuần trước khi sanh và trong giai đoạn nuôi con.
Bộ môn dinh dưỡng trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã thử
nghiệm và đưa vào sản xuất chế phẩm protamon (casein iode) kích thích tiết sữa, ngăn
ngừa sự kém sữa ở heo nái. (Trích dẫn Nguyễn Ngọc Thành Minh, 2001)
Ngày nay có rất nhiều chế phẩm sinh học có chứa chất kích thích tố, có tác
dụng tốt trong việc phòng ngừa hội chứng MMA.
2.2.3.4 Điều trị hội chứng MMA
Các biện pháp điều trị hội chứng MMA bằng kháng sinh, sulfamid, tác giả cho
biết để điều trị có hiệu quả cần tiến hành cấp thuốc ngay sau khi nái có dấu hiệu sốt,
kháng sinh hoặc sulfamid nên sử dụng với các loại mẫn cảm với vi trùng gây bệnh,
đồng thời cần hỗ trợ các biện pháp như thụt rửa tử cung, chích oxytocin, xoa bóp đầu
vú, tăng cường sử dụng vitamin C và các loại vitamin khác. Trường hợp sốt cao nên
dùng thuốc hạ sốt và truyền dịch.
18
Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
3.1.1 Thời gian tiến hành đề tài
Từ ngày 25/06/2008 đến ngày 10/10/2008
3.1.2 Địa điểm tiến hành đề tài
Tại Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I, Phường Linh Xuân, Quận Thủ Đức, Thành
Phố Hồ Chí Minh.
3.2 Đối tượng khảo sát
Heo nái đẻ
3.3 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng đàn heo khảo sát
3.3.1 Chuồng trại
Hệ thống chuồng được đặt theo thứ tự A, B, C. Giữa các dãy chuồng có
những hàng cây giúp điều hòa khí hậu môi trường.
3.3.1.1 Chuồng nuôi heo nái hậu bị, nái khô và nái chửa
Gồm 3 chuồng: S, R, Q. Chuồng được thiết kế theo kiểu chuồng hở, nóc
đôi, mái lợp bằng tôn fibrociment, dạng chuồng nền, máng ăn bằng xi măng chạy dài
theo dãy, nước uống sử dụng núm cắn tự động.
Chuông R: gồm 4 dãy chuồng song song, mỗi dãy có 87 ô cá thể, mỗi ô có núm
cắn riêng. Có hệ thống tải thức ăn tự động. Đây là chuồng nuôi nái chửa.
Chuồng Q: gồm 3 dãy chuồng song song. 2 dãy gần chuồng R, mỗi dãy có 60 ô
cá thể, mỗi ô có núm cắn riêng. Đây là 2 dãy nuôi nái khô, chờ phối hay những nái
chậm lên giống và 1 đực thí tình. Dãy cón lại gồm 4 ô chuồng tập thể (mỗi ô 10 – 12
con). Dùng nuôi những cái hậu bị, nái yếu, thường thì bỏ trống.
3.3.1.2 Chuồng heo nái nuôi con
19
Gồm 5 chuồng: K, L, M, N, O. Các chuồng đều có kiểu hở,mái đôi, lợp bằng
tôn fibrociment. Riêng chuồng K được thiết kế theo kiểu chuồng nửa kín nửa hở. Mỗi
chuồng đều có hệ thống phun sương, quạt đẩy đầu dãy và quạt hút gió cuối dãy khi
trời nóng và màn che chắn khi trời lạnh.
Mỗi chuồng gồm 2 dãy song song, mỗi chuồng được thiết kế theo kiểu chuồng
củi song sắt, kích thước mỗi ô: 2,20m x 1,87m, phần chuồng bên trái là 0,80m, bên
phải là 0,60m. Máng ăn heo mẹ bằng inox, sử dụng núm uống cho heo mẹ và chén
uống cho heo con. Trong mỗi ô chuồng có bóng đèn tròn để sưởi ấm và khay tròn tập
ăn cho heo con.
3.3.2 Thức ăn, nước uống
Nước uống
Hệ thống cung cấp nước của xí nghiệp gồm 5 giếng nước được bơm lên một hồ
chứa, từ hồ chứa đó nước được bơm lên tháp nước để cung cấp cho heo uống theo
đường ống phân phối đến các dãy, đến từng ô chuồng và núm uống tự động. Nước từ
hồ chứa này cũng được bơm lên để tắnm heo và phun sương
Thức ăn
Định mức thức ăn cho heo nái được trình bày ở bảng 3.2 :
Bảng 3.1 định mức thức ăn cho heo nái
Nái
Nái khô
Kg/ngày/con
2,0- 2,5
Loại thức ăn
10A
Nái chữa
2,5- 3,0
10A
Nái nuôi con
5,0- 5,5
10B
Thức ăn hỗn hợp xí nghiệp mua từ công ty thức ăn An Phú dùng cho heo :
-Heo nái nuôi con: 10B
-Heo nai khô, chữa: 10A
Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn hỗn hợp cho heo nái được trình
bày ở bảng 3.2 :
20
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn heo nái
Thành phần
Năng lượng (kcal/kg)
10A
3100
10B
3265
Đạm %
14
18,5
Béo %
8,3
6,1
Xơ %
5
4
Ca %
1,1
0,9
P tổng số %
0,7
0,84
P hữu dụng %
0,4
0,34
Muối %
0,54
0,58
Lysin
0,81
0,99
Methionin
0,3
0,33
Met + Cys
0,59
0,65
Threonin
0,61
0,72
Tryptophan
0,17
0,2
Isoleusin
0,61
0,74
( Nguồn từ phòng kỉ thuật Xí Nghiệp Heo Giống cấp 1, 2008)
3.3.3 Chăm sóc quản lí
Nái đẻ và nuôi con: Luôn có công nhân trực khi có heo đẻ để kịp thời can thiệp
những ca đẻ khó. Sau khi đẻ, chích oxytoxin,linco-S hoặc genta-amox, truyền sinh lý
ngọt cho nái, không cho ăn nửa ngày, sau đó cho ăn ít rồi từ từ tăng lượng thức ăn lên.
Mỗi ngày cho nái ăn 5 lần vào các thời điểm: 5 giờ, 9 giờ, 13 giờ, 15 giờ 30 và 22 giờ.
Heo nái không được tắm trong suốt thời gian nuôi con để tránh heo con bị ướt dễ dẫn
đến tình trạng tiêu chảy.
Heo con theo mẹ: heo con sau khi sanh, lau miệng, mũi cho sạch nhớt rồi được
nhúng trong bột Mistral (giúp heo con mau khô và đỡ lạnh thay thế cho việc lau heo
con sơ sinh, ngoài ra còn có tác dụng sát trùng). Heo con mới đẻ được cho bú sữa đầu
ngay để nhận kháng thể thu động từ mẹ truyền qua, đồng thời kích thích co bóp tử
21
cung heo me để đẩy những con khác ra. Sau khi heo mẹ đẻ xong, sáng hôm sau, bầy
heo con được tiến hành cắt răng, cân trọng lượng, đếm số vú, cắt đuôi, cắt tai và được
sát trùng bằng cồn iod. Những con di tật hoặc quá yếu bị loại bỏ, chỉ chọn nuôi những
con khỏe mạnh, linh hoạt và có trọng lượng lớn hơn 0,80 kg. Đèn úm được bật suốt
đêm và cả ban ngày khi trời lạnh. Tập ăn cho heo từ lúc 5 ngày tuổi. Tiêm Fe lần 1 liều
200 mg lúc 3 ngày tuổi và lặp lại lúc 10 ngày tuổi.
3.3.4 Quy trình vệ sinh thú y
3.3.4.1 Vệ sinh chuồng trại
Công nhân quét dọn sạch sẽ khu chuồng trại và khu vực xung quanh. Thường
xuyên nhổ cỏ, phát quang bụi rậm, khai thông cống rãnh nhằm tạo sự thông thoáng,
hạn chế mầm bệnh từ những vật mang trùng.
Đầu mỗi dãy đều có hố sát trùng, thuốc sát trùng được phun vào các ngày thứ
hai, thứ tư, thứ sáu mỗi tuần ở trong và khu vực xung quanh các chuồng đang có heo.
Vệ sinh chuồng trống: sau khi heo đã chuyển đi nơi khác, tiến hành rữa chuồng,
xịt cao áp, phun xịt NaOH 5% để qua 2 ngày, phun thuốc sát trùng, 2 ngày sau tiếp tục
xịt vôi vào ô chuồng.
3.3.4.2 Vệ sinh công nhân và khách tham quan.
Vệ sinh công nhân
Công nhân trong trại được trang bị quần áo, nón, ủng bảo hộ lao động.
Trước khi xuống chuồng và sau khi rời khỏi chuồng tắm rửa sạch sẽ. Công nhân
không được mặc quần áo ở ngoài vào khu vực chăn nuôi và ngược lại. Các xe cơ giới
khi vào xí nghiệp đều được bảo vệ phun thuốc sát trùng và chạy qua hố sát trùng ở
cổng xí nghiệp để đảm bảo vệ sinh phòng dịch và hạn chế tối đa các bệnh từ nơi khác
đến.
Vệ sinh khách tham quan
Khách tham quan trước khi vào khu vực chăn nuôi được vệ sinh thân thể
và thay quần áo của trại, đi ủng bảo hộ và đi lên hố sát trùng khi đi xuống các dãy
chuồng dưới sự hướng dẫn của kĩ thuật viên hay công nhân của trại.
3.3.5 Quy trình tiêm phòng
Lịch tiêm phòng các loại bệnh cho heo tại xí nghiệp được trình bày ở
bảng 3.3 :
22
Bảng 3.3 Quy trình phòng ngừa
Loại
Loại bệnh
Vaccin
Thời gian tiêm phòng
Loại heo
Heo mang Lở mồm long móng Aftopor
35 ngày trước khi sanh
thai
30 ngày trước khi sanh
Dịch tả
Pestvac
Giả dại
Aujesky
Tiêu chảy do E.coli
plus
PRS
Vac 25 ngày trước khi sanh
20 ngày trước khi sanh
Nái
Xỗ lãi
Little guard
10 ngày trước khi sanh
nuôi Sử dụng kháng sinh để phòng ngừa viêm nhiễm đường sinh dục trong 3
con
ngày sau khi sanh,truyền glucose và vitamin tăng sức đề kháng cho nái,
trộn Milk promon tăng tiết sữa, không tiêm Vaccin cho nái.
con Suyễn lợn
Respisure one
7 -10 ngày tuổi
Dịch tả
Pestvac
20 ngày tuổi
theo mẹ
Heo
Heo con gầy yếu
Truyền glucose và vitamin vào xoang bụng
3.4 Nội dung khảo sát
3.4.1 Hội chứng MMA
+Thời gian xuất hiện triệu chứng và các chứng trong hội chứng MMA.
+Đặc điểm và tính chất của từng triệu chứng biểu hiện trên nái mắc MMA
+Tỉ lệ nái mắc MMA : các chứng bệnh và dạng kết hợp các chứng bệnh trong
hội chứng
3.4.2 Nguyên nhân gây bệnh tại trại
+Điều kiện khí hậu
+Chế độ dinh dưỡng – chăm sóc
3.4.3 Hậu quả của hội chứng
Tỉ lệ tiêu chảy
Tỉ lệ heo con sống đến 21 ngày tuổi
Thời gian lên giống trở lại
Tỉ lệ đậu thai
Trọng lượng heo con tính đến ngày 21 ngày tuổi
Sản lượng sữa tính đến 21 ngày tuổi
23
3.5 Phương pháp khảo sát
3.5.1 Hội chứng MMA
Heo nái sau khi sinh sẽ được theo dõi thân nhiệt, thân nhiệt được lấy bằng nhiệt
kế thông qua hậu môn và được lấy 3 ngày liên tiếp kể từ ngày sinh. Mỗi ngày đo vào
buổi sáng và buổi chiều. Song song với việc đo thân thiệt chúng tôi tiến hành quan sát
theo dõi triệu chứng và thời gian xuất hiện triệu chứng.
Mô tả triệu chứng của hội chứng MMA :
Viêm tử cung
Dịch tiết âm hộ: trạng thái dịch viêm, số lượng dịch viêm, màu
sắc dịch, mùi.
Bầu vú
Quan sát, sờ nắn xác định biểu hiện của vú viêm(sưng,nóng, đỏ,
đau), quan sát sự tiết sữa và cho heo con bú của những heo nái bị viêm vú.
3.5.2 Nguyên nhân gây ra hội chứng MMA
Điều kiện khí hậu :
Nhiệt độ : đặt nhiệt kế ở chuồng nuôi ghi nhận vào 3 thời điểm :
Sáng từ 7 – 8 giờ
Trưa từ 13 – 14 giờ
Chiều vào lúc 16 giờ
Chế độ dinh dưỡng
Theo dõi định mức thức ăn của nái hằng ngày theo các giai đoạn của kì
mang thai :
Từ phối đến 84 ngày
Từ 84 đến 10 ngày
Từ 107 ngày đến khi sinh
3.5.3 Chỉ tiêu khảo sát
Tỉ lệ nái mắc hội chứng MMA(%)
= Tổng số nái mắc MMA/ Tổng số nái khảo sát * 100
Tỉ lệ nái viêm tử cung (%)
= Tổng số nái viêm tử cung/ Tổng số nái khảo sát * 100
Tỉ lệ nái viêm tử cung dạng mủ (%)
24
= Tổng số nái VTC dạng mủ/ Tổng số nái khảo sát *100
Tỉ lệ nái viêm tử cung dạng nhờn (%)
= Tổng số nái VTC dạng nhờn/ Tổng số nái khảo sát * 100
Tỉ lệ nái viêm tử cung dạng máu lẫn mủ (%)
= số lượng nái VTC dạng máu lẫn mủ/ Tổng số nái khảo sát * 100
Tỉ lệ nái viêm vú (%)
= Số lượng nái viêm vú/ Tổng số nái khảo sát * 100
Tỉ lệ nái bị mất sữa (%)
= Số lượng nái mất sữa/ Tổng số nái khảo sát* 100
Tỉ lệ nái viêm tử cung và mất sữa (%)
= Số lượng nái viêm tử cung và mất sữa/ Tổng số nái khảo sát* 100
Tỉ lệ nái viêm vú và mất sữa (%)
= Số lượng nái vú và mất sữa/ Tổng số nái khảo sát* 100
Tỉ lệ nái viêm tử cung +viêm vú + mất sữa (%)
= Số lượng nái viêm tử cung +viêm vú + mất sữa/ Tổng số nái khảo sát* 100
Tỉ lệ ngày con tiêu chảy (%)
= Số ngày con tiêu chảy/ Tổng số ngày con nuôi* 100
Tỉ lệ nuôi sống đến 28 ngày tuổi (%)
= Số nuôi đến 28 ngày tuổi/ Tổng heo chọn nuôi* 100
Tỉ lệ đậu thai (%)
= Tổng số heo đậu thai/ Tổng số heo được phối* 100
Trung bình khoảng thời gian lên giống trở lại sau khi cai sữa (ngày)
=Tổng thời gian lên giống trở lại sau khi cai sữa/ Tổng số nái theo dõi* 100
Trọng lượng bình quân của heo con tính đến 28 ngày tuổi
= Tổng trọng lượng của heo con tính đến 28 ngày tuổi/ Số lượng heo con trên ổ
của nái theo dõi*100
Sản lượng sữa tính đến 28 ngày tuổi
Kg = 3 * ( P Kg toàn ổ ở 28 ngày tuổi – P Kg toàn ổ ở sơ sinh )
Với 3 là hệ số quy đổi ( 3 kg sữa cho 1 kg tăng trọng )
3.6 Phương pháp xử lí số liệu
25