A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lời nói đầu:
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học. Phân môn
chính tả dạy cho học sinh tri thức và kó năng chính tả, phát triển năng lực sử
dụng hình thức viết vào hoạt động giao tiếp.
- Chữ viết là kí hiệu bằng hình ảnh thò giác ( các hình nét )ghi lại tiếng
nói. Chính tả thực hiện những quy ước xã hội đối với chữ viết; đề phòng,
ngăn ngừa sự vận dụng tuỳ tiện, vi phạm các quy ước làm trở ngại cho tri
giác ngơn ngữ trong q trình giao tiếp.
- Phân mơn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học vì giai đoạn
tiểu học là giai đoạn then chốt trong q trình hình thành kĩ năng chính tả
cho học sinh. Trẻ em đến tuổi đi học thường bắt đầu quá trình học tập
bằng việc học chữ. Ở giai đoạn đầu (bậc tiểu học) trẻ tiếp tục hoàn
thiện năng lực tiếng nói mẹ đẻ. Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để
học Tiếng Việt và học các mơn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội khác.
Mà muốn đọc thơng viết thạo, trẻ em phải được học chính tả. Chính tả là
phân mơn có tính chất cơng cụ. Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn
học tập đầu tiên của trẻ em.
- Chính tả được bố trí thành một phân mơn độc lập, có tiết dạy riêng trong
khi bậc trung học cơ sở khơng có.
II. Lý do chọn đề tài:
Qua 3 năm giảng dạy ở khối lớp 2, bản thân tơi nhận thấy tình hình học
tập của các em gặp nhiều khó khăn nhất là trong giờ chính tả, đặc biệt là nghe –
viết. Trong năm học này, ở lớp tôi chủ nhiệm học sinh viết sai rất nhiều lỗi
chính tả. Làm thế nào để giúp học sinh và cho chất lượng học tập của lớp được
1
nâng cao nên tôi quyết đònh chọn đề tài : Một số biện pháp giúp học sinh lớp
2/3 viết đúng chính tả.
III. Mục đích nghiên cứu:
- Điều tra lỗi chính tả cơ bản thường hay mắc phải của học sinh; ngun
nhân của các lỗi đó để tìm ra biện pháp khắc phục.
- Vận dụng các ngun tắc dạy trong phân mơn Chính tả hình thành kĩ
năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.
IV. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu :
1. Phạm vi nghiên cứu:
- Rèn cho học sinh viết đúng phân môn chính tả.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp Hai/3 trường tiểu học Lý Cảnh Hớn năm học 2014 –
2015.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Để đề tài đạt kết quả cao, tôi đã nghiên cứu tham khảo một số tài liệu
sau:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt 2 ( tập 1 & 2 )
- Sách thiết kế bài giảng Tiếng Việt 2 ( tập 1 & 2 )
- Tạp chí Thế giới trong ta
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học, hướng dẫn giảng dạy theo
phương pháp dạy học tích cực mơn Tiếng Việt lớp 2
- Tạp chí giáo dục tiểu học
- Từ điển Tiếng Việt
- Sổ tay chính tả Tiếng Việt
2
B.NỘI DUNG
I . Cơ sở lý luận:
Các nguyên tắc chính tả không tách rời các nguyên tắc dạy học Tiếng
Việt . Chính tả là phân môn có tính chất công cụ, tính chất thực hành làm cơ
sở cho việc dạy học các phân môn khác của Tiếng Việt. Cùng với phân môn
Tập Viết, Chính Tả cung cấp kiến thức và hoàn thiện kó năng tạo ra hình thức
vật chất biểu hiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Mục đích của dạy
chính tả là rèn luyện khả năng “đọc thông, viết thạo”, chủ yếu là viết đúng
chuẩn mực và dạng thức viết của ngôn ngữ.
Trong quá trình dạy và học, phân môn chính tả rất quan trọng. Bởi
chính tả rèn kó năng viết, nghe, đọc. Qua chữ viết đúng, đẹp của giáo viên
còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt , hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng
, giàu đẹp của Tiếng Việt. Do đó viết đúng chính tả là việc cần thiết trong
hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Việc hình thành cho học sinh kó năng
viết đúng chính tả là vấn đề bức xúc và khó khăn.
II.
Thực trạng:
Đặc điểm tình hình chung của lớp:
1/ Thuận lợi:
- Sĩ số học sinh khơng đơng, thuận lợi cho việc kiểm tra (chấm bài viết
chính tả thường xun, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sửa chữa
và khắc phục viết đúng).
- Học sinh có đầy đủ vở chính tả và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ
nội dung bài tập chính tả).
3
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ tuần
đầu năm học ( thống kê phân loại học sinh học yếu chính tả để theo dõi
thường xuyên vào những giờ chính tả).
2/ Khó khăn:
- Tình hình thực tế học sinh lớp hai vốn từ các em còn hạn chế. Các em
chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản ,trong khi từ ngữ
Tiếng Việt vô cùng phong phú.
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức về học chính tả.
3/ Khảo sát thực trạng:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu biện pháp: “Một số
biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả” cho học sinh của lớp, tôi đã
tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc viết chính tả của học sinh ngay
từ đầu năm học. Qua khảo sát đầu năm , tôi thống kê học sinh còn mắc
lỗi chính tả rất nhiều, có một số học sinh viết sai 14 lỗi trong một bài
chính tả. Cụ thể khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm , trong đó
có bài viết chính tả , tôi thống kê số lỗi chính tả như sau:
Tổng số HS
đầu năm
Học lực phân môn chính tả đầu năm
Giỏi
34
Khá
SL
TL
SL
TL
4
11,7%
11
32,4%
Trung bình
SL
TL
8
23,5%
Yếu
SL
TL
11
32,4%
Cụ thể qua bài chính tả khảo sát đầu năm , số lỗi học sinh còn mắc lỗi
rất nhiều (có 2 em mắc đến 20 lỗi).
Số lỗi học sinh sai qua bài viết: sai 0 - 1 lỗi (4 em)
2 - 3 lỗi (11 em)
4 - 5 lỗi (8 em)
4
6 - 10 lỗi (3 em)
Trên 10 lỗi (8 em) trong đó: bốn em
mắc 20 lỗi ( Thanh Phú, Đào, Hồng Phúc, Thanh Ngọc ), hai em mắc
14 lỗi ( Tấn Tài, Thu Ngọc)và hai em mắc 11 lỗi ( Hồng Phát, Thịnh ).
Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng
tới kết quả học tập ở mơn Tiếng Việt cũng như các mơn học khác.
4/ Ngun nhân mắc lỗi chính tả .
- Do các em chưa có động cơ , thái độ đúng đắn trong việc học và rèn
luyện viết chính tả, khi viết các em còn lơ là, khơng tập trung vào bài viết, cẩu
thả, chữ viết xấu.
- Do các em khơng nắm được ngun tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết
hoa trong Tiếng Việt.
- Do các em chưa hiểu nghĩa của từ , chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả
vì q trình học chính tả có liên quan mật thiết với q trình trí nhớ . Những lỗi
chính tả do khơng nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả như lẫn lộn các phụ âm đầu,
các ngun âm , ...
- Nhiều em còn có hồn cảnh gia đình khó khăn, các em ít có điều kiện
học tập, rèn luyện và đọc thêm sách báo nên vốn từ ngữ của các em ít được mở
rộng .
5/ Phân loại lỗi chính tả :
Qua q trình giảng dạy và theo dõi chất lượng học tập, tơi thấy học
sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a. Lỗi về dấu thanh:
Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều
học sinh khơng phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,…
b. Lỗi phụ âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
5
+ Lẫn lộn giữa ng / ngh :
Ví dụ : Ngành
Nghỉ ngơi
- viết thành nghành .
- viết thành ngỉ ngơi
+ Lẫn lộn giữa s / x
Ví dụ : Xinh xắn
Cây xả
- viết thành sinh sắn
- viết thành cây sả
+ Lẫn lộn giữa d / gi
Ví dụ :
Duyên dáng
- viết thành duyên giáng
Con dao
- viết thành con giao
+ Lẫn lộn giữa c / k
Ví dụ :
Kéo co
- viết thành céo co
+ Lẫn lộn giữa g / gh
Ví dụ :
Ghê gớm
- viết thành gê gớm
+ Lẫn lộn giữa h / qu
Ví dụ :
Phá hoại
- viết thành phá quại
+ Lẫn lộn giữa ch / tr
Ví dụ :
Chiến tranh
- viết thành chiến chanh
c. Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
*Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây
( em Phúc Thịnh, Hoàng Phúc ):
+ ao / au / âu: lao bàn
+ oe/ eo: mạnh khẻo
+ iu/ êu / iêu: chìu chuộng
+ ip / iêp: liên típ
+ ui/ uôi: đầu đui
+ um/ uôm / ươm: cánh bườm
6
*Về âm cuối:
Học sinh ( em Đào, Thanh Ngọc ) thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối
trong các vần sau đây:
+ at/ ac: đồ đạt
+ an/ ang: cây đàn
+ ăt/ ăc: mặt quần áo
+ ăn/ ăng: khăng qng
+ ân/ âng: cái câng
+ êt/ êch: chênh lệt
+ ên/ ênh: lên đên
+ iêt/ iêc: thân thiếc
+ ut/ uc: núc áo
+ n/ ng: mong muống
+ t/ c: trắng muốc
+ ươn/ ương: con lương
d. Lỗi viết hoa:
- Khơng viết hoa chữ cái ở đầu mỗi câu, khơng viết hoa các chữ cái của
danh từ riêng, tên riêng, địa danh ,...
Ví dụ : Cao bá Qt, trần đại nghĩa ,...
- Viết hoa tuỳ tiện : Các em thường có thói quen viết hoa tuỳ tiện các
chữ các đầu như : Đ, K, C, P, H , ... hoặc xuống hàng viết hoa ( em Thanh Phú )
Ngồi ra các em còn mắc các lỗi khác như: Trình bày chưa sạch, chữ
viết còn thiếu nét, thừa nét.
III . Biện pháp rèn học sinh viết đúng chính tả:
a. Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ
tiếng, đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt
7
các thanh, các âm đầu, âm cuối. Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực
hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xun, liên tục, lâu dài
trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
b. Đọc viết chậm, quen dần dẫn đến viết đúng tốc độ :
Trong những tiết chính tả của các tuần học đầu, tôi hướng dẫn tỉ mỉ
cách viết các chữ khó. Khi đọc, tôi đọc chậm hơn so với yêu cầu, đọc rõ
ràng, phát âm chuẩn, sau đó nâng dần tốc độ theo đúng yêu cầu. Đối với
mơn Chính tả, trước khi cho học sinh viết bài, giáo viên cần cho học sinh đọc
nhiều lần và luyện viết các tiếng, các từ khó và dễ lẫn có trong bài. Sau khi
viết bài xong, phần sốt và sửa lỗi cũng khơng kém phần quan trọng. Giáo
viên cần hình thành cho các em thói quen biết tự sốt lỗi và sửa lỗi khi sai cho
mình và cho bạn. Sau khi sốt lỗi, học sinh phải sửa lỗi bằng cách viết lại lại
lỗi sai một chữ.
c. Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân
tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm
khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “làng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “làn”, giáo
viên u cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- làng = l + ang + thanh huyền
- làn = l + an + thanh huyền.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “làng” có âm cuối là “ng”, tiếng
“làn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ
khơng viết sai.
Ở việc phân tích, so sánh này tơi thực hiện trong các giờ chính tả tập
chép hay nghe viết, tơi thường xun hướng dẫn các em phân tích về cấu
tạo tiếng rồi so sánh những tiếng dễ lẫn lộn, luyện viết bảng con trước khi
viết vào vở. Đầu năm học, các em hay sai lỗi chính tả nên ngồi việc cho
8
các em viết vào bảng con thì khi đọc bài cho các em viết, nếu cảm thấy từ
đó các em dễ viết sai, tôi sẽ cho cả lớp phân tích tiếng đó một lần nữa bằng
đồng thanh cả lớp để các em nhớ lại con chữ cũng như cách viết. Lâu dần
số lượng tiếng được cả lớp đồng thanh phân tích giảm dần đi
d. Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp
học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ phối hợp với việc so sánh, phân tích
chính tả, tôi sử dụng đồ dùng dạy học, những hình ảnh và giáo cụ trực quan
để giúp học sinh quan sát và phân biệt từ khó dựa vào việc sử dụng thiết bị
dạy học vừa nêu hoặc hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa tử bằng cách cho học
sinh đặt câu, đọc chú giải. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong
tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện
pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm
hoặc phân tích cấu tạo tiếng.
Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn –
bàng =cây bàng hoặc phân biệt Bác và bát : bác=anh của ba, Bác Hồ bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa)
Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó
trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
e. Rèn luyện trí nhớ cho học sinh: Để học sinh có kĩ năng viết đúng
chính tả, tôi hướng dẫn cho các em đọc – viết vào các buổi thứ hai trong
tuần, giúp các em có kĩ năng phân biệt về thanh, về phụ âm đầu, phụ âm
cuối qua các bài tập chính tả để giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã
học.
f. Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
* Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản
như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê. Vì
9
vậy để giúp học sinh nhớ lại quy luật này, trong lớp tơi đã lập 1 bảng quy
tắc viết chính tả
* Luật hỏi- ngã
Nếu các từ giống nhau về phụ âm đầu, yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã. Nếu yếu tố đứng trước
mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược
lại).
Ví dụ:
Huyền + ngã : sẵn sàng, vững vàng…
Nặng + ngã : mạnh mẽ, vội vã…
Ngã + ngã : nhõng nhẽo, dễ dãi…
Ngang + hỏi : vui vẻ, trong trẻo…
Sắc + hỏi : mát mẻ, vất vả…
Hỏi + hỏi : lỏng lẻo, thủ thỉ…
Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:
Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên
Nhớ Viết Là Dấu Ngã).
Ví dụ: M: mĩ mãn, cần mẫn,…
N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngơn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),..
- Ngồi ra tơi còn đặt các từ thành câu có vần điệu để dễ nhớ :
Ví dụ : Tai nghe i ngắn bạn ơi
Bàn tay là chữ y dài chớ quên.
Hay :
Cái bàn chữ cuối âm nờ (n)
10
Cây bàng chữ cuối âm ngờ (ng) đừng quên.
Ngồi ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo
luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên
con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày,
chén, chum, chạn, chng, chiêng,… chồn, chuột, chó, chuồn chuồn, châu
chấu, chào mào, chiền chiện, chèo bẻo, chìa vơi… Từ chỉ quan hệ họ hàng,
gia đình.
Ví dụ: cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt, chút, chít
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sơn trà, sậy, sấu, sến, sầu
riêng,… sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử, sơn dương, san hơ…
Tên các thức ăn, đồ uống đều viết x. Ví dụ : xôi, xúc xích, xà lách ...
Mẹo kết hợp âm đệm : s không đi với 4 vần : oa, oă, oe, uê nên khi gặp
4 vần này ta phải viết là x. Ví dụ : xoa tay, xoay, tóc xoăn, xuề xòa ... Ngoại
lệ : soát vé, soạn bài, kiểm soát, sửa soạn.
- Những từ viết là r thường:
+ Mơ phỏng tiếng động (Ví dụ: rào rào, rả rích, rầm rầm…)
+ Mơ phỏng sự rung động (Ví dụ: rưng rức, run rẩy....)
+ Mơ phỏng sắc thái ánh sáng (Ví dụ: rạng rỡ, roi rói,....)
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, khơng vững chắc có vần ênh: Gập
ghềnh, khấp khểnh, chơng chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh chống,
chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, cơng kênh…
Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang,
đùng đồng, loảng xoảng, đồng đồng, sang sảng, pằng pằng, eng éc, beng
11
beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch,
thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc
khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn
ngoèo, khoèo chân
Phân biệt L và N:
- L xuất hiện hầu hết trong các tiếng chứa vần có âm đệm, còn N thì
rất ít xuất hiện. Ví dụ: loài, lũy, loa,…
g. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác
nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc
sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh
rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.
Bài tập 1/57 vở bài tập Tiếng Việt tập một
Điền iê hoặc yê vào chỗ trống:
Câu chu ...….n , …..n lặng , v…..n gạch , lu ...….n tập
Ta có thể rút ra nhận xét:
- Viết iê liền sau âm đầu trước âm cuối
- Viết yê sau âm đệm , mở đầu tiếng , trước âm cuối
Ngoài ra, ta còn có những quy tắc khác được rút ra từ các bài tập chính tả
*Quy tắc viết âm dệm u , o :
- u viết sau chữ q : quang , quân…
- u đứng trước các nguyên âm â , ê , y , yê , ya: phụ huynh , hoa huệ , dấu huyền
, trời khuya, ,…
- o trước các nguyên âm a, ă ,e : khoa , khoan , khoăn , khoe ,…
* Quy tắc viết một số nguyên âm làm âm chính :
- Quy tắc viết nguyên âm đôi : ia , ya , ua, uô, ưa, ươ :
- Viết ia sau phụ âm đầu không có âm cuối : chia phần , tia nắng , cây mía ,…
12
- Viết ya sau âm đệm , không có âm cuối : trời khuya ,…
- Viết ua khi không có âm cuối : của cải , mua chuộc ,…
- Viết uô khi có âm cuối : suối tiên , muôn trùng ,…
- Viết ưa khi không có âm cuối : lưa thưa ,…
- Viết ươ khi có âm cuối : yêu nước , thương nòi ,…
* Quy tắc viết i-y:
- Chữ y được viết trong các trường hợp sau:
+ Trong các tiếng viết bằng một chữ cái và tiếng đi cùng nó có âm đầu:
Ví dụ: y tế, y học, ý nghĩ, ý nghĩa, chú ý, ỷ lại, ỳ ra, ...
+ Trong các tiếng khuyết âm đầu và có nguyên âm đôi đứng đầu:
Ví dụ: yên lặng, tổ yến, yêu thương, ốm yếu, yết kiến, ...
+ Trong các vần có âm đệm là u: (uy, uyên, uyêt, uya, uyn, uynh)
Ví dụ: suy nghĩ, khuyên bảo, quyết tâm, đêm khuya, khuynh hướng, ...
- Chữ i được viết trong các trường hợp sau:
+ Trong tiếng viết bằng một chữ cái và tiếng đi cùng khuyết âm đầu:
Ví dụ ì ạch, ầm ĩ, í ới, ỉ oi, âm ỉ, ầm ì, ù ì, ...
+ Trong các tiếng khuyết âm đầu và có i là âm chính:
Ví dụ: inh ỏi, bản in, im lặng, ủn ỉn, ích lợi, ít ỏi, ...
+ Trong các vần không có âm đệm (trừ: ay, ây, oay)
Ví dụ: mai, nói, tôi, vời, ngoài, cuội, cười, ...
+ Trong các tiếng có vần chỉ gồm một nguyên âm:
Ví dụ: bi, dì, ghi, lí, mĩ, ni, rỉ, xị, chỉ, thi, khi, nhi, phi, tri.
+ Trong các tiếng có vần có i là âm chính:
Ví dụ: xinh, kìa, hiu, mít, miệt, lim, thích, tin, chiều,
- Viết iên sau âm đầu: cô tiên, thiếu niên….
- Viết yên khi nó đứng một mình: yên ổn, chim yến…
13
Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học sinh
không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong
tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập làm
văn.
Ví dụ: Một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả
thì bài văn đó không đạt điểm cao
Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý
thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống.
h. Mẹo viết hoa:
Những trường hợp cần viết hoa
- Viết hoa tên riêng của người, tên địa lí Việt Nam và tên người, tên địa lí
nước ngoài phiên âm qua âm Hán Việt.
Ví dụ: Hồ Chí Minh, Lý Cảnh Hớn…
- Viết hoa tên riêng của các cơ quan, tổ chức, các giải thưởng, danh hiệu,
huân chương…
- Viết hoa chữ cái đứng đầu câu.
- Sau dấu chấm.
- Sau dấu chấm than, dấu chấm hỏi.
- Sau dấu gạch đầu dòng bắt đầu một lời thoại.
- Mở đầu một dòng thơ (trừ khi tác giả sử dụng có mục đích riêng).
Ngoài ra, tôi còn làm 1 bài thơ để các em có thể nhớ khi viết hoa đầu câu :
Bạn ơi hãy nhớ
Đầu câu viết hoa
Còn sau dấu chấm
Ta cũng viết hoa
Chính tả thật khó
Nhưng mà thật vui
Ai mà viết được
14
Sẽ được mười thôi
Hoặc trong quá trình các em viết bài, tôi luôn nêu ra một số câu hỏi như :
- Chữ đầu đoạn văn viết như thế nào ? ( lùi vào 2 ô và viết hoa )
- Chữ đầu câu phải viết như thế nào ? ( viết hoa )
Mục đích của việc làm này là nhằm khắc sâu vào trí nhớ của học sinh. Bởi
vì học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp hai nói riêng thì dễ nhớ
nhưng lại mau quên. Do đó, giáo viên cần phải nhắc thường xuyên.
i. Rèn luyện thói quen đọc sách, lòng say mê đọc sách
Trong thực tế, tác dụng của việc đọc sách không chỉ dừng lại ở chỗ tiếp thu
kiến thức mà đọc sách còn là một biện pháp để hoàn thiện mọi mặt của con
người như: Đọc sách giúp chúng ta tăng cường khả năng giao tiếp, rèn
luyện năng lực tưởng tượng , liên tưởng , sáng tạo, rèn luyện năng lực ngôn
ngữ và giúp con người sống tốt trong xã hội.
Sách được viết bằng hệ thống ngôn ngữ, cụ thể là các chữ viết được nối kết
liên tục với nhau tạo thành câu , dòng , đoạn , bài… Từ ngữ được dùng luôn
có nghĩa. Việc đọc sách là biện pháp hữu hiệu nhất giúp chúng ta khắc phục
những sai sót trong việc sử dụng ngôn ngữ như viết sai chính tả, viết những
câu không đúng ngữ pháp tiếng Việt, hoặc sử dụng những từ ngữ không
hợp với đối tượng giao tiếp. Đọc sách còn giúp ta có thêm vốn từ vựng
phong phú, phát triển ngôn ngữ…Chính quá trình đọc sách, sự tập trung và
tinh ý sẽ giúp chúng ta hình thành những kĩ năng ngôn ngữ.
k. Đặc biệt chú trọng đến tuyên dương, khen thưởng
Học sinh rất thích được khen, riêng đối với những học sinh yếu thì đây lại
là món quà tinh thần rất lớn đối với các em. Chú ý:
- Tùy theo tâm lý của từng em mà có mức độ khen khác nhau.
- Khen để kích thích tinh thần học tập của các em, tránh lạm dụng làm cho
các em không coi trọng lời khen của giáo viên hoặc rơi vào tự mãn.
- Nhận xét, đánh giá kết quả học tập của các em phải dựa vào mức độ tiến
15
bộ của các em ở từng thời điểm thích hợp
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua quá trình rèn cho học sinh viết chính tả đã mang lại kết quả như
sau:
- Số học sinh viết sai chính tả đã giảm đi nhiều. Kết quả cụ thể đạt được
như sau:
TSHS
34
Cuối học kì I
Giỏi
Lực học của môn chính tả
Khá
Trung bình
Yếu
10
15
5
4
25%
25%
34%
16%
Với những biện pháp trên, tôi đã hình thành cho học sinh thói
quen viết đúng chính tả ở lớp cũng như ở nhà. Khi đã hình thành được
thói quen viết đúng, viết đẹp, các bài viết văn, chính tả của các em sẽ
trình bày rõ ràng, sáng sủa và sạch đẹp hơn nhiều. Nó sẽ tạo ra thêm
hứng khởi cho giáo viên và cũng tạo ra nhiều hứng thú đối với học
sinh. Các em sẽ có ý thức hơn trong việc viết bài nói riêng và học tập
nói chung. Đồng thời cũng tạo cho học sinh tính tích cực học tập nhằm
đáp ứng với việc thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực". Với kết quả đạt được như trên , bản thân
tôi rất vui vì mình đã góp một phần nhỏ vào kết quả học tập của các
em.
V. Bài học kinh nghiệm:
16
Thông qua việc nghiên cứu này, tôi rút ra nhữnng bài học kinh nghiệm
như sau:
- Giáo viên cần phải khơng ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng
cao trình độ, chun mơn nghiệp vụ. Có nắm chắc kiến thức, giáo viên
mới có thể giúp học sinh học tập một cách có hiệu quả.
- Phải hướng dẫn học sinh thật kó những qui tắc cơ bản .
- Giáo viên phải phát âm một cách chuẩn và chính xác.
- Đối với học sinh : các em cần phải tư duy và vận dụng thực tiễn để áp
dụng vào bài viết của mình.
- Sự cố công rèn luyện và sự phấn đấu của học sinh.
- Trong q trình giảng dạy, giáo viên ln quan sát, kiểm tra, … Từ đó
phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc hoặc những lỗi mà học sinh hay
mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.
- Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên phải luôn luôn nghiên cứu,
tìm tòi, sáng tạo, vận dụng linh hoạt và đổi mới phương pháp dạy học
cho phù hợp với hoàn cảnh, với đối tượng học sinh vì không có phương
pháp nào là vạn năng cả. Tạo không khí học tập vui tươi, nhẹ nhàng
cũng là biện pháp giúp các em có sự say mê, hứng thú trong học tập.
Đồng thời dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng tuyên dương để
khuyến khích học sinh kịp thời, tránh mắng phạt, chê các em trước lớp
làm cho các em có mặc cảm và bạn bè.
- Bên cạnh đó giáo viên cũng phải có tính kiên trì, bền bỉ không nôn
nóng. Vì để giúp các em học tốt chính tả là cả một quá trình lâu dài.
Bởi có những em có tiến bộ ngay trong vài tuần, nhưng cũng có học
sinh sự tiến bộ diễn ra rất chậm. Do vậy nếu giáo viên không có cách
hướng dẫn hợp lí, sự kiên trì thì kết quả sẽ không cao.
17
- Giáo viên phải thường xuyên chấm chữa bài để nắm được lỗi mà học
sinh mắc phải để sửa chữa uốn nắn kòp thời.
- Giáo viên phải thường xuyên phối hợp với gia đình phụ huynh học sinh
để nhắc nhở, đôn đốc các em rèn thêm ở nhà.
Làm được như vậy, tôi nghó chắc chắn việc dạy - học sẽ đạt hiệu quả
cao.
18
C. KẾT LUẬN
I. Lời kết
Tiếng Việt là một trong những mơn học quan trọng góp phần giúp cho học
sinh đọc thơng viết thạo , sử dụng ngơn ngữ nói, viết trong học tập và giao tiếp ,
tạo cơ sở cho các em học tiếp ở các lớp trên . Trong đó phân mơn chính tả ngồi
việc giúp học sinh rèn các kĩ năng viết, nghe, đọc còn cung cấp cho các em vốn
từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống .
Vì vậy khi dạy chính tả, người giáo viên cần phải nắm được những u
cầu cơ bản về kiến thức kĩ năng của bài học, từ đó lựa chọn những biện pháp
phù hợp nhằm giúp cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái, giúp các em khắc
phục những lỗi sai mà các em thường hay mắc phải .
Trong q trình giảng dạy ở lớp 2, với những tìm tòi của bản thân, tơi đã
giúp các em thuận lợi trong việc khắc phục những lỗi sai khi viết chính tả . Tuy
nhiên trên đây chỉ là những ý kiến nhỏ của bản thân tơi , rất mong sự đóng góp
của các bạn đồng nghiệp để cho việc giảng dạy các em đạt hiệu quả tốt hơn .
II. Đề nghị:
* Đối với nhà trường:
- Cung cấp thêm tài liệu để giáo viên tham khảo
* Đối với phụ huynh:
- Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm rèn cho học sinh viết một số từ khó
trong bài Tập đọc.
TPHCM, ngày 12 tháng 3 năm 2015
19
LÊ THỊ MINH PHƯƠNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Sách giáo viên Tiếng Việt 2 ( tập 1 & 2 )
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 ( tập 1 & 2 )
Sách thiết kế bài giảng Tiếng Việt 2 ( tập 1 & 2 )
Hướng dẫn giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực mơn Tiếng Việt
lớp 2
Tạp chí Thế giới trong ta
Tạp chí giáo dục tiểu học
Sách thiết kế bài giảng Tiếng Việt 2
Sổ tay Chính tả Tiếng Việt
Phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học
Từ điển Tiếng Việt
20