Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu ứng dụng e learning trong trường phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.43 MB, 10 trang )

Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG E-LEARNING
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG

I.

ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đổi mới phương pháp dạy - học là một trong những mục tiêu lớn ngành giáo dục
& đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và được Nghị quyết TW2, khoá VIII chỉ ra
rất rõ ràng và cụ thể: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển
mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là
thanh niên”.
Năm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin” của ngành giáo dục, Bộ
GD-ĐT đã yêu cầu các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã
nguồn mở trong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tác
quản lý. Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các
đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước.
Những phần mềm nguồn mở có thể ứng dụng trong trường phổ thông hiện nay có
thể kể đến các phần mềm như hệ điều hành Linux Ubuntu, Hacao Linux; bộ phần mềm
văn phòng OpenOffice; bộ gõ chữ Việt Unikey; Hệ quản trị CSDL MySQL; … và đặc
biệt là hệ thông quản lý học tập trực tuyến Moodle.
Chúng ta đều biết, việc đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học
bất kỳ giai đoạn nào đều cần sử dụng tới công nghệ. Hiện nay, sản phẩm CNTT-TT


phục vụ công tác giảng dạy và học tập ngày càng đa dạng, đa năng với sự tích hợp
nhiều tính năng thông minh (đôi khi khá phức tạp) vì vậy đòi hỏi người dạy, người học
cũng cần có kỹ năng nhất định để vận hành các phần mềm, thiết bị nhằm phục vụ hiệu
quả cho việc dạy và học.
“Ứng dụng E-Learning trong trường phổ thông” là một đề tài lớn; cần được
nghiên cứu, triển khai và đúc kết kinh nghiệm trong nhiều năm. Vì vậy trong giới hạn
của một sáng kiến kinh nghiệm này tôi xin phép chỉ đề cập tới việc nghiên cứu triển
khai ứng dụng E-Learning bằng hệ thống quản lý học tập trực tuyến – Moodle, một
trong những phần mềm mã nguồn mở vừa kể trên.
Xin được nhắc lại rằng, phương tiện ứng dụng CNTT-TT trong giảng dạy và học
tập là vô cùng phong phú, đa dạng, đa tính năng vì vậy để “làm chủ” được các phương
Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

1


Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

tiện này đòi hỏi mỗi chúng ta phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, và mạnh dạn ứng
dụng. Chuyên đề này được viết trên tinh thần chia sẻ nhiệt huyết và những kinh
nghiệm đúc kết được trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu E-Learning tại trường THPT
chuyên Quang Trung – mong rằng có thể góp một phần công sức nhỏ bé vào việc đổi
mới phương pháp giảng dạy – học tập của thầy và trò các trường phổ thông giáo dục
tỉnh nhà.

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147


2


Nguyễn Văn Nghiêm

II.

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

NỘI DUNG CHÍNH.

Trong những năm gần đây, E-learning thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều
của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai công nghệ thông tin,
đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện nghiên cứu. Nhiều nhà
chuyên môn cho rằng E-learning được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế
kỷ 21. Vậy E-learning là gì?, Xây dựng hệ thống E-learning cho trường phổ thông như
thế nào?,... tôi sẽ cùng các bạn trả lời những câu hỏi vừa nêu trên.
1. E-Learning là gì?
Có thể xem E-learning như một phương thức dạy học mới, bổ sung và hỗ trợ cho
các phương thức đào tạo truyền thống, tạo ra thêm cơ hội được học cho đông đảo tầng
lớp xã hội và đặc biệt góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giảng dạy.
E-Learning là hình thức đào tạo có ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Cụ thể hơn, E-Learning là hình thức đào tạo sử dụng các phương tiện như máy tính,
mạng Internet, mạng vệ tinh ...; nội dung đào tạo được phân phối qua Website, đĩa CD,
băng audio/video. Với hình thức đào tạo này, học viên có thể tương tác với nhau và
với giáo viên qua mạng máy tính, mạng vệ tinh dưới các hình thức như e-mail, thảo
luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo trực tuyến (audio/video

conferencing),…
E-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ
thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép
tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt
lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học
hoặc giáo viên ngay trong quá trình học.
Xét về cấu trúc nền, nhìn chung, hệ thống E-Learning bao gồm các thành phần sau
(1)

:

1) Hệ thống quản lý học tập (LMS Learning Management System) giúp xây
dựng các lớp học trực tuyến hiệu quả.
2) Hệ thống quản lí nội dung học tập (LCMS
- Learning Content Management System)
cho phép tạo và quản lý nội dung học tập.
3) Các công cụ làm bài giảng (authoring
tools) một cách sinh động, dễ dùng, và
1

Theo Cục Công nghệ thông tin - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

3


Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm


2009

cho phép chèn nhiều đối tượng khác nhau như hình ảnh, âm thanh, phim, ….
4) Điều quan trọng hơn là E-Learning đã được thế giới chuẩn hoá nên các bài giảng
có thể trao đổi với nhau trên toàn thế giới cũng như giữa các trường học ở Việt
Nam.
Để giúp hiểu rõ hơn khái niệm này chúng ta có thể tham khảo các định nghĩa của
một số nhà khoa học, công ty trên thế giới về e-learning:


e-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William
Horton).



e-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc).



e-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc
quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác
nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center).



Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền
tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, băng đĩa video, các hệ thống
giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun

Microsystems, Inc).

2. Lựa chọn phần mềm.
Hiện nay, có nhiều phần mềm có thể đáp ứng các yêu cầu nói trên của một hệ
thống E-Learning. Trong số đó có thể kể đến các sản phẩm thương mại như
BlackBoard, WebCT, Docent…, hay các sản phẩm mã nguồn mở như Moodle, Sakai,
LRN, ILIAS, Atutor…
Việc đầu tiên để xây dựng hệ thông E-Learning là lựa chọn một phần mềm thích
hợp. Sau một thời gian tìm hiểu và tham khảo ý kiến của một số chuyên gia ELearning tôi quyết định chọn Moodle để nghiên cứu và triển khai.
3. Tính năng của Moodle.
Moodle là hệ thông quản lý học tập có đầy đủ các thành phần theo yêu cầu của
một cấu trúc hệ thống E-learning. Vì vậy trong khuôn khổ SKKN này tôi chỉ xin giới
thiệu khái quát một vài tính năng cơ bản của Moodle. Bạn đọc quan tâm có thể tham
khảo thêm tại trang web chính thức của Moodle (www.moodle.org).
Hệ thống E-learning được xây dựng bởi Moodle có thể đáp ứng từ một lớp học
nhỏ đến các trường đại học lớn trên 50.000 sinh viên như đại học Open PolyTechnique
của Newzealand, Open University of UK, Athabasca University.... là một LMS phù

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

4


Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

hợp với nhiều cấp học và hình thức đào tạo: phổ thông, đại học/cao đẳng, không chính

quy, trong các tổ chức/công ty…
Moodle viết bằng ngôn ngữ lập trình PHP, được tích hợp đầy đủ các thành phần
theo cấu trúc nền của E-Learning và tương thích với hầu hết các hệ quản trị cơ sở dữ
liệu như MySQL, PostgreSQL, Oracle, Microsoft SQL. Theo thống kê của những
chuyên gia lập trình web thì để xây dựng một LMS như Moodle phải tốn khoảng 20
triệu USD trong khi Moodle lại được cung cấp miễn phí. Đây là một trong những ưu
điểm để Moodle phát triển rộng rãi như hiện nay.
3.1.

Các tính năng quản lý khóa học (các Module):

Moodle được tích hợp sẵn các tính năng tạo lập và quản lý khóa học như: Giao –
nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa giáo viên và học viên, giữa các bạn học (chat), tạo
lập các diễn đàn cho từng lớp học; bảng thuật ngữ (từ điển); nhật ký học viên; công cụ
tạo bài học (dành cho giáo viên); công cụ tạo đề và làm bài kiểm tra (có tất cả các dạng
đánh giá quen thuộc bao gồm trả lời đúng-sai, đa lựa chọn, câu trả lời ngắn, ghép câu,
câu hỏi ngẫu nhiên, …); tài nguyên học tập; hội thảo...
3.2.

Tính năng quản lý học viên.

Bên cạnh chức năng tạo khóa học thì “Quản lý học viên” là một tính năng đặc biệt
quan trọng của Moodle bao gồm: Kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một
khóa học, chia học viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của
site hoặc khóa học…, áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản lí
điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóa
học …. Giáo viên có thể phân quyền truy cập vào khóa học đối với từng nhóm đối
tượng như: Khóa học cho mọi người, khóa học cho học viên, khóa học cho học viên có
khóa truy cập (khóa truy cập là mật mã do giáo viên cung cấp).
3.3.


Vai trò của các đối tượng người dùng.

- Giảng viên (teacher) có thể là nhà tạo ra khóa học, nếu người quản trị cấp quyền,
tùy theo từng khóa học mà giảng viên đó có thể tạo khóa truy cập hay không (mỗi lớp
học có thể có một khóa truy cập, học viên khi tham gia vào khóa học đó bắt buộc phải
có một khóa truy cập). Giảng viên là người trực tiếp quản lý lớp học như :nội quy,
giáo trình, bài giảng, đề thi...đồng thời cũng là người quản lý các học viên của mình.
- Học viên (student) nếu muốn tham gia vào một lớp học nào đó học viên đó phải
là thành viên của lớp đó. Nếu lớp đó có yêu cầu một khóa truy cập học viên bắt buộc
phải có khóa truy cập này. Khi học viên đăng nhập vào hệ thống hệ thống chỉ hiện lên
những danh mục và các khóa học mà học viên đó tham gia. Học viên tham gia khóa
học nào đều phải tuân thủ theo quy định của khóa học đó. Những quy định này có thể
do giảng viên phổ biến.

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

5


Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

- Khách (guest) là những người có quyền hạn hạn chế nhất họ chỉ được vào những
khóa học mà khóa học đó cho phép khách vào.
4. Nghiên cứu, Việt hóa và ứng dụng LMS Moodle.
Nhận thức được sự ảnh hưởng tích cực của E-Learning trong giảng dạy và học tập,

ngay từ những năm đầu về trường tôi đã bắt tay vào nghiên cứu triển khai ứng dụng ELearning mà cụ thể là nghiên cứu, Việt hóa và ứng dụng phần mềm quản lý học tập
trực tuyến Moodle.
Đề tài nghiên cứu gồm 2 giai đoạn:
1. Giai đoạn nghiên cứu ứng dụng:
 Các vấn đề chung về E-Learning;
 Cài đặt Moodle trên máy cá nhân và Server trực tuyến;
 Khai thác ứng dụng các tính năng hiện có của Moodle.
2. Giai đoạn nghiên cứu phát triển:
 Dịch thuật (Việt hóa)
Moodle sang tiếng
Việt để xây dựng
phiên
bản
MoodleViet;
 Xây dựng website
bằng
chính
MoodleViet
nhằm
phổ biến, tư vấn và
hỗ trợ các tổ chức, cá
nhân và trường học Việt Nam triển khai ứng dụng MoodleViet vào công tác
giảng dạy và học tập;
 Phát triển các module mới cho MoodleViet.

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

6



Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

5. Ví dụ về quản lý của chủ nhiệm lớp qua hệ thông Moodle tại trang eSchool.
Tại eSchool, Moodle được ứng dụng để tạo các trang thông tin và học tập cho từng
lớp và mỗi lớp có một giáo viên (GV chủ nhiệm) chịu trách nhiệm cập nhật thông tin
cho trang thông tin của lớp mình, trả lời những thắc mắc của phụ huynh, học sinh…
Mỗi GVCN sẽ được cấp tài khoản với quyền truy cập và quản lý lớp. Mỗi khi có ý
kiến thắc mắc của phụ huynh hay học sinh lập tức một email sẽ được gửi đến hộp thư
của GVCN. Tương tự, khi GVCN trả lời hay có thông báo (VD. Mời họp PHHS), lập
tức một email sẽ được gửi đến tất cả những tài khoản của lớp (phụ huynh và học sinh)
mà không cần gửi email cho từng người.
Giáo viên chủ nhiệm cùng các giáo viên bộ môn có thể tạo các bài học, đề thi trắc
nghiệm, bài kiểm tra… để học sinh có thể học tập trực tuyến mọi lúc mọi nơi. Học
sinh có thể trao đổi với thầy cô, với bạn học ngay trên diễn đàn của lớp hoặc trao đổi
trực tuyến (chat) với thầy, với bạn nếu đăng nhập cùng lúc.

Có thể truy cập eSchool theo địa chỉ:
hoặc Click chọn eSchool từ trang CQT Online (www.chuyenquangtrung.com.vn)

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

7


Nguyễn Văn Nghiêm


Sáng kiến kinh nghiệm

2009

Truy cập vào lớp:
Các lớp được
xếp theo từng khóa.
Mỗi lớp có một
giáo viên quản lý
(GV chủ nhiệm)
chịu trách nhiệm
cập nhật thông tin,
trả lời và liên lạc
với phụ huynh học
sinh.
Ngoài ra giáo viên
có thể tạo các bài giảng, bài kiểm tra,
phiếu thăm dò… trên trang của lớp mình.
Để truy cập vào trang của lớp, Click chuột vào lớp mình chủ nhiệm.
VD: Chuyên Anh khóa 3. Sau khi click chọn lớp hệ thống sẽ yêu cầu đăng nhập.
Đăng nhập hệ thống: Nhập tên đăng nhập, mật khẩu rồi Click “Đăng nhập” (Tên
đăng nhập và mật khẩu được cấp theo danh sách đính kèm)

Sau khi đăng nhập giáo viên có toàn quyền cập nhật dữ liệu cho trang của lớp mình.

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

8



Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

5.1. Cập nhật thông tin:
5.1.1. Thêm thông báo đến phụ huynh & học sinh:

Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

9


Nguyễn Văn Nghiêm

Sáng kiến kinh nghiệm

2009

Nhập “Tiêu đề” và “Nội dung thông báo”, sau đó Click “Gửi bài viết lên diễn đàn”

Gửi thông báo đã hoàn tất. Để trở lại trang của lớp hãy click vào tên lớp:

5.1.2. Cập nhật các thông tin khác:
Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – – 0918.918 447 – 0651.3889 147

10




×