Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Đảng bộ huyện lương sơn (hòa bình) lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (800.37 KB, 110 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐOÀN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN (HÒA BÌNH)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐOÀN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN (HÒA BÌNH)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2014

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Viết Nghĩa

Hà Nội - 2016




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .......................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................... 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ....................................... 9
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ......................................... 9
6. Những đóng góp của luận văn .............................................................. 10
7. Cấu trúc của luận văn............................................................................ 10
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010. ............... 12
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn ................ 12
1.2 Vài nét về chính sách dân tộc của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình ............................................................................................................. 18
1.3. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn xác định một số nội dung cơ bản trong
việc thực hiện chính sách dân tộc ............................................................. 29
1.4. Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ
huyện Lƣơng Sơn. ...................................................................................... 31
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 45
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN ĐẨY MẠNH THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2014..... 48
2.1. Một số nội dung mới trong chính sách dân tộc của Đảng và Đảng
bộ tỉnh Hòa Bình. ....................................................................................... 48
2.2. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn điều chỉnh một số nội dung trong việc
thực hiện chính sách dân tộc ..................................................................... 54
2.3. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn đẩy mạnh lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc................................................................................................. 58



Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 79
Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ........................... 81
3.1. Một số nhận xét ................................................................................... 81
3.1.1. Về ưu điểm ..................................................................................... 81
3.1.2. Về hạn chế ...................................................................................... 84
3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................ 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 96


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Trần Viết Nghĩa.
Các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo
tính khách quan, khoa học, mọi kết quả đều dựa trên quá trình khảo sát và thực
địa trên thực tế. Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả

Đoàn Thùy Dung


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đồng bào các dân tộc đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong tiền trình
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Không thể có những
thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Tống, Mông, Nguyên, Minh,
Thanh thời phong kiến, hay chống Pháp, Nhật và Mỹ trong thời đại Hồ Chí
Minh, nếu không có sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt

Nam luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có
một vị trí chiến lược cơ bản và lâu dài. Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới
(1986) đến nay, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế sâu rộng hiện nay vấn đề phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của
Đảng và Nhà nước. Thực tế Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối và
chính sách để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho cộng đồng các dân tộc
thiểu số. Đảng đã nhấn mạnh một trong tám đặc trưng quan trọng của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” [27, tr 70].
Lương Sơn là một huyện quan trọng của tỉnh Hòa Bình. Đây là địa bàn
cư trú của nhiều dân tộc anh em. Trong giai đoạn 2005 – 2014, Đảng bộ
huyện Lương Sơn đặc biệt quan tâm đến chính sách dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc trên địa bàn. Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo thực hiện khá
nghiêm túc nên chính sách dân tộc của Đảng đã đi vào thực tiễn, bước đầu
mang lại những hiệu quả thiết thực về kinh tế, văn hóa ở Lương Sơn. Tuy
nhiên bên cạnh những chuyển biến tích cực, quá trình chỉ đạo tổ chức thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình vẫn
1


còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng bộ huyện chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới;
nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể; của một số cán bộ, đảng viên về công tác dân tộc chưa đúng mức nên
hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của huyện còn hạn chế.
Do đó nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Lương Sơn thực hiện chính
sách dân tộc là một nhiệm vụ cần thiết.Thông qua việc làm rõ chủ trương,
đường lối của Đảng cũng như sự chỉ đạo thực hiện cụ thể trên địa bàn huyện
để qua đó rút ra được những thành tựu, hạn chế và nhất là những bài học kinh

nghiệm cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nữa chính sách dân tộc
trong các giai đoạn tiếp sau. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, tôi
quyết định chọn vấn đề “Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình) lãnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014” làm đề tài luận
văn cao học, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian gần đây đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công
tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng của các nhà nghiên
cứu. Mục đích của các nghiên cứu này trước hết là làm rõ các chủ trương,
đường lối của Đảng về chính sách dân tộc, sự lãnh đạo thực hiện hiệu quả các
chính sách dân tộc đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và an ninh
quốc phòng, đóng góp ý kiến giúp Đảng hoàn thiện chính sách dân tộc.
Những nghiên cứu về chính sách dân tộc được chia thành các nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu về chính sách của Đảng và nhà
nước về chính sách dân tộc của Đảng. Một số công trình đặc sắc phải kể tới
như:

2


+ “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam hiện
nay (2015, Nxb Chính trị quốc gia) của tác giả Nguyễn Lâm Thành, cuốn sách
đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức đối với vùng dân tộc thiểu số phía Bắc hiện nay trên cơ sở các khung lý
thuyết mới về chính sách công. Cuốn sách đã hệ thống hóa những nội dung lý
luận về chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số; phân tích, đánh giá các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số phía Bắc gắn với
thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề quản lý nhà nước có liên quan; chỉ
ra những khó khăn, hạn chế, bất cập hiện nay của chính sách và xác định
những vấn đề cần giải quyết; đề xuất giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện

chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam. Đồng thời,
trên cơ sở nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới,
kết hợp với kết quả nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những vấn đề thực tiễn,
cuốn sách đã bước đầu bổ sung, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận mới liên
quan đến chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số, cung cấp các luận cứ để
phục vụ cho việc bổ sung, hoàn thiện lý luận, quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng về chính sách phát triển đối với vùng dân tộc thiểu số ở Việt
Nam.
+ “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ở Việt Nam” (2011, Nxb
Chính trị quốc gia) của tác giả Lê Ngọc Thắng. Cuốn sách là một trong những
kết quả nghiên cứu chính của đề tài khoa học cấp Nhà nước Nghiên cứu chính
sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn ở nước ta. Cuốn sách trình bày có hệ thống những vấn đề
cơ bản về chính sách dân tộc như: đặc điểm của chính sách dân tộc, tầm quan
trọng của hệ thống chính sách dân tộc, các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống
chính sách dân tộc, một số tham khảo về chính sách dân tộc của một số nước
trong khu vực; phân tích thực trạng hệ thống chính sách dân tộc ở nước ta
3


hiện nay, trong đó, nêu rõ những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện
chính sách dân tộc ở nước ta trong 25 năm đổi mới vừa qua. Đặc biệt, cuốn
sách đã đưa ra những phương hướng, giải pháp xây dựng, đổi mới và hoàn
thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến
năm 2020, nhấn mạnh giai đoạn 2011-2015 và các nhóm giải pháp chủ yếu để
xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc thiểu số như: nhóm giải
pháp đối với chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách giảm nghèo;
nhóm giải pháp cho vấn đề việc làm, dạy nghề; giải pháp về phát triển văn
hóa các dân tộc thiểu số; giải pháp đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính
sách về ổn định chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng; giải pháp về cán bộ

cơ sở; giải pháp đối với chính sách môi trường.
Những cuốn sách này đã đi sâu vào hệ thống, phân tích, đánh giá các
chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước. Qua đó cung cấp các tư liệu quan
trọng cho các cấp, các ngành cũng như người dân nắm bắt và nhận thức đúng
được chủ trương và đường lối của Đảng trong việc ban hành và thực hiện
chính sách dân tộc. Nhằm giúp cho những chính sách đi sâu, đi rộng hơn vào
cuộc sống, có ý nghĩa to lớn trong việc xây dưng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu về tình hình phát triển trên các mặt
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đáng chú ý là:
+ Bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” (2015, Nxb Chính trị quốc gia),
gồm 4 tập của Viện dân tộc học. Bộ sách góp phần tổng kết tình hình nghiên
cứu; xem xét sự phát triển và biến đổi về kinh tế - xã hội của các tộc người;
xác định những vấn đề đã, đang và sẽ đặt ra về phát triển đối với các tộc
người ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
của đất nước. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức vấn đề tộc người ở nước
ta trong khoảng gần 30 năm; tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách
4


dân tộc của Việt Nam trong giai đoạn mới. Bộ sách còn một số hạn chế do
nguồn tài liệu chủ yếu là thứ cấp, có những dân tộc có nhiều tài liệu nghiên
cứu và có những dân tộc có ít tài liệu nghiên cứu hơn. Các nhận định, đánh
giá về sự phát triển, biến đổi kinh tế - xã hội cũng như vấn đề đặt ra trong
phát triển của một số tộc người có thể chỉ mang ý nghĩa gợi mở.
+ “Xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” (2014, Nxb Chính trị quốc gia) của
tác giả Nguyễn Thế Tư. Cuốn sách đã làm rõ được cơ sở lý luận và nêu bật
vai trò của xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đi sâu phân tích thực trạng cũng như
giải pháp nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt công tác dân vận tại đây.

+ “Về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay” (2010, Nxb
Chính trị quốc gia). Cuốn sách gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học
tập trung nghiên cứu về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện
nay. Từ việc xác định khái niệm dân tộc, Phan Hữu Dật đi sâu nghiên cứu chủ
nghĩa Mác – Lênin về vấn đề này thông qua việc phân tích chủ nghĩa Mác
cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một vấn đề đặc biệt được quan tâm
trong thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi trên thế giới xuất hiện nhu cầu
giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống lại sự thống trị của chủ nghĩa tư
bản, đế quốc. Trong các bài viết của mình, Lê Ngọc Thắng và Cao Văn Thanh
đã trình bày những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về
dân tộc cũng như những chính sách kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay. Đó là những quan điểm được xây dựng trên cơ sở của học
thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; được căn cứ
vào tình hình thực tiễn dân tộc ở nước ta. Bên cạnh việc đưa ra những quan
điểm, chính sách cơ bản, các tác giả phân tích thực trạng, nguyên nhân cho
những hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc và từ đó đưa ra những
5


giải pháp nhằm khắc phục hạn chế. Một loạt các vấn đề khác như quan hệ dân
tộc ở Việt Nam, đặc điểm các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, thiết chế truyền
thống của các tộc người thiểu số ở Việt Nam, tôn giáo tín ngưỡng ở vùng dân
tộc thiểu số, và quan hệ dân tộc trong thời đại đa đối tác mở rộng lần lượt
được trình bày qua các bài viết của các tác giả: Lê Sỹ Giáo, Đậu Tuấn Nam,
Vũ Trường Giang, Vũ Hải Vân, và Mạc Đường.
+ “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”
(2015, Nxb Chính trị quốc gia) của Báo nhân dân. Qua các bài viết đã phản
ánh sự đổi mới mạnh mẽ trong đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
dân tộc, miền núi; tập trung tuyên truyền các chủ trương chính sách mới của
Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc, đến các vùng miền khó khăn để

giúp họ giảm nghèo và làm giàu; tôn vinh, động viên và khích lệ những tập
thể, cá nhân, những việc làm tốt, điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất
và bảo vệ Tổ quốc; phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn
hóa phong phú, đa dạng và tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc
biệt, hỗ trợ người uy tín hiểu và nhận thức đầy đủ các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên mọi mặt; đồng thời các bài
viết có tác dụng đấu tranh chống lại sự chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc;
vận động đồng bào hiểu và loại bỏ các tập tục lạc hậu và mê tín.
+ “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2012, Nxb Chính trị
quốc gia) của tác giả Nguyễn Đăng Thành. Cuốn sách trình bày những luận
cứ lý thuyết và thực tiễn nhằm để nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn vấn đề
phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, tác giả còn đề
xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện cho hoạch định chính sách phát triển
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước nói chung, tại các vùng dân tộc thiểu số nói riêng.
6


Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu cụ thể về đời sống vật chất
cũng như tinh thần của từng dân tộc cụ thể. Những cuốn sách này đã đưa ra
cái nhìn tổng quan về vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội, sự phân
bố của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thông qua đó cũng chỉ ra được
những tồn tại và nguyên nhân của những khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần
của các dân tộc. Các tác giả đã nêu ra được một số giải pháp có ý nghĩa thực
tiễn. Đây là một trong những nguồn tư liệu quý nhằm giúp các nhà lãnh đạo
hoạch định và có những bước thực hiện các chính sách dân tộc phù hợp với
từng vùng cụ thể.
- Nhóm thứ ba: Một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến
vấn đề dân tộc.

+ “Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
các dân tộc thiểu số từ năm 1998 đến năm 2008” (2011) của Hà Minh Huân.
Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hòa
Bình. Từ đó nêu lên thực trạng, giải pháp cũng như các bài học kinh nghiệm
trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh
Hòa Bình.
+ “Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai
đoạn 2001 – 2010” (2012) của Hoàng Thị Huệ. Luận văn đã khái quát chính
sách dân tộc của Đảng và nhà nước cũng như phân tích điều kiện riêng biệt
của tỉnh Hòa Bình khi thực hiện chính sách dân tộc. Luận văn đi sâu phân tích
quá trình thực hiện và tác động của các chính sách dân tộc lên mọi mặt đời
sống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình. Trên cơ sở đó rút ra điểm
tích cực, hạn chế và các bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách
dân tộc giai đoạn 2001 – 2010.
7


+ “Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chương trình 135 từ năm
1999 đến năm 2010” (2014), của Mai Thị Minh Nguyệt. Chương trình 135 là
một trong những chương trình quan trọng trong hệ thống chính sách dân tộc
của Đảng và nhà nước nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng. Luận văn đã
trình bày tổng quát về chương trình 135; đồng thời phân tích chủ trương và sự
chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với việc thực hiện chương trình từ
năm 1999 đến năm 2010; làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với việc thực hiện
Chương trình 135, từ đó đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo.
Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được quá trình thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ở tỉnh Hòa Bình trên một số mặt
quan trọng. Đây là nguồn tư liệu tham khảo cho tác giả khi tìm hiểu quá trình

thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình).
Ngoài ba nhóm tài liệu kể trên, còn phải kể đến các bài đăng trên các tạp
chí lịch sử uy tín như tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, tạp chí Dân tộc học.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Lương Sơn (Hòa Bình) về chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình)
đối với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong những năm 2005 –
2014.

8


- Tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình).
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa tư liệu về việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ
huyện Lương Sơn.
- Làm rõ được điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Lương Sơn.
- Làm rõ chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Làm rõ việc lãnh đạo thực hiện những nội dung cơ bản trong chính
sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tƣợng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo thực hiện dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa
Bình) trong giai đoạn 2005 – 2014.
* Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2014.
- Về không gian: Huyện Lương Sơn.
- Về nội dung: Chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn và sự
lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tƣ liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết của Trung ương Đảng,
Bộ chính trị.

9


- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, Ủy ban nhân dân, Ban dân
tộc và các ban ngành có liên quan.
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Lương Sơn, Ủy ban nhân dân, Phòng
dân tộc và các ban ngành liên quan.
- Các công trình nghiên cứu, luận án, luận văn.
- Các sách báo, tạp chí về vấn đề dân tộc.
* Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng một số phương pháp sau: phương pháp lịch sử,
phương pháp logic. Bên cạnh đó sử dụng kết hợp một số phương pháp như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…
6. Những đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa quan điểm, chủ trương và quá trình Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ 2005 –
2014.
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương cũng như quá trình thực hiện
các chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và tỉnh Hòa Bình ở huyện Lương
Sơn. Qua đó góp phần giúp các cơ quan của tỉnh nghiên cứu và hoạch định
các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, nhất

là ở vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu
và giảng dạy về chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:

10


Chương 1. Đảng bộ huyện Lương Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
trong giai đoạn 2005 – 2014.
Chương 2: Đảng bộ huyện Lương Sơn đẩy mạnh thực hiện chính sách dân tộc
trong giai đoạn 2010 – 2014.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm.

11


Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hòa Bình
và miền Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km, địa giới liền
kề với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn (Hà Nội),
Đại học quốc gia, làng văn hóa các dân tộc. Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ
105025’14” – 105041’25” Kinh độ Đông; 20036’30” – 20057’22”.
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía Nam của dãy núi Ba Vì (còn gọi là

Viên Nam), nơi có một phần của vườn quốc gia Ba Vì. Phía Tây giáp huyện
Kỳ Sơn, phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Đông và phía Bắc giáp các huyện
của thủ đô Hà Nội (các huyện này trước ngày 1 tháng 8 năm 2008 thuộc tỉnh
Hà Tây cũ) gồm: Mỹ Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì).
Về địa hình: Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp
giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp
có độ cao tương đối nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma,
đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc.
Khí hậu: Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông
lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 –
23,30c. Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố
không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường.
Nguồn nƣớc: Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối
đồng đều trong các xã. Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt
12


nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km. Đầu
tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì
nhập với suối Bu (bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy
quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện.
Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc
nhỏ, có khả năng tích nước [62].
Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả
năng tiêu thoát nước tốt.
Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh
tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp
với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương
Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây

trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông
suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt
và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi
trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác:
Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất
lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên
địa bàn huyện.
Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không
đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố
rải rác toàn huyện.

13


Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm
49,68% diện tích tự nhiên. Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong
phú với nhiều loại gỗ quý. Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi
quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh.
Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện. Nhờ quan tâm phát
triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập
cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu
nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ
lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim.
Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình
xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối,
hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên
và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, sân golf.

Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học,
hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm,
hang Trổ, động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát
triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng [62].
Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa
vật thể và phi vật thể.
Những lợi thế về giao thông cùng tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên
nhiên như: có nhiều núi đá vôi phục vụ ngành sản xuất vật liệu xây dựng, có
14.000 hecta đồi núi và đất đai màu mỡ để phát triển nông, lâm nghiệp.
Huyện còn có điều kiện xây dựng các khu nghỉ dưỡng, phát triển du
lịch…Hiện nay trên địa bàn huyện có rất nhiều dự án lớn như sân golf
14


Phượng Hoàng và Làng văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình (xã Lâm Sơn), khu
du lịch sinh thái (xóm Mòng – thị trấn Lương Sơn)…
Điều kiện kinh tế - xã hội
Hành chính
Từ thời Nguyễn trở về trước, Lương Sơn có tên gọi là huyện Mỹ Lương
thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây có 7 tổng với 49 xã, thôn. Ngày 22/6/1886,
Quyền kinh lược Bắc Kỳ ký nghị định cắt đất đai có đông đồng bào Mường,
cư trú thuộc tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình, thành lập một
tỉnh mới gọi là tỉnh Mường và tên gọi Lương Sơn chính thức có từ ngày
22/6/1886. Lúc đó gọi là Phủ Lương Sơn, bao gồm 6 tổng. Đến ngày
21/3/1890 phủ Lương Sơn mới trở lại Đạo Mỹ Đức vừa được tái lập. Nhưng
do vị trí địa lý và tầm quan trọng của Lương Sơn, ngày 18/3/1891 toàn quyền
Đông Dương ra nghị định xóa bỏ lần thứ hai đạo Mỹ Đức trả lại phủ Lương
Sơn cho tỉnh Hòa Bình và phủ Lương Sơn được đổi thành Châu Lương Sơn,
gồm 5 tổng và 19 xã, bao gồm: tổng Bằng Lộ, Cư Yên, Thanh Nông, Kim
Bôi, Tú Sơn. Châu Lương Sơn lúc đó có diện tích 926 km2, dân cư chủ yếu là

đồng bào dân tộc Mường. Ngày 17/4/1959 căn cứ vào địa lý, tình hình cư dân
và nhu cầu về xây dựng kinh tế, quốc phòng, thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 153 chia huyện Lương Sơn thành hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi.
Ngày 3/1/1971 huyện đã bàn giao 8 xã (Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng,
Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương, Thanh Nông) có diện tích
4.559,44 ha và dân số 14.852 người về huyện Kim Bôi, giải thể xã Hùng Sơn
và Thị trấn nông trường Cửu Long để thành lập thị trấn Lương Sơn theo quyết
đinh của Hội đồng Bộ trưởng (Quyết định số 71/BT, số 13/BT), từ đây địa
giới hành chính của huyện được ổn định gồm 17 xã và 1 thị trấn [1].

15


Căn cứ Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày 29/5/2008 của Quốc hội về
việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên
quan. Từ ngày 1/8/2008 huyện Lương Sơn bàn giao 4 xã thuộc vùng Bắc
(Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân) về thành phố Hà Nội, huyện
còn lại 13 xã và 1 thị trấn.
Thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-Cp ngày 14/7/2009 của Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thành phố Hòa Bình, tỉnh
Hòa Bình, huyện Lương Sơn được nhận thêm 7 xã của huyện Kim Bôi gồm
các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp
Thanh, Cao Dương và chuyển xã Yên Quang về huyện Kỳ Sơn [64].
Diện tích, dân số và giáo dục
Huyện Lương Sơn có diện tích tự nhiên là 37.707,79 ha. Dân số toàn
huyện là trên 97 nghìn người (số liệu năm 2014). Từ xa xưa Lương Sơn là
địa bàn sinh sống của người Mường. Người Mường có mặt khắp các xã,
chiếm trên 65% dân số toàn huyện. Người Kinh sống xen lẫn với người
Mường và chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, còn lại là người Dao và các
dân tộc khác chiểm tỷ lệ nhỏ [32, tr 2].

Toàn huyện có hơn 24 trường mầm non, 46 trường tiểu học và trường
trung học cơ sở, 4 trường phổ thông trung học và một trung tâm giáo dục
thường xuyên (số liệu năm 2014). Trong đó có trên 30% giáo viên toàn huyện
là người dân tộc thiểu số [32, tr 3].
Kinh tế
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 11,5%. Cơ cấu kinh
tế: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 23,1%; Công nghiệp, xây dựng chiếm
48,1%; Thương mại – dịch vụ chiếm 28,8%. Giá trị sản xuất đạt 7.678,3 tỷ
đồng, trong đó, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt 1.547 tỷ đồng; công
16


nghiệp – xây dựng đạt 4.250 tỷ đồng; thương mại – dịch vụ đạt 1.881,3 tỷ
đồng. Thu nhập bình quân đầu người tăng khá. Theo số liệu thống kê, năm
2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 18,2 triệu đồng/năm, năm 2014 đạt
36,6 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% (năm 2010) xuống còn
5,25% (năm 2014) [78, tr 4].
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11/5/2012 của Tỉnh ủy Hòa
Bình, huyện Lương Sơn sẽ phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở quy hoạch,
kế hoạch, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên và bảo vệ môi
trường sinh thái. Với mục tiêu tổng quát là huy động các nguồn lực, xây dựng
vùng trung tâm huyện Lương Sơn thành đô thị loại IV vào năm 2020, tạo tiền
đề để sớm trở thành thị xã Lương Sơn vào năm 2025. Thu hút mạnh mẽ các
nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn huyện, mở mang các ngành
nghề sản xuất kinh doanh đa dạng, tạo thêm sức mạnh mới cho kinh tế của
Hòa Bình nói chung, huyện Lương Sơn nói riêng. Nghị quyết đã đưa ra các
chỉ tiêu phát triển đô thị đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, các chỉ
tiêu định hướng trở thành thị xã đến năm 2025. Theo đó, quy hoạch chung đô
thị Lương Sơn là trung tâm tổng hợp, đầu mối giao thông, giao lưu kinh tế,
văn hóa xã hội, có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh, khẳng định vị thế

của Hòa Bình trong chiến lược phát triển Thủ đô.
Với những lợi thế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và dân số, sự quan
tâm chỉ đạo của tỉnh Hòa Bình, trong những năm qua huyện Lương Sơn đã
thu hút được 156 dự án trong và ngoài nước đến đầu tư vào địa bàn, tạo nhiều
việc làm cho người lao động, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa
phương và thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển mạnh theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, từng bước chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng tích cực nâng cao tỷ trọng Công nghiệp - Tiểu thủ
công nghiệp, tiếp đến là Thương mại - Du lịch - Dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
17


Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tiến tới xây dựng huyện Lương Sơn sớm trở thành
hạt nhân vùng động lực kinh tế của tỉnh Hòa Bình [32, tr 7].
Lương Sơn được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh chọn là
huyện “động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh” và nhận được sự
quan tâm đặc biệt của tỉnh. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình, Đảng bộ và nhân dân huyện Lương Sơn đã vượt qua nhiều thử
thách khó khăn, từng bước xây dựng huyện thành một trung tâm kinh tế chính trị - văn hóa – xã hội của tỉnh. Đồng thời, phát huy lợi thế về vị trí địa
lý, đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội giữa miền ngược và miền xuôi.
Trong nhiều năm qua, các xã trong huyện đã duy trì nền kinh tế đa dạng với
nhiều ngành nghề: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, du lịch – dịch vụ. Nhờ đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động,
người dân Lương Sơn đã nhanh chóng bắt kịp với sự phát triển của nền kinh
tế thị trường.
1.2 Vài nét về chính sách dân tộc của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
* Chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam
Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc. Trong
tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn luôn sát cánh bên nhau
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt
quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đoàn kết các
dân tộc và chỉ rõ đoàn kết là một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạng tổng hợp
của cách mạng Việt Nam: nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh chung của tất cả
các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được
bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em một nhà, không
18


còn sự phân chia nòi giống, tiếng nói làm gì nữa. Trước kia các dân tộc để
giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết
hơn [45, tr 110].
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và
Dựa trên những tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, xuất
phát từ đặc điểm tình hình các dân tộc ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn. Điều này được thể hiện trong cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Đông Dương, các nghị quyết của
các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và
được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Những chính sách này đều khẳng định những nguyên tắc và định hướng chiến
lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ
giữa các dân tộc. Có thể thấy chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán
triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi
giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn
thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng
định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc
phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số,
cần thể hiện đầy đủ các chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt

đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm
chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất
và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại
chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những
biểu hiện của dân tộc hẹp hòi” [22, tr 35].

19


Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỉ
XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về
chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm:
“Đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lần nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi
dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát
triển kinh tế hàng hóa ở vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp với điều kiện và
đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai
thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách
đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục
tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người [23, tr 77].
Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp, nhận thức đúng
đắn, về vị trí, vai trò và trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc trong toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân đang là một yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách, nghị
quyết Đại hội VIII (1996) và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của công tác
dân tộc trong thời kỳ mời là : “Thực hiện bình đẳng, đoàn kết tương trợ các
dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây
dựng luật dân tộc [24, tr 125]. “…xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội,
phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói,

giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa
và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc…Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống
tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng
tự ti, mặc cảm dân tộc” [25, tr 670-671].
Chính sách dân tộc trong các giai đoạn này đặc biệt chú trọng vào việc
xác định mục tiêu phát triển và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng
20


×