Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.37 KB, 63 trang )

Khoá luận tốt nghiệp

1

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế xã hội đối với mỗi quốc gia. Kinh doanh bảo hiểm được
coi là một lá chắn kinh tế để bảo vệ cho các tổ chức cá nhân, đồng thời nó
cũng góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước. Hiện
nay hoạt động kinh doanh bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự
năm 2005, Luật Kinh Doanh bảo hiểm năm 2000 và văn bản hướng dẫn thi
hành. Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hiểm một cách kỹ
lưỡng thông qua đó lý giải, phân tích, đánh giá và đề nghị hướng hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này là thực sự cần thiết. Trong lĩnh vực này đã có nhiều
đề tài khoa học của sinh viên cũng như của cán bộ nghiên cứu, giảng dạy thực
hiện nhưng vấn đề bảo hiểm trùng vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu độc
lập khai thác. Để góp phần làm rõ hơn về vấn đề này em đã chọn đề tài ''hợp
đồng bảo hiểm trùng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài khoá
luận tốt nghiệp cho mình.
Với phạm vi của một khoá luận tốt nghiệp em chỉ nghiên cứu hợp đồng
bảo hiểm trùng dưới các khía cạnh dân sự qua đó làm sáng tỏ các vấn đề về lý
luận và thực tiễn về hợp đồng bảo hiểm trùng, đưa ra các nhận xét, kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận đã sử dụng các phương pháp của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp
so sánh...và dựa vào các quy định của pháp luật Dân sự, pháp luật Kinh
Doanh bảo hiểm để xem xét, mổ xẻ vấn đề qua đó đưa ra cái nhìn tổng thể về
hợp đồng bảo hiểm trùng.
Với phạm vi và mục đích nghiên cứu như trên khoá luận được kết cấu:


Lời nói đầu
Chương 1. Lý luận chung về hợp đồng bảo hiểm dân sự.
Chương 2. Hợp đồng bảo hiểm trùng.

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

2

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

Chương 3. Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trùng và hướng
hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình em đã nhận được sự giúp
đỡ động viên, hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô, cha mẹ, và bạn bè. Qua đây
cho em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - TS Phạm Văn Tuyết,
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, cán bộ
của nhà trường nói chung và các thầy giáo, cô giáo khoa dân sự nói riêng đã
dạy dỗ dìu dắt em trong suốt 4 năm qua. Em cũng xin cảm ơn gia đình, người
thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Cuối cùng em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo
để khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn



Khoá luận tốt nghiệp

3

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

CHƯƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ.

Bảo hiểm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà hoạt động của nó như
một ngành kinh doanh dịch vụ và đã xuất hiện lâu đời trên thế giới nhưng cho
đến nay vẫn chưa có một tên gọi thống nhất. Trong phạm vi khoá luận này
chúng tôi sử dụng thuật ngữ bảo hiểm dân sự bởi lẽ: Đa phần các quan hệ của
loại hình bảo hiểm này đều được hình thành từ ý chí tự nguyện, tự do cam kết
của các bên chủ thể tham gia hợp đồng (trừ một số trường hợp pháp luật quy
định khác). Khi hợp đồng bảo hiểm được xác lập nó làm xuất hiện các quyền
và nghĩa vụ thuộc về đời sống dân sự của các chủ thể tham gia. Quan hệ này
thực chất là hệ quả của một hợp đồng dân sự. Hay nói cách khác hợp đồng
dân sự về bảo hiểm là phương tiện pháp lý để từ đó các chủ thể thiết lập với
nhau một quan hệ bảo hiểm. Mặt khác theo quy định của pháp luật dân sự
Việt Nam thì hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng dân sự thông dụng 1. Chính
vì lẽ đó hợp đồng bảo hiểm được gọi là hợp đồng bảo hiểm dân sự.
Các nước trên thế giới khi quy định về loại hợp đồng bảo hiểm này đã
sử dụng các tên gọi khác nhau. Trong loại hình bảo hiểm này bên nhận bảo
hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ chi trả bảo hiểm khi người được bảo hiểm
gặp rủi ro bất thường, nên một số nước gọi nó là bảo hiểm rủi ro. Mặt khác vì
bản chất của loại hình bảo hiểm này như một ngành kinh doanh và đối tượng
bảo hiểm của nó đa phần là những rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh, nên có nước gọi là bảo hiểm thương mại.

Xét về bản chất đa phần các loại bảo hiểm này được hình thành một
cách tự nguyện, chỉ bảo hiểm các tổn thất bất thường, mang đậm tính kinh
doanh, chủ yếu là bảo hiểm các rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

11

Xem mục 11 chương XVIII Bộ luật dân sự năm 2005.

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

4

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

thương mại nên việc sử dụng thuật ngữ bảo hiểm dân sự, bảo hiểm rủi ro, bảo
hiểm kinh doanh hay bảo hiểm thương mại đều là một.
Sản phẩm bảo hiểm là một loại sản phẩm vô hình. Doanh nghiệp bảo
hiểm bán bảo hiểm cho khách hàng thông qua hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng
bảo hiểm là một trong những hợp đồng thông dụng nên chịu sự điều chỉnh của
Bộ luật dân sự, đồng thời nó còn chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo
hiểm. Chính vì vậy khái niệm hợp đồng dân sự được nhìn nhận theo quy định
của Bộ luật dân sự và Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Theo quy định tại điều 567 Bộ luật dân sự năm 2005 thì " hợp đồng bảo
hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí
bảo hiểm còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được
bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm ".
Còn điều 12 luật kinh doanh bảo hiểm quy định cụ thể hơn "hợp đồng

bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm,
theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
phải trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm".
Qua quy định trên của pháp luật ta thấy rằng hợp đồng bảo hiểm dân sự
chứa đựng các yếu tố sau:
- Thứ nhất: hợp đồng bảo hiểm dân sự được hình thành thông qua hành
vi của các bên chủ thể.
Hợp đồng bảo hiểm dân sự được hình thành thông qua hành vi đề nghị
giao kết và hành vi chấp nhận đề nghị giao kết. Đây cũng là đặc điểm hình
thành của bất kỳ hợp đồng dân sự nào khác. Trong hoạt động kinh doanh bảo
hiểm thông thường doanh nghiệp bảo hiểm là chủ thể đưa ra đề nghị giao kết,
còn khách hàng là bên chấp nhận đề nghị giao kết. Nếu xét thấy việc tham gia
bảo hiểm phù hợp với nhu cầu của mình thì khách hàng sẽ tham gia hợp đồng
và đóng phí bảo hiểm. Trong trường hợp này bên tham gia bảo hiểm đã chấp
nhận toàn bộ nội dung đề nghị của bên doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu sau khi
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

5

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

nắm được toàn bộ nội dung đề nghị của bên bảo hiểm và muốn tham gia loại
hợp đồng bảo hiểm đó nhưng khách hàng lại không đồng ý với một phần nội
dung của đề nghị đó thì họ sẽ đưa ra kiến về việc thay đổi phần nội dung đó.
Trong trường hợp này bên đã đề nghị giao kết (doanh nghiệp bảo hiểm ), trở
thành bên được đề nghị giao kết và nếu họ chấp nhận thay đổi phần nội dung

theo đề nghị của bên tham gia thì hợp đồng được ký kết. Nếu họ không chấp
nhận thì hợp đồng không được ký kết.
- Thứ hai : hợp đồng bảo hiểm dân sự là sự thống nhất ý chí của các
bên.
Hành vi là phương tiện để thể hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài thế
giới khách quan dưới một hình thức nhất định như hành động, lời nói. Hành
vi của bên đề nghị giao kết hợp đồng chính là phương tiện để thể hiện nội
dung của đề nghị. Hành vi của bên được đề nghị giao kết là phương tiện thể
hiện ý chí có chấp nhận đề nghị của bên kia hay không, hoặc chấp nhận phần
nội dung nào, sửa đổi phần nội dung nào. Khi các bên chấp nhận ý chí của
nhau nghĩa là các bên đã đạt được sự thống nhất ý chí và khi đó hợp đồng
được giao kết, hình thành. Theo nguyên tắc chung thì sự thoả thuận thống
nhất ý chí giữa các bên trong một hợp đồng là không thể thiếu. Tuy nhiên
trong hợp đồng bảo hiểm dân sự có loại hợp đồng mà quyền lợi được bảo
hiểm là của người thứ ba, khi người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm dân sự
đối với người này nên pháp luật đã quy định nó là hợp đồng bảo hiểm bắt
buộc. Vì thế riêng đối với loại hợp đồng này không chứa đựng yếu tố tự do
thoả thuận, tự nguyện ý chí của các bên chủ thể tham gia.
- Thứ ba: Mục đích của hợp đồng bảo hiểm dân sự là thiết lập một quan
hệ bảo hiểm.
Trong hợp đồng bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm chấp nhận đóng cho
bên nhận bảo hiểm một khoản tiền giọi là phí bảo hiểm, bên nhận bảo hiểm
chấp nhận các rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm (có thể là người thứ ba) gặp
phải trong thời hạn còn hiệu lực của hợp đồng. Vì thế khi giao kết hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

6


Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

bảo hiểm, tiến tới một quan hệ bảo hiểm sẽ hình thành giữa bên nhận bảo
hiểm với bên tham gia bảo hiểm, trong đó bên tham gia bảo hiểm có trách
nhiệm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, còn bên nhận bảo hiểm
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Như vậy giống như một hợp đồng dân sự bất kỳ, hợp đồng bảo hiểm
cũng bao gồm ba yếu tố đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ.
Từ những khía cạnh trên chúng ta thấy rằng khái niệm về hợp đồng bảo
hiểm dân sự được xem xét theo các phương diện sau:
- Về phương diện khách quan: Hợp đồng bảo hiểm dân sự là sự quy
định bằng pháp luật của Nhà nước để xác định các yếu tố liên quan đến quá
trình hoạt động bảo hiểm nhằm qua đó ghi nhận và bảo đảm quyền và nghĩa
vụ của các bên chủ thể trong quan hệ về bảo hiểm dân sự.
- Về phương diện chủ quan: Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một quan hệ
dân sự trong đó các bên thoả thuận để đi đến việc cam kết cùng nhau thực
hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong các lĩnh vực bảo hiểm .
Qua trên ta thấy rằng hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng của hợp
đồng dân sự, là cơ sở pháp lý để qua đó bên mua bảo hiểm chuyển dịch rủi ro
từ mình sang bên nhận bảo hiểm theo thoả thuận của các bên hoặc theo quy
định của pháp luật nhằm khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh và
đời sống khi gặp những tai nạn bất thường xảy ra.
Với những bản chất trên hợp đồng bảo hiểm dân sự là cơ sở pháp lý để
các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quá trình hoạt động kinh doanh của
mình về lĩnh vực bảo hiểm. Đối với bên mua bảo hiểm, thì hợp đồng bảo
hiểm được coi là một biện pháp dự phòng hiệu quả trong việc khắc phục
những khó khăn đột xuất có thể xảy ra đối với mình.


Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

7

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM DÂN SỰ.

Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng của hợp đồng dân sự nên nó có
đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng dân sự ngoài ra nó còn mang trong mình
những đặc điểm riêng có của nó đó là:
1.2.1. Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng có đền bù.
Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau
khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được một lợi ích tương ứng
từ họ. Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có đền bù bởi lẽ: Sau khi bên tham gia
bảo hiểm đóng phí bảo hiểm thì sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảo
hiểm rủi ro cho mình. Ngược lại khi bên nhận bảo hiểm cam kết bảo hiểm cho
một đối tượng bảo hiểm thì sẽ được bên tham gia bảo hiểm đóng cho mình
một khoản phí bảo hiểm nhất định.
1.2.2. Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng song vụ.
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều hưởng quyền và
đều thực hiện nghĩa vụ. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược
lại.
Trường hợp hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng song vụ bởi: Bên
bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo
hiểm; Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến

việc giao kết hợp đồng bảo hiểm... Bên bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho
bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi
giao kết hợp đồng bảo hiểm; trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm...
Còn bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ: đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng
hạn; Kê khai đầy đủ trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo
hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm... Bên mua bảo hiểm có quyền
yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

8

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm... 2
1.2.3. Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng làm phát sinh nghĩa
vụ dân sự có điều kiện.
Hợp đồng là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự.
Một hợp đồng hợp pháp khi có hiệu lực pháp luật nó sẽ làm phát sinh một
quan hệ nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia và các chủ thể trong quan hệ
nghĩa vụ đó phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo phương thức
và thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Thế nhưng trong hợp đồng bảo
hiểm dân sự khi hợp đồng có hiệu lực thì chỉ bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ
nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn còn bên doanh nghiệp bảo hiểm chỉ
phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi

thường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Nếu như sự kiện bảo hiểm không xảy ra thì chỉ có bên mua bảo hiểm phải
thực hiện nghĩa vụ còn bên doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phải thực hiện
nghĩa vụ bảo hiểm của mình. Như vậy hợp đồng bảo hiểm dân sự không phải
là một hợp đồng có điều kiện mà chỉ là một hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ
dân sự có điều kiện bởi vì: Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà khi giao
kết các bên có thoả thuận về một điều kiện khi xảy ra thì làm phát sinh hoặc
huỷ bỏ hợp đồng. Trong hợp đồng bảo hiểm, điều kiện mà các bên thoả thuận
chỉ là điều kiện để bên doanh nghiệp bảo hiểm có phải thực hiện nghĩa vụ bảo
hiểm hay không mà thôi, chứ nó không phải là điều kiện để làm phát sinh
hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Tóm lại ta có thể kết luận hợp đồng bảo hiểm là hợp
đồng làm phát sinh nghĩa vụ có điều kiện.
1.2.4. Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một hợp đồng chuyển dịch rủi
ro.
Như chúng ta đã biết hợp đồng bảo hiểm là phương tiện để các bên
thiết lập với nhau một quan hệ mà nội dung chủ yếu là chuyển dịch rủi ro từ
2

Xem Điều 17, Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

9

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

bên mua bảo hiểm sang bên nhận bảo hiểm. Mục đích của các bên tham gia

trong đa số các hợp đồng dân sự là đều nhằm mục đích thiết lập một quan hệ
dân sự để để thông qua đó thực hiện quá trình trao đổi lợi ích vật chất. Nhưng
trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm nhằm thông qua quan hệ bảo
hiểm để đạt được sự an toàn, bình ổn về tình trạng kinh tế của mình trong
những trường hợp xuất hiện rủi ro gây ra tổn thất, thiệt hại về tính mạng, sức
khoẻ, tài sản của chính mình cũng như của người khác mà mình phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Mặt khác hợp đồng bảo hiểm dân sự còn là
phương tiện pháp lý của quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Thông qua
việc ký kết hợp đồng bảo hiểm và nhiều người tham gia bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít để thực hiện việc
chia nhỏ tổn thất. Bằng cách này tổn thất được chia nhỏ cho nhiều người gánh
đỡ, hay nói cách khác giữ được sự bình ổn về mặt kinh tế của người gặp rủi ro
là do cộng đồng những người tham gia bảo hiểm vì họ là những người đóng
góp tài chính thông qua việc đóng phí bảo hiểm. Tuy nhiên trong đó doanh
nghiệp bảo hiểm đóng vai trò là người tập trung nguồn tài chính từ cộng động
đồng người tham gia bảo hiểm thông qua quá trình hoạt động kinh doanh bảo
hiểm của mình.
Như vậy với đặc điểm trên hợp đồng bảo hiểm mang tính cộng đồng,
mang tính xã hội cao hơn nhiều so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác
1.2.5. Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng dịch vụ
"Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên cung ứng
dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ phải
trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ" 3. Người ta vẫn gọi bên tham gia
bảo hiểm là bên mua bảo hiểm còn bên nhận bảo hiểm là bên bán bảo hiểm
thế nhưng hợp đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng mua bán để dịch
chuyển tài sản, quyền sở hữu và cũng không phải là một hợp đồng mua bán
quyền sử dụng mà hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng dịch vụ. Theo đó bên
3

Xem Điều 518 Bộ luật dân sự năm 2005


Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

10

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

thuê dịch vụ (người tham gia bảo hiểm) phải trả tiền cho bên cung ứng dịch
vụ (doanh nghiệp bảo hiểm) một khoản phí nhất định còn bên bảo hiểm cam
kết thực hiện việc bảo hiểm cho một đối tượng xác định trong hợp đồng. Thế
nhưng khác với hành vi dịch vụ trong các hợp đồng gia công, hợp đồng tư vấn
pháp luật, hợp đồng vận chuyển kết quả luôn mang tính vật thể rõ ràng như:
Trong hợp đồng gia công kết quả là một sản phẩm hữu hình, trong hợp đồng
tư vấn pháp luật kết quả là một đơn kiện hay một bản hợp đồng...trong hợp
đồng vận chuyển kết quả là khối lượng hành hoá, hành khách từ điểm này đến
điểm khác, còn kết quả của hành vi bảo hiểm chỉ mang tính vô hình. Bởi hành
vi bảo hiểm chỉ mang lại sự an toàn, bình ổn cho người được bảo hiểm mà nó
không thể hiện thành một kết quả hữu hình có thể nhìn thấy rõ ràng hay cầm
nắm được.
1.3. PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.

Như đã trình bày ở trên hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng cụ thể
của hợp đồng dân sự nên theo khoa học pháp lý dân sự thì có thể dựa vào
nhiều tiêu chí để phân loại, như hợp đồng đơn vụ, hợp đồng song vụ, hợp
đồng có đền bù, hợp đồng không có đền bù ... Nhưng trong phạm vi khoá luận
này chúng tôi chỉ dựa vào hai tiêu chí để phân loại hợp đồng bảo hiểm dân sự
nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của mình đó là:

1.3.1. Phân loại theo ý chí của các bên tham gia hợp đồng bảo
hiểm:
Do hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự
nên nó mang trong mình bản chất đặc trưng của hợp đồng dân sự là yếu tố
thoả thuận thống nhất ý chí, chính vì vậy đa phần các hợp đồng bảo hiểm đều
được giao kết một cách tự nguyện. Thế nhưng bên cạnh tính tự nguyện, để
đảm bảo lợi ích cho người thứ ba, pháp luật còn quy định một số chủ thể nhất
định buộc phải tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc. Trong trường hợp này
hợp đồng bảo hiểm được giao kết không còn là sự tự nguyện của người tham

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

11

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

gia nữa mà là sự bắt buộc của nhà nước thông qua quy định của pháp luật. Vì
thế dựa vào tiêu chí này thì hợp đồng được chia làm hai loại sau:
- Một là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện :
Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện là sự thoả thuận giữa các bên về các
điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm. Đây là loại hợp đồng bảo hiểm
được giao kết theo ý nguyện của các bên và hoàn toàn dựa trên nguyên tắc
thoả thuận. Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay đây là
loại hợp đồng bảo hiểm phổ biến và đa dạng. Tính tự nguyện của hợp đồng
bảo hiểm này thể hiện ở chỗ ý muốn cũng như sự đòi hỏi của các bên chủ thể
trong hợp đồng bảo hiểm là như nhau. Hay nói cách khác nó thể hiện ở chỗ
các bên được quyền bình đẳng trong việc bày tỏ ý chí của mình. Trong quá

trình xác lập hợp đồng bảo hiểm các bên không được dựa vào ưu thế kinh tế
hoặc ý chí riêng của mình để áp đặt cho chủ thể bên kia, bắt ép chủ thể kia
giao kết hợp đồng bảo hiểm trái ý chí của họ. Các chủ thể khác cũng không
được phép can thiệp một cách bất hợp pháp vào việc xác lập hợp đồng này.
Trong hợp đồng bảo hiểm tự nguyện hai bên chủ thể được tự do quyết định
việc có tham gia hợp đồng bảo hiểm hay không, khi tham gia các bên có
quyền thoả thuận nội dung của hợp đồng trên nguyên tắc bình đẳng hai bên
cùng có lợi. Chính từ sự bình đẳng về địa vị chủ thể và sự chia sẻ về lợi ích
(hai bên cùng có lợi) đã dẫn các bên đi đến quyết định giao kết hợp đồng bảo
hiểm.
Trong thực tiễn hiện nay các doanh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra
trước các vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng như mức phí bảo hiểm, số
tiền bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm... nhưng việc làm này
cũng không ảnh hưởng đến tính tự nguyện ý chí của bên tham gia bảo hiểm.
Bởi lẽ quyền quyết định việc tham gia bảo hiểm hay không và tham gia với
doanh nghiệp bảo hiểm nào vẫn do bên tham gia bảo hiểm quyết định. Trong
môi trường cạnh tranh hiện nay thì người tham gia bảo hiểm có quyền tham
gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm nào mà cảm thấy có lợi cho mình
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

12

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

nhất. Việc người tham gia bảo hiểm chấp nhận các điều kiện tiêu chuẩn trong
các điều khoản hợp đồng mà bên doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra trước chính
là sự tự do ý chí của họ, họ đã tự do lưạ chọn là chấp nhận hoặc không chấp

nhận. Họ cũng hoàn toàn có quyền thoả thuận lại các điều khoản đã nêu trong
hợp đồng do phía doanh nghiệp bảo hiểm nêu ra và họ cũng có quyền thoả
thuận thêm các vấn đề khác ngoài các điều khoản đã có miễn là sự thoả thuận
đó không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác và không trái với
đạo đức xã hội.
Hiện nay do sự giao lưu hợp tác làm ăn với các nước trên thế giới, nhất
là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì ngày càng có
nhiều chủ thể nước ngoài tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó có các
quan hệ pháp luật bảo hiểm. Có nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức nước ngoài
tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, họ có thể muốn
được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm của nước họ, hoặc các điều kiện khác
ngoài phạm vi và điều kiện bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng có thể xem xét đối chiếu
các quy định hiện hành để giải quyết cho họ.
Tính tự nguyện tự do ý chí trong hợp đồng bảo hiểm này còn thể hiện
trong chính đơn bảo hiểm. Ở phần yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của đại diện
bên bảo hiểm, có chữ ký của bên tham gia bảo hiểm và phần yêu cầu bảo
hiểm có sự cam kết của khách hàng nên được coi là một hình thức mà qua đó
hai bên biểu hiện ý chí của mình và thống nhất ý chí với nhau về hợp đồng
bảo hiểm đó.
- Hai là: hợp đồng bảo hiểm bắt buộc.
Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc là loại hợp đồng do pháp luật quy định về
điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức,
cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.
Loại hợp đồng bảo hiểm này khác với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện ở chỗ
loại hợp đồng bảo hiểm này các chủ thể buộc phải tham gia trong những
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp


13

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

trường hợp nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội. Tính bắt
buộc trong việc tham gia các hợp đồng bảo hiểm loại này xuất phát từ cơ sở:
Những rủi ro được bảo hiểm xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó có tần suất
xuất hện nhiều và mức độ nguy hiểm lớn. Việc bảo hiểm cho các đối tượng
nhất định trước những rủi ro này không chỉ có ý nghĩa đối với từng cá nhân
mà còn có ý nghĩa đối với lợi ích của cả cộng đồng mà nhà nước có nhiệm vụ
bảo đảm. Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bảo
hiểm bắt buộc bao gồm:
+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách.
Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 thì phương tiện
giao thông vận tải cơ giới là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ. Trong
quá trình sử dụng vận hành loại xe này thường chứa đựng nhiều khả năng gây
tai nạn làm thiệt hại về tài sản, sức khoẻ tính mạng của các chủ thể khác.
Theo quy định của pháp luật dân sự thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu
giao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại.
Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của những người bị thiệt hại
do xe cơ giới gây ra đồng thời giúp chủ xe khắc phục hậu quả tài chính góp
phần ổn định kinh tế - xã hội, pháp luật đã quy định về chế độ bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Hiện nay chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới được áp dụng với tất cả các chủ thể đang sử dụng xe cơ
giới trên lãnh thổ Việt Nam. Biểu phí và mức trách nhiệm dân sự của chủ xe
cơ giới do pháp luật quy định. Bên tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm có quyền thoả thuận về mức phí và mức trách nhiệm nhưng không được
thấp hơn mức tối thiểu mà pháp luật quy định.4

Dịch vụ vận chuyển đường hàng không cũng là một loại dịch vụ chứa
đựng nguy cơ rủi ro cao, thiệt hại do nó gây ra là rất lớn ảnh hưởng không chỉ
4

Xem Điều 4 Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về
việc ban hành quy tắc, biểu phí, và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới.

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

14

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

đến hành khách và thân nhân của họ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Do
vậy pháp luật đã quy định bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của người
vận chuyển hàng không đối với hành khách nhằm khắc phục phần nào tổn
thất cho các hành khách và thân nhân của họ cũng như khắc phục tổn thất tài
chính cho người vận chuyển hàng không.
+ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp
luật.
Hoạt động tư vấn pháp luật cũng là một loại hình dịch vụ chứa đựng
những rủi ro có thể gây ra thiệt hại cho người được tư vấn do sự sai sót từ
phía người tư vấn. Theo nguyên tắc chung thì một chủ thể có lỗi gây ra thiệt
hại cho chủ thể khác thì phải có trách nhiệm bồi thường cho họ. Hiện nay hoạt
động tư vấn pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể, nhưng Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2000 mới chỉ quy định bảo hiểm trách nhiệm nghề

nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật mà chưa xác định cụ thể chủ thể
nào buộc phải tham gia. Vấn đề này cũng chưa được quy định trong văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Qua xem xét các
quy định của pháp luật liên quan ta sẽ thấy: Công ty luật là chủ thể được
thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nó có vốn điều lệ, có tài sản
riêng để bảo đảm cho trách nhiệm của mình, còn trung tâm tư vấn pháp luật
thì luôn trực thuộc một tổ chức xã hội - nghề nghề nghiệp hoặc một tổ chức
chính trị - xã hội nghề nghiệp nhất định và tổ chức chủ quản này sẽ chịu trách
nhiệm về hoạt động của các trung tâm tư vấn pháp luật. Như vậy ta thấy bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không đặt ra đối với hai loại chủ thể này bởi
trách nhiệm của nó đã được bảo đảm thực hiện. Còn văn phòng luật sư do
thành lập không cần vồn pháp định, trách nhiệm đối với hoạt động tư vấn
pháp luật của nó do một cá nhân đảm trách do vậy để bảo đảm cho việc bảo
vệ người được tư vấn pháp luật khi có thiệt hại xảy ra do trách nhiệm của
người tư vấn thì pháp luật phải bắt buộc chủ thể của hoạt động tư vấn pháp

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

15

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

luật này mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động tư vấn của
mình.
+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ thể là doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm:
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là cầu nối trung gian giữa doanh

nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Hoạt động môi gới bảo hiểm của
doanh nghiệp này bao gồm các hoạt động cung cấp thông tin và tư vấn về loại
hình bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
cho bên mua bảo hiểm. Đàm phán thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa
doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, thực hiện các công việc khác
theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm. Hoạt động môi giới bảo hiểm được xem
như là chất xúc tác để hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm được
diễn ra một cách tốt hơn. Tuy nhiên hoạt động môi giới bảo hiểm cũng tiềm
ẩn những rủi ro có khả năng gây thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Cũng
như chủ thể khác khi gây thiệt hại doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng phải
bồi thường thiệt hại do hoạt động môi giới của mình gây ra cho người tham
gia bảo hiểm. Trong lúc đó doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp
trung gian giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, hoạt động môi
giới của doanh nghiệp này nhằm mục đích hưởng hoa hồng theo phí bảo
hiểm. Vốn pháp định của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng thấp hơn
nhiều so với doanh nghiệp bảo hiểm (doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn
pháp định là 4 tỷ đồng trong lúc đó vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ là 70 tỷ đồng, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 140 tỷ đồng)
với mức vốn pháp định thấp như vậy thì nó chỉ đủ trang trải cho hoạt động
của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm mà không có nguồn tài chính dự trữ ban
đầu để thực hiện bồi thường khi có thiệt hại xảy ra do hoạt động môi giới của
mình gây ra cho người tham gia bảo hiểm. Để đảm bảo quyền lợi chính đáng
cho người tham giam bảo hiểm và để bảm bảo cho những thiệt hại do lỗi của
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm gây ra được khắc phục kịp thời thì pháp luật
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

16


Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

quy định doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp cho hoạt động môi giới của mình.
+ Bảo hiểm cháy nổ:
Bảo hiểm cháy nổ là nghiệp vụ bảo hiểm cho rủi ro cháy và nổ. Nó có
thể là bảo hiểm tự nguyện nhưng cũng có thể là bảo hiểm bắt buộc. Bảo hiểm
cháy nổ mang tính bắt buộc trong trường hợp cháy nổ được xem là nguồn
nguy hiểm cao độ, mức độ thiệt hại và hậu quả của nó gây ra là rất lớn. Do
vậy các trường hợp kinh doanh có liên quan đến tài sản dễ cháy nổ hoặc tính
chất của việc kinh doanh cần được bảo hiểm cháy nổ, để khắc phục kịp thời
thì bắt buộc chủ thể của các hoạt động đó phải mua bảo hiểm cháy nổ.Ví dụ
như hoạt động kinh doanh khách sạn lớn, hoạt động kinh doanh nhiên liệu,
kho chứa xăng dầu, điểm bán xăng dầu là các hoạt động bắt buộc phải mua
bảo hiểm cháy nổ.
1.3.2. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm
Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự năm 2005 thì "đối tượng
bảo hiểm bảo gồm: con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng
khác theo quy định của pháp luật". Tương ứng với một đối tượng bảo hiểm thì
sẽ có một nghiệp vụ bảo hiểm. Xét theo đối tượng bảo hiểm thì hợp đồng bảo
hiểm được chia thành các loại sau:
-Hợp đồng bảo hiểm tài sản
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là là hợp đồng có đối tượng được bảo hiểm
bao gồm: vật có thực, tiền giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Theo quy định
của pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện nay thì đa số các hợp đồng bảo hiểm
tài sản đều thuộc loại bảo hiểm tự nguyện, do đó các chủ thể tham gia hợp
đồng bảo hiểm này được tự do, tự nguyện thoả thuận về nội dung của hợp
đồng. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản phải có mối liên hệ nhất định
với người mua bảo hiểm hay nói cách khác người tham gia bảo hiểm phải là

người có lợi ích được bảo hiểm như lợi ích về quyền sở hữu, sử dụng, chiếm
hữu, thu nhập...Do giá trị của tài sản là đối tượng bảo hiểm luôn xác định
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

17

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

được do vậy pháp luật bằng những quy định đã giới hạn mức bồi thường mà
người được bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Theo đó
trong mọi trường hợp mức bồi thường cho người được bảo hiểm trong loại
bảo hiểm này không được vượt quá giá trị của tài sản được tính theo giá thị
trường tại thời điểm hợp đồng bảo hiểm được giao kết. Hợp đồng bảo hiểm có
đối tượng là tài sản rất phong phú đa dạng và chiếm một tỉ lệ lớn trong thị
trường bảo hiểm nói chung. Theo quy định của pháp luật kinh doanh bảo
hiểm thì ở nước ta hiện nay bảo hiểm tài sản bao gồm các loại sau đây:
+ Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại.
+ Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt
và đường hàng không.
+ Bảo hiểm vật chất đối với xe cơ giới.
+ Bảo hiểm cháy nổ
+ Bảo hiểm thân tàu đường sông, đường biển.
- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là sự thoả thuận giữa doanh
nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm phải
đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản phí bảo hiểm còn doanh nghiệp
bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người được bảo

hiểm theo cách thức và định mức đã được hai bên thoả thuận trong hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 52 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì
"đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự
của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật".
Hiện nay các chủ thể thường chỉ tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong
những trường hợp pháp luật bắt buộc phải tham gia nên khi nói đến bảo hiểm
trách nhiệm dân sự thường được hiểu là bảo hiểm bắt buộc là vì vậy. Bảo
hiểm trách nhiệm dân sự thường được áp dụng với:
+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, chủ yếu chấp nhận bảo
hiểm các loại trách nhiệm bồi thường kinh tế thuộc về người tham gia bảo
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

18

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

hiểm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những rủi ro có hại cho
sức khoẻ hoặc tổn thất tài sản của người thứ ba vì rủi ro bất ngờ trong sản
xuất kinh doanh hoặc trong các hoạt động khác
+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm chấp nhận bảo hiểm trách
nhiệm bồi thường kinh tế thuộc về người chế tạo người tiêu thụ hoặc người
sửa chữa phải chịu trước pháp luật vì những người này đã có thiếu sót trong
những sản phẩm do họ chế tạo tiêu thụ, sửa chữa làm cho người sử dụng hoặc
người tiêu dùng bị ảnh hưởng có hại cho sức khoẻ hoặc bị tổn thất về tài sản.
+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người lao động, chủ yếu chấp nhận bảo
hiểm trách nhiệm bồi thường kinh tế của người sử dụng lao động phải chịu
trách nhiệm theo luật lao động hoặc hợp đồng lao động đối với những rủi ro

làm tổn hại đến sức khoẻ của người lao động trong thời gian lao động.
+ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, chủ yếu chấp nhận bảo hiểm
trách nhiệm bồi thường kinh tế về những sơ suất hoặc sai sót chuyên môn của
những người hành nghề bác sỹ, luật sư, kế toán... gây thiệt hại cho người
khác.
- Hợp đồng bảo hiểm con người:
Hợp đồng bảo hiểm con người là sự thoả thuận theo đó người tham gia
bảo hiểm có nghĩa vụ phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản phí
bảo hiểm còn doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ thanh toán cho người được
bảo hiểm hoặc người thụ hưởng những khoản trợ cấp hoặc những số tiền ấn
định trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm tác động đến bản thân người
được bảo hiểm về sức khoẻ, bệnh tật, tai nạn và sinh mạng con người.
Trong hợp đồng bảo hiểm con người do đặc trưng của đối tượng bảo
hiểm là các yếu tố gắn liền với con người không thể tính thành tiền và các rủi
ro dẫn đến thiệt hại cho con người nhiều khi không thể khắc phục được.
Chẳng hạn như khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro và dẫn đến tử vong thì
không thể khắc phục được những tổn thất này. Doanh nghiệp bảo hiểm không
thể làm cho người chết sống lại được mà doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

19

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

khắc phục được phần nào tổn thất thông qua việc chi trả bảo hiểm theo một
mức bảo hiểm đã được các bên thoả thuận trước trong hợp đồng. Theo quy
định tại Khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bên mua

bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân mình, cho vợ, chồng, con,
anh, chị, em ruột của mình, người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng với
mình hoặc là những người khác mà mình có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Trong hợp đồng bảo hiểm con người các hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là
tính mạng và tuổi thọ con người được gọi là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; các
hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là sức khoẻ, tai nạn con người
được gọi là hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ. Trong các hợp đồng bảo hiểm
phi nhân thọ nếu khi đáo hạn hợp đồng mà sự kiện bảo hiểm không xảy ra
(không có rủi ro về tính mạng) thì khoản tiền mà người mua bảo hiểm đóng
cho doanh nghiệp bảo hiểm có tính chất như một khoản gửi tiết kiệm. Bởi lúc
này người tham giam bảo hiểm sẽ được nhận khoản tiền đã đóng và một
khoản bảo tức từ doanh nghiệp bảo hiểm.
- Hợp đồng bảo hiểm kết hợp:
Hợp đồng bảo hiểm kết hợp là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm
với doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảo hiểm sẽ đóng cho doanh
nghiệp bảo hiểm một khoản phí nhất định và bên doanh nghiệp bảo hiểm
nhận bồi thường cho tổn thất thuộc đối tượng được bảo hiểm và trách nhiệm
dân sự của chủ sở hữu tài sản đó gây ra cho người thứ ba khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm.
Như vậy ta thấy hợp đồng này chính là sự kết hợp giữa hợp đồng bảo
hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Theo quy định của
pháp luật trong một số trường hợp các chủ thể chiếm hữu, sử dụng tài sản có
khả năng gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác với một tần suất lớn thì pháp
luật buộc họ phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Việc tham gia loại
hợp đồng bảo hiểm này là do pháp luật bắt buộc để đảm bảo quyền lợi cho
chủ thể bị thiệt hại, để ổn định trật tự an toàn xã hội và cũng để bảo đảm cho
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp


20

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

trách nhiệm dân sự của chủ tài sản được thực hiện do đó bên tham gia bảo
hiểm không có quyền thoả thuận lựa chọn tham gia hay không tham gia. Khi
tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nếu chủ sử hữu tài sản có ý
định tham gia bảo hiểm cho chính tài sản đó thì họ thường kí một hợp đồng
kết hợp vừa bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự vừa bảo hiểm cho tài sản của
mình. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra nếu có thiệt hại cho người thứ ba và thiệt
hại cho tài sản thì doanh nghiệp bảo hiểm đồng thời có trách nhiệm bồi
thường cho người thứ ba và bồi thường cho chủ sở hữu tài sản. Trong thực tế
hoạt động của mình doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng loại hợp đồng bảo hiểm
kết hợp trong các nghiêp vụ bảo hiểm như: Bảo hiểm kết hợp xe cơ giới, bảo
hiểm mọi rủi ro về lắp đặt, xây dựng, bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí,
bảo hiểm kết hợp vận chuyển đường hàng không, bảo hiểm thân tàu và trách
nhiệm dân sự của chủ tầu.

CHƯƠNG 2.
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÙNG
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

21

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A


2.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÙNG.
2.1.1. Định nghĩa.
Trong thực tế hoạt động của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm do nhiều
nguyên nhân mà một khách hàng (người tham gia bảo hiểm) giao kết nhiều
hợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau để bảo hiểm
cho cho cùng một đối tượng với cùng một điều kiện và sự kiện bảo hiểm. Khi
đó các hợp đồng bảo hiểm được gọi là hợp đồng bảo hiểm trùng hay còn gọi
là hợp đồng bảo hiểm trùng lặp. Hợp đồng bảo hiểm trùng chỉ áp dụng với
bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự mà không áp dụng với hợp
đồng bảo hiểm có đối tượng là con người. Bởi lẽ: Đối tượng hợp đồng bảo
hiểm là tài sản hay trách nhiệm dân sự có thể tính toán thành tiền còn đối
tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con người thì không thể nào tính
được giá trị. Trong lúc đó theo lẽ thường một người chỉ được bù đắp một lợi
ích tối đa bằng đúng lợi ích mà họ đang có, nên mức bảo hiểm trong các hợp
đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự không được
vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp
đồng. Chính trong trường hợp này nguyên tắc cấm thu nhập không chính đáng
đã được áp dụng để bên tham gia bảo hiểm không thể lợi dụng hợp đồng bảo
hiểm để trục lợi.
Qua trên ta thấy việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách cặn kẽ về hợp đồng
bảo hiểm trùng là một điều hết sức cần thiết. Nó không chỉ cần thiết đối với
doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn cần thiết đối với cả khách hàng tham gia
bảo hiểm. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về
hợp đồng bảo hiểm trùng.
Theo giáo trình bảo hiểm của trường Đại học kinh tế Quốc dân xuất
bản năm 2005 thì "trong bảo hiểm tài sản nếu một đối tượng bảo hiểm đồng
thời được bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro với
những công ty bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn



Khoá luận tốt nghiệp

22

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

kiện bảo hiểm giống nhau thời hạn bảo hiểm trùng nhau và tổng số tiền bảo
hiểm từ tất cả những hợp đồng bảo hiểm này lớn hơn giá trị của đối tượng bảo
hiểm thì gọi là hợp đồng bảo hiểm trùng ".
Hay theo DvitBlad trong cuốn "Bảo hiểm Nguyên tắc và Thực hành"
thì bảo hiểm trùng (bảo hiểm bội) trong bảo hiểm phi nhân thọ khi người
được bảo hiểm ký hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một rủi ro. Theo
nguyên tắc bồi thường tổng giá trị thanh toán trong trường hợp bồi thường
bảo hiểm không được vượt quá giá trị tổn thất của tài sản được bảo hiểm".
Qua hai quan điểm trên ta thấy chưa có một khái niệm đầy đủ và tổng
quát về hợp đồng bảo hiểm trùng được nêu ra.
Còn theo pháp luật Việt Nam thì "hợp đồng bảo hiểm trùng là trường
hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo
hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng với cùng điều kiện và sự
kiện bảo hiểm"5.
Qua các định nghĩa trên ta thấy bảo hiểm trùng có các dấu hiệu sau:
- Có ít nhất hai hợp đồng bảo hiểm cùng tồn tại được giao kết với các
doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau.
- Các hợp đồng bảo hiểm này cùng bảo hiểm cho một quyền lợi chung.
- Các hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một rủi ro chung.
- Các hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm
chung.
- Mỗi hợp đồng bảo hiểm đều chịu trách nhiệm đối với tổn thất chung.


5

Xem Điều 44 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000

Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

23

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

2.1.2. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm trùng.
Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo
hiểm trùng còn có các đặc điểm sau:
- Đối tượng được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm trùng được
bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau.
Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trùng là tài sản và
trách nhiệm dân sự. Các loại đối tượng được bảo hiểm này nếu người tham
gia bảo hiểm chỉ giao kết một hợp đồng bảo hiểm với một doanh nghiệp bảo
hiểm thì sẽ không xảy ra hiện tượng bảo hiểm trùng. Khi đó doanh nghiệp bảo
hiểm đã nhận phí bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản
cho người tham gia hoặc bồi thường thiệt hại cho người thứ ba do trách nhiệm
dân sự của người tham gia bảo hiểm gây ra khi có sự kiện bảo hiểm và cũng
chỉ trong phạm vi bảo hiểm và tương ứng với mức phí bảo hiểm mà người
mua bảo hiểm đã đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm. Thế nhưng cùng một đối
tượng bảo hiểm là tài sản hay trách nhiệm dân sự mà người tham gia bảo
hiểm lại giao kết hợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm và có
cùng điều kiện bảo hiểm, có cùng sự kiện bảo hiểm thì khi này sẽ dẫn đến

hiện tượng bảo hiểm trùng. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì các doanh nghiệp
bảo hiểm đều có nghĩa vụ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm. Trường
hợp này giữa các hợp đồng bảo hiểm có sự chồng lấn trách nhiệm bảo hiểm.
- Rủi ro gây nên tổn thất đều thuộc rủi ro được bảo hiểm từ tất cả các
hợp đồng bảo hiểm giao kết với từng doanh nghiệp bảo hiểm .
Một trong những đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm là sự chuyển dịch
rủi ro từ người tham gia bảo hiểm sang doanh nghiệp nhận bảo hiểm thông
qua hợp đồng bảo hiểm. Rủi ro là khả năng xảy ra một sự cố không may, là sự
không chắc chắn về một tổn thất. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm bên tham
gia bảo hiểm cũng như bên doanh nghiệp bảo hiểm không thể nào biết chắc
được có gặp rủi ro đến với đối tượng bảo hiểm hay không, có tổn thất xảy ra
hay không. Hay nói cách khác rủi ro luôn mang tính khách quan nó không
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

24

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên. Trong hợp đồng bảo hiểm bình
thường thì doanh nghiệp bảo hiểm đã thu phí bảo hiểm và đã đứng ra nhận
trách nhiệm bảo hiểm cho khách hàng thì khi tổn thất xảy ra do rủi ro thuộc
sự kiện bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm thì họ phải bồi thường thiệt hại cho
người được bảo hiểm. Thế nhưng trong hợp đồng bảo hiểm trùng thì khi rủi ro
gây nên tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm thì rủi ro đó đều thuộc rủi ro
được bảo hiểm từ các hợp đồng bảo hiểm trùng. Tức là lúc này các doanh
nghiệp bảo hiểm đã giao kết hợp đồng bảo hiểm với khách hàng đều có trách
nhiệm bồi thường cho họ. Ví dụ: A mua bảo hiểm tài sản cho chiếc dây

chuyền vàng của mình và sau đó A lại được mua bảo hiểm tư trang cho một
chuyến du lịch (trong số tư trang đó có chiếc dây chuyền trên). Khi sự kiện
bảo hiểm xảy ra (dây chuyền bị mất trong chuyến du lịch), gây tổn thất cho A
thì cả hai doanh nghiệp bảo hiểm đều phải bồi thường cho A, tức là rủi ro đều
được bảo hiểm từ hai hợp đồng bảo hiểm trên.
-Tổn thất xảy ra khi các hợp đồng bảo hiểm đều đang còn hiệu lực.
Một trong những dấu hiệu để nhận biết hợp đồng bảo hiểm trùng đó là
tồn tại hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cùng bảo hiểm cho một đối tượng bảo
hiểm với cùng một điều kiện và sự kiện bảo hiểm, thế nhưng đòi hỏi các hợp
đồng bảo hiểm này đều đang còn hiệu lực khi tổn thất xảy ra. Nếu như có
nhiều hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm,
với cùng sự kiện, điều kiện bảo hiểm nhưng chỉ còn một hợp đồng có hiệu lực
khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì trường hợp này cũng không phải là hợp đồng
bảo hiểm trùng. Bởi lẽ trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp này chỉ thuộc
về doanh nghiệp bảo hiểm có hợp đồng đang còn hiệu lực, rõ ràng lúc này
trách nhiệm bảo hiểm chỉ thuộc về một doanh nghiệp chứ không còn tình
trạng chồng lấn trách nhiệm bảo hiểm như trong bảo hiểm trùng. Hợp đồng
bảo hiểm là hợp đồng làm phát sinh một nghĩa vụ có điều kiện, theo đó bên
tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn, cung
cấp các thông tin cần thiết cho bên bảo hiểm, còn bên bảo hiểm có nghĩa vụ
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


Khoá luận tốt nghiệp

25

Nguyễn Văn Danh – Dân sự 28A

bồi thường thiệt hại cho bên tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,

trong phạm vi, điều kiện bảo hiểm và trong thời gian hợp đồng bảo hiểm còn
hiệu lực. Như vậy một rủi ro dẫn đến tổn thất mà các hợp đồng bảo hiểm nói
trên đều còn hiệu lực thì tất cả các hợp đồng bảo hiểm đó đều phát sinh nghĩa
vụ bồi thường. Trong trường hợp này có sự chồng lấn trùng lặp trách nhiệm
bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hay nói cách khác đây chính là
trường hợp bảo hiểm trùng. Ví dụ: một công ty thương mại A giao kết một
hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm B cho kho hàng M của mình, sau đó
công ty A lại giao kết một hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm C để bảo
hiểm cho tất cả các kho hàng để đề phòng khi hàng nhập về, xuất ra có những
giao động đột biến. Chúng ta thấy nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra mà hợp đồng
bảo hiểm giữa công ty thương mại A và doanh nghiệp bảo hiểm B hết hiệu
lực còn hợp đồng bảo hiểm giữa công ty A với doanh nghiệp bảo hiểm C vẫn
còn hiệu lực, thì chỉ một mình doanh nghiệp bảo hiểm C bồi thường thiệt hại
cho A. Nhưng nếu cả hai hợp đồng bảo hiểm đều còn hiệu lực thì trách nhiệm
bảo hiểm cho kho hàng M sẽ có phần trách nhiệm của cả hai doanh nghiệp,
tình huống này chính là hợp đồng bảo hiểm trùng.
2.2. CÁC TRƯỜNG HỢP BẢO HIỂM TRÙNG.

Trong thực tế hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến trường hợp bảo hiểm trùng. Nhưng tựu trung lại có các
trường hợp bảo hiểm trùng sau:
2.2.1. Hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị.
Hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị là trường hợp bên mua bảo hiểm
giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảo
hiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm, với cùng điều kiện và sự kiện bảo
hiểm trong đó mức bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm nói trên lớn
hơn giá thị trường của tài sản bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.
Trong thực tế do nhầm lẫn hoặc thiếu hiểu biết về quy định của pháp
luật bảo hiểm nên người tham gia bảo hiểm đã mua bảo hiểm với mức phí của
Hợp đồng bảo hiểm trùng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn



×