ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC
****
TIỂU LUẬN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
GVHD: VŨ QUỐC PHONG
Đề tài: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa thực tiễn của
việc nghiên cứu này.
Danh sách sinh viên
MSSV
1. Phan Linh Phụng
61202836
2. Đỗ Thiện Chiến
61200345
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015
Lời mở đầu
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và
quan trọng nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay. Vậy làm thế nào để
chúng ta có thể thực hiện được mục tiêu trên?
Đại hội lần thứ VII đã khẳng định : “ Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho họat động
của Đảng”, tức là, chúng ta phải dùng lập trường, dùng quan điểm,
phương pháp của chủ nghĩa Mác-LêNin để tổng kết những kinh nghiệm
của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước
ta. Có như thế chúng ta mới dần nắm bắt đúng đắn những quy luật
phát triển của Cách mạng Việt Nam, định ra được đường lối, phương
châm, bước đi cụ thể của Cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình
hình nước ta.
Do đó, việc học tập và nghiên cứu học thuyết chủ nghĩa Mác- LêNin
là rất cần thiết và bổ ích với mỗi người, đặc biệt là giới học sinh, sinh
viên , những chủ nhân tương lai của đất nước, qua đó góp phần vào sự
thành công trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta đang tích
cực công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế giữ
vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo. Mặc khác giữa đổi mới kinh tế và
chính trị có quan hệ chặt chẽ. Nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức giúp ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp
cho công cuộc đổi mới đất nước đi đến thành công.
Chính vì những lí do trên, nhóm chúng em đã chọn đề tài : “Mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu
này.” để phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề như đã nói trên.
Mục lục
I. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Phạm trù vật chất
1.1 Khái niệm
1.2 Các đặc trưng của vật chất
1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới
2. Phạm trù ý thức
2.1 Nguồn gốc ý thức
2.2 Kết cấu ý thức
2.3 Bản chất ý thức
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
3.1 Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức
3.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
II. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu mối quan hệ vật chất và ý thức
1. Ý nghĩa phương pháp luận
2. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị
3. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong quá trình
phát triển kinh tế đổi mới đất nước
III. Kết Luận
NỘI DUNG
I. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Vật chất:
1.1 Định nghĩa phạm trù vật chất :
Các nhà duy vật trước Mác đã có những quan điểm về vật chất nhưng còn
hạn chế. Họ đồng nhất vật chất và vật thể có khối lượng, có quán tính. Thời cổ
đại, thuyết Ngũ hành của triết học Trung Quốc quan niệm “kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ” là những yếu tố vật chất xây dựng nên thế giới. Ở Hy Lạp, vật chất đầu tiên
của thế giới theo quan điểm của Talet là nước, con theo Anaximen là không khí,
Hêraclit cho rằng đó là lửa, còn Đêmôcrit khẳng định đó là nguyên tử. Các nhà
duy vật thế kỉ XVII cho rằng nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất không thể chi nhỏ, là
những viên gạch đầu tiên xây nên vật chất. Đây là quan niệm siêu hình vì nếu như
vậy thì thế giới không phải là vô cùng mà có giới hạn, có khởi đầu từ những
nguyên tử đồng nhất, bất biến.
Cuối thể kỉ XIX, khoa học kĩ thuật phát triển, cách thành tựu khoa học kĩ
thuật ra đời đã bác bỏ những quan điểm của các nhà duy vật trước Mác: Beccoren
phát hiên ra tia phóng xạ (năm 1896), Tômson phát hiện ra điện tử (năm 1897),
phát hiện ra hạt quát (năm 1964),... Trên cơ sở ra đời của các phát minh khoa học
đó, Lênin khẳng đinh : “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.” Đây là định nghĩa khoa học
đầy đủ nhất của Lênin. Theo định nghĩa trên, vật chất là phạm trù rộng lớn nhất
mà nhận thức chưa vượt qua được. Do vậy, chúng ta không thể đồng nhất vật
chất với vật thể hay một thuộc tính cụ thể, cũng không thể quy về phạm trù rộng
lớn hơn. Vật chất không phải là một lực lượng siêu nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó
như CNDT khách quan đã quan niệm. Mà vật chất dùng để chỉ thực tại khách
quan, là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức,
bất kể sự tồn tại ấy của con người nhận thức được hay chưa nhận thức được. Vật
chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động lên
giác quan con người, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh.
1.2
Các đặc trưng của vật chất :
Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là
tồn tại ngoài ý thức, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất:
Ph.Ăngghen định nghĩa: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức
được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu
của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy".
Vận động được chia thành 5 hình thức cơ bản: vận động cơ; vận động vật
lý; vận động hoá học; vận động sinh vật.
Các hình thức vận động trên được sắp xếp thư tự từ thấp đến cao, hình thức
vận động cao xuất hiện trên cơ sở hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật có thể có
nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc
trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có. Vận động là tuyệt đối, là vĩnh
viễn.
Đứng im là tương đối, tạm thời vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một
số quan hệ nhất định chứ không xảy ra với mọi quan hệ; trong một hình thức
vận động chứ không phải trong mọi hình thức vận động; chỉ tồn tại trong một
thời gian nhất định.
Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vi trí, có hình
thức kết cấu, có độ dài ngắn cao thấp. Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt
của các sự vật với nhau, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng.
Thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất nhanh hay chậm,
trước hay sau, kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định. Thời gian biểu hiện tốc độ
của quá trình vật chất, tính cáh biệt giữa các giai đoạn khác nhau của quá trình đó,
trình tự xuất hiện và biến mất của sự vật và hiện tượng đó.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động,
Lênin chỉ ra rằng thế giới không có gi khác ngoài vật chất đang vận động. Không
gian và thời gian cùng tồn tại khách quan, nó không phải bất biến, không thể đứng
ngoài vật chất, không có không gian trống rỗng mà nó có sự biến đổi phụ thuộc
vào vật chất vận động.
1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất,
thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Chỉ có một thế giới duy nhất là thế
giới vật chất.Tất cả mọi sự vật tồn tại trên thế giới đều là những dạng cụ thể của
vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức,
lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ quy luật khách quan của thế giới vật chất
do đó mà tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị mất đi.
Mọi quá trình vật chất đang biến đổi đều là quá trình chuyển hóa lẫn nhau,
là nguyên nhân, kết quả của nhau.
2. Ý thức:
2.1
Nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên :
Là quá trình hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó
cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới
khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động,
sáng tạo.
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
người, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc.
Thông quá hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình
thành nên quá trình phản ánh. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật
chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động lẫn nhau giữa chúng. Phản
ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới
nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và
phản ánh năng động, sáng tạo.
Nguồn gốc xã hội :
Bao gồm lao động và ngôn ngữ, chúng vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề cho
sự ra đời của ý thức.
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự
nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá
trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật
chất giữa mình với tự nhiên.
Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm
thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận
động.… của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có
thể quan sát được. Từ đó thông qua các giác quan, tác động vào bộ não người,
tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
Tức là, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan
thông qua quá trình lao động.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu, vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung
ý thức.
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động, thông qua lao động, ngôn ngữ
hình thành và phát triển. Ngôn ngữ được xem như là cái vỏ của tư duy, giúp con
người thể hiện được tư tưởng, suy nghĩ của mình thành tín hiệu vật chất tác động
tới các giác quan của con người và gây ra cảm giác. Nhờ ngôn ngữ con người con
người có thể giao tiếp, truyền đạt, đúc kết kinh nghiệm, thực tiễn…từ thế hệ này
sang thế hệ khác, nhờ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại.
Nguồn gốc trực tiếp, quan trọng nhất cho sự ra đời và phát triển của ý thức
chính là xã hội trong đó lao đông là yếu tố chủ chốt.
2.2 Kết cấu của ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì ý thức là sản phẩm của
vật chất, là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao đông và
ngôn ngữ. Mác nhấn mạnh tinh thần ý thức chỉ là vật chất được duy chuyển vào
bô óc con người và được cải biến trong đó.
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm tri thức,
tình cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý
thức, vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết đến quá
trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên. Tri thức càng được tích lũy,
con người càng dể đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo chúng hiệu quả hơn.
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các
quan hệ, được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi
nhận sự tác động của ngoại cảnh.
Ý chí là khả năng huy động sứ mạnh bản thân để vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích của con người, là quyền lực của con người
đối với mình, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướng đến mục
đích một cách tự giác, làm chủ bản thân và quyết đoán trong hành động…
Ta thấy các yếu tố tạo thành ý thức có quan hệ biện chứng với nhau, song
tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời
là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của
các yếu tố khác.
2.3
Bản chất của ý thức :
Từ việc xem xét nguồn gốc ý thức có thể thấy ý thức có bản tính năng động,
sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài, là biểu thị nội
dung được vật gây ra tác động và được truyền đi trong qúa trình phản ánh. Bản
tính của nó quy định mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy khách quan làm
tiền đề , nội dung phản ánh là thế giới khách quan.
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt đông sáng tạo cải
biến và thống trị tự nhiên của con người. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ
nó không chụp lại, ghi lại một cách thụ động, y nguyên mà gắn liền với cải
biến, thu thập thông tin gắn liền với xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn
thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động
tác động vào thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ đến nhau, không thể tách rời, không
có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của
sáng tạo.
Ý thức được nảy sinh trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới của con người.
Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Ý thức là
nhận thức của con người về xã hội, hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế
giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội. Do đó,
ý thức xã hội được hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật
của tồn tại xã hội đó.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Theo chủ nghĩa duy tâm thì ý thức quyết định vật chất. Thuyết nhị tâm một
mặt thừa nhận vật chất là thực tại khách quan mặt khác thừa nhận ý thức là một
khởi nguyên độc lập không phụ thuộc vào vật chất. Nhà duy tâm chủ quan
Beccoli thì cho rằng: “tồn tại có nghĩa là bị tri giác”. Ông coi tồn tại không
khách quan, bị tri giác, do cảm giác sinh ra. Những cái vốn là thực tại khác quan
nhưng không được tri giác thì cũng không tồn tại. Khác với các quan điểm trên,
CNDVBC cho rằng vật chất là thực tại khách quan, độc lập với ý thức. Vật chất là
tính thức nhất, cảm giác ý thức là tính thứ hai. Vật chất là cái được phản ánh còn
ý thức là cái phản ánh. Quan điểm này đã được đề cập tới ngay trong định nghĩa
của Lênin về vật chất. Với định nghĩa này, Lênin đã phân biệt CNDVBC với
CNDT đồng thời cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức,
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể hiện vai trò quyết định
của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý
thức đối với vật chất.
Vật chất
quyet dinh
→
¬
tacđong tro lai
Ý thức
3.1. Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức:
Trước hết, vật chất quyết định nguồn gốc, nội dung và sự biến đổi, phát triển
của ý thức.
Về nguồn gốc:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con
người. Con người là quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm
của thế giới vật chất. Như vậy xét tới cùng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật
chất là nguồn gốc sinh ra ý thức. Theo Các-mác và Ăngghen: “Ý thức là tư duy
của chúng ta dù có vẻ siêu cảm giác thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ là sản vật
của một khí quan vật chất,nhục thể, tức là bộ óc”.
Bên cạnh bộ óc, thế giới tự nhiên cũng quyết định sự ra đời của ý thức. Nếu
có bộ óc phát triển mà không sống trong thế giới tự nhiên đa dạng, phong phú tức
là không có sự tác động của thế giới tự nhiên vào bộ não thì ý thức của con người
chẳng khác nào loài vật, khó nhận thức đầy đủ được.
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức. Chúng là những dạng
tồn tại của vật chất, cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành, tồn
tại, phát triển của ý thức.
Về nội dung:
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan. Tất cả những hiện tượng ý thức đều hình thành
dựa trên những điều kiện sống và hoạt động thực tiễn của con người và xã hội loài
người.
Sự biến đổi, phát triển của ý thức:
Vật chất là tiền đề cho sự phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý
thức thay đổi theo. Ví dụ, những sinh hoạt vật chất thay đổi sẽ làm thành thói
quen, tâm lí con người thay đổi. Hay một người bình thường nếu vì lí do nào đó
mà não bị tổn thương thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn. Cơ sở vật chất
của trường học được nâng cấp cải tiến thì trình độ dạy và học cũng nâng cao...
Bên cạnh đó, vật chất là điều kiện khách quan để thực hiện hóa ý thức tư
tưởng. Những chủ trương, kế hoạch của con người chỉ được thực hiện trên
những cơ sở vật chất nhất định.
Vật chất quyết định tính năng động, sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực
tiễn. Do vậy, vật chất quyết định tính phong phú, da dạng, nhiều vẻ của ý thức.
3.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:
Nói ý thức là thứ hai, CNDV không hề hạ thấp mà hiểu đúng vai trò thực sự
của ý thức. Nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là
của con người và bản thân ý thức không làm thay đổi gì hiện thực. Ý thức có tính
tương đối, tác dụng trở lại với vật chất qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý
thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở đó con
người đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp để thực
hiện mục tiêu làm thay đổi hiện thực. Sự phán ánh của ý thức đối với vật chất là
sự phản ánh tinh thần, sáng tạo và chủ động chứ không máy móc, rập khuôn thế
giới vật chất. Ý thức chỉ phát huy vai trò của mình khi kết hợp chặt chẽ giữa nhân
tố chủ quan và điều kiện khách quan. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận
trạng thái tâm lí (vui, buồn, phấn khởi, chán nản…) ảnh hưởng mạnh mẽ đến
trạng thái thể lực, tốc độ, năng suất lao động,…
Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:
Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan
thì sẽ tạo điều kiện, hoàn cảnh thuận lợi để phát triển đối tượng vật
chất. Trong trường hợp này ý thức có tác động trở lại tích cực đối với
thực tiễn, đặc biệt là sự tác động của khoa học, lí luận. Đây là cơ sở
quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp
chính xác cho hành động và thực tiễn.
Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai lệch về hiện thưc sẽ làm cho hoạt
động của con người không phù hợp với quy luật khách quan và kìm hãm
sự phát triển của vật chất. Tức là ý thức đã có tác động tiêu cực đối với
thực tiễn. Khi con người không nhận thức đúng, không hiểu rõ sự việc
hiện tượng thì họ sẽ hành động sai và dẫn đến những thất bại trong cuộc
sống.
Lấy ví dụ, thuyết Nhật tâm phản ánh đúng thế giới sẽ giúp cho khoa học phát
triển, còn thuyết Địa tâm của Aristotle coi Trái đất là trung tâm của vũ trụ kìm
hãm sự phát triển của thế giới vật chất, làm cho
“ loài người ngủ trong giấc ngủ triền miên của những đêm dài trung cổ”.
Vì vậy con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất, thừa nhận quy
luật tự nhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức, nhận thức đúng sự
vật hiện tượng. Thế giới vật chất với những thuộc tính, quy luật của nó tồn tại một
cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt động thực
tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương
đối. Vật chất quyết định ý thức là tuyệt đối. Nhưng trong một số trường hợp cụ
thể hoặc trong một giai đoạn ngắn ý thức lại quyết định vật chất. Các-Mác chỉ rõ
lí luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng.
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã
hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra mối quan hệ
vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ như chủ thể và khách
thể, lí luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan…
II. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu mối quan hệ vật chất và ý thức
1.Ý nghĩa của phương pháp luận:
Vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn
trọng khách quan, nhận thức và hoạt động theo đúng quy luật khách quan. Đồng
thời ý thức cũng tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính năng động chủ
quan, đặc biệt phải biết phát huy vai trò của tri thức, khoa học , chú ý giáo dục và
nâng cao nhận thức cho con người. Các-Mác nói : “Cố nhiên vũ khí phê phán
không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh
bại bởi lực lượng vật chất nhưng lí luận một khi thâm nhập được vào quần chúng
thì sẽ trở thành lực lượng vật chất. ”
Chống quan điểm duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức mà hạ thấp, đánh
giá không đúng vai trò của các điều kiện vật chất. Đó là hành động lấy ý chí áp
đặt thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực. Bệnh chủ quan duy ý chí là do sự
yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lí
luận vào thực tiễn nói riêng. Đó là sự mù quáng chủ quang, là sai lầm tự phát dẫn
đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. Chúng ta cũng không nên
tuyệt đối hóa vai trò của vật chất trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Nghĩa chống lại “ Chủ nghĩa khách quan ”, thái độ thụ động , ỷ lại, trông chờ
vào điều kiện vật chất.
Đảm bảo tính thống nhất biện chứng giữa tính khách quan và chủ quan trong
hoạt động của con người cũng là một yếu tố quan trọng trong quá trình nhận
thức.
2. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ
biện chứng giữa kinh tế và chính trị
Như đã trình bày ở trên , vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại vật chất. Nhưng trong
nhiều trường hợp , ý thức lí luận lại quyết định sự thành bại của mỗi con người.
Điều đó được thể hiện qua đường lối chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng, trong
mối quan hệ của kinh tế và chính trị. Nếu đường lối chính sách của Đảng phù
hớp với quy luật phát triển thì sẽ làm cho đất nước phát triển, ngược lại sẽ kìm
hãm sự phát triển kinh tế. Nhưng xét cho cùng , đường lối được đề ra phải phụ
thuộc vào điều kiện khách quan, hoàn cảnh cụ thể.
Thế giới luôn vận động, vai trò tích cực của ý thức cũng chỉ tồn tại được trong
một giai đoạn, điều kiện nhất định, nếu đường lối không phù hợp thì sớm muộn
cũng sẽ bị đào thải. Nếu một đất nước có một nền kinh tế phát triển giàu mạnh mà
chính trị bất ổn thì đất nước đó sẽ không phát triển bền vững, cuộc sống của
người dân sẽ không được yên bình, hạnh phúc. Còn đất nước có nền kinh tế phát
triển , chính tri ổn định thì sẽ trở nên giàu mạnh, người dân có một cuộc sống ấm
no. Như vậy, kinh tế (vật chất) là tính thứ nhất, chính trị ( ý thức ) là tính thứ hai.
Mối quan hệ biên chứng của kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái
kinh tế: cộng sản nguyên thủy- chiếm hữu nô lệ - phong kiến -tư bản chủ nghĩa chủ nghĩa xã hội. Mỗi hình thái kinh tế đều có một đặc điểm riêng, nền kinh tế và
chính trị phù hợp với hình thái kinh tế đó là khác nhau.Nếu hình thái kinh tế thay
đổi thì đường lối chính sách cũng thay đổi để phù hợp với nền kinh tế đó. Trình
độ tổ chức quản lý và tính hiện đại của nền sản xuất chính là yếu tố quyết định
trình độ và mức sống của xã hội.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị càng được thể hiện rõ trong quá trình xây
dựng, đổi mới đất nước.
3. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong quá trình
phát triển kinh tế đổi mới đất nước
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội “ Đảng ta đã phạm sai lầm chủ
quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” trong việc xác định mục tiêu,
phương hướng về xây dựng cơ sở vật chất, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý
kinh tế… Biểu hiện của căn bệnh đó là chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá
những khả năng hiện có, vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo, phát
triển kinh tế và hệ quả của nó là việc đề ra những chỉ tiêu quá cao vượt quá khả
năng thực tại. Không những vậy, Đảng đã mắc sai lầm là vội cải tạo XHCN, phủ
nhận nền kinh tế nhiều thành phần, duy trì cơ chế quan liêu bao cấp. Đảng có
nhiều sai sót trong quản lý tiền tệ cũng như quản lý giai cấp lãnh đạo. Chúng ta đã
không có một đường lối, chính sách phát triển kinh tế thận trọng và khoa học dẫn
đường. Như vậy, Đảng ta đã vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét, trái
với tinh thần của phép biện chứng duy vật.
Sau khi miền Nam giải phóng thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc bị
phá hoại. nền kinh tế miền Nam bị đảo lộn và suy sụp. Cơ sở vật chất kỹ thuật
yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất nông
nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho người dân, nguyên liệu cho nông nghiệp,
hàng hóa cho xuất khẩu,… nền nông nghiệp bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh.
Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch
năm 1976-1980 quá cao và phát triển sản xuất quá khả năng như: năm 1975, phấn
đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu hecta khai hoang, 1
triệu 200 hecta rừng mới trồng, 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng… Đến
hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng 50-60% mức đề ra, nền kinh
tế tang trưởng chậm chạp, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân ,5%, công nghiệp
tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%. Đại hội lần thứ V chưa tìm ra nguyên nhận
thực sự dẫn đến sự trì trệ trong nền kinh tế và cũng chưa đưa ra chủ trương chính
sách toàn diện về đổi mới nhất là kinh tế. Tại Đại hội VI, Đảng đã rút ra kinh
nghiệm quan trọng, đó là: phải tôn trọng thực tế, tôn trọng và hoạt động khách
quan. Đảng đã tự phê phán một cách nghiêm khác, phân tích đúng nguyên nhân
của tình hình khủng hoảng kinh tế, đồng thời đề ra định hướng, tạo ra bước ngoặt
trong đổi mới đất nước đặc biệt đổi mới về kinh tế, thực hiện mục tiêu chương
trình ba kinh tế: lương thực- thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, hình
thành nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế tư sản hàng hóa và kinh tế
tư bản tư nhân, đổi mới cơ chế quản lý. Đúc rút kinh nghiệm thành công và thất
bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đại hội Đảng lần thứ VII chỉ ra những
tồn tại lớn cần giải quyết như: lạm phát, thiếu việc làm, cơ chế quản lý còn sơ hở,
lung túng… Tình hình chính trị lúc này đã dần ổn định, khủng hoảng kinh tế giảm
bớt nên đời sống nhân dân được cải thiện, dân chủ được phát huy. Đại hội VIII
tiếp tục hoàn thiện đường lối đề ra, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đảng đã chỉ ra những mục tiêu đạt
được trong 5 năm từ 1991 đến 1995, quan trọng là phương châm kết hợp động lực
kinh tế và động lực chính trị, lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác
phát triển. Nhờ nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chúng
ta đã đạt được những thành tựu to lớn: lạm phát đẩy lùi, tổng sản phẩm GDP tăng
bình quân 8,2% so với mức đề ra là 5,6%, sản xuất lương thực tương đối toàn
diện, vấn đề lương thực được giải quyết, quan hệ đối ngoại được mở rộng theo
hướng đa phương hóa, thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, vốn đầu tư nước
ngoài tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu tăng. Không những thế, khoa học kỹ thuật
phát triển, đời sống người dân được nâng cao, an ninh quốc phòng được giữ vững.
Công cuộc đổi mới ngày càng đạt được những thành tựu to lớn nhờ Đảng đã
kịp khắc phục sai lầm, nghiên cứu, tìm ra những mặt hạn chế từ đó vận dụng đúng
mối quan hệ vật chất và ý thức vào sự phát triển kinh tế. Những thành công trong
quá trình đổi mới càng khẳng định con đường đúng đắn mà Đảng ta đã chọn: phù
hợp với nền kinh tế thị trường, hướng tới CNXH bỏ qua TBCN, phát triển kinh tế
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, Qua đây, chúng ta càng thấy rõ tác động
của kinh tế đối với chính trị và xã hội, công tác đối ngoại quốc phòng an ninh…
nhưng các nhân tố xã hội, chính trị đối ngoại… cũng tác động trở lại nền kinh tế.
III. Kết Luận
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ
trương “ lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát
triển nhanh và bền vững ”, nâng cao trình độ dân trí, trình độ trí thức và tay nghề
cho người lao động. Muốn vậy “ phải khơi dậy trong dân lòng yêu nước, ý chí
quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà khỏi
nghèo nàn, lạc hậu.”
Đảng đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Ngoài ra, cũng cần nâng cao công tác tuyên tryền lí luận chính trị để tạo nên
sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân.
Quá trình xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài,
đòi hỏi phải có sự đoàn kết của cả dân tộc Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân phải
nhạy bén, tỉnh táo với thời cuộc, vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát triển kinh tế xã hội , xây dựng đất nước.
***Hết***
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin.
2. Văn kiện Đại hội toàn Quốc lần VI, VII, VII.
3. Nguồn từ Internet.