Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Cấu trúc không gian của tiểu thuyết “Mười lẻ một đêm” của Hồ Anh Thái.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (97.33 KB, 11 trang )

CHUYÊN ĐỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC
Đề tài : Cấu trúc không gian của tiểu thuyết “Mười lẻ
một đêm” của Hồ Anh Thái.

BÀI LÀM:

I.
1.

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

Cuộc đời:

Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội.
Nguyên quán ông ở Nghệ An. Ông theo học bậc Đại học ngành
Quan hệ Quốc tế. Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia viết báo và
làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu - Mỹ, đặc biệt là
Ấn Độ, Iran. Giỏi ngoại ngữ, ông là một nhà ngoại giao, nhà
nghiên cứu Ấn Độ, giảng viên. Hiện nay ông là Tiến sĩ ngành
Văn hóa phương Đông, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam.
2.

Sự nghiệp sáng tác:

Khởi nghiệp viết văn, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng,
với giọng văn trẻ trung, tươi mới, về đời sống thanh niên, sinh
viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời
sống. Những tác phẩm tiêu biểu của ông thời gian này được
biết đến là "Trong sương hồng hiện ra", "Người và xe chạy dưới
ánh trăng", "Người đàn bà trên đảo", truyện ngắn "Món tái dê",
"Chàng trai ở bến đợi xe"...


Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở
nhiều nước Âu - Mỹ, đặc biệt là 6 năm tại Ấn Độ, ông trở lại văn
đàn với những chùm truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm
trầm về Ấn Độ: "Người đứng một chân", "Người Ấn", 'Tiếng thở
dài qua rừng kim tước", "Cuộc đổi chác"...
Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao và
gây tranh luận như "Cõi người rung chuông tận thế", "Tự sự 265
ngày", "Bốn lối vào nhà cười", "Mười lẻ một đêm"... Năm 2000,
ông được bầu là chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội cho đến năm


2010. Ông cũng được bầu là ủy viên ban Chấp hành hội Nhà
văn Việt Nam từ 2005 đến 2010.
Năm 2007, ông trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết "Đức
Phật, nàng Savitri và tôi". Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của
văn học Việt Nam tái hiện chân dung Đức Phật thông qua một
cốt truyện hấp dẫn, một văn phong giản dị, một đa cấu trúc có
hiệu quả mở rộng chiều kích không gian và thời gian. Tác phẩm
của Hồ Anh Thái thường mang tính triết luận, bao quát số phận
của người Việt và đất nước thời hiện đại. Ông là nhà văn có
phát kiến về ngôn ngữ, tạo cho tiếng Việt thêm màu sắc, đa
nghĩa và khả năng biểu đạt phong phú hơn. Những tác phẩm
tiêu biểu của ông vì vậy cũng khó chuyển dịch sang ngôn ngữ
khác. Sách của ông thường được phát hành với số lượng lớn và
đã được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng
Pháp, tiếng Thụy Điển...
Bằng sự miệt mài không ngừng nghỉ, Hồ Anh Thái đã để lại cho
văn học Việt nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn như:
-


Chàng trai ở bến đợi xe (1985)
Phía sau vòm trời (1986)
Vẫn chưa tới mùa đông (1986)
Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987)
Người đàn bà trên đảo (1988)
Những cuộc kiếm tìm (1988)
Mai phục trong đêm hè (1989)
Trong sương hồng hiện ra (1990)
Mảnh vỡ của đàn ông (1993)
Người đứng một chân (1995)
Lũ con hoang (1995)
Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998)
Họ trở thành nhân vật của tôi (2000)
Tự sự 265 ngày (2001)
Cõi người rung chuông tận thế (2002)
Bốn lối vào nhà cười (2005)
Đức Phật, nàng Sivitri và tôi
Mười lẻ một đêm (2006)
Namaskar! Xin chào Ấn Độ (2008)
Hướng nào Hà Nội cũng sông (2009)
SBC là săn bắt chuột (2011)
Dấu về gió xóa (2012)
Người bên này trời bên ấy: Tập truyện ngắn (2013)


-

Mảnh vỡ của đàn ông: Tập truyện ngắn (2014)

Với tác phẩm được sáng tác “Mười lẻ một đêm” vào năm 2006

đã cho thấy những bước tiến rõ rệt của Hồ Anh Thái trên con
đường sáng tác, ông có sự nối tiếp những sáng tạo trước đó.

II.
1.

Tác phẩm “Mười lẻ một đêm”:

Nội dung tác phẩm:

“Mười lẻ một đêm không phải là câu chuyện về một đời người
mà nó là câu chuyện kể về cái xã hội bi hài, đầy mầu sắc, về
những chuyện không thể tưởng tượng được thông qua lời tâm
sự của hai nhân vật trong thời gian bị nhốt tại một căn hộ.
Sau mười sáu năm gặp lại, họ được ngừi bạn cho mượn một căn
hộ trên tầng 6. Anh chàng họa sĩ tốt bụng hồn nhiên khóa cửa
và hẹn chiều sẽ về giải phóng cho đôi tình nhân, nhưng đợi mãi
mà không thấy anh ta trở về. Hai người bắt đầu cảm thấy lo
lắng, tìm mọi cách để có thể liên lạc với anh họa sĩ đó. Mọi việc
bất thành, đôi tình nhân bị nhốt trong căn hộ chung cư ấy mười
lẻ một đêm, họ đã phải nếm trải đủ mọi hỉ nộ ái ố của cuộc đời
thu nhỏ, trong tình thế oái oăm, dở khóc dở cười cho đến khi họ
được giải phóng khỏi căn phòng đó. Trong suốt thời gian bị nhốt
tại căn hộ đó, đôi tình nhân đã có thời gian tâm sự và trải long
với nhau, họ kể cho nhau nghe về người nghệ sĩ trồng chuối hột
chính là người bạn đã cho họ mượn phòng. Nàng kể cho chàng
về người mẹ của mình, về người đàn bà đã 5 lần lấy chồng, mỗi
lần lấy chồng của bà là một cuộc phiêu lưu. Nàng kể cho chàng
về nàng, về lần đầu họ gặp nhau và chuyến du lịch dọc đất
nước của 3 người bạn, về chuyện sau này nàng trở thành mệnh

phụ phu nhân. Còn chàng, chàng kể về cuộc đời của chàng cho
nàng nghe, về cuộc sống của chàng trong thời gian mất liên lạc
với nàng. Họ cứ tâm sự với nhau để cho quên đi thời gian, hết
kể về chuyện của bản thân họ lại quay sang nói về chuyện của
2 người họ, rồi lại đến chuyện của ông Víp, chuyện về thằng bé
hang xóm- vị cứu tinh của đôi tình nhân- người bán lại đồ ăn
cho họ với giá cắ cổ. Rồi đến cả chuyện của thằng bé người cá
con riêng của ông Víp. Câu chuyện khiến cho đôi tình nhân
khóc dở mếu dở, họ phải tìm cách để sống sót trong căn hộ đó


cho đến khi được giải phóng.Kết thúc câu chuyện, đôi tình nhân
vẫn chia tay nhau vĩnh viễn.
2.

Cấu trúc không gian trong “Mười lẻ một đêm”:

Không gian là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của
các sự vật. Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất
với những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều
kích và kết cấu.
Không gian, thời gian là những phẩm chất chất quan trọng định
tính của hình tượng nghệ thuật, đảm bảo cho việc tiếp nhận
thực tại nghệ thuật và tổ chức nên kết cấu của tác phẩm. Nghệ
thuật ngôn từ thuộc nhóm các nghệ thuật động, các nghệ thuật
thời gian. Những hình tượng văn học, về mặt hình thức được
triển khai trong thời gian, về mặt nội dung nó tạo bức tranh vừa
không gian vừa thời gian về thế giới, hơn nữa lại tái tạo ở bình
diện tư tưởng.
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ

thuật. Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại
của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho
thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác
giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan
để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của
các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tượng ra
khỏi không gian mà nó tồn tại.
Trong tiểu thuyết “Mười lẻ một đêm”, tác giả Hồ Anh Thái đã sử
dụng những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc để chỉ ra sự dịch biến
về không gian trong tác phẩm. Đầu tiên phải kể đến là không
gian đời sống, tiếp theo đó là không gian tâm lí.

a.

Không gian đời sống:

Câu chuyện ngay lúc đầu được xác định là không gian hẹp
“trong căn hộ trên tầng sáu”, trong phòng trống không tạm bợ
“Của đáng tội có một cái giường, cạnh giường có một cái tủ
quần áo kiểu tạm, riđô kéo phécmơtuya bao quanh móc áo.
Một cái bếp ga chẳng biết có còn ga. Một cái tủ lạnh chẳng biết
có còn đồ lạnh. Khu đô thị chưa kéo đường dây điện thoại vào.
Căn hộ bảy mươi mét vuông, một phòng khách, một phòng ăn,


hai phòng ngủ là quang cảnh vườn không nhà trống, chiến
thuật tiêu thổ thời chống Pháp”. Không gian được xác định là
không gian trong căn phòng nhưng trong suốt tiểu thuyết, câu
chuyện được kể là những câu chuyện xảy ra ngoài xã hội, bên
ngoài cánh cửa phòng của căn hộ tầng sáu ấy, không gian nhốn

nháo và đầy nghịch lí.
Không gian được mở rộng từ không gian thành phố ra không
gian nông thôn cho đến không gian quốc tế. Hay nói một cách
cụ thể là không gian thủ đô với bờ hồ và những khu phố cổ,
trong những khu phố ấy là cuộc sống chen chúc của người dân
nơi đây “Lối vào nhà hẹp như đường ống dẫn dầu, một người
dắt xe máy không tránh nổi một người đi bộ. Năm ba hộ gia
đình chung nhau một cái nhà vệ sinh, sáng sớm một người đau
bụng ở trong là cả mấy người xếp hàng chờ tắc cả lối đi ở
ngoài. Đêm đêm công nhân vệ sinh vẫn còn phải xách đèn
chai, nện ủng cồm cộp đi vào ông ơi mở cửa cho tôi thay
thùng”. Tiếp theo là không gian của vùng nông thôn, vùng núi,
nơi mà nàng, chàng và tình nhân của chàng đặt chân tới trong
chuyến du lịch dọc miền đất nước sau khi nàng vừa mới tốt
nghiệp đại học. Không gian quốc tế có thể kể đến là không gian
nước Mĩ và không gian các nước Châu Âu.
Không gian được mở rộng ấy không chỉ là không gian xã hội
bao quát mà còn là không gian riêng tư của những gia đình,
không gian của những phòng trà, không gian phòng khách,
không gian học thuật,… Tất cả những không gian nghệ thuật ấy
được mở ra về cả chiều rộng và chiều sâu. Không gian thay đổi
linh hoat chính là một nét độc đáo tạo nên nét đặc sắc cho tác
phẩm. Không gian bắt đầu từ căn phòng rồi được dịch chuyển
qua một không gian khác rồi lại quay về không gian ban đầu,
rồi lại tiếp tục dịch chuyển. Sự dịch chuyển ấy tưởng trừng như
là một quỹ đạo xoanh quanh một điểm trung tâm là căn phòng,
mỗi điểm dịch chuyển đều có sự lên kết chặt chẽ với nhau.
Có rất nhiều nhận xét về cách miêu tả không gian trong tiểu
thuyết “Mười lẻ một đêm”:
“Chẳng có nhân vật nàng Scheherazare, cũng không phải

Nghìn lẻ một đêm, nhưng nghìn lẻ một câu chuyện thì có.
Chuyện … đời nay! Cũng quấn hút ào ạt từ câu mở đầu. Ào ạt
mà lại nhẩn nha. Tác giả thọc tay túi quần, nhòm quanh quanh,


chỗ nào cũng có chuyện. Chuyện nhiều nhưng không phải
nhiều chuyện. Tất cả đều được tính toán kĩ lưỡng bằng một bàn
tay có nghề. Văn cũng vậy, dài ngắn, nhấp nhô mà khó cắt
cứa” (Tuyền Lâm – dư luận).
“Cánh cửa đã khóa từ bên ngoài, sợ người khác quấy phá, người
bạn khóa cửa rồi đi, đi mãi không trở về. Người đọc cũng bị lôi
đi, đi chậm rãi, vừa đi vừa ngơ ngác cười trước cái tình huống
trớ trêu mà đôi tình nhân phải đối phó sau mười sáu năm gặp
lại.
Nhưng câu chuyện lại không diễn ra ở bên trong cánh cửa, mà ở
ngoài kia nhốn nháo và đầy nghịch lí. Chuyện của mười một
ngày đêm chính là chuyện của hai đời người, của mấy đời
người, của một thời thế, của hôm qua và hôm nay được quy
chiếu trong cái nhìn trào lộng, phóng đại để rồi bất ngờ thu hẹp
lại sắc nét và tinh quái” (Thúy Nga – Báo Tuổi Trẻ, 1/3/2006).
Bằng trí tưởng tượng phóng túng của nhà văn, liên tiếp mở ra
nhiều không gian khác nhau thông qua những câu chuyện.
Những thói quen thời bao cấp kéo dài, những thói học đòi thời
mở cửa là những việc có thể thấy ở mọi nơi, nó tồn tại nhan
nhản trong cuộc sống hiện nay. Từ chuyện học thuật được
phong cấp hàm, “được tin dùng thì bằng cấp kiến thức chỉ là
thủ tục”; chuyện gái trai nhà nghỉ nhà trọ; chuyện hát hò, vẽ
tranh, nặn tượng, chữ nghĩa văn chương; cả chuyện đái đường
và du lịch rác…đến chuyện cô gái tuổi ba mươi “chưa chồng vì
quá chin chắn”, chuyện các doanh nhân thời mở cửa “đã yêu là

yêu tỉnh táo”, chuyện các mađam quyền cao chức trọng dắt
nhau tìm đất trang trại lập hội khai hoang, chuyện ông Víp được
voi đòi hai Bà Trưng….
Những mẩu chuyện nhỏ ấy như tái hiện lại cuộc sống thực tại
đầy những điều dơ bẩn, đáng lên án. Đây chính là hiện thực
nước ta lúc bấy giờ, một hiện thực mà ai nghe đến cũng đều
phải tặc lưỡi quay đi.
Đêm thứ nhất và đêm thứ hai, đôi tình nhân trò chuyện về anh
họa sĩ trồng chuối hột, người theo quan điểm cởi mở. Anh ta
cũng chính là người bạn đã cho họ mượn căn hộ trên tầng sáu
ấy nhưng anh ta lại mất tích không một dấu vết khiến cho họ bị
nhốt suốt mười lẻ một đêm. Nói là mười lẻ một đêm nhưng thực


ra chỉ có bảy đêm, còn về sau là khi ra khỏi được căn phòng ấy.
Trong câu chuyện, mà người đàn ông kể cho người đàn bà về
anh bạn họa sĩ, không gian sống xung quanh của anh ta được
miêu tả rất chi tết. Từ nơi ở của anh họa sĩ cho đến những nơi
mà anh ta làm việc.
Đêm thứ ba nàng kể cho chàng về bà mẹ của nàng, người đàn
bà đã trải qua 5 lần đò với 5 đối tượng có hoàn cảnh khác nhau.
Mỗi lần bà chia tay với một người chồng bà lại trở về bên cô con
gái chin chắn vẫn còn độc thân.
Đêm thứ tư nàng kể về nàng, về tình bạn của nàng, chàng và
một cô bạn cùng phòng của nàng mà sau đó là nhân tình của
chàng. Sau đó là chuyến du lịch dọc mền đất nước của ba người
bạn.
Đêm thứ năm nàng hỏi chàng trong suốt thời gian mất liên lạc
chàng đã ở đâu và làm gì, chàng đã kể lại chuyện của mình cho
nàng.

Đêm thứ sáu là chuyện của chàng và nàng.
Đêm thứ bảy là đêm mà nàng kể về ông Víp và đứa con riêng
của ông, thằng bé người cá.
Không gian trong tiểu thuyết hiện lên một cách rất đời thường,
cái đời thường ấy thể hiện ngay ở căn hộ của họa sĩ trồng chuối
hột. Tất cả không gian ấy hiện lên một cách giản dị, mộc mạc
và sống động qua ngòi bút của tác giả Hồ Anh Thái. Không gian
bị bó hẹp trong căn hộ bảy mươi mét vuông nhìn có vẻ là giản
dị nhưng thật ra nó giống như là một sự tuềnh toàng thì đúng
hơn. Sự tuềnh toàng của những anh chàng độc thân. “Trống
không, đơn giản, tuềnh toàng. Nhưng lòng người thì rộng. Nghe
nói bạn cần phòng là nhường ngay. Thấy bạn đi cùng đàn bà
đến là hiểu ngay. Lại còn dặn cứ tự nhiên như ở nhà. Lại còn
chu đáo khóa cửa từ bên ngoài để phòng chống bà mẹ”. Không
chỉ dừng lại ở đó, không gian được hướng đến còn là những
không gian được trải rộng ra ngoài với những làng quê, vùng
núi, thành thị cho đến những nơi xa xôi khác.
Bằng việc miêu tả không gian đa cấu trúc, nhiều không gian
khác nhau đã hiện lên, những không gian ấy không bị bó hẹp
mà nó được mở rộng ra cả không gian ngoài xã hội. Không gian


xô bồ đầy những ngổn ngang hiện lên qua sự hồi tưởng của đôi
tình nhân đã phần nào làm rõ bộ mặt của xã hội đương thời.

b.

Không gian tâm lí:

Không gian tâm lí được gói gọn trong căn hộ chung cư trên tầng

sáu với dòng tâm sự của đôi tình nhân là nhân vật “anh” và
nhân vật “chị”. Tất cả những cung bậc cảm xúc của hai nhân
vật được bộc lộ một cách rất chân thật. Có tình cảm với nhau từ
mười sáu năm về trước nhưng đến hôm nay đấy chị mới dám
trao thân cho anh nhưng nào ngờ cái ngày ấy lại khiến cho chị
bị nhốt cùng với anh suốt mười lẻ một đêm. Không gian căn
phòng trở nên tù túng, bức bách và trở nên ngột ngạt trong mắt
đôi tình nhân. Đối với họ việc không thể ra khỏi căn hộ là một
rất hệ trọng, còn biết bao nhiêu việc bên ngoài kia đang đợi họ
giải quyết. Dù cố gắng cách mấy vẫn không thể thoát ra khỏi
căn hộ đó. Chinh tâm trạng bồn chồn, lo lắng của hai nhân vật
đã tạo nên không gian lạnh lẽo pha chút bức bối “Không có
điện thoại, chung cư chất lượng cao trở thành cô đảo. Cư dân
sau giờ làm việc, rời công sở, rời nơi làm ăn về nhà là tự xác
định tách biệt với thế giới bên ngoài. Không điện thoại là kèm
theo luôn không intơnét, imeo với chat chit cũng nghỉ luôn”.
Tâm lí hai nhân vật được đẩy lên cao trào rồi lại kết thúc đầy
ngạc nhiên. Ở tại thời điểm những suy nghĩ đang lên đến cao
trào, bao nhiêu phỏng đoán nảy ra trong đầu họ “Chàng với cô
nàng tình nhân, không ai lí giải nổi vì sao mình lại bị nhốt như
thế này. Bao nhiêu suy luận phỏng đoán. Quá trưa không thấy
gã về thì cho rằng gã mải mê quá chén với bạn bè. Chiều muộn
không thấy gã về thì nghĩ gã say. Tối thì đoán gã vẫn còn say.
Đêm thì nghĩ hay gã bị tai nạn. Ngày hôm sau vẫn nghĩ có thể
gã bị tai nạn, nhưng cứ phấp phỏng hi vọng gã sắ trở về. Sắp
về sắp về sắp về. Sắp về. Sắp”.
Việc đệp từ “Sắp về” Trong cho thấy sự phấp phỏng không yên,
đôi tình nhân mong ngóng anh chàng họa sĩ trồng chuối hột về
nhanh chóng để giải phóng cho họ khỏi căn phòng này bởi “Cả
hai đều sốt ruột. Thời kinh tế thị trường mỗi ngày mỗi giờ là mỗi

tiền mỗi vàng. Chàng có hai cuộc thuyết trình cực kì hệ trọng
đều đã lỡ, diễn giả không làm sao báo cho ban tổ chức xin hoãn


được. Nàng thì ông Víp đi thăm chính thức châu Âu hai tuần
nàng không lo gì, nhưng lại có hẹn. Hẹn cùng mấy bà phu nhân
bộ trưởng đi xem mua đất trang trại. Một cái hội thảo ở trường
đại học mà nàng đang là phó giáo sư”.
“Một hai ngày đầu thì cả hai người đều sùng sục lên. Chết tôi
rồi. Bao nhiêu việc lớn đang chờ tôi ở ngoài kia. Nhưng từ ngày
thứ ba ngày thứ tư thì bắt đầu chai. Ngay thứ năm ngày thứ sáu
thì bắt đầu ngộ. Ta có thể vắng. Ta có thể chết hẳn. Và mọi việc
hệ trọng đến đâu cũng có thể được làm mà không có ta”.
Tâm trạng của hai nhân vật thay đổi một cách thất thường
khiến cho người đọc cảm thấy giật mình bởi cái suy nghĩ ấy. Cứ
tưởng rằng khi bị nhốt hai người đó phải lo lắng dữ lắm và phải
tìm mọi cách để thoát khỏi cái không gian nhỏ hẹp mà tù túng
như thế này nhưng ngược lại với suy nghĩ của độc giả, tâm lí
nhân vật có sự xoay chuyển về suy nghĩ một cách khá bất ngờ.
Trong hai ngày đầu bị nhốt tại căn hộ trên tầng sáu, đôi tình
nhân đã cố gắng liên lạc với bạn để nhờ tìm giúp chàng họa sĩ
trồng chuốt hột, thậm chí anh còn cố gắng tìm cách để mở ổ
khóa mà không để cho bà mẹ của anh họa sĩ trồng chuốt hột và
mọi người trong khu chung cư biết. Nhưng mọi cố gắng của họ
không được đền đáp, họ vẫn không thể thoát khỏi căn hộ ấy.
Trong hai ngày ấy tâm trạng của hai người bọn họ càng ngày
càng tệ hơn “Ngày thứ hai, người đàn ông đã thử tìm một sợi
dây thép, một cái tuốcnơvít để xử lý cái ổ khóa từ bên trong.
Căn hộ hoàn tòa trong tình trạng vườn không nhà trống. Đố tìm
nổi cái gì”. Một không gian trống trải lạnh lẽo, khiến người ta

phải rùng mình.
Sau khi bất lực trước việc tìm cách thoát ra khỏi căn hộ này đôi
tình nhân đã thay đổi đổi thái độ một cách nhanh chóng. Hai
người dần chấp nhận sự thật là mình bị nhốt ở trong cái căn hộ
bảy mươi mét vuông này và không thể làm gì ngoài việc chờ
anh họa sĩ trồng chuối hột trở về mà thôi.
“Hai người dần dần chấp nhận tình trạng bị nhốt. Không thể
liên lạc bằng điện thoại. Không thể phá khóa. Không thể đánh
động cho hàng xóm biết để bảo bà già sang mở của cho ra.
Không thể đốt lửa, cởi áo vẫy qua cửa sổ vân vân và vân vân”


Không chỉ dần dần chấp nhận việc mình bị nhốt trong căn hộ
bảy mươi mét vuông ấy, thái độ của đôi tình nhân có sự chuyển
biến rõ rệt “Buổi sáng đầu tiên hai người gặp lại trong căn hộ
này phải nói là nồng nàn tình ái. Dân mình ăn đi kèm với chơi.
Chơi rồi lại ăn. Bữa đại tiệc kết hợp ẩm thực với sex. Rồi dần
dần thực phẩm ít đi, sex nhiều hơn. Rồi dần dần sex cũng giảm
theo năng lượng dự trử trong cơ thể. Khi ấy nhìn nhau bình
thường. bình thường được là bình ổn. Là vô vị”.
Bằng thủ pháp đồng hiện, suy nghĩ của nhân vật và suy nghĩ
của tác gia có nhiều lúc hiện lên đồng thời, tác giả mượn chính
suy nghĩ của nhân vật để bày tỏ những suy nghĩ, quan điểm
của chính bản thân mình.

III.

Kết luận:

Mười lẻ một đêm là một câu chuyện kể về một người đàn ông

và một người đàn bà bị nhốt trong một căn hộ tầng sáu của
chung cư. Trải qua mười lẻ một đêm với bao tình huống dở
khóc, dở cười. Thông qua tác phẩm, Hồ Anh Thái muốn tạo ra
một tiếng cười chua xót về cái sự đời nhố nhăng và khả ố,
một cuộc sống lố bịch và mang đầy nghịch lí. Tiếng cười ấy
khiến cho độc giả phải suy ngẫm. Tiểu thuyết không chỉ kề
về câu chuyện bên ngoài cảnh cửa mà đó chính là những
thông điệp gửi tới tay độc giả, khi mà cái xã hội không còn
coi trọng tri thức, cái xã hội bị những thứ hư vinh trước mặt
làm cho mờ mắt. Hồ Anh Thái đã vẽ nên một bức tranh bằng
giọng điệu giễu cợt, mỉa mai, tếu táo từ việc phong cấp
phong hàm cho đến chuyện hậu trường của giới văn nghệ sĩ,
chuyện du lịch của thời mở cửa, cách ứng xử của một doanh
nhân, thói lưu manh của những tên cơ hội mang tên tri thức,
… Tác phẩm thực sự à một sự mỉa mai, giễu nhã cho đến khi
kể về thằng bé người cá, con riêng của ông Víp. Thằng bé
ngồi trên xe lăn với đôi chân dính vào nhau như một người
cá, người cá nhưng nó không biết bơi, nó chỉ ngồi bên cửa sổ
mơ giấc mơ cổ tích. Đọc đến thằng bé người cá, độc giả như
bị lắng lại về những khát khao được sống với đúng tuổi thơ


của mình. Thằng bé người cá như một đại diện về số phận
mỏng manh, đầy tội nghiệp.
Bằng việc sử dụng cốt truyện lắp ghép phân mảnh, thủ pháp
đồng hiện và miêu tả đa cấu trúc đã làm cho không gian
trong tác phẩm trở nên sinh động và giàu sức hấp dẫn, tạo
nên sự thành công cho tác phẩm.




×