BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa xã hội
Đời sống tinh thần
Hà nội
Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
CTQG
CNXH
ĐSTT
H
Nxb
QĐND
XHCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO
3
DÂN TỘC S'TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC
HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1 Dân tộc S'tiêng và đời sống tinh thần của đồng
8
bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay
1.2 Thực trạng đời sống tinh thần của đồng bào dân
8
tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay và
nguyên nhân
Chương 2 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỜI
28
SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC S'TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC
HIỆN NAY
2.1 Yêu cầu của việc nâng cao đời sống tinh thần
46
cho đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước
hiện nay
2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao đời sống
46
tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng ở Bình
Phước hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
51
69
70
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Đời sống tinh thần là một bộ phận cấu thành đời sống xã hội, xã hội
ngày càng phát triển thì nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao và không bị giới
hạn. Nó trực tiếp phản ánh bản sắc văn hóa và tính ưu việt của một chế độ xã hội, là
động lực to lớn tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến đời sống chính trị, đời sống kinh
tế…Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII Đảng ta xác định mục tiêu phát triển bền
vững của xã hội đó chính là “Nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng,
chỉnh đốn Đảng là then chốt, không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần
của xã hội”[4; tr.12]. Những giá trị văn hóa tinh thần chính là chuẩn mực để xây
dựng con người mới, xã hội mới.
Cách mạng XHCN ở nước ta đã làm cho bộ mặt tinh thần của xã hội
thay đổi căn bản so với trước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội và đáp ứng một phần nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân. Xét trên tất cả các khâu, các lĩnh vực của đời sống tinh thần, dễ nhận
thấy là chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn. Bên cạnh việc tập trung
phát triển kinh tế, ổn định chính trị, Đảng ta không ngừng chăm lo đến ĐSTT
của nhân dân nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng và là bộ
phận hữu cơ trong chủ trương, đường lối, chính sách chung của Đảng.
Các vấn đề đặt ra trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của
nước ta rất đa dạng, phức tạp. Trong đó, cần giải quyết các vấn đề nảy sinh
giữa việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với các giá trị văn hóa
hiện đại, giữa phát triển hài hòa đời sống vật chất và ĐSTT. Hội nhập và mở
cửa là thời cơ và cũng là thách thức của đất nước. Một trong những vấn đề
quan trọng có tính cấp bách, cơ bản, lâu dài cho sự phát triển đất nước là
chăm xây dựng đời sống văn hóa tinh thần tạo nền tảng vững chắc cho đất
nước đi lên chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
nhân dân ta đã lựa chọn.
4
Bình Phước là một tỉnh miền núi Đông Nam Bộ, nơi có nhiều đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó dân tộc S'tiêng chiếm đa số. Người S'tiêng
là một dân tộc ít người ở Việt Nam, sống tập trung ở tỉnh Bình Phước và có
quan hệ lịch sử với nhiều tộc người bản địa ở Tây Nguyên. Trong quá trình
hình thành và phát triển, người S'tiêng đã tích lũy được những kinh nghiệm
những truyền thống văn hóa của cha ông để lại tạo thành bản sắc riêng của dân
tộc mình. Các giá trị văn hóa đó được bảo lưu và thể hiện trên nhiều phương
diện như tín ngưỡng phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, lễ hội và cách ứng
xử trong đời sống xã hội, qua đó đã góp phần vào việc hình thành và tạo nên
những quan hệ xã hội, và các mối quan hệ trong hoạt động sản xuất của người
S'tiêng làm cho đời sống của người S'tiêng ngày càng phát triển.
Trong những năm gần đây vùng đồng bào dân tộc S'tiêng ở Bình Phước
đã có nhiều thay đổi lớn. Nhưng về mặt kinh tế xã hội còn chậm phát triển và
gặp không ít khó khăn. Tình trạng du canh du cư của người S'tiêng mới tạm
chấm dứt cách đây không lâu. Kinh tế nương rẫy với kỹ thuật canh tác đơn
giản, lạc hậu còn chiếm vị trí chủ yếu trong đời sống xã hội. Những phong
tục, tập quán, cấu trúc gia đình dòng họ và cư trú còn mang nhiều dấu vết của
thời kì nguyên thủy đang chi phối không ít đến sinh hoạt, xã hội của người
S'tiêng. ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay còn
tồn tại nhiều vấn vấn đề bất cập với nguy cơ một số giá trị văn hóa truyền
thống bị mai một, không ít những tàn dư tư tưởng lạc hậu, hủ tục có xu hướng
trỗi dậy trong cộng đồng, các trào lưu văn hóa xất độc đang lây lan ảnh hưởng
mạnh mẽ đến ĐSTT của đồng bào. Do đó, việc chăm lo xây dựng ĐSTT cho
đồng bào dân tộc S'tiêng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,
ổn định an ninh trật tự và xây dựng đời sống mới ở các vùng đồng bào dân tộc
thiểu số nói chung và dân tộc S'tiêng tỉnh Bình Phước nói riêng. Vì vậy tác
giả lựa chọn đề tài “Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh
Bình Phước hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
5
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đời sống tinh thần của xã hội nói chung, đặc biệt là ĐSTT của các dân
tộc thiểu số nói riêng là một vấn đề lớn, phong phú và đa dạng được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu quan tâm như: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam và chính sách ngôn ngữ, Viện Khoa học xã hội, H. 1984; Xóa đói, giảm
nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp, Hà Quế Lâm, Nxb CTQG, H. 2002; Truyền thống văn hóa các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên, H. 2004; Văn hóa
lễ hội truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh, Nxb
QĐND, H. 2007; Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Vũ Ngọc
Khánh, Võ Văn Cận, Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa thông tin, H. 2004; Đặc
trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Hoàng Nam, Nxb Văn hóa
dân tộc, H. 2002; Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, Lê Như Hoa, Nxb
Văn hóa thông tin, H. 2002; Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số, Nông
Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hà Văn Thư, Mạc Phi, Hoàng Thao, Nxb Văn
học, H. 1962…….
Các nghiên cứu về dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước bao gồm một số
vấn đề liên quan như: Hôn nhân và gia đình của người S'tiêng, Phan An, Tạp
chí dân tộc học, số 03/2005; Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, Mạc Đường, Nxb
Tổng hợp Sông Bé, 1985; Đám cưới người S’tiêng ở Bình Phước, Phạm Hiến,
Phòng Văn hóa thông tin - Tổng liên hiệp các hội, Bình phước 2008; Luật tục
S'tiêng Bù Đek ở xã Long Tân, Huyện Bù Gia Mập, Tỉnh Bình Phước, Nguyễn
Thị Tuyết Anh, Tiểu luận chuyên ngành, Khoa Lịch sử, Đại học Đà Lạt
2009...vv. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách cơ bản và cụ thể về “Đời sống tinh thần của đồng bào
dân tộc S’tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay”. Luận văn là công trình khoa
học độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những đặc trưng ĐSTT của đồng bào
dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay, đề xuất một số giải pháp góp
phần xây dựng ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng lành mạnh, giàu bản sắc.
*Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản ĐSTT của đồng bào dân tộc
S'tiêng ở tỉnh Bình Phước, cùng với sự vận động của nó trong điều kiện mới.
- Bước đầu tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân ĐSTT của đồng bào
S'tiêng Bình Phước hiện nay.
- Đề xuất một số yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng và nâng cao
ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng đang sinh sống trên địa
bàn tỉnh Bình Phước (Từ năm 1975 tới nay).
5. Cơ sở lí luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lí luận
Luận văn dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước về vấn đề văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần, dân tộc và chính sách
dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
* Cơ sở thực tiễn
Thực trạng ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện
nay thông qua những nghiên cứu, báo cáo của ban dân tộc tỉnh Bình Phước,
những công trình nghiên cứu về dân tộc S'tiêng của các nhà khoa học, báo cáo
của chính quyền địa phương các huyện, thị xã trong tỉnh về tình hình đời sống
7
của dân tộc S'tiêng trên địa bàn và tình hình công tác dân tộc của đội ngũ cán
bộ chuyên trách các cấp….
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin trong xem xét, giải quyết các vấn đề xã hội, phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương phương pháp logic và lịch sử, kết hợp với điều tra xã
hội học, điền dã tại một số khu dân cư đồng bào dân tộc S'tiêng sinh sống
trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
6. Ý nghĩa của luận văn
Bước đầu thấy được bức tranh ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở
Bình Phước hiện nay khá phong phú, đa dạng.
Góp phần cung cấp những luận cứ trong hoạch định và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở địa phương
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các
cơ quan nghiên cứu của tỉnh Bình Phước và chính quyền địa phương trong
việc tiến hành triển khai các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần và các chính sách dân tộc tại địa bàn.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo.
8
CHƯƠNG 1
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC S’TIÊNG
Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1 Dân tộc S’tiêng và đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc
S’tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay
* Tỉnh Bình Phước
Bình Phước là tỉnh mới thành lập(10/1997) trên cơ sở tách 5 huyện
trung du miền núi phía Bắc của tỉnh Sông Bé cũ. Tỉnh thuộc trung du miền
Đông Nam Bộ, nằm ở tọa độ địa lý 11,32 vĩ độ Bắc 106,54 kinh độ Đông,
cách thủ đô Hà Nội 1840 km; bao gồm 3 thị xã (Đồng Xoài, Bình Long,
Phước Long), 7 huyện (Bù Đăng, Lộc Ninh, Hớn Quảng, Bù Đốp, Chơn
Thành, Đồng Phú, Bù Gia Mập) và 113 xã (phường, thị trấn). Tỉnh lỵ là thị xã
Đồng Xoài. Phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương
và Phía Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc và Campuchia. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
6586 km2, dân số 873.598 người với mật độ 127 người/ km2( năm 2009).
Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 1028 USD, tăng trưởng GDP
bình quân hàng năm đạt 13.5%.
Từ rất xa xưa, Bình Phước đã là một vùng đất có nhiều tộc người sinh
sống như: S'tiêng, Khmer, M'nông, Tà mun, Mạ. Ngoài ra trong vòng 30 năm
gần đây, Bình Phước còn là điểm dừng chân cư trú sinh sống của một số tộc
người ở phía Bắc di cư vào như: người Tày, người Nùng, người Mường…
Toàn tỉnh có 41 dân tộc anh em sinh sống, dân tộc S'tiêng là dân tộc bản địa,
cư trú lâu đời, dân số 81.708 người ( 2009) chiếm 17,4% dân số toàn tỉnh và
trên 95,6% dân số tộc người trong cả nước.
1.1.1. Đồng bào dân tộc S’tiêng ở Bình Phước
* Lịch sử tộc người và tộc danh
Người S'tiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Tây Nguyên và miền Đông Nam
Bộ. Theo tài liệu khảo cổ học, từ những di tích, chỉ tìm được ở Đốc Chùa
9
(Tân Uyên), thành Cổ Tròn (Bình Long) thì khả năng xuất hiện của người
S'tiêng ước lượng cách đây khoảng từ 2.000 đến 5.500 năm. Vào những thập
niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiếm đất của người S'tiêng để lập đồn
điền cao su, đẩy người S'tiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phía Bắc.
Dân tộc S'tiêng thuộc nhóm ngữ hệ Môn - Khơ Me Đông Nam Á. Trong
các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên thì người S'tiêng là
nhóm cư dân có dân số đông thứ ba sau dân tộc Ba Na và dân tộc H'Rê. Tiếng
nói của người S’tiêng rất gần gũi với người M’nông, Mạ, Chơ Ro…Chính vì
vậy mà việc nói và hiểu được ngôn ngữ của người S’tiêng với các tộc người
này được thuận lợi và tạo nên sự ảnh hưởng giao lưu văn hóa sâu sắc. Người
S'tiêng có nhiều tên gọi khác nhau như: Xa Đu, Xa Điêng, Xa Chiêng, Bù Lơ,
Bù Đíp, Bù Dêh, Bà Rá, Đalmer, Rông Al, Bù Lê…Vào tháng ba năm 1979
được thống nhất gọi tên chung là dân tộc S'tiêng và được chia thành bốn nhóm
chính: Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biêk, Bù Lập, nhưng hiện nay chủ yếu còn tồn tại
hai nhánh chính là Bù Lơ và Bù Đek. Nam giới S'tiêng thường mang họ Điểu,
nữ giới mang họ Thị, một số ít khác có họ Đrâu.
* Dân số và cư trú
Dân số người S'tiêng hiện nay khoảng 85.436 người (2009) sống trên
43 tỉnh, thành của cả nước. Trong đó ở Bình Phước có 81.436 người (chiếm
95,6%), Tây Ninh 1.654 người, Đồng Nai 1.269 người, Lâm Đồng 308 người,
Bình Dương 153 người. Họ tập trung cư trú về phía bắc thượng nguồn dòng
sông Bé (người S'tiêng gọi dòng sông này là DakLung hay DakLay). Vào
khoảng thế kỉ XIX, vùng cư trú của người S'tiêng về phía Nam kéo dài từ
khoảng sông Bé đổ vào sông Đồng Nai, khu vực Hớn Quảng, Nha Bích là
những địa điểm cư trú cực Nam của người S'tiêng vào đầu thế kỉ XX. Theo
truyền thuyết và các ghi chép của Quốc Sử Quán của nhà Nguyễn thì người
S'tiêng có địa bàn cư trú kéo dài đến tận chân núi Bà Đen ở Tây Ninh.
S'tiêng Bù Lơ là nhóm người S'tiêng sinh sống ở vùng núi cao, tập trung
cư trú ở một số xã: Đăk Ơ, Đăk Nhau, Thọ Sơn, Thống Nhất của các huyện Bù
10
Đăng, Đồng Phú và Thị xã Phước Long. S'tiêng Bù Đek ở vùng đất thấp, sống ở
nhà sàn, biết sử dụng trâu bò kéo cày làm ruộng nước. Người S’tiêng phân bố
trên toàn tỉnh, tập trung dân cư chủ yếu ở một số địa phương như: các huyện Bù
Đăng, Bù Gia Mập, Lộc Ninh, các thị xã Phước Long, Bình Long
* Hoạt động kinh tế
Hoạt động kinh tế trước đây của người Stiêng chủ yếu là làm nương
rẫy, lúa nước cũng được trồng nhưng không nhiều lắm. Khoảng tháng hai âm
lịch, vào cuối mùa khô, các hộ gia đình nhỏ tự chọn tìm đất làm rẫy, phát các
bụi nhỏ sau đó mới chặt các cây to. Những cây gỗ quí lớn thì để lại. Khi rẫy
đã dọn sạch, họ bắt đầu trỉa lúa, nam giới đi trước chọc lỗ, phụ nữ đi sau bỏ
hạt giống vào lỗ và lấy chân vùi đất lấp hạt lại. Bên cạnh trồng lúa, người
Stiêng còn trồng xen canh một số loại cây lương thực, rau quả khác như ngô,
đậu, đu đủ, ớt, bầu bí… góp phần không nhỏ trong việc phụ thêm nguồn thực
phẩm cho bữa ăn gia đình S'tiêng. Do gắn bó với rừng, sống dựa vào rừng nên
trong canh tác sản xuất lúa rẫy, người S'tiêng có rất nhiều kinh nghiệm trong
việc chọn đất rẫy. Thông thường họ chọn đất rẫy ở vùng rừng có đất dẻo,
không có cây to, những bụi nhỏ đốt sẽ cho nhiều tro tốt cho cây lúa về sau
này và họ gọi vùng đất rừng này là bbri cuông hoặc bbri kram (tiếng S'tiêng:
cuông - lớn, rộng; kram - cứng; bbri - rừng). Sau đó họ sẽ đánh dấu lên khu
đất này để khẳng định quyền sử dụng của người đến chọn trước bằng cây lồ ồ
đã chẻ làm đôi có bỏ ít lá tươi trên đấy.
Ngoài những khu đất có đặc tính như vậy, người S'tiêng không bao
giờ chọn đất canh tác nơi có rừng già nhiều cây cổ thụ lâu năm. Họ gọi đó
là rừng bbri prá (prá: người già, tổ tiên), rừng của tổ tiên ông bà hay rừng
thiêng. Nếu ai vi phạm chặt gỗ, phá rẫy ở những khu rừng này sẽ bị luật tục
của làng trừng phạt. Trên một đám rẫy, người ta thường trồng cả 3 loại lúa
sớm, lúa lỡ, lúa mẹ. Đối với mỗi loại lúa, người ta tỉa một hoặc vài ba loại
giống theo từng khoảng riêng biệt để tiện thu hoạch trước sau khác nhau
tuỳ theo thời gian sinh trưởng.
11
Xưa kia người S'tiêng sống trong những vùng rừng già nhiệt đới có
nhiều thú dữ nên họ rất thành thạo trong việc làm các loại bẫy để săn thú, bắt
cá ngoài suối, thu lượm lâm sản, hái rau rừng cũng được xem là một nguồn
thực phẩm hàng ngày không thể thiếu trong đời sống của họ. Người S'tiêng
làm rẫy trên những vùng đất đỏ.
Ngoài làm rẫy, chăn nuôi cũng được người S'tiêng chú ý. Họ nuôi các
tiểu gia súc, gia cầm: heo, gà, vịt, chó…Đặc biệt mỗi gia đình người S'tiêng
thường nuôi từ một đến hai con lợn đồng bào(một giống lợn lai với lợn rừng
có thịt rất ngon và thơm, thường được thả rông cho ăn như trâu, bò..), còn trâu
nuôi chỉ để dành hiến tế trong các dịp lễ, tết lúa mới hay trong gia đình, sóc
có việc lớn. Bên cạnh việc bổ sung thực phẩm hái lượm măng rừng, đọt mây,
nấm… của những người phụ nữ và trẻ em. Đến mùa giáp hạt, vào những khi
mùa khô, họ lại tranh thủ ra suối xúc cá để cải thiện bữa ăn.
Các nghề thủ công không phát triển lắm ở vùng người S'tiêng, đây là
hoạt động đơn thuần chỉ mang tính tự cung tự cấp phục vụ cho chính nhu cầu
thấy cần thiết của họ chứ hoàn toàn không mang tính chất sản xuất hàng hóa.
Đàn ông đảm nhận công việc vào rừng lấy tre để đan lát (gùi, nong, nia, nơm
xúc cá…) phục vụ cho nhu cầu gia đình. Nghề rèn cũng đã có từ lâu đời song
hiện nay nghề này cũng đã mai một, chỉ một số người già là còn nhớ. Nghề
dệt vẫn phổ biến đối với đa số phụ nữ S'tiêng, tuy nghề này không phát triển,
mới chỉ dừng lại ở mức tự cung tự cấp, quá trình sáng tạo chưa cao song cũng
đã khẳng định được quá trình sinh tồn bền bỉ của con người S'tiêng và đôi bàn
tay khéo léo, gắn bó với gia đình của người phụ nữ S'tiêng.
* Ăn.
Người S'tiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Thực
phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và
sông suối (nay có mua ở chợ hoặc thương nhân). Buổi sáng sớm phụ nữ
S'tiêng giã thóc trong các cối gỗ để lấy gạo ăn trong ngày. Cơm hoặc cháo là
cách chế biến thức ăn phổ biến của người S'tiêng. Người S'tiêng thường nấu
12
canh trong các ống tre, lồ ô lớn. Thức ăn hàng ngày của người S'tiêng khá
đạm bạc thường là rau rừng và vài con cá nhỏ bắt ở sông, suối hoặc một mẩu
thịt rừng khô là đủ cho cả nhà. Họ rất thích ăn rau “nhíp”, một loại cây rừng
lá mỏng rất ngấm mỡ thường được nấu canh và ăn với mì tôm. Mỗi khi thịt
trâu, bò hay đi săn về được con thú lớn, ăn không hết, đồng bào để dành một
ít treo trên gác bếp, khi cần tiếp khách hay khi thiếu đồ ăn thì mang ra chế
biến. Món da lợn rừng hun khói, đem luộc kỹ, cạo sạch khói đen, rồi thái
mỏng, ướp gia vị làm như món “nộm” của người Kinh ăn rất ngon. Thức
uống truyền thống là nước lã và rượu cần, họ thích hút thuốc và hay hút bằng
tẩu cuốn lá cây rừng phơi khô.
*Ở
Người S'tiêng Bù Lơ do sống ở vùng cao, làm nhà dài nền đất, mái
tranh, vách bằng phên tre, có cửa ra vào ở hai phía đầu nhà. Nhà dài của
người S'tiêng thường dài khoảng 25 - 30m, mái thấp gần chạm đất và có hai
cửa ra vào ở hai đầu nhà. Một số nhà dài ở vùng Đắk Ơ có đặc điểm 4 góc
nhà lượn tròn chứ không vuông như nhà bình thường.
Người S'tiêng Bù đek cũng sống trong những ngôi nhà dài nhưng là
nhà sàn dài. Nhà sàn S'tiêng Bù Dek có hai dạng: loại nhà sàn dài và nhà sàn
ngắn, bé cho từng hộ gia đình. Ở Bình Long còn một số nhà sàn cổ theo
truyền thống S'tiêng: cột lớn, vách nhà nghiêng loe ra ở phía trên. Do quá
trình cư trú gần người Khmer nên ngôi nhà sàn dài của nhóm này chịu ảnh
hưởng ít nhiều về kiến trúc ngôi nhà của người Khmer như có sàn cao, có cầu
thang lên xuống. Không gian bên trong ngôi nhà dài - nơi cư trú của đại gia
đình được chia làm nhiều bếp (nak). Ranh giới giữa các nak được phân chia
một cách tương đối. Đánh dấu bởi một bếp là nơi sinh hoạt của một gia đình
nhỏ. Phía trên bếp là kho chứa thóc của các gia đình và cạnh bếp là một sạp
tre để ngủ gọi là “mtut”. Ngay sát vách nơi đầu nằm đặt các loại chiêng ché
quý, một vài vật dụng sinh hoạt của các gia đình. Đặc biệt ở nhóm Bù đek,
kho chứa thóc (nâm bar) dựng ở bên ngoài nhà dài.
13
Hiện nay, ở nhánh S'tiêng Bù Lơ, nhà nền đất, nhà trệt ngắn, nhỏ cho
từng hộ gia đình đã xuất hiện nhiều xen lẫn với nhà dài. Ở nhánh S'tiêng
Bù Dek, nhà nền đất cũng được xây dựng xen lẫn với nhà sàn. Trong một
bối cảnh hoạt động kinh tế - xã hội đã thay đổi, mô hình gia đình nhà dài đã
không còn phù hợp. Những gia đình nhỏ đã tự tách ra thành một hộ gia
đình có hoạt động kinh tế độc lập. Mỗi làng chỉ còn lại một hoặc hai ngôi
nhà dài làm nơi sinh hoạt truyền thống và tiến hành các hoạt động của cộng
đồng tộc người.
* Trang phục
Trang phục của người S'tiêng khá đơn giản. Thông thường đàn ông
đóng khố ở trần, đàn bà mặc áo hoặc ở trần quấn váy. Ngày nay, nam giới
mặc quần áo như người Kinh, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi. Một số ở gần vùng
người Khơ Me, phụ nữ S'tiêng thường quấn váy Khơ Me. Dù vậy, khi đi vào
vùng đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay ta vẫn thấy những
phụ nữ cao tuổi ở trần, cổ đeo nhiều chuỗi vòng hạt cườm nhiều màu, dái tai
căng rộng bởi đôi hoa tai ngà voi, họ cũng là lớp người cuối cùng có những
chiếc răng cửa hàm trên bị cắt cụt do tục cà răng. Người S'tiêng để tóc dài búi
sau gáy, tai xâu lỗ, hoa tai bằng gỗ, ngà voi được chuộng nhất và xăm mặt,
xăm mình với những hoa văn giản đơn. Họ ưa đeo nhiều trang sức, mọi người
nam, nữ, già, trẻ đều thích đeo các loại vòng, thường dùng các loại vòng kim
loại, chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm hay
bạc. Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân.
* Quan hệ xã hội
Xã hội S'tiêng được tổ chức theo từng đơn vị làng độc lập với nhau.
Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một “Bếp” (Nak). Nhiều nak hợp thành một
nhà (Yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do
việc tách hộ ra ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một “Bếp”, một nhà,
một làng mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định nằm trong các mối
14
quan hệ với các dòng họ khác nữa. Làng là gọi theo người Việt, có nơi gọi là
sóc theo người Khmer, có nơi gọi là buôn (hay bon) theo cách gọi của người
M'nông ngày xưa, một làng thường có 2 đến 5 nhà dài, làng thường được xây
dựng ở những nơi hiểm trở, có hàng rào bao quanh, được phòng thủ chặt chẽ.
Đứng đầu mỗi bon làng S'tiêng và chịu trách nhiệm quản lý xã hội
chung còn có: Tom bon (Tom pơt, Tom wang) là người đứng đầu bon làng,
chuyên lo điều hành, giải quyết các công việc nội bộ của bon; Bu kuông
(Mranh) là những người già có uy tín am hiểu phong tục, hiểu biết rộng, và lo
việc cố vấn cho các tom bon để nhằm duy trì trật tự, bảo tồn các tập tục
truyền thống của làng; Prăk là thầy bói, thầy cúng. Theo quan niệm của người
S'tiêng thì Prăk là người có khả năng giao tiếp được với thần linh, giúp người
trong bon chữa bệnh, cúng tế. Hiện tại, vai trò của những người này đã giảm,
đặc biệt là các thầy cúng (Prăk) bởi những tiến bộ của văn hóa xã hội đã giúp
cho đồng bào có những nhận thức mới giảm đi các tệ nạn mê tín dị đoan
không có cơ sở như trước đây.
Trong quan hệ gia đình, do đặc điểm riêng về hôn nhân nên cấu trúc gia
đình của hai nhóm cũng có những khác biệt nhất định như: Ở gia đình S'tiêng
Bù Lơ là gia đình lớn phụ hệ do người đàn ông nắm quyền quản lý các “nak”
của mình và những người phụ nữ chỉ là nhân tố phụ chịu trách nhiệm việc dạy
dỗ con cái. Còn trong đại gia đình người S'tiêng Bù đek lại tính theo huyết
thống về phía người đàn bà nên trong gia đình vai trò của người đàn bà rất
quan trọng, họ chịu trách nhiệm quản lý về dòng họ và sinh hoạt gia đình còn
người đàn ông giữ một vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất, kinh tế của
gia đình. Trong mỗi ngôi nhà dài người S'tiêng đều có một người đàn ông lớn
tuổi, hay đàn bà có uy tín trong họ hàng được các nak tín nhiệm làm Tom Yau
(tương tự như tộc trưởng) chuyên lo việc xã giao, cúng tế và giải quyết những
mối quan hệ trong nhà dài của mình.
15
1.1.2 Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình
Phước
* Đời sống tinh thần và cấu trúc của đời sống tinh thần
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy tâm thì chỉ có tinh thần và ĐSTT
mới tồn tại thật, còn thế giới vật chất chỉ là sản phẩm của ý thức, của cảm
giác, là biểu tượng của tinh thần và chịu sự quyết định của đời sống tinh thần.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác thì coi tinh thần và đời ĐSTT hoàn toàn phụ
thuộc vào đời sống vật chất, nhưng đánh giá sự phụ thuộc ấy một cách máy
móc, không thấy rõ được vai trò sáng tạo, năng động cũng như tác động trở
lại to lớn đến tồn tại xã hội của ĐSTT.
Theo quan niệm Mác xít, tinh thần là sản phẩm của một dạng vật chất có
tổ chức cao là óc người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tinh thần
chính là vật chất đã được chuyển hóa, trừu tượng hóa ở trong óc người. Quan hệ,
phương thức sản xuất vật chất quyết định quan hệ, phương thức sản xuất tinh
thần. Quan hệ tinh thần xã hội, xét cho cùng chỉ là chỉ là cái phản ánh những
quan hệ vật chất của xã hội, giai cấp nào thống trị những quan hệ vật chất thì
cũng thống trị cả quan hệ tinh thần, hệ tư tưởng thống trị xã hội là hệ tư tưởng
của giai cấp thống trị. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác đã
khẳng định: “Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh
rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất”[14 ; tr 625].
Nói đến ĐSTT là nói đến hoạt động của con người trên lĩnh vực tinh
thần. Theo Các Mác thì : “cuộc sống là gì nếu không phải là hoạt động sống”.
Vì vậy, tổng hòa các hoạt động, các quan hệ, các sản phẩm, các giá trị tinh
thần tạo nên ĐSTT của mỗi con người, mỗi giai cấp, và cộng đồng xã hội
trong mỗi thời điểm lịch sử nhất định.
Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể quan niệm: ĐSTT xã hội là tổng
hòa những giá trị, những sản phẩm, những hiện tượng, những quá trình,
những hoạt động, những quan hệ tinh thần của con người, phản ánh đời sống
16
vật chất xã hội và được thể hiện như một phương thức hoạt động và tồn tại
tinh thần của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
Đời sống tinh thần xã hội vừa phản ánh mặt hoạt động tinh thần của con
người, vừa phản ánh kết quả của hoạt động đó. Vừa nói lên được mặt sống
động của quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm tinh thần, vừa
thể hiện các thiết chế xã hội để vận hành trên các lĩnh vực của ĐSTT. Với tính
cách là một hệ thống, ĐSTT xã hội bao gồm đời sống tư tưởng, đạo đức, lối
sống; đời sống khoa học - công nghệ; đời sống giáo dục - đào tạo; đời sống
văn hóa nghệ thuật và sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của xã hội.
Đời sống tư tưởng, đạo đức, lối sống: Là lĩnh vực quan trọng nhất của đời
sống tinh thần, chi phối đến các lĩnh vực khác và cũng chịu sự chi phối của các
lĩnh vực đó. Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi
ích ít nhiều có tính phổ biến của con người, của xã hội, trong đó hệ tư tưởng
chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng, quy định tính chất, nội dung, phương
hướng phát triển của ĐSTT. Trong xã hội có giai cấp, ĐSTT mang tính giai cấp.
Giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng thống trị ĐSTT xã hội. Cách mạng
Việt Nam, do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo, nên chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị của Đảng cộng sản giữ vai trò
chủ đạo, quy định sự vận động, phát triển của ĐSTT xã hội.
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm, thái độ và tình cảm…của con
người về quy tắc, các chuẩn mực điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử
trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng xã hội
theo các chuẩn mực thiện - ác, lương tâm - trách nhiệm, quyền lợi - nghĩa vụ,
công bằng, danh dự, hạnh phúc. Trong đời sống hiện thực, đạo đức được thiết
lập, thực hiện chủ yếu bằng phương thức tự điều chỉnh, thông qua sức mạnh
của dư luận xã hội. Đạo đức bị quy định, chế ước bởi tồn tại xã hội, bởi giai
cấp và bởi truyền thống đạo đức dân tộc. Đạo đức vừa có nội dung mang tính
nhân loại vừa có nội dung mang tính giai cấp. Dưới CNXH, hai nội dung đó
thống nhất với nhau.
17
Lối sống là phương thức thể hiện cụ thể quan điểm, tư tưởng, quan
niệm đạo đức của con người trong quá trình tồn tại và trong hoạt động thực
tiễn. Hệ tư tưởng, mục tiêu, lí tưởng giai cấp công nhân là những yếu tố cơ
bản, chủ đạo quy định lối sống của người Việt Nam hiện nay, thể hiện thế giới
quan, nhân sinh quan và văn hóa của họ; thể hiện chủ nghĩa nhân đạo, nhân
văn trong quan hệ giữa người với người trong quan hệ xã hội.
Như vậy, tư tưởng, đạo đức, lối sống tuy mang những nội dung riêng
nhưng thống nhất gắn bó, tác động, chi phối lẫn nhau, trong đó tư tưởng giữ vai
trò chủ đạo, đạo đức là cơ sở nền tảng, lối sống là sự thể hiện kết quả nhận thức
tư tưởng, rèn luyện đạo đức, hành vi trong cuộc sống sinh động thường ngày.
Với nghĩa đó, tư tưởng, đạo đức, lối sống thống nhất chặt chẽ, chúng đều cùng
biểu hiện ở phẩm chất, ở nhân sinh quan, ở thế giới quan của con người.
Hoạt động giáo dục, khoa học - công nghệ là lĩnh vực cơ bản, quan
trọng của ĐSTT nhằm trang bị cho con người có đủ phẩm chất, năng lực hoàn
thành nhiệm vụ, chức trách được giao và góp phần phát triển con người toàn
diện. Chúng bao gồm hai mặt hoạt động lớn: giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo
đức lối sống và huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, phát triển khoa học công nghệ nhàm chuẩn bị toàn diện về con người về chính trị, tư tưởng, thể
lực, tâm lí, trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, khoa học công nghệ, nghệ
thuật…đáp ứng nhiệm vụ công tác, xã hội. Đó là mục tiêu chủ yếu của công
tác giáo dục, khoa học - công nghệ. Tinh thần con người phải được thể hiện
cụ thể ở việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người.
Đời sống văn hóa nghệ thuật cũng là lĩnh vực cơ bản của ĐSTT. Đây là
“binh chủng đặc biệt”, phương tiện kỳ diệu có sức cảm hóa tinh thần mạnh
mẽ, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và cốt cách con người, giáo dục họ hướng
tới những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng tư tưởng tiến bộ, tình cảm
tốt đẹp, nâng cao trình độ phẩm chất chính trị và khả năng phát triển toàn diện
18
của họ. Xét đến cùng về cơ bản thì toàn bộ hoạt động của con người đều có
tính thẩm mỹ, đều hướng tới Chân - Thiện - Mỹ.
Đời sống tín ngưỡng tôn giáo vẫn là một bộ phận tồn tại khách quan
trong ĐSTT của một bộ phận nhân dân, ảnh hưởng nhất dịnh đến đời sống
tinh thần của cá nhân và xã hội.
Đời sống tinh thần không phải là hệ thống khép kín, nằm im của những
giá trị khác biệt mà là tổng thể đang vận động của các giá trị được thể hiện và
thực hiện thông qua hoạt động của con người. Tổng hòa các hoạt động sống
của con người, các giá trị tinh thần được tạo ra, lan tỏa và thấm sâu vào từng
con người, tạo nên niềm tin bên trong, thành tình cảm, tâm lý, tập quán, lối
sống, thành hành động tự nhiên hàng ngày của mỗi con người. Nhờ đó và do
đó con người đạt được những phẩm chất cao quý tồn tại như một giá trị “gốc”
và tiếp tục sáng tạo ra những giá trị mới hơn để vươn tới và không ngừng
hoàn thiện các giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
Đời sống tinh thần của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng
có những đặc trưng chủ yếu; hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
giữ vai trò chủ đạo, chi phối; ĐSTT nảy nở, phát triển trong bầu không khí xã
hội dân chủ với sự khẳng định chủ thể tối cao của cả sự sáng tạo và hưởng thụ
các giá trị tinh thần là nhân dân lao động làm chủ; thắm đượm chủ nghĩa nhân
đạo, yêu hòa bình, tất cả từ con người và vì con người; bảo tồn và phát huy
những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời hấp thụ có
chọn lọc những giá trị tinh thần của lịch sử nhân loại và nền văn minh hiện
đại. Vì vậy, quá trình xây dựng ĐSTT phải được tiến hành trên cơ sở dân chủ
hóa, phát huy sức mạnh tổng hợp, chứ không áp đặt, bao cấp. Kết hợp xây
dựng ĐSTT của toàn xã hội với ở từng địa bàn, từng cộng đồng, từng tầng lớp
dân cư. Hướng tới các mục tiêu đã định, có tính đến những việc khó khăn
trước mắt, việc xây dựng ĐSTT của xã hội phải được tiến hành từ thấp đến
cao, vừa thông qua các mâu thuẫn vừa phải bảo đảm tính nhất quán, tính liên
19
tục, xây phải đi đôi với chống, luôn đề phòng, ngăn chặn kịp thời những
khuynh hướng lệch lạc.
Vấn đề đặt ra khi xây dựng đời sống tình thần là, khi xem xét, không
chỉ căn cứ vào các giá trị và các quá trình hình thành giá trị đó mà quan trọng
hơn cả là các giá trị đó có thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội,
con người, tập thể, gia đình, địa bàn đó hay không. Lênin cho rằng : Chỉ có
cái gì đã ăn sâu vào đời sống văn hóa, vào phong tục tập quán, mới có thể
được coi là hiện thực. Đồng thời Người cũng chỉ rõ, bất cứ một lĩnh vực nào
của xã hội đang tồn tại cũng chứa đựng ba yếu tố, đó là những vết tích của
quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai. ĐSTT
cũng có những yếu tố đó và thực chất xây dựng đời sống tinh thần mới chính
là cải tạo những yếu tố không phù hợp của cái cũ, phát huy những cái tốt ở
hiện tại và định hướng phát triển cho tương lai.
* Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng
Nghiên cứu ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng được xem xét trong
cấu trúc chung của ĐSTT xã hội. Tuy nhiên, với đặc điểm là một dân tộc
thiểu số mang bản sắc văn hóa tộc người đặc sắc, ĐSTT của đồng bào dân tộc
S'tiêng được thể hiện rõ nét nhất qua các mặt chủ yếu đó là: tư tưởng, đạo
đức, lối sống; văn hóa - nghệ thuật và tín ngưỡng - tôn giáo.
Tư tưởng, đạo đức, lối sống đồng bào dân tộc S'tiêng biểu hiện sinh
động thông qua phong tục và lễ hội. Với lối sống giản đơn, gắn bó với nương
rẫy, rừng già. Phong tục người S'tiêng hiện diện trong ĐSTT của đồng bào
như là một thiết chế văn hóa bất thành văn. Ngày nay, tuy cuộc sống mới có
những chuyển biến theo nhịp bước của xã hội, song những luật tục và nghi lễ
luôn hiện diện như là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng.
Luật tục S'tiêng: Người S'tiêng cũng như nhiều dân tộc ít người khác ở
Tây nguyên và Đông nam bộ, có cả một hệ thống những quy tắc quy định về
các quan hệ ứng xử giữa cá nhân và cộng đồng. Những quy tắc đó, được lưu
truyền qua nhiều thế hệ và những câu nói vẫn có điệu, đầy hình tượng bóng
20
bẩy. Luật tục của người S'tiêng là cơ sở để vận hành xã hội, luật tục Người
S'tiêng coi 4 tội sau đây là nặng nhất.
Ma lai (chă): đó là những người ban đêm biến thành ma quỷ đi hút
máu làm người khác ốm đau, chết chóc. Đồng bào có nhiều cách thử như đổ
chì vào lòng bàn tay, hoặc lặn nước... Người bị nghi là ma lai sẽ bị dân làng
đưa vào rừng thủ tiêu bằng cách chặt đầu hoặc chôn sống, vợ và con sẽ bán đi
nơi xa làm tôi tớ.
Xâm phạm sự cấm kỵ (Lăh cang rai): Người S'tiêng có nhiều điều cấm
kỵ, họ sợ đụng chạm đến thần linh, ma quỷ, như trong làng có người đàn bà
đang sinh đẻ, làng có nhiều người đau ốm thì cấm người lạ vào nhà, vào làng.
Dấu hiệu cấm là một nhành gai, nhành lá xương rồng treo ở cổng làng, ở cầu
thang nhà. Nếu người lạ bất chấp dấu hiệu đó cứ vào làng, vào nhà sẽ bị phạt.
Loạn luân (Đoăng ih): Trong quan hệ hôn nhân người S'tiêng không cho
phép những người cùng dòng họ kết hôn với nhau, hoặc có quan hệ tính giao.
Việc kết hôn giữa những người cùng dòng họ được xem là loạn luân, người
S'tiêng coi đó là nguồn gốc sinh ra các dịch bệnh, thiên tai như lũ lụt, trượt
đất... gây tổn hại cho buôn làng. Những người loạn luân sẽ bị phạt nặng, phải
nộp heo gà để cúng thần linh, và phải ăn cơm, thức ăn được đổ trộn vào một
máng dành cho heo, dân làng chứng kiến và nhổ nước bọt vào kẻ loạn luân.
Lừa đảo, trộm cắp: Người S'tiêng rất ghét những kẻ trộm cắp, lừa đảo,
vì vậy nếu bắt được kẻ trộm cắp, lừa đảo, kẻ đó sẽ bị cả làng bắt phạt. Hình
phạt thường là phải tổ chức lễ cúng thần linh và đền bù gấp nhiều lần cho
người bị hại.
Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh
nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay, nhiều người ở vùng
có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên
nhà ở, bởi họ cho rằng, nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến “thần lúa”, đẻ xong
cũng phải cúng một con lợn cho thần lúa.
21
Cưới xin: Người S'tiêng quan niệm hôn nhân là một sự kiện trọng đại
trong cuộc đời và là việc chung của dòng họ. Tuy cùng chung những nghi
thức hôn nhân giống nhau nhưng nhóm S'tiêng Bù Lơ theo chế độ phụ hệ nên
quyền chủ động ở người nhà trai, còn nhóm S'tiêng Bù Đek theo chế độ mẫu
hệ hôn nhân chính lại do nhà gái đảm nhiệm.
Nhóm S'tiêng Bù Đek theo chế độ mẫu hệ, vì vậy trong gia đình cũng
như ngoài xã hội người phụ nữ có vai trò rất lớn, một trong những quyền đó
là quyền được cưới chồng và con cái mang họ mẹ. Trước đây, độ tuổi kết hôn
là từ 15 đến 17 tuổi, điều kiện kết hôn là cả nam và nữ đều phải trải qua lễ
thành đinh bằng việc hoàn thành lễ cà răng, căng tai. Khi đến tuổi trưởng
thành, các cô gái S'tiêng Bù Đek nếu thích chàng trai nào đó sẽ bắt chuyện
làm quen. Tuy nhiên, quyền tỏ tình lại thuộc về chàng trai. Người S'tiêng
quan niệm tình dục trước hôn nhân không phải là việc xấu, không ảnh hưởng
đến phẩm hạnh của người con gái. Nhưng khi đã có thai thì buộc phải lấy
nhau. Nếu người con gái có thai mà không tiến tới hôn nhân thì sẽ bị cộng
đồng phạt lẽ phạt vạ. Lễ phạt vạ gồm một con trâu, mười dạ gạo (1 dạ =
22kg), mười ché rượu và tổ chức cho cả sóc ăn uống.
Nội hôn là đặc điểm nổi bật trong hôn nhân dân tộc S'tiêng ở Bình
Phước. Họ thích kết hôn với người đồng tộc và khó chấp nhận người xa lạ vì
cho rằng những tai họa bất trắc như hạn hán, mất mùa, bệnh dịch rất dễ xảy ra
khi kết hôn với đối tượng ngoài tộc người. Hai hình thức hôn nhân đặc biệt
vẫn còn tồn tại là hôn nhân anh em chồng - chị em vợ và hôn nhân con cô con cậu. Hôn nhân anh em chồng - chị em vợ còn được gọi là tục nối dây như
tập tục một số dân tộc ở Tây Nguyên. Tục nối dây diễn ra chủ yếu với mục
đích giữ lại tài sản của dòng họ. Hôn nhân chỉ được thực hiện một lần trong
mỗi gia đình.
Theo phong tục truyền thông người S'tiêng, trong đêm cưới hai vợ
chồng buộc chỉ đỏ vào tay nhau hoặc trao cườm thay cho lời thề chung thủy.
Sau đám cưới, người S'tiêng còn có tục trả của. Lễ trả của có thể tổ chức bên
22
nhà trai hay bên nhà gái đều được. Nếu sau nhiều năm chung sống mà không
có con hoặc gia đình giàu có cần thêm người làm và quản lý, người chồng có
thể xin vợ cả cho cưới thêm vợ bé. Vợ cả và vợ bé phải coi nhau như chị em
và con cái của họ đẻ ra đều phải gọi họ bằng mẹ. Tục giao ước hôn nhân của
người S'tiêng cũng cho phép cha mẹ giao ước với nhau về hôn nhân của con.
Ma chay: Quan tài gỗ độc độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình
thường thì họ chọn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài. Cùng với tử thi, có
bỏ một ít gạo và thuốc lá, những ché, nồi, dụng cụ …“chia gia sản” cho
người chết để trên và xung quanh mộ. Người S'tiêng không có tục thăm viếng
mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và không vui nhộn
trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường cúng phải tốn
kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không
được chôn vào bãi mộ của làng.
Tục cà răng: (tiếng dân tộc gọi là kosho) trẻ em từ 15 tuổi trở lên khi
đã mọc hết răng thì bắt đầu cà răng. Nếu không cà răng sau này sẽ bị sâu đục
và không có răng. Người S'tiêng cho rằng con gái không cà răng thì không
được hạnh phúc trong hôn nhân, gia đình. Nếu đàn bà không chịu cà răng thì
bị coi là người không có nhân phẩm. Ngày nay con gái S'tiêng ở những vùng
sâu vùng xa nếu như chưa cà răng vẫn khó lấy chồng.
Tục căng tai (tiếng dân tộc gọi là torshutor): người S'tiêng cho rằng nếu
không căng tai về già không sáng suốt, thông minh, còn có thể bị bệnh đần
độn. Nếu phụ nữ không có con gái thì hai vợ chồng phải cùng nhau căng tai,
họ cho rằng cà răng căng tai còn là biểu hiện quan niệm về cái đẹp.
Lễ hội: Các lễ hội truyền thống của người S'tiêng chủ yếu là: Lễ hội
mừng lúa mới, lễ hội đâm trâu, nghi lễ đặt tên cho một thành viên mới.
Lễ hội mừng lúa mới (năng ba ): Tổ chức ngay khi thu hoạch được gùi
lúa đầu tiên. Ngày tết mừng lúa mới nhà nào cũng sắm váy mới, áo mới cho
thanh niên, phụ nữ ai cũng đeo hết các trang sức mà mình có để khoe với mọi
người trong buôn. Các gia đình có hàng chục ché rượu cần và mổ trâu bò, heo
23
để thiết đãi bà con buôn làng. Công việc được phân chia theo giao ước cứ bốn
năm thì một gia đình đứng ra tổ chức một lần, thường thì những gia đình giàu
có hoặc dòng học giàu có luân phiên nhau trong sóc hoặc giữa các sóc với
nhau, thứ tự quay vòng theo chu kỳ. Đây là nghi lễ lớn nhất của người S'tiêng
và cũng là dịp để họ ăn tết tạ ơn các Yàng, cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở
cho muôn vật, sự bình an cho cả dòng họ và cho cả cộng đồng.
Gia chủ lấy cây nêu nhỏ và một chén rượu cần đặt dưới kho lúa. Khấn
gọi mẹ lúa về nghỉ ngơi sau một năm sinh đẻ vật vã. Sau đó mời gọi các
Yàng, sông, suối, trời, đất…về để cảm ơn và thiết đãi lễ vật. Xong nghi thức
trên thì tiến hành đâm trâu, lấy máu bôi lên cây nêu ở kho lúa và nhiều đồ vật
khác. Thịt trâu được chế biến, chủ nhà bày rượu cần, cơm lam mời những vị
khách ngồi lại khấn cầu cho tình bạn của họ mãi mãi bền chặt. Ai trái lời
nguyền sẽ bị thần linh trừng phạt. Khấn cầu cho gia đình, cộng đồng có cuộc
sống yên bình no đủ.
Lễ hội cầu mưa: Lễ hội cầu mưa là một lễ hội tín ngưỡng phồn thực,
cầu mong cho mưa thuận gió hoà, để vạn vật được sinh sôi nẩy nở. Theo
truyền thuyết, người S'tiêng xứ của Jiêng thì đã ba đến bốn năm rồi trời không
có mưa, con người đã chết nhiều rồi vì không có nước uống. Mọi người phải
mang cồng chiêng đến xứ Spa Chal để đổi lúa. Cứ một chiếc cồng thì được
một lượng lúa bằng nắp cồng, nắp chiêng. Lúc đó, con của trời ở xứ của Jiêng
bèn khăn gói lên trời trách Cha - vị cai quản trên trời tên là Bra Ân rằng: trời
không công bằng. Tại sao xứ của người Spa Chal lại có mưa nhiều trong lúc
đó xứ của Jiêng ba đến bốn năm nay không có mưa. Bra Ân nói rằng để có
mưa ngươi hãy về nhà làm lễ cầu mưa với lễ vật là heo, gà, rượu cần, cơm
lam, cồng chiêng và cả cây nêu...để cầu xin các thần thì sẽ có mưa. Nghe lời
Cha, sau khi về xứ của mình Jiêng huy động dân làng sắm lễ vật và làm đúng
như lời Cha dạy. Quả nhiên, sau khi làm lễ xong thì trời đổ mưa như trút.
Mỗi năm đến mùa khô, đầu mùa mưa người S'tiêng lại tổ chức làm lễ cầu
mưa theo từng bon (Wăng). Lễ cầu mưa là lễ hội rất quan trọng đối với họ. Đến
24
giờ làm lễ, cả làng tập trung đầy đủ, trâu buộc chặt vào cây nêu, mọi người đúng
thành vòng tròn chứng kiến nghi lễ. Sau khi đông đủ cả làng, già làng (Bu Kuông)
tuyên bố lý do buổi lễ, 1 đến 3 người đàn ông ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc
chà gạc để giết trâu, Già làng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối
rải lên mình trâu. Sau đó ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa,
thần rừng, cầu cho mưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội
thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Xong nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt
nướng, uống rượu cần và tận mục sở thị những màn biểu diễn cồng chiêng, những
điệu múa cùng các nghệ nhân và nam nữ miền sơn cước, cuộc vui tiếp tục cho đến
khi màn đêm buông xuống, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và
xướng sử thi cho đến sáng hôm sau.
Lễ đặt tên cho thành viên mới: Đây là một nghi lễ quan trọng trong
hàng loạt nghi lễ vòng đời người. Khi một đứa bé chào đời, là một sự kiện
quan trọng. Bên cạnh niềm vui là trách nhiệm của gia đình và cộng đồng. Lễ
đặt tên cho thành viên mới thường được tiến hành khi đứa trẻ được 2 đến 3
tháng tuổi; gia chủ chuẩn bị lễ vật: một con lợn, một con gà, một ché rượu
cần, một kỷ vật cho đứa bé, sau đó gia đình mời già làng đến làm chủ lễ. Tiến
hành như kế hoạch đã định, khi công việc chuẩn bị đã tươm tất, gia chủ bày
rượu cần và các con vật hiến tế ra giữa nhà, cắt tiết vật hiến tế lấy máu và
rượu cần dâng lên thần linh, mong thần linh chứng giám, nhận mặt và tên đứa
bé, phù hộ cho nó ăn nhiều nhanh lớn, có sức mạnh như nước, như lửa, sớm
lên rừng bẻ măng, lên rẫy trỉa lúa. Sau nghi lễ trên, Chủ lễ chính thức tuyên
bố tên đứa bé trước sự chứng kiến của các thành viên trong bon (làng). Từ
đây mọi người trong gia đình và xã hội phải có trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ
cho đến lúc bé trưởng thành. Sau đó Chủ lễ dùng trái bầu khô múc nước gội
đầu, tắm cho bé. Đây là việc làm mang ý nghĩa chúc phước lành, theo quan
niệm sau này bé sẽ có sức mạnh và trí tuệ. Cuối cùng gia đình mời mọi người
ở lại ăn cơm lam, uống rượu cần, cầu mong mọi điều tốt lành đến với đứa bé
cũng như cả cộng đồng trong cuộc mưu sinh của đời người.
25
Lễ hội đâm trâu: Thời điểm tháng 2 đến tháng 3 âm lịch hằng năm là lễ
hội đâm trâu ở Bình Phước bắt đầu nhộn nhịp do lúc này mùa màng đã thu
hoạch và chuẩn bị cho một năm mới với nhiều lời cầu ước. Lễ hội đâm trâu
được tổ chức vào những dịp như: mừng chiến thắng, khánh thành nhà Rông,
làm lễ cầu an, lễ phá điềm xấu, điểm gở cho cả buôn làng…thể hiện niềm
kiêu hãnh, tự tin của cộng đồng và nhằm xua đuổi tà thần đến quấy nhiễu dân
làng. Nghi thức đâm trâu hiến tế cho thần linh được tổ chức trước sân nhà
Rông hoặc nơi hội họp của làng. Cây Nêu dựng trước sân là biểu tượng chính
của lễ hội, cây Nêu làm bằng tre được trang trí những hoa văn truyền thống,
cùng hình tượng chim thú biểu trưng của đồng bào dân tộc. Một số thanh niên
mang dây thừng bện bằng vỏ cây thật chắc lên rẫy tìm bắt con Trâu mang về
cột vào gốc cây Nêu. Già làng chủ lễ cúng hồn lúa cúng Giàng, hát bài khóc
trâu thật thống thiết. Dân làng cử ra một chàng trai khỏe mạnh để đâm trâu,
người thanh niên đóng khố cởi trần, già làng trao cho anh một cây lao đầu bịt
sắt nhọn, người này nhảy múa quanh con trâu trong tiếng reo hò phấn khích
của mọi người, tiếng cồng chiêng thúc giục. Hai thanh niên khác chặt vào
khuỷu chân con trâu lấy máu bôi vào cây nêu và kèn Glet. Sau đó là lễ cúng
cho hồn lúa, một sợi dây chỉ tượng trưng cho đường đi được buộc từ kho lúa
đền đầu con trâu, già làng lấy máu trâu hòa vào ché rượu rồi đổ vào các bình
nước sau đó lấy nước này tưới lên kho lúa để tắm mát cho hồn lúa. Làm xong
nghi lễ mọi người cùng hát múa, ăn mừng uống rượu cần thâu đêm trong
tiếng kèn, nhạc và men rượu cần bên đống lửa. Người ta làm thịt trâu chia cho
từng gia đình, tổ chức ăn uống theo từng nhà, máu con trâu được dùng để bôi
vào trán mọi người như một sự cầu phúc. Các thành viên ở trong buôn sẽ đến
từng gia đình để chung vui, trước hết là những bà con thân thích, sau đó đến
những người láng giềng thân cận. Sau cuộc tế lễ này, người ta bắt đầu tiến
hành làm những công việc như làm nhà, chuyển làng...
* Tín ngưỡng - tôn giáo