Tải bản đầy đủ (.docx) (1,267 trang)

ĐẠI NAM THỰC LỤC TẬP 6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.2 MB, 1,267 trang )

ĐẠI NAM THỰC LỤC
Tập Sáu
Viện khoa học xã hội Việt Nam
Viện sử học
Quốc sử quán triều Nguyễn
Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch

Phiên dịch : Cao Huy Giu, Trịnh Đình Rư, Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân.
Hiệu đính

: Hoa Bằng

Nhà xuất bản giáo dục


Chính biên
Đệ tam kỷ - Quyển thủ
[dụ]
Tự Đức năm thứ 30 [1877], tháng 11, ngày 21, dụ rằng : Các đế vương ngày xưa, bậc khai
sáng cơ nghiệp để lại cho người sau, bộc nối giữ cơ nghiệp đã thành, đời nào cũng có
chính sử của đời ấy, để ghi chép công đức, lưu lại làm gương mẫu cho người sau. Từ xưa
đến nay, sử biên chép chính sự hằng ngày và bản đồ của nhà vua để trong hòm vàng, đều
là điển chương lớn của Nhà nước. Công việc chế tác ra và sửa sang lại, không gì to bằng
việc ấy.
Bản triều ta, gây dựng cơ nghiệp ở cõi Nam, thánh thần truyền nối, đã hơn 200 năm nay,
đức sáng của tổ tiên để lại, kể đã lâu lắm. Nguồn Phước dài lâu, rực rỡ trong sử sách ;
công liệt giống như vua Văn vua Vũ, thịnh trị hơn vua Thành, vua Khang nhà Chu ngày
xưa, công dày đức thịnh, sáng rõ như Mặt Trời, Mặt Trăng. Bộ Thực lục Tiền biên của các
thánh trước((1) Chỉ các chúa Nguyễn trước đời Gia Long.1), bộ Chính biên Đệ nhất kỷ của
Thế tổ Cao hoàng đế và bộ Chính biên Đệ nhị kỷ của Thánh tổ Nhân hoàng đế ta đã lần
lượt làm xong đưa ra khắc in và cất vào kho sách, thực là của quý báu như khắc vào đồng,


tạc vào đá không bao giờ mất được nữa.
Kính nghĩ Hoàng khảo Hiến tổ Chương hoàng đế ta, tư chất bẩm sinh là bậc thượng
thánh, nối giữ cơ nghiệp thịnh trị, về công việc trị nước thì kính trời, noi theo pháp độ của
tổ tiên, hiếu thảo với đấng thân, hoà mục với họ hàng, dùng người hiền tài, tìm lời nói
thẳng, thương dân, trọng nghề gốc, sửa việc văn, rèn việc võ, ưa chuộng sự kiệm ước, nén
bỏ sự xa xỉ, biết bao chính sự hay, sử sách không sao chép hết được. Cho nên lúc bấy giờ,
chính sự bình hoà, giáo hoá thấm khắp, thời tiết hoà thuận, năm thường được mùa, số hộ
khẩu ngày một tăng thêm, việc hình phạt ngày bớt đi nhiều, việc võ không dùng đến, nơi
biên cảnh yên tĩnh. Trong khoảng 7 năm, ơn trạch thấm nhuần, các sĩ phu và dân chúng
đều ca ngợi thái bình, đến ngày nay cũng vẫn như ngày xưa. Đạo đức và công liệt của


Hoàng khảo ta làm cho công đức của hai Thánh tổ tỏ rạng thêm. Còn về việc làm cho đức
được sánh với đời trước, là ở người sau như ta này.
Ta nhờ anh linh của ba vua trước ((1) Chỉ Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị.1) ở trên
trời, được nối ngôi trị dân, hằng ngày kính cẩn, lúc nào cũng nghĩ đến tổ tiên, hình như
anh linh vẫn thường lên xuống đâu đây, nên dạ vẫn chăm chăm. Bộ Thực lục Chính biên
Đệ tam kỷ về Hoàng khảo ta, năm trước đã sai sử thần hết lòng biên chép, đã nhiều lần
phê chuẩn kiểm xét bổ thêm vào, khiến cho mọi việc đều tường tận xác đáng, ngõ hầu làm
sáng tỏ được điển tắc, truyền mãi được lâu dài, để giãi chút lòng nối theo ý chí và sự
nghiệp của tổ tiên ta.
Nay căn cứ vào bọn Sử quán Tổng tài là Trần Tiễn Thành, Phó tổng tài là Lê Bá Thận,
Toản tu là Phạm Huy Bính tâu rằng bản mẫu về bộ Chính biên Đệ tam kỷ đã làm xong, xin
đem khắc in. Ta xem tờ tâu, rất hài lòng, cho rằng đáng nên đem ra khắc in, để tỏ rõ công
liệt to tát của Hoàng khảo ta, cùng với các bộ Thực lục Tiền biên, Chính biên của các
thánh tổ trước cùng lưu truyền đến ức muôn năm về sau, để theo làm gương mẫu. Lần
này, đã làm xong bộ Thực lục Chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế được bao nhiêu
quyển, giao cho quan Thái sử chọn ngay ngày tốt khởi công làm việc khắc in ở trong Sử
quán, và giao cho các viên toản tu phải kiểm soát sửa chữa các chữ viết và khoản thức
cho rất kỹ, cốt phải chu đáo thoả đáng. Các quan tổng tài cũng phải hết lòng kiểm đốc, để

cho điển chương to lớn này được chóng hoàn thành. Có những việc gì đáng phải làm, thì
các viên có trách nhiệm kính cẩn cung ứng để làm. Phải tuân theo mệnh lệnh này.
[các bài biểu]
[I]((2) Bài Biểu thứ I này, theo bộ Thực lục Chính biên, sách Thư viện Khoa học, ký hiệu
A.2772, đặt ở ngay sau bài Dụ. Còn ký hiệu số A.27 thì lại đặt ở dưới bài Biểu thứ II sau
đây. Đó vì sự đóng sách có sai biệt. Nhưng chúng tôi thấy trình bày theo ký hiệu A.2772 là
đúng thứ tự hơn, nên cứ để vậy, mà chỉ điều chỉnh tờ đề ngày tháng và danh sách người
ký tên của bài Biểu thứ II cho xuống cuối bài, như trong ký hiệu A.27 đã xếp đặt thôi.2)


Lũ chúng tôi là Tổng tài và các Toản tu ở Quốc sử quán kính tâu về việc đã làm xong bộ
Thực lục Chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế, xin đem ra khắc in để tỏ rõ đức sáng to
tát. Kính nghĩ : một nước phải có chính sử, là để ghi chép các chính sự, chính sự ấy có thể
làm khuôn phép cho thiên hạ muôn đời về sau, thì sách sử phải được lưu truyền đến muôn
đời sau. Xem như vua Thuấn nối ngôi vua Nghiêu thì có thiên Nghiêu điển, vua Vũ nối vua
Thuấn thì có thiên Thuấn điển. Từ đời Hạ, Thương trở về sau, từ đời Tống, Minh trở về
trước, người làm chủ thiên hạ, phàm những chính sự hay, lời nói tốt của các vua trước,
thì vua sau đều phảng phất như có trông thấy nghe thấy cả, mà ghi chép lại, để thuật lại
công tốt của vua trước truyền lại cho con cháu về sau mãi mãi.
Bản triều ta, thánh thần truyền nối, mưu xa để lại từ trước. Thế tổ Cao hoàng đế ta : lấy
vũ công mà bình định thiên hạ, lấy giáo hoá mà trong nước được thái bình, quy mô sáng
nghiệp và thủ thành đã rõ ràng lại đầy đủ.
Thánh tổ Nhân hoàng đế ta : đức tốt sánh với đời trước, làm thêm rực rỡ công người xưa.
Năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], đầu tiên mở ra Sử quán, sai quan sử thần làm bộ Thực lục
về Liệt thánh((1) Chỉ các chúa Nguyễn trước đời Gia Long.1) và Thế tổ Cao hoàng đế, chia
làm Tiền biên và Chính biên ; cân nhắc ý nghĩa và điều lệ, để làm khuôn phép cho nghìn
muôn đời sau.
Hiến tổ Chương hoàng đế ta : nối theo chí của tổ tiên, lại đặt thêm Sử cục để làm bộ Thực
lục Chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, định thêm chương trình để sáng tỏ hơn lên.
Năm Thiệu Trị thứ 4 [1844], bộ Thực lục Tiền biên về Liệt thánh làm xong, đã đem khắc in

để làm gương mẫu cho sau này.
Hoàng thượng ta : kính theo trị đạo của đời trước, làm tỏ rạng thêm văn giáo. Năm Tự
Đức thứ 1 [1848], bộ Thực lục Chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế làm xong ; năm thứ 14
[1861], bộ Thực lục Chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế cũng làm xong, đã lần lượt
được đưa ra khắc in và cất vào kho sách của nhà vua rồi.


Công đức rực rỡ của tổ tông ta đã thấy rõ ở trong các Tiền kỷ((2) Tức là Thực lục Tiền
biên2) và Chính biên ghi chép, gương soi quý báu đã nêu ra rõ rệt, thế đạo rực rỡ mỗi
ngày một mới.
Kính nghĩ : Hiến tổ Chương hoàng đế ta : ý tứ tự nhiên như vua Đường Nghiêu, lòng
thường cố gắng như vua Văn vương. Nơi nhạc phủ vịnh câu “tứ trùng”((3) Tứ trùng : Bốn
sự thêm lên : nhật trùng quang, nguyệt trùng luân, tinh trùng huy, hải trùng nhuận, nghĩa
là Mặt Trời vốn đã sáng lại sáng thêm, Mặt Trăng vốn đã sáng lại có vành sáng thêm, sao
vốn đã sáng lại sáng tỏ thêm, biển vốn đã thấm nhuần lại thấm nhuần thêm.3), lòng trời
đã chọn người đức lớn ; trong Cơ trù((4) Cơ trù : Chín trù của Cơ tử trong thiên Hồng
phạm, Kinh Thư.4) nêu lên “ngũ thuỷ”((5) Ngũ thuỷ : Năm sự bắt đầu. Trong kinh Xuân
thu chép rằng : “Nguyên niên, xuân vương chính nguyệt, công tức vị” nghĩa là năm thứ
nhất, mùa xuân, tháng giêng của nhà vua, ông ẩn công nước Lỗ lên ngôi. Thì “Nguyên” là
bắt đầu của khí, “Xuân” là bắt đầu của bốn mùa, “vương” là bắt đầu chịu mệnh nhà vua,
“chính nguyệt” là bắt đầu ban ra chính giáo, “công tức vị” là bắt đầu làm vua một nước.
Nghĩa này là nghĩa trong kinh Xuân thu. Không rõ sao lại gọi là cơ trù.5), đức trung chính
nối giữ ngôi trời. Việc lễ, nhạc, hình, chính, phép cũ tuân theo ; việc tu, tề, trị, bình, đức hay
rất mực. Chay sạch kính thờ thượng đế, chăm chú hằng ngày ; hiếu thảo đối với Từ cung,
sớm khuya thăm hỏi. Rất trọng đãi các vị phiên vương có tuổi, thế là lấy ân mà hoà mục
với họ hàng ; không gọi tên các bậc sư phó hiền tài, thế là lấy lễ mà đối với người dưới.
Kính sợ những điềm trời răn bảo, rộng đường dư luận, cầu người trực ngôn ; khuyên
thiên hạ chăm chỉ nghề nông, mở Vụ Bản đường để trọng nghề gốc. Sự đau khổ của dân
gian đều xét thấu, việc nào hại thì bỏ đi, việc nào lợi thì quyết làm ; xét công quá của quan
chức được công bằng, kẻ có tội thì trừng trị, kẻ có công thì khuyến khích. Khoa Hương,

khoa Hội, thịnh điển, được mở rộng ra ; xá tội xá tô, chiếu Chỉ thường thường ban xuống.
Làm ra Hội điển, để pháp độ nhà vua được đầy đủ ; làm thành văn quy, để đạo học Nho
giáo được rõ thêm. Lời hoàng huấn ban ra, tỏ bày đức tốt, phép thuỷ trận đặt mới, nối
theo võ công. Đặt bài ngâm, câu vịnh để nói ra tính tình, đều giống như các thiên Nhã,
Tụng của nhà Thương, nhà Chu thuở trước ; có Tiên tập, Hậu tập, để giải nghĩa Kinh Dịch,
chẳng khác gì các thứ bào, phù((1) Bào, phù : tức là Hà đồ, Lạc thư (đồ của sông Hà nét
chữ của sông Lạc).1) của sông Hà, sông Lạc ngày xưa. Chính trị, giáo hoá, thấm khắp


trong nước nhà ; oai hùng, đức độ đến cả nơi xa tít. Sai quân đi đánh Xiêm La xa cách, là
lấy chính nghĩa mà hỏi tội kẻ thù ; rộng lượng vỗ về Chân Lạp gần kề, là lấy lòng nhân mà
thân yêu nước nhỏ. Trong 7 năm trù tính thay trời làm việc, cách sửa sang giúp đỡ đều
hợp nghi ; cả muôn việc mở mang, vì nước lo toan, mọi tác dụng giãn co đều đúng mức.
Được thịnh trị bởi ở người trên điều khiển, thế mới biết người làm ra là thánh, người noi
theo là hiền minh ; những trị đạo chép trong sử sách lưu truyền, thực đúng câu người
dựng lên không trái, người khảo lại không lầm lẫn.
Kính nghĩ : Hoàng thượng, cố gắng để đức tốt sánh với trời trước, làm sáng tỏ công
nghiệp của người xưa. Nghĩ rằng : Những đức chính tốt, lời nói hay của các đời trước có
thể làm khuôn phép cho thiên hạ, mà mưu hay của các đời trước có thể nêu lên tiếng tốt
cho muôn đời về sau mãi mãi.
Lũ chúng tôi kính cẩn chiểu theo công việc từ năm Thiệu Trị thứ nhất [1841] đến năm thứ
7 [1847], biên chép từng việc, lần lượt tâu lên, đã được xét định. Về những tâm pháp và trị
pháp, đức to công lớn của tiền thánh, tỏ rõ như sao sáng, như Mặt Trời. Nay xin đem bản
mẫu bộ Thực lục Chính biên Đệ tam kỷ về đức Hiến tổ Chương hoàng đế hiện đã làm xong,
được chuẩn cho chọn ngày tốt khởi công khắc in, để hoàn thành điển chương to lớn này,
mà nêu rõ công liệt giáo hoá tốt đẹp của tiền thánh, tỏ rõ lòng hiếu của Hoàng thượng ta
đã noi theo ý chí và công việc của đời trước, truyền lại về sau mãi mãi. Lũ chúng tôi xiết
nỗi trông ngóng.
Kính tâu.
Đề : Tự Đức năm thứ 30 [1877], tháng 11, ngày mồng 3.

[Lời phê] : Chuẩn y lời tâu, chọn ngày tốt, kính cẩn khởi công làm.
Lũ chúng tôi là :
Trần Tiễn Thành


Lê Bá Thận
Phạm Huy Bính.

[II]
Lũ chúng tôi : Quốc sử quán Tổng tài, Phó tổng tài và Toản tu, kính cẩn tâu về việc bộ
Thực lục Chính biên về đức Hiến tổ Chương hoàng đế đã khắc in xong.
Gỗ khắc bản in nêu lên vẻ sáng ; lụa để bọc sách, tỏ rõ điềm hay. Lũ chúng tôi rất vui
mừng, kính xin dâng biểu kèm theo bộ sách này tiến lên.
Kính nghĩ : ngôi báu tự trời mở ra, cơ nghiệp như núi vững, đá bền còn mãi ; hòm sách
thức mây rực rỡ, vẻ sáng của sao Khuê, sao Bích tỏ thêm. Điển lớn huy hoàng, chứng cứ rõ
rệt.
Lũ chúng tôi thiết nghĩ : trị nước có quy mô to lớn, dù thánh trước, thánh sau, trị đạo chỉ
có một thôi ; làm sử chép công việc đương thời, nêu tâm pháp, trị pháp, truyền thụ về sau
bởi đó. Sách của nhà Đường, nhà Ngu lấy chữ “điển”((1) Thí dụ : Nghiêu điển, Thuấn điển
trong Kinh Thư.1) mà gọi, là có ý nêu lại điển chương cho đời sau ; sử của đời đế, đời
vương lấy chữ “kỷ”((2) Thí dụ : Ngũ đế kỷ, Hạ kỷ trong Sử ký.2) đặt tên, là có ý để lại kỷ
cương cho con cháu. Kịp đến hai nhà Hán và các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh
nối nhau trỗi dậy, và đến các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê nước ta nối nhau dấy lên, tuy
rằng chính trị có thuần hay bác ((3) Thuần : chính trị toàn theo vương đạo. Bác : chính trị
có tham tạp về bá đạo.3) khác nhau, thế vận có xưa hay nay không giống, nhưng đời nào
dấy lên, đều có sử sách riêng của đời ấy. Cho nên, nghìn năm về sau có thể tìm biết được
công việc của nghìn năm về trước. Huống chi gặp lúc vận hội đương hưng thịnh, trị đạo
đã thái bình, có thể góp lại những điều truyền tâm cốt yếu của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang,



Văn, Vũ, đã sánh được với Ngũ đế, lại hơn cả tam vương, tóm suốt những việc chép về trị
đạo của Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu, theo sáu kinh cũ, thêm sử là bảy, như ngày nay !.
Bản triều ta, thánh thần truyền nối, ơn trạch dày sâu ; nghiệp vua gây mới cơ đồ, lòng trời
mở ra thịnh trị. Thế tổ Cao hoàng đế ta, hợp các khí thiêng, bói đã được tốt ; thừa thời mở
vận giữ cơ đồ ; làm xong công việc sáng nghiệp thủ thành, quy mô riêng biệt ; dùng cả văn
hoá, chất phác, điển tắc rõ ràng. Có người trước mở ra, để đời sau được thịnh.
Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, khéo nối chí hướng của người xưa, trị đạo được thịnh ; sáng
thêm công liệt của đời trước, đức tốt thêm lên. Mưu xa để yên người sau, lâu dài truyền
nối ; tô điểm thái bình thêm đẹp, rạng rỡ thành công. Tốt đẹp thay ! Bộ Thực lục Chính
biên về đức Hiến tổ Chương hoàng đế, tự khi vâng mệnh biên chép đến nay, hằng được
nhà vua dạy bảo, đã nghiêm hạn để kích lệ kẻ lười biếng, lại khoan dung để mong được
chóng thành công. Khi lũ chúng tôi biên chép đã trọn bộ, kính đem những bản mẫu cộng
92 quyển dâng trình, gián hoặc có chỗ nào sai nhầm, đã được phán bảo cho tra kỹ đổi lại,
bổ sung, chắc rằng, mọi việc chép được đúng sự thực, lời văn chép có đủ chứng minh ;
khuôn phép to lớn đã được rõ ràng đầy đủ.
Chúng tôi nghĩ : sau khi nước nhà vận mở thái bình, nhân văn ngày một to rõ, thế đạo
ngày một tiến lên ; tô điểm cho thái bình, chính là lúc này.
Kính nghĩ : Hiến tổ Chương hoàng đế ta, nhân được vận thái bình thịnh trị, lấy việc rõ đức
sáng nêu công trước làm lòng. Việc lễ, nhạc, binh, hình, đều theo phép cũ ; việc tu, tề, trị,
bình, cầu đến mức hay. Kính thờ cung Từ Ninh, là dốc lòng hiếu thảo bề thân đó ; trọng
đãi các phiên vương già, là dạy việc hoà mục họ hàng đó. Về sự kính trời, thì ban chiếu cầu
người nói thẳng ; về lòng thương dân thì Vụ Bản đường được mở ra. Hoàng huấn ban
xuống, sử luận ban cho, mà giáo hoá được thấm khắp ; thuỷ trận đặt ra, thân đến xem
tập, mà võ bị được nghiêm minh. Còn như, nước Chân Lạp vào phe đảng với nước Xiêm,
gây sự quấy nhiễu, thì lấy binh mà trừng trị, dùng ân đức để vỗ về ; việc binh nhung đã
xong, nơi biên cảnh yên tĩnh. Thịnh đại biết là nhường nào ! Trong khoảng 7 năm, đạo hoá
thấm khắp, Phước trời hưởng nhiều ; thời tiết thuận hoà, hằng năm được mùa. Số hộ


khẩu mỗi năm tăng lên ; việc hình phạt mỗi ngày giảm bớt ; trí trị tốt đẹp, thành công rỡ

ràng. Trên có thể làm vẻ vang cho quy mô rực rỡ, công nghiệp đáng nối theo của thời đại
thái bình, để lại Phước tốt cho người sau, là nhờ được nhà vua có ý chu chuân sai bọn nho
thần tu sửa ra bộ sử này. Bắt đầu từ năm Tân Sửu [1841] đến tháng 9 năm Đinh Mùi
[1847], việc chép được đúng mà văn đủ làm bằng chứng, khởi công từ năm Kỷ Dậu [1849]
đến mùa đông Đinh Sửu [1877] biên tập đã xong mà pho sử đáng tin. Thấy rằng : tiếng tốt
công cả của tiên đế, lồng lộng như trời, khó nói ra hết ; còn để lại ở trong sử sách quý báu,
rành rành từng việc, đáng nên chép ghi ; làm xong điển chương quý báu này, sẽ cùng với
hai kỷ thứ nhất, thứ hai((1) Tức là Đệ nhất kỷ chép về Gia Long và Đệ nhị kỷ chép về Minh
Mệnh.1) cùng lưu truyền mãi mãi, dùng làm bộ sách để lại về sau, dù đến nghìn muôn năm
vẫn như ngày nay.
Lũ chúng tôi, lạm dự trong bọn sử thần chép sử, chưa đáng vào hạng cầm bút chép biên ;
làm kỷ truyện, làm biên niên, công phu dám kể đâu khó nhọc ; nào chắp lời, nào so việc,
nghĩa lệ theo nhà vua bảo ban. Vâng theo mệnh trên, cố đáp lại để tuyên dương đức ý ;
thấy in xong sách, rất hoan hỉ mà dâng lời chúc mừng. Cúi mong nhà vua, ghi nhớ lời
huấn thị của tổ tiên, làm theo điển chương đã có từ cũ ; nên tôn trọng những điều nghe
thấy, đem lòng người làm lòng mình ; lấy kính cẩn làm nơi tựa nương, để thịnh trị lại
thịnh trị hơn nữa. Sáng thêm đức sáng, có dân có chúng ban cho tự trời, giữ vững cơ đồ,
bói đời, bói năm, được quá lịch số.
Lũ chúng tôi xiết nỗi trông ngóng vui mừng kính xin đem bộ Thực lục Đệ tam kỷ 72 quyển,
mục lục 2 quyển, cộng 74 quyển, vừa mới in xong lần này dâng lên và kèm theo tờ biểu
tâu lên.
Đề : Tự Đức năm thứ 32 [1879] tháng 7, ngày mồng 4.
[Lời phê] : Xem rồi.
Lũ chúng tôi là :


Trần Tiễn Thành
Đỗ Đăng Đệ
Đặng Văn Kiều
Nguyễn Khuyến

Trần Khánh Tiến

phàm lệ
1. ((1) Đầu mỗi khoản trong Phàm lệ, nguyên thư đều nêu là chữ “nhất”. Đây chúng tôi
đánh số thứ tự từ 1 đến 14 cho tiện phân biệt.1) Trong Bản kỷ này tự năm thứ nhất
[1841] trở về sau, có chia ra, chua niên hiệu nhà Thanh ở dưới, là để làm tài liệu tham
khảo.
2. Chép việc gì thì biên tháng liền với mùa, mùa liền với năm. Các việc thường không chép
ngày làm, duy có việc gì to tát phải cẩn thận mới chép ngày.
3. Các lễ : tế Giao, cúng ở Tôn miếu, yết cáo các lăng là những việc tối trọng, năm nào cũng
chép ; còn như các lễ chầu, mừng, ban sóc, đều chỉ chép lần đầu, còn sau không chép nữa.
4. Đầu xuân duyệt binh, giữa mùa hạ cày ruộng tịch điền, là việc quan trọng, thì năm nào
cũng chép ; gián hoặc bận có việc gì thì chép là hoãn việc duyệt binh, và chép là sai quan
đi cày thay ruộng tịch điền.
5. Các việc to như lễ, nhạc, hình, chính, tên quan chức và chế độ, hễ việc gì mới làm ra thì
chép là “sơ” [bắt đầu], nếu sau có đổi lại thì chép là “cải” [đổi lại], nhân cũ đã có rồi mà
làm cho rõ thêm ra thì chép là “thân định” [định thêm cho rõ ra].


6. Phàm việc gì có Chỉ dụ của vua thì là mệnh lệnh, là định lệ và là chuẩn y lời tâu, còn từ
sau cứ theo lệ mà làm thì đều chép là “chuẩn định”.
7. Các chương sớ của trong Kinh và ngoài các tỉnh tâu lên đã được Chỉ vua chuẩn y đều
chép cả, duy có việc gì nhỏ nhặt thì lược đi.
8. Việc gì có quan hệ đến điển lệ thì những điều khoản, số mục, đều chép đủ cả, và chia ra
chua rõ, là để cho rõ sự thực.
9. Việc gì chép có đầu đuôi nối liền với nhau, thuộc về việc trước thì dùng những chữ “sơ”
[khi trước], “tiên thị”
những chữ “tầm”

[trước đây], “chí thị”


[rồi], “cập”

[đến đây], thuộc về việc sau thì dùng

[kịp đến] để cho phân biệt.

10. Các hoàng đệ, hoàng tử và công chúa được tấn phong tước hiệu đều chép cả.
11. Quan văn từ tứ phẩm trở lên, quan võ từ tam phẩm trở lên được bổ thụ chức hàm gì
đều chép cả ; duy có đốc học là chức giữ việc học cả một tỉnh, tuy mới ngũ phẩm cũng
chép. Còn thì tuỳ việc mới chép.
12. Các thân công, hoàng đệ, thái, trưởng công chúa ai mất đi, đều chép là “hoăng” [chết].
13. Quan văn từ tứ phẩm ấn quan, quan võ từ tam phẩm lãnh binh trở lên, có ai mất đi,
đều chép là “tất” [chết]. Quan văn từ tứ phẩm, quan võ từ tam phẩm trở xuống, người nào
có công lao, tài năng hay tiết liệt, sau khi chết được tuất, tặng cũng chép. Chức đốc học,
khi chết, gián hoặc cũng chép là “tất” [chết] ; còn thì không chép.
14. Về tên người, tên đất, nếu gặp chữ huý phải kiêng thì đều đổi chữ khác ; duy có hai chữ
: bên tả bộ “mịch”
hữu chữ cộng

, bên hữu chữ “bạch”

[tức chữ “hồng”

[tức là chữ “miên”

] và bên tả bộ thuỷ : bên

], tuân theo trong sổ đặt tên, xin kính cẩn bớt đi một


nét, để tỏ ra có ý thận trọng. Còn thì đổi dùng chữ khác cả ; nhưng chỉ chua rõ một lần


đầu, còn sau khi đã chua rồi, thì chép thẳng ngay tên đổi lại sau này. Còn tên đất như ấp
An Long thuộc phủ Tây Ninh, theo dụ ở trước không đổi.
“Phàm lệ” của bộ Đại Nam thực lục Chính biên, Đệ tam kỷ đến đây là hết.

tổng mục ((1) Theo sự đóng sách, ký hiệu A.2772 (sách Thư viện Khoa học) thì Tổng mục
này đặt ngay sau Phàm lệ. Còn ký hiệu A.27 lại đặt ở sau mục Chức danh.1)
thực lục về hiến tổ chương hoàng đế

Quyển thứ 1 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 2 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 3 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng 2.
Quyển thứ 4 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng 2.
Quyển thứ 5 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng 3.
Quyển thứ 6: Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa xuân, tháng 3 nhuận.
Quyển thứ 7 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa hạ, tháng 4.
Quyển thứ 8 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa hạ, tháng 5.
Quyển thứ 9 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa hạ, tháng 6.
Quyển thứ 10 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa thu, tháng 7.


Quyển thứ 11 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa thu, tháng 8 đến tháng 9.
Quyển thứ 12 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa đông, tháng 10.
Quyển thứ 13 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa đông, tháng 11.
Quyển thứ 14 : Tân Sửu [1841], Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa đông, tháng 12.
Quyển thứ 15 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 16 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa xuân, tháng 2.
Quyển thứ 17 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa xuân, tháng 2.

Quyển thứ 18 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa xuân, tháng 3.
Quyển thứ 19 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa hạ, tháng 4.
Quyển thứ 20 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa hạ, tháng 5.
Quyển thứ 21 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa hạ, tháng 6.
Quyển thứ 22 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa thu, tháng 7.
Quyển thứ 23 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa thu, tháng 8.
Quyển thứ 24 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa thu, tháng 9.
Quyển thứ 25 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa đông, tháng 10.


Quyển thứ 26 : Nhâm Dần [1842], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa đông, tháng 11 đến tháng
12.
Quyển thứ 27 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 28 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa xuân, tháng 2.
Quyển thứ 29 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa xuân, tháng 3.
Quyển thứ 30 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa hạ, tháng 4.
Quyển thứ 31 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa hạ, tháng 5 đến tháng 6.
Quyển thứ 32 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa thu, tháng 7.
Quyển thứ 33 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa thu, tháng 8 đến tháng 9.
Quyển thứ 34 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ ba, mùa đông, tháng 10 đến tháng 11.
Quyển thứ 35 : Quý Mão [1843], Thiệu Trị năm thứ hai, mùa đông, tháng 12.
Quyển thứ 36 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa xuân, tháng giêng đến tháng
2.
Quyển thứ 37 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa xuân, tháng 3.
Quyển thứ 38 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa hạ, tháng 4.
Quyển thứ 39 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa hạ, tháng 5 đến tháng 6.
Quyển thứ 40 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa thu, tháng 7.


Quyển thứ 41 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa thu, tháng 8.

Quyển thứ 42 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa thu, tháng 9.
Quyển thứ 43 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa đông, tháng 10.
Quyển thứ 44 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa đông, tháng 11.
Quyển thứ 45 : Giáp Thìn [1844], Thiệu Trị năm thứ tư, mùa đông, tháng 12.
Quyển thứ 46 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa xuân, tháng giêng đến tháng 2.
Quyển thứ 47 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ
tháng 4.
Quyển thứ 48 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa hạ, tháng 5 đến tháng 6.
Quyển thứ 49 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa thu, tháng 7 đến tháng 8.
Quyển thứ 50 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa thu, tháng 9.
Quyển thứ 51 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa đông, tháng 10.
Quyển thứ 52 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa đông, tháng 11.
Quyển thứ 53 : ất Tỵ [1845], Thiệu Trị năm thứ năm, mùa đông, tháng 12.
Quyển thứ 54 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 55 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa xuân, tháng 2.


Quyển thứ 56 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ
tháng 4.
Quyển thứ 57 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa hạ, tháng 5.
Quyển thứ 58 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa hạ, tháng 5 nhuận.
Quyển thứ 59 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa hạ, tháng 6.
Quyển thứ 60 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa thu, tháng 7 đến tháng 8.
Quyển thứ 61 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa thu tháng 9 đến mùa đông
tháng 10.
Quyển thứ 62 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa đông, tháng 11.
Quyển thứ 63 : Bính Ngọ [1846], Thiệu Trị năm thứ sáu, mùa đông, tháng 12.
Quyển thứ 64 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa xuân, tháng giêng.
Quyển thứ 65 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa xuân, tháng 2.
Quyển thứ 66 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa xuân, tháng 3.

Quyển thứ 67 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa hạ, tháng 4.
Quyển thứ 68 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa hạ, tháng 5.
Quyển thứ 69 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa hạ, tháng 6.


Quyển thứ 70 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa thu, tháng 7.
Quyển thứ 71 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa thu, tháng 8.
Quyển thứ 72 : Đinh Mùi [1847], Thiệu Trị năm thứ bảy, mùa thu, tháng 9.

[chức danh]
Vâng sắc Chỉ của vua cho chép rõ các quan chức tên họ những viên (sung vào làm bộ Thực
lục Đệ tam kỷ) này : (từ năm Tự Đức thứ 29 [1876] trở về trước đã từng tiết thứ sửa
làm).
Tổng tài :
Cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần chính điện Đại học sĩ, quản lý Binh bộ sự vụ, sung Cơ
mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Khâm thiên giám, Tuy Thịnh
quận công, thần : Trương Đăng Quế.
Văn minh điện Đại học sĩ, lĩnh Binh bộ Thượng thư, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm quản
Khâm thiên giám sự vụ, sung Kinh kỳ hải phòng sứ, thần : Trần Tiễn Thành.
Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Hộ bộ Thượng thư, kiêm lĩnh Quốc tử giám, sung Cơ mật viện đại
thần, thần : Phan Thanh Giản.
Phó tổng tài :
Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, thần : Lâm Duy Thiếp.
Thự Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, thần : Lê Bá Thận.


Hình bộ Thượng thư, sung Kinh diên nhật giảng quan, kiêm biện Khâm thiên giám sự vụ,
thần : Trương Quốc Dụng.
Thự Hình bộ Thượng thư kiêm quản Quốc tử giám, thần : Phan Huy Vịnh.
Tham tri quyền lĩnh Lại bộ Thượng thư, thần : Nguyễn Tư Giản.

Hình bộ Tả tham tri quyền sung Thương bạc, thần : Lê Tuấn.
Toản tu :
Lễ bộ Tả tham tri : Tô Trân
Lễ bộ Hữu tham tri kiêm quản Hàn lâm viện ấn triện, thần : Phạm Hữu Nghi
Công bộ Hữu tham tri kiêm quản Đô sát viện ấn triện, thần : Phạm Chi Hương
Thự Lại bộ Tả tham tri, thần :
Hàn lâm viện Trực học sĩ, thần :

Bùi Quỹ
Vũ Phạm Khải

Quang lộc Tự khanh, biện lý Hình bộ sự vụ, thần :

Phạm Huy

Hồng lô Tự khanh, thần :

Lê Lượng Bạt

Hồng lô Tự khanh, thần :

Bùi Sĩ Tuyển

Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, thần :
Thự Hồng lô Tự khanh, thần :

Phạm Huy Bính
Phạm Huy



Thự Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, thần :

Nguyễn Phong

Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, thần :

Đặng Văn Kiều

Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, thần :

Phạm Quý Đức

Lĩnh Quang lộc Tự khanh, thần :
Hồng lô tự thiếu khanh, thần :

Trần Liên Huy
Phan Văn Nhã

Biên tu :
Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, thần : Vũ Văn Tuấn
Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, thần : Phan Đình Dương
Hàn lâm viện Thị độc, thần :
Hàn lâm viện Thị độc, thần:

Nguyễn Huy Lịch
Phan Lịch

Hàn lâm viện Thị độc, thần :

Hoàng Tịch


Hàn lâm viện Thị giảng, thần :

Nguyễn Huy Huỳnh

Hàn lâm viện Thị giảng, thần :

Cát Văn Tuỵ

Hàn lâm viện Thị giảng, thần :

Nguyễn Viện

Hàn lâm viện Thị giảng, thần :

Lê Ky

Thự Hàn lâm viện Thị giảng, thần :

Trịnh Xuân Thưởng


Hàn lâm viện Thừa chỉ, thần :

Tô Đăng

Hàn lâm viện Trước tác, thần :

Vũ Thấu


Hàn lâm viện Trước tác, thần :

Nguyễn Đăng Tuyển

Hàn lâm viện Trước tác, thần :

Vương Đình Chiểu

Hàn lâm viện Trước tác, thần :

Tạ Khắc Quản

Hàn lâm viện Trước tác, thần :

Lê Danh Lâm

Hàn lâm viện Tu soạn, thần :

Đặng Long Đống

Hàn lâm viện Tu soạn, thần :

Phan Danh

Hàn lâm viện Tu soạn, thần :

Nguyễn Hiển

Hàn lâm viện Tu soạn, thần :


Lã Năng Hoằng

Hàn lâm viện Tu soạn, thần :

Trần Huy Sán

Khảo hiệu :
Hàn lâm viện Biên tu, thần :

Nguyễn Văn Lương

Hàn lâm viện Điển tịch, thần :

Nguyễn Hữu Dực

Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Tôn Thất Thụ


Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Nguyễn Khắc Lý

Hàn lâm viện Điển bạ, thần:

Cao Duy Tự

Hàn lâm viện Điển bạ, thần :


Hồ Sỹ Đĩnh

Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Nguyễn Văn Dương

Chánh cửu phẩm hàm, thần :

Trương Hữu Tự

Chánh cửu phẩm hàm, thần :

Phạm Quang Khản

Chánh cửu phẩm hàm, thần :

Hồ Điện

Hàn lâm viện Cung phụng, thần :

Phan Huy Khiêm

Hàn lâm viện Cung phụng, thần :

Phạm Duy Lộc

Hàn lâm viện Cung phụng, thần :

Lê Văn Tuyển


Hàn lâm viện Cung phụng, thần :

Lưu Dao

Đằng lục :
Chánh bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Trương Giảng

Chánh bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Nguyễn Văn Diên

Chánh bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Lê Văn Thi

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Trần Viết Khai


Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Lê Văn Chân

Hàn lâm viện Chánh cửu phẩm Bút thiếp thức, thần : Nguyễn Lý
Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Trần Quang Quýnh


Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Trần Huy

Thu chưởng :
Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần :

Tôn Thất Nghi

Hàn lâm viện Chánh bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Mai Văn Trí

Hàn lâm viện Chánh bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Nguyễn Diễm

Chánh bát phẩm, thần :

Đặng Văn Tài

Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Đặng Huy Trinh

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Hoàng Hữu Đường


Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Nguyễn Văn Dĩnh

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Nguyễn Hữu Thăng

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Bùi Xuân Hiển

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Hoàng Đức Trị


Tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần :

Phan Thứ

Chánh cửu phẩm Thư lại, thần :

Hoàng Hữu Trinh

Chánh cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Trương Vịnh

Chánh cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :


Lê Văn Tú

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Lê Văn Côn

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Lê Thanh

Tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần :

Đỗ Đoan

Chép thêm (từ năm Tự Đức thứ 30 [1877] đến năm thứ 32 [1879] tiết thứ làm nối tiếp) :
Phó tổng tài :
Thự Lễ bộ Thượng thư kiêm quản Quốc tử giám, thần : Đỗ Đăng Đệ
Toản tu :
Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, thần :

Đặng Đức Địch

Hàn lâm viện Thị độc, thần :

Nguyễn Khuyến

Hàn lâm viện Thị độc, thần :

Trần Khánh Tiến


Biên tu :
Hàn lâm viện Thị độc, thần :

Nguyễn Liên


Hàn lâm viện Trước tác, thần : Nguyễn Quán
Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần : Nguyễn Hữu Chỉnh
Khảo hiệu :
Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Nguyễn Du

Hàn lâm viện Đãi chiếu, thần : Nguyễn Văn Bính
Thu chưởng :
Hàn lâm viện Điển bạ, thần :

Vũ Đức Vọng

chính biên
Đệ tam kỷ - Quyển i
Thực lục về hiến tổ chương hoàng đế
Hiến tổ Thiệu thiên Long vận, Chí thiện Thuần hiếu, Khoan minh Duệ đoán, Văn trị Vũ
công, Thánh triết Chương hoàng đế.
Tên huý là [Miên Tông,

], lại huý là [Tuyền

] tên tự là... sinh ngày Nhâm Tí, 11 tháng


5, năm Đinh Mão, Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long năm thứ 6 (Thanh, Gia Khánh năm thứ
12) [1807], là con trưởng của Thánh tổ Nhân hoàng đế. Mẹ là Thuận đức Nhân hoàng
hậu họ Hồ, sinh nhà vua ở ấp Xuân Lộc phía đông Kinh thành (sau này lập lên chùa Diệu
Đế ở ngay chỗ đất ấy).


Vua sinh ra được 13 ngày thì mẫu hậu mất, vua khóc thương mãi không thôi, Thuận thiên
Cao hoàng hậu đem về nuôi ở trong cung. Thế tổ Cao hoàng đế đến thăm, mừng, nói : “Trẻ
con mới sinh ra mà biết khóc thương, là tính trời sinh, ngày sau thế nào cũng giữ trọn đạo
hiếu”. ẵm đến, Thế tổ phán cho lấy chữ về bộ “nhật” ¤é để đặt tên.
Đầu năm Minh Mệnh, đến nhà học đọc sách. Thánh tổ Nhân hoàng đế dụ bảo cho biết đạo
trị nước, bình thiên hạ cốt ở chí thiện của sách Đại học ; nhân thể đặt tên cho nhà học ấy
là Chỉ Thiện đường. Năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], sách phong là Trường Khánh công.
Năm thứ 17 [1836], tháng 8, vâng tỷ thư kiêm nhiếp chức Tôn nhân phủ Tả tôn chính giữ
việc định chương trình, chính phả hệ, ban giáo lệnh, xếp đặt tước lộc, nêu ra những người
liêm khiết tài năng, đức tốt ở Tôn nhân phủ mỗi ngày một nổi tiếng.
Vua là người thông minh nhân hiếu, được vua cha yêu quý đặc biệt. Mỗi khi nhân có việc
tế Giao, đem tên vua mật cáo với trời để xin trời trao mệnh lớn cho vua. Thế là việc quan
trọng của Xã Tắc đã được định trước rồi.
[Minh Mệnh] năm thứ 21, ngày 19, Thánh tổ se mình, cho gọi vua vào hầu ; ngày 28, gọi
vua đến trước giường ngự, Thánh tổ cầm lấy tay vua bảo cho biết là được nối ngôi. Ngày
hôm ấy, Thánh tổ Nhân hoàng đế mất. Quần thần dâng bản tâu lên cung Từ Thọ biết.
Vâng dụ Chỉ của cung Từ Thọ, quần thần dâng biểu khuyến tiến. Vua mới lên ngôi, nối
nghiệp lớn.
Tân Sửu, Thiệu Trị năm thứ 1 [1841] (Thanh Đạo Quang năm thứ 21) mùa xuân, tháng
giêng (từ ngày 19 tháng ấy về trước, là năm Minh Mệnh thứ 22 ; từ ngày 20 trở về sau, là
năm Thiệu Trị thứ 1).
Ngày Đinh Hợi, đem lệnh Chỉ bá cáo trong ngoài rằng : Minh Mệnh năm thứ 21 [1840],
tháng 12, ngày 19, buổi chiều, đức Đại hành hoàng đế((1) Chỉ Minh Mệnh. Theo lễ giáo

phong kiến, khi một vua mới chết, chưa đặt tên thuỵ hoặc miếu hiệu thì gọi là Đại hành
hoàng đế.1) se mình, cho gọi hoàng tử, các tước công và Cơ mật viện đại thần là Trương
Đăng Quế cùng vào hầu ở điện Quang Minh. Đại hành hoàng đế diện dụ Trương Đăng Quế


×