ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÙI THANH TUYÊN
HIỆN TƢỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP
VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN
PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÙI THANH TUYÊN
HIỆN TƢỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP
VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN
PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc
sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: “Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập
của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt”. Để hoàn thành được luận
văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự dạy bảo,
động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Văn Lộc - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Ngữ
văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy
giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã
tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân, xin
cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thanh Tuyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Bùi Thanh Tuyên
XÁC NHẬN
CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN
XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
Nguyễn Văn Lộc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................ii
MỤC LỤC ........................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN .............................................................................. 8
1.1 Một số vấn đề chung về câu ........................................................................ 8
1.1.1 Khái niệm câu ....................................................................................... 8
1.1.2 Câu và phát ngôn .................................................................................. 9
1.1.3 Vị trí của câu trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp ............................ 10
1.1.4 Khái quát về các bình diện của câu .................................................... 13
1.1.5 Bình diện cú pháp của câu .................................................................. 14
1.1.6 Bình diện nghĩa biểu hiện của câu ...................................................... 22
1.1.7 Bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp) của câu ................................. 24
1.2 Khái niệm biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần câu .. 28
1.2.1 Khái niệm biệt lập cú pháp ................................................................. 28
1.2.2 Khái niệm biến thể và biến thể biệt lập của các thành phần câu ........ 30
1.2.3 Các nhân tố chi phối sự biệt lập cú pháp ............................................ 31
1.2.4 Các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần câu ............................. 32
1.3 Tiểu kết chương 1 ...................................................................................... 33
Chƣơng 2. BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CHỦ NGỮ VÀ BỔ NGỮ.............. 35
2.1 Nhận xét chung .......................................................................................... 35
2.2 Biến thể biệt lập của chủ ngữ .................................................................... 36
2.2.1 Các kiểu biến thể biệt lập của chủ ngữ ............................................... 36
2.2.2 Biến thể biệt lập đơn thuần về hình thức của chủ ngữ ....................... 37
2.3 Biến thể biệt lập của bổ ngữ ...................................................................... 52
2.3.1 Vấn đề xác định vị trí cơ bản và các kiểu biến thể của bổ ngữ .......... 52
2.3.2 Các kiểu biến thể biệt lập của bổ ngữ................................................. 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
2.4 Tiểu kết chương 2 ...................................................................................... 65
Chƣơng 3. BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA TRẠNG NGỮ VÀ ĐỊNH NGỮ ... 66
3.1 Nhận xét chung .......................................................................................... 66
3.2 Biến thể biệt lập của trạng ngữ .................................................................. 66
3.2.1 Vài nét về các biến thể của trạng ngữ................................................. 66
3.2.2 Các biến thể biệt lập về hình thức của trạng ngữ ............................... 71
3.3 Biến thể biệt lập của định ngữ ................................................................... 79
3.3.1 Vấn đề xác định vị trí cơ bản của định ngữ ........................................ 79
3.3.2 Các kiểu biến thể biệt lập của định ngữ ............................................. 81
3.4 Tiểu kết chương 3 ...................................................................................... 88
Chƣơng 4. BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÂU XÉT
VỀ MẶT CÚ PHÁP GIAO TIẾP (NGỮ DỤNG) ........................................... 89
4.1 Vài nét về cú pháp giao tiếp ...................................................................... 89
4.2 Tác dụng của các biến thể biệt lập đối với việc xác lập chủ đề, liên kết
chủ đề và tạo chủ đề tương phản ..................................................................... 92
4.3 Tác dụng nhấn mạnh.................................................................................. 96
4.4 Tính đơn phong cách của một số biến thể biệt lập của các thành phần câu .. 100
4.5 Tiểu kết chương 4 .................................................................................... 103
KẾT LUẬN....................................................................................................... 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 107
NGUỒN TƢ LIỆU TRÍCH DẪN ................................................................... 111
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Câu với tư cách là đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ vốn có tính trừu
tượng. Mô hình cú pháp của câu (câu mô hình) được hiện thực hoá trong lời nói
thành những câu cụ thể thường có những biến đổi nhất định do sự chi phối của
nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ.
Để tạo ra câu cụ thể, người nói phải kết hợp các đơn vị nhỏ hơn là từ với nhau
theo những quy tắc ngữ pháp nhất định. Từ những mô hình cấu trúc cú pháp
mang tính trừu tượng, khái quát và hữu hạn, có thể tạo ra vô hạn số lượng các
câu cụ thể, tùy vào mục đích của người sử dụng. Trong những câu cụ thể đó,
các thành tố cấu tạo câu hay các thành phần câu có thể bị tách biệt về vị trí, về
ngữ điệu với các thành phần hữu quan. Hiện tượng đó được gọi là hiện tượng
biệt lập cú pháp của các thành phần câu.
Hiện tượng biệt lập về cú pháp của các thành phần câu là hiện tượng phổ
biến của mọi ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Tuy nhiên, trong những ngôn
ngữ khác nhau, hiện tượng này lại mang những đặc điểm khác nhau. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu và chỉ ra đặc điểm này trong một ngôn ngữ là điều cần
thiết và có ý nghĩa.
1.2 Trong tiếng Việt, hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần phụ
của câu đã được đề cập rải rác trong một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp
của các tác giả như Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Kim
Thản, Nguyễn Văn Lộc, Bùi Minh Toán… nhưng đều mới chỉ dừng lại ở mức
độ gợi mở, sơ lược, chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và
chuyên sâu.
1.3 Việc nghiên cứu hiện tượng biệt lập của các thành phần phụ của câu
có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn. Về lí luận, việc nghiên cứu vấn đề này sẽ
giúp làm rõ thêm lí thuyết về biệt lập cú pháp, về thành phần câu, đặc biệt là
các biến thể của thành phần câu trong lời nói và các nhân tố chi phối sự hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
thực hóa mô hình cú pháp của câu trong lời nói. Về mặt thực tiễn, kết quả
nghiên cứu đề tài này sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu
và dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Hiện tượng biệt
lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng
Việt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử ngôn ngữ học, câu là đơn vị ngữ pháp được nghiên cứu từ
rất sớm. Từ thời cổ đại đến nay, câu đã được các trường phái, các khuynh
hướng ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau.
Trong đó, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên
cứu về các thành phần câu.
Trong ngôn ngữ học nước ngoài, vấn đề biệt lập cú pháp và biến thể biệt
lập của các thành phần câu đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả khác nhau.
Chẳng hạn, trong cuốn Cú pháp tiếng Nga [55], tác giả E.M.Galkina Phêđôruk đã dành hẳn một mục để miêu tả về các thành phần thứ yếu biệt lập
của câu như định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ biệt lập.
Hiện tượng biệt lập cú pháp cũng được L.Tesnière đề cập tới khi bàn về
các diễn tố biệt lập của động từ. Theo quan điểm của L.Tesnière, trong câu,
những từ giữ vai trò diễn tố trong nút động từ có thể được lặp lại. Ví dụ: Le loup
a mangé l’ agneau (Con sói ăn thịt con cừu rồi). Cấu trúc này có biến thể lặp
diễn tố chủ thể và biến thể lặp diễn tố đối thể. Khi lặp diễn tố chủ thể, cấu trúc
trên sẽ có dạng như sau: Le loup, il a mangé l’ agneau (Con sói nó ăn thịt con
cừu rồi). Khi lặp diễn tố đối thể, cấu trúc sẽ trở thành: L’ agneau, le loup a
mangé il (Con cừu, con sói ăn thịt nó rồi). L.Tesnière quan niệm khi có trường
hợp lặp lại diễn tố thì một trong hai diễn tố sẽ bị biệt lập về hình thức, tức là tách
biệt khỏi nút động từ bởi ngữ điệu mà trên văn tự được ghi bằng dấu phẩy. Diễn
tố bị tách biệt về hình thức được ông gọi là “diễn tố biệt lập” [56].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
Trong ngôn ngữ học Việt Nam, hiện tượng biệt lập về cú pháp của các
thành phần câu đã được đề cập đến trong công trình nghiên cứu của các tác giả
như Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Lộc
và một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp khác.
Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng các yếu tố trong khung câu ngoài vị
tố, chủ ngữ, tân ngữ, bổ ngữ... còn có biệt tố. Theo Diệp Quang Ban, “biệt tố là
những yếu tố không chịu sự ấn định của vị tố về mặt nghĩa, không trực tiếp
tham gia vào phần nghĩa chỉ sự thể trong câu chứa chúng, chúng không nằm
trong cấu trúc cú pháp của câu và chúng có quan hệ với nghĩa của toàn bộ
câu hoặc với nghĩa của yếu tố thích hợp trong câu” [4, Tr.74]. Tác giả chia
biệt tố thành bốn loại nhỏ, gồm phần thức (trong đó có phân biệt biểu thức tạo
thức Mood Expressions và yếu tố tình thái), phần gọi - đáp (Vocatives), phần
phụ chú (Parenthesis), phần cảm thán (Exlamation). Đồng thời, tác giả cũng
chỉ ra những chức năng cụ thể khác nhau của những kiểu biệt tố khác nhau.
Chẳng hạn, biệt tố tình thái tham gia vào việc tạo cấu trúc thức, biệt tố cảm
thán tạo nên tính tình thái cảm thán, biệt tố gọi - đáp tham gia vào việc thiết
lập và duy trì quan hệ giao tiếp... Diệp Quang Ban khẳng định: “Tôi coi các
biệt tố đều là thành phần của câu... Việc tách ra cái gọi là “biệt tố” cốt phân
biệt chúng với tư cách những yếu tố cú pháp không tham gia vào việc hình
thành nghĩa biểu hiện của câu với các gia ngữ là những yếu tố có tham gia
vào nhiệm vụ này”. [4, Tr.416].
Tuy nhiên, theo quan điểm của Đào Thị Vân, phần phụ chú không được
coi là thành phần câu. Mặc dù vậy, hiện tượng biệt lập cú pháp của phần phụ
chú (tạm thời chưa xét đến việc phần phụ chú có được coi là thành phần câu
hay không) là vấn đề đã được tác giả đề cập trong công trình Phần phụ chú
trong câu tiếng Việt [51].
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [46], các tác giả cũng đề cập đến tính
biệt lập của các thành phần câu. Trong công trình này, các tác giả đã dành trọn
chương II để nói về các thành phần ngoài nòng cốt gồm thành phần than gọi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
thành phần chuyển tiếp, thành phần chú thích, thành phần tình huống và thành
phần khởi ý. Các tác giả cho rằng tất cả các thành phần ngoài nòng cốt đều có
tính độc lập nhất định, trong đó “thành phần than gọi có tính chất độc lập hơn
cả, trong quan hệ với nòng cốt” [46, Tr.235]. Tương tự như vậy, khi nói về
thành phần chuyển tiếp, các tác giả khẳng định: “Do vai trò chuyển tiếp của nó,
thành phần này thường được đặt ở trước nòng cốt. Bằng ngữ điệu, nó cũng
được tách khỏi nòng cốt khá rõ” [46, Tr.236].
Bùi Minh Toán cũng đã thừa nhận sự tồn tại của các thành phần biệt
lập. Ông cho rằng các thành phần biệt lập của câu “là các thành phần câu
không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa miêu tả của câu (không biểu hiện
tham tố nào trong sự tình mà câu biểu hiện) đồng thời thường được tách biệt
khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ điệu” [44, Tr.132]. Do có tính biệt lập
như vậy nên trong một số trường hợp, người ta có thể tách một thành phần
câu, một thành phần phụ của cụm từ, một vế của câu ghép thành một câu
riêng để nhấn mạnh ý, hoặc thể hiện những tình huống, những cảm xúc,
những thông tin bổ sung nhưng quan trọng.
Bên cạnh các ý kiến kể trên, không thể không nhắc tới quan điểm của
Nguyễn Văn Lộc. Ở Việt Nam, ông là người đầu tiên nghiên cứu động từ theo
lí thuyết kết trị với công trình Kết trị của động từ tiếng Việt [20]. Trong công
trình này, Nguyễn Văn Lộc đã tiến hành phân loại và mô tả khá chi tiết kết trị
bắt buộc của động từ với hai kiểu diễn tố cơ bản là diễn tố chủ thể và diễn tố
đối thể. Tác giả cũng có đề cập đến hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành
phần câu. Ông cho rằng không nên đồng nhất hoàn toàn hai biến thể vị trí của
kết tố đối thể. Bởi vì, khi chiếm vị trí sau động từ, kết tố đối thể có quan hệ
chặt chẽ với động từ cả về nội dung lẫn hình thức, tạo thành một khối thống
nhất về ngữ điệu. Còn khi chiếm vị trí trước động từ, “mối quan hệ về nội dung
giữa kết tố đối thể và động từ về cơ bản, vẫn được giữ lại, nhưng về hình thức,
kết tố đối thể ở trước động từ trở thành kết tố có tính biệt lập. Tính biệt lập về
hình thức của kết tố đối thể ở trước động từ thể hiện ở chỗ giữa nó và động từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
luôn có một quãng nghỉ hơi mà trên văn tự thường được ghi bằng dấu phảy và
cũng thường có cả kết tố chủ thể nữa” [20, Tr.116]. Tác giả chỉ rõ tính biệt lập
về hình thức này làm cho mối quan hệ hình thức giữa động từ và kết tố đối thể
ở trước động từ bị yếu đi. Cũng như trong trường hợp kết tố chủ thể chủ động
khi chuyển ra sau động từ không có khả năng chiếm vị trí liền sau động từ, kết
tố đối thể khi được chuyển lên vị trí trước động từ là vị trí không phải vốn có
của mình, nó cũng không có khả năng chiếm vị trí liền trước động từ - vị trí đặc
trưng của kết tố chủ thể. Do tính biệt lập về hình thức của kết tố đối thể ở trước
động từ, nên “sau động từ, trong một số trường hợp, có thể xuất hiện một kết tố
đối thể nữa (thường được biểu hiện bằng đại từ và có quan hệ đồng nhất hoặc
chỉnh thể - bộ phận với kết tố đối thể ở trước động từ)” [20, Tr.116].
Tóm lại, hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần phụ của câu đã
được ngôn ngữ học trong và ngoài nước đề cập đến từ lâu. Nhưng cho đến nay,
hiện tượng này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và
chuyên sâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ bản chất của hiện tượng biệt lập
cú pháp, chỉ ra những đặc điểm và giá trị của những biến thể biệt lập của các
thành phần phụ trong câu tiếng Việt; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về biệt lập cú pháp và hiện tượng biệt lập của
các thành phần câu.
- Nghiên cứu đặc điểm và phương thức tạo ra hiện tượng biệt lập cú pháp
và các biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu, tiến hành phân loại và
miêu tả các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
- Phân tích làm rõ giá trị về mặt ngữ dụng (giao tiếp) của các biến thể
biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng biệt lập cú pháp và
biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hiện tượng biệt lập của các thành
phần phụ của câu trong tiếng Việt hiện đại.
Phạm vi khảo sát là một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng
phương pháp miêu tả. Phương pháp này được sử dụng để miêu tả hiện tượng
biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng
Việt trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Bên cạnh phương pháp miêu tả, luận văn kết hợp sử dụng ở mức độ nhất
định phương pháp so sánh, đối chiếu. Về thủ pháp, luận văn sử dụng các thủ
pháp như lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến. Các thủ pháp nói trên giúp cho
việc miêu tả và phân tích ngữ pháp của loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng
Việt đạt được hiệu quả cao.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Việc nghiên cứu hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các
thành phần phụ của câu trong tiếng Việt có những đóng góp sau:
- Về lí luận:
+ Góp phần làm rõ những vấn đề lí thuyết liên quan đến hiện tượng biệt
lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt
như: khái niệm biệt lập cú pháp, khái niệm biến thể biệt lập cú pháp…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
+ Làm rõ thêm đặc điểm ý nghĩa và hình thức của các biến thể biệt lập của
các thành phần phụ trong câu tiếng Việt, mối quan hệ giữa mô hình cấu trúc của
câu với các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời nói.
- Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của
các thành phần phụ trong câu tiếng Việt có thể được sử dụng để biên soạn các
tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường theo
hướng đổi mới.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Biến thể biệt lập của chủ ngữ và bổ ngữ
Chương 3: Biến thể biệt lập của trạng ngữ và định ngữ
Chương 4: Biến thể biệt lập của các thành phần câu xét về mặt cú pháp
giao tiếp (ngữ dụng)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Một số vấn đề chung về câu
1.1.1 Khái niệm câu
Câu là đơn vị ngôn ngữ có đặc tính rất phức tạp. Có nhiều cách định
nghĩa câu xuất phát từ những quan niệm khác nhau. Từ những định nghĩa cụ
thể, có thể rút ra hai khuynh hướng chính trong cách định nghĩa về câu.
Thứ nhất, khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào ý nghĩa và hình thức.
Khuynh hướng này được thể hiện cụ thể ở ba cách định nghĩa. Dựa riêng vào
mặt nghĩa, câu được xem là “phán đoán được biểu hiện bằng từ” hoặc là “tổ
hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” [Dẫn theo 23, Tr.24]. Dựa riêng
vào mặt hình thức, S.Ja.Fitialov định nghĩa: “Câu là chuỗi từ hình nằm giữa
hai dấu chấm hoặc hai chữ cái hoa” [Dẫn theo 40, Tr.38]. Dựa cả vào mặt ý
nghĩa lẫn hình thức, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “Với tư cách là đơn vị bậc
cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một
cách trọn vẹn về ngữ pháp và ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của
ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và
thái độ của người nói đối với hiện thực” [33, Tr.19]. Cũng theo hướng này,
Diệp Quang Ban viết: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên
trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối
trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo sự đánh
giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm.
Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2, Tr.125].
Thứ hai, khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng, chức năng.
Nếu theo khuynh hướng thứ nhất, câu được xác định một cách độc lập, thì theo
khuynh hướng này câu được xác định trong mối quan hệ hệ thống với các đơn
vị ngôn ngữ khác. Theo đó, câu cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác cùng hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
thống luôn được định nghĩa dựa vào hai mặt: khối lượng và chức năng. Cụ thể,
câu được định nghĩa như sau: “Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang
một thông báo tương đối hoàn chỉnh” [5, Tr.363].
Tuy không nêu được dấu hiệu hình thức đặc trưng của câu, nhưng cách
định nghĩa này cũng có những ưu điểm cơ bản. Không chỉ ngắn gọn, dễ nhớ,
định nghĩa này còn mang tính hệ thống rõ rệt, nêu lên được những tiêu chí cần
thiết cho phép xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn
thuộc cùng hệ thống.
Có thể nói rằng, cho đến nay, vẫn chưa có được cách định nghĩa câu thỏa
mãn được tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp. Trên cơ sở xem xét hai khuynh
hướng chính trong việc định nghĩa câu với một số cách định nghĩa cụ thể,
chúng tôi tạm thời chọn cách định nghĩa câu dựa vào mặt khối lượng và chức
năng vì tính ngắn gọn, rõ ràng, hệ thống và tiện lợi của nó. Theo đó, câu được
định nghĩa là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ.
1.1.2 Câu và phát ngôn
Câu và phát ngôn không phải là hai đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác
nhau như âm vị và hình vị. Việc phân biệt câu với phát ngôn cũng tương tự như
việc phân biệt âm vị với âm tố.
Theo V.S.Panfilov, phát ngôn là sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời
nói. “Thuật ngữ này bao gồm một phạm vi rộng các sự kiện, tuy chỉ một phần
trong số các sự kiện này là sự hiện thực hóa mô hình cấu trúc câu… Ở dạng
chung nhất, phát ngôn là bất kì một đơn vị lời nói nào có ngữ điệu trọn vẹn”
[29, Tr.100]. Theo định nghĩa này thì các nhận xét mang sắc thái tình cảm,
những câu trả lời biểu hiện sự đồng ý hay không đồng ý và những đơn vị thể
hiện việc ứng xử như: Xin chào!, Cảm ơn!... phần nào đều là phát ngôn. Vì thế,
ta thấy hoàn toàn có thể có những phát ngôn mà trong thành phần của chúng
không có tổ chức cấu trúc cú pháp theo cấp bậc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
Xét ở góc độ cấp độ hệ thống cấu trúc, câu là cái trừu tượng, còn phát
ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể, phát ngôn là biến thể. Các phát ngôn làm
chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương
thức tồn tại của mô hình đó… “Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn
ngữ, vừa thuộc bình diện lời nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời nói”
[Dẫn theo 53, Tr.200].
Như vậy, có thể cho rằng phát ngôn là câu - mô hình cú pháp mang nghĩa
từ vựng cụ thể - được hiện thực hóa trong lời nói, được sắp xếp theo trật tự
tuyến tính, được phát âm với một ngữ điệu cụ thể, được sử dụng trong một ngữ
cảnh cụ thể và có phân đoạn thực tại cụ thể phù hợp với ngữ cảnh này.
Câu và phát ngôn có cùng một cấp độ, nhưng xuất phát từ các phương
diện nghiên cứu khác nhau mà người ta phân biệt câu với phát ngôn:
- Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, tức là ở bậc trừu tượng, khái quát,
đơn vị ngôn ngữ được tạo thành bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn dựa trên
những quy tắc ngữ pháp nhất định được gọi là câu.
- Ở phương diện sử dụng, mỗi câu lại luôn gắn với một tình huống cụ
thể, nhằm một mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể. Câu cụ
thể ấy được gọi là phát ngôn. Như vậy, phát ngôn chính là câu trong hoạt động
giao tiếp.
Có thể thấy, ở bậc trừu tượng, khái quát, câu không gắn với tình huống sử
dụng mà ở trạng thái cô lập, và việc phân tích câu cũng chỉ tập trung vào mặt cấu
tạo ngữ pháp. Nhưng ngày nay, câu không chỉ được nghiên cứu riêng về mặt cấu
trúc, mà còn được nghiên cứu ở mặt sử dụng. Nghĩa là, câu được xét ở cả
phương diện cấu trúc lẫn tình huống sử dụng cụ thể. Do vậy, khái niệm câu cũng
không chỉ bó hẹp trong phạm vi câu - cấu trúc nữa, mà là câu - phát ngôn.
1.1.3 Vị trí của câu trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp
Trong ngôn ngữ học, các đơn vị của ngôn ngữ thường được xác định
trong mối quan hệ với các cấp độ ngôn ngữ. Về bản chất, các đơn vị ngôn ngữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
vốn có tính trừu tượng. Chúng chỉ tồn tại cụ thể trong những biến thể nhất định.
Chẳng hạn, âm vị tồn tại và được thể hiện trong những biến thể âm vị, hình vị
tồn tại trong các hình tố, từ tồn tại trong các biến thể ngữ âm, cú pháp… Các
đơn vị ngôn ngữ có thể xác định từ ba mặt chính sau: mặt tổ chức bên trong,
mặt so sánh khối lượng và mặt chức năng.
Nói đến mặt tổ chức bên trong của các đơn vị ngôn ngữ là nói đến “việc
phân tích chúng thành thành tố, việc đánh giá số lượng, chất lượng của các
thành tố cũng như việc xác lập quan hệ giữa các thành tố, đánh giá số lượng,
chất lượng của các mối quan hệ có thể có đó” [5, Tr.347]. Nói đến mặt so sánh
khối lượng là nói đến sự phân biệt đơn vị lớn, đơn vị nhỏ. Còn xác định các
đơn vị ngôn ngữ dựa vào mặt chức năng chính là việc dựa vào các đặc điểm
như: khu biệt nghĩa, mang nghĩa, vận dụng độc lập, thông báo.
Dựa vào ba mặt trên đây, khi xác định các đơn vị ngôn ngữ và vị trí của
chúng trong hệ thống, ta thấy có sự đối lập rất lớn giữa hai tiểu hệ thống: tiểu
hệ thống đơn vị nửa tổ chức, nửa chức năng và tiểu hệ thống đơn vị thuần tổ
chức.
Thuộc tiểu hệ thống đơn vị nửa tổ chức, nửa chức năng là các đơn vị
như: âm vị, hình vị, từ, câu. Chúng có đặc điểm chung là:
a) Khi xác định những đơn vị này, phải dựa vào cả hai mặt: khối lượng
và chức năng.
b) Các đơn vị này lập thành hệ thống có thứ bậc rõ ràng, dứt khoát. Điều
này thể hiện ở cả mặt khối lượng và mặt chức năng:
- Về mặt khối lượng: Chỉ có trường hợp các đơn vị bậc thấp tham gia cấu
tạo các đơn vị bậc cao hơn với tư cách là thành tố chứ không bao giờ có trường
hợp ngược lại.
- Về mặt chức năng: Số lượng chức năng của các đơn vị bậc thấp luôn ít
hơn số lượng chức năng của các đơn vị bậc cao hơn. Có thể thấy điều này qua
bảng so sánh sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
Âm vị
Khu biệt
nghĩa
+
-
Vận dụng
độc lập
-
Hình vị
+
+
-
-
Từ
+
+
+
-
Câu
+
+
+
+
Chức năng
Đơn vị
Có nghĩa
Thông báo
-
c) Ở tiểu hệ thống này, các đơn vị cùng cấp độ chỉ có khả năng kết hợp
với nhau chứ không có khả năng bao hàm lẫn nhau.
Thuộc tiểu hệ thống đơn vị thuần tổ chức là các kiểu đơn vị như: tổ hợp
âm vị, tổ hợp từ, tổ hợp câu. Đặc điểm chung của các đơn vị thuộc tiểu hệ
thống này là:
a) Khi xác định, chỉ cần dựa vào mặt tổ chức chứ không cần dựa vào mặt
chức năng hay khối lượng. Ví dụ trong cách định nghĩa cụm từ: “Các tổ hợp
gồm hai thực từ trở lên có quan hệ ngữ pháp với nhau được gọi là cụm từ”.
b) Các đơn vị cùng loại trong tiểu hệ thống thuần tổ chức luôn có khả
năng bao hàm lẫn nhau, đơn vị này lọt vào thành tố của đơn vị kia và ngược lại.
Ví dụ:
- Tổ hợp âm vị bao hàm tổ hợp âm vị. (“tan” bao hàm “an”)
- Tổ hợp hình vị bao hàm tổ hợp hình vị. (“ngôn ngữ học” bao hàm
“ngôn ngữ”)
Có thể thấy, theo quan niệm truyền thống, câu được coi là đơn vị cao
nhất trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp. Hệ thống các đơn vị ngôn ngữ và vị
trí của câu trong hệ thống đó có thể được trình bày qua sơ đồ sau:
Tổ hợp âm vị
Tổ hợp hình vị
Tổ hợp từ
Tổ hợp câu
Âm vị
Hình vị
Từ
Câu
Chú thích:
Theo con đường thuần tổ chức
Theo con đường nửa tổ chức, nửa chức năng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
1.1.4 Khái quát về các bình diện của câu
Trong việc nghiên cứu câu, việc xác định các bình diện của câu cho đến
nay vẫn còn các vấn đề tranh luận.
Simon C.Dik cho rằng các quan hệ chức năng trong câu được chỉ định ở
các bình diện: Chức năng ngữ nghĩa (tác thể, đích, tiếp thể…), chức năng cú
pháp (chủ ngữ, bổ ngữ…), chức năng ngữ dụng (chủ đề, hậu đề, đề, tiêu điểm).
Cao Xuân Hạo xác định ba bình diện của câu gồm: bình diện cú pháp,
bình diện nghĩa học và bình diện dụng pháp. Nhưng khác với một số tác giả,
ông cho rằng trong tiếng Việt, cấu trúc chủ vị không có cương vị ngữ pháp
trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu, còn cấu trúc đề thuyết, ngược lại, không
thuộc bình diện dụng pháp mà thuộc bình diện cú pháp và có cương vị ngữ
pháp trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu.
Nguyễn Văn Hiệp cũng phân biệt ba bình diện trong việc nghiên cứu
câu, gồm: bình diện kết học (trong đó câu được phân tích thành chủ ngữ, vị
ngữ, bổ ngữ…), bình diện nghĩa học (nghiên cứu nghĩa sự tình, nghĩa tình thái
và nghĩa chủ đề), bình diện dụng học (nghiên cứu cấu trúc phân đoạn thực tại
của câu, tiêu điểm thông báo…). Nguyễn Văn Hiệp cũng tán thành ý kiến của
Cao Xuân Hạo không xếp cấu trúc đề thuyết vào bình diện dụng học, nhưng
ông cũng không xem xét cấu trúc này khi phân tích bình diện cú pháp (kết học)
của câu.
Ngoài ra, cũng có thể kể đến ý kiến của tác giả Diệp Quang Ban. Ông
cho rằng về phương diện tổ chức ngữ pháp, trong câu có bốn kiểu cấu trúc: cấu
trúc nghĩa biểu hiện (với các thành tố như động thể, tiếp thể…), cấu trúc thức
(gồm phần thức và phần dư), cấu trúc cú pháp (với các thành tố như chủ ngữ, vị
tố, tân ngữ…), và cấu trúc đề (với hai thành tố đề và thuyết).
Như vậy, mặc dù còn có những bất đồng trong việc xác định bản chất,
phạm vi, ranh giới của các bình diện, nhưng nhìn chung đa số các ý kiến đều
thừa nhận ba bình diện của câu gồm: bình diện cú pháp (kết học), bình diện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
nghĩa học (ngữ nghĩa) và bình diện dụng học (dụng pháp). Lí thuyết về ba
bình diện của câu còn được gọi chung là lý thuyết tam phân. Trong đó, nghiên
cứu bình diện cú pháp là nghiên cứu tổ chức cú pháp của câu với các thành
phần như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…; nghiên cứu bình diện nghĩa học là
nghiên cứu nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu), nghĩa tình thái trong
câu; nghiên cứu bình diện dụng học của câu là nghiên cứu câu gắn với chủ thể
nói năng, theo đó xác định cấu trúc giao tiếp của câu với các thành tố như đề,
thuyết, tiêu điểm thông báo, đồng thời xác định các kiểu câu xét theo mục
đích giao tiếp.
1.1.5 Bình diện cú pháp của câu
1.1.5.1 Bản chất của bình diện cú pháp
Về bản chất của bình diện cú pháp, cho đến nay vẫn tồn tại hai quan niệm.
1) Coi bình diện cú pháp là bình diện hình thức thuần túy.
Quan điểm trên được thể hiện rõ trong ý kiến của Cao Xuân Hạo. Ông
cho rằng: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định
bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy” [15, Tr.8]. Theo tác giả, các chức
năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ… được xác định không
phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà vào mối quan hệ ngữ
pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng các phương tiện hình thức gọi
là tác tử cú pháp.
Quan niệm này đã mâu thuẫn với lí thuyết ngữ pháp đại cương mà theo
đó, các đơn vị ngữ pháp được coi là đơn vị hai mặt: hình thức và ý nghĩa. Quan
điểm này khiến cho việc xác định các thành phần cú pháp của câu dựa vào
nghĩa gặp những khó khăn, mâu thuẫn rất khó khắc phục. Đồng thời, nó đã phủ
nhận sự tồn tại của các thành phần câu đã được thừa nhận rộng rãi như chủ
ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…
2) Coi bình diện cú pháp là bình diện có cả mặt hình thức lẫn mặt ý nghĩa.
Cơ sở để xác định sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với nghĩa
biểu hiện hay nghĩa sâu có thể thấy trong các lý thuyết cú pháp. Đó là ý tưởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
phân biệt ba loại nghĩa chủ thể (chủ thể ngữ pháp, chủ thể logic, chủ thể tâm lý)
vốn khá phổ biến trong cú pháp học. Tuy còn những cách hiểu khác nhau về
chủ thể ngữ pháp, nhưng trong cách hiểu phổ biến nhất, chủ thể ngữ pháp được
đồng nhất với chủ ngữ. Nguyễn Văn Lộc cho rằng: “Ý tưởng phân biệt chủ thể
cú pháp (được đồng nhất với chủ ngữ) với chủ thể logic và chủ thể tâm lý chính
là sự xác nhận tính hai mặt hay tính có nghĩa của bình diện cú pháp, đồng thời
gợi ý cho sự tìm tòi hướng tới bản chất của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với
nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu” [23, Tr.76].
Rõ ràng, quan niệm này đã thừa nhận sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong
sự đối lập với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu. Vì thế, trong hai câu “Mẹ khen
nó” và “Nó được mẹ khen”, từ “nó” chỉ đồng nhất với nhau về nghĩa sâu, còn
về nghĩa cú pháp thì có sự khác nhau. Ở câu thứ nhất, “nó” chỉ đối thể, còn ở
câu thứ hai, “nó” chỉ chủ thể (trong quan hệ với động từ - vị ngữ “được”).
Chúng tôi đi theo quan niệm thứ hai và cho rằng về bản chất, bình diện
cú pháp luôn có tính hai mặt: hình thức và ý nghĩa. Việc thừa nhận tính có
nghĩa của bình diện cú pháp, thừa nhận sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự
đối lập với nghĩa sâu không chỉ phù hợp với lí thuyết ngữ pháp đại cương và
các lí thuyết cú pháp, mà còn phù hợp với thực tế. Quan điểm này cho phép xác
định, phân biệt thành phần câu dựa vào nghĩa cú pháp, khắc phục được sự mâu
thuẫn trong phân tích cú pháp vẫn tồn tại lâu nay.
1.1.5.2 Quan hệ cú pháp trong câu
Trong số các tác giả nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt, có lẽ V.S.Panfilov
là người dành nhiều sự quan tâm nhất cho việc xác định khái niệm quan hệ cú
pháp. V.S.Panfilov cho rằng “sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai từ
(phương án tối thiểu) được chứng minh thông qua khả năng sử dụng độc lập
của tổ hợp những từ này, mà phần nào đó là khả năng sử dụng tổ hợp này với
tư cách là biến thể tỉnh lược của cấu trúc phức tạp hơn” [29, Tr.77, 78].
Gần với định nghĩa của V.S.Panfilov là định nghĩa của các tác giả cuốn
Dẫn luận ngôn ngữ học: “Quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
tạo ra những tổ hợp từ có khả năng được vận dụng độc lập, được xem như là
dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn và có ít nhất một thành tố có khả
năng được thay bằng từ nghi vấn” [14, Tr.254].
Về cơ bản, Nguyễn Mạnh Tiến cũng tán thành cách xác định quan hệ cú
pháp theo hướng dựa vào dấu hiệu hình thức mang tính khách quan mà V.S.
Panfilov đưa ra, nhưng ông đã có sự bổ sung, điều chỉnh. Theo tác giả, “Quan
hệ ngữ pháp là một dạng của mối quan hệ hình tuyến giữa các đơn vị ngữ pháp
(hình vị, từ, cụm từ) nảy sinh trên cơ sở ý nghĩa của hình vị hoặc từ tạo thành
các tổ hợp tự thân có ý nghĩa nhất định và có khả năng hoạt động độc lập hoặc
hoạt động với tư cách là thành tố của cấu trúc phức tạp hơn” [42, Tr.53].
Như vậy, có thể thấy rằng sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai
từ được xác định dựa trên cả hai tiêu chí: tiêu chí nội dung (mối quan hệ ý
nghĩa giữa chúng) và tiêu chí hình thức (khả năng sử dụng độc lập hoặc sử
dụng với tư cách là câu tỉnh lược của tổ hợp do chúng tạo thành). Theo cách
hiểu này, hoàn toàn có thể phân biệt trường hợp giữa hai từ có quan hệ ngữ
pháp với trường hợp giữa hai từ chỉ có quan hệ thuần túy ngữ nghĩa.
Tuy nhiên, việc gọi chung mối quan hệ giữa các từ trong câu là quan hệ
cú pháp phần nào mang tính quy ước. Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến khẳng định:
Trong mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ, cần phân biệt quan hệ giữa các thực
từ với nhau (trong “ăn cơm”) và quan hệ giữa thực từ với hư từ (trong “bằng
đũa”). Hai kiểu quan hệ này không chỉ khác nhau ở tính chất của các thành tố
tham gia quan hệ mà còn ở tính chất của quan hệ. Điều này được thể hiện rõ
nhất qua mối quan hệ phụ thuộc giữa các từ. Ở kiểu quan hệ phụ thuộc giữa các
thực từ, yếu tố phụ thuộc về hình thức đồng thời là yếu tố phụ thuộc về nghĩa…
Ngược lại, trong mối quan hệ phụ thuộc giữa thực từ với hư từ, các thực từ chỉ
phụ thuộc về hình thức vào các hư từ chứ không phụ thuộc về nghĩa vào chúng
[42, Tr.54].
Theo V.S.Panfilov, chỉ sự phụ thuộc hai mặt giữa các thực từ mới là sự
phụ thuộc cú pháp. Vì thế, quan hệ phụ thuộc giữa các thực từ được ông gọi là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
quan hệ cú pháp, còn quan hệ giữa thực từ với hư từ được ông gọi là quan hệ
cận cú pháp.
Như vậy, có thể hiểu quan hệ cú pháp là quan hệ giữa các từ hoặc cụm từ
trong câu, nhưng để phân biệt quan hệ cú pháp đích thực với quan hệ cận cú pháp
thì cần chỉ rõ: “Quan hệ cú pháp là quan hệ giữa các thực từ trong câu” [42, Tr.54].
Khi xem xét vai trò cú pháp của từ trong cấu trúc nhất định, cần dựa vào
hai mặt: vai trò bên trong (mối quan hệ nội bộ) và vai trò bên ngoài (mối quan
hệ với yếu tố ngoài cấu trúc). Xét theo vai trò bên trong, thành tố phụ là thành
tố có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn; có chức năng bổ sung ý nghĩa cho
thành tố kia; không quy định bản chất, vai trò, chức năng của cấu trúc; là thành
tố bị chi phối về ý nghĩa và hình thức. Xét theo vai trò bên ngoài, thành tố phụ
là thành tố không có khả năng đại diện cho cấu trúc trong mối quan hệ cú pháp
với yếu tố bên ngoài. Thành tố có đặc điểm ngược lại những đặc điểm trên là
thành tố chính.
Theo nguyên tắc trên, có thể xác định hai kiểu quan hệ cú pháp chính: quan
hệ phụ thuộc và quan hệ đẳng lập. Ở kiểu quan hệ phụ thuộc giữa hai thành tố,
một thành tố có vai trò chính, thành tố còn lại có vai trò phụ thuộc. Ở kiểu quan hệ
đẳng lập, các thành tố trong mối quan hệ này có vai trò bình đẳng, ngang hàng
nhau, nghĩa là không thành tố nào có chức năng đối với thành tố nào.
1.1.5.3 Hệ thống thành phần cú pháp của câu
Thành phần cú pháp của câu là các thành tố cú pháp (các thực từ) tham
gia vào các mối quan hệ cú pháp với tư cách là yếu tố chính (được bổ sung) hay
các yếu tố phụ thuộc (bổ sung). Như vậy, thành phần câu không chỉ bao gồm
thành phần chính và các thành phần phụ có quan hệ trực tiếp với các thành
phần chính mà gồm tất cả các thành tố cú pháp (các thực từ) có mặt trong câu
(gồm cả bổ ngữ và định ngữ của từ).
1) Thành phần chính của câu - vị ngữ
Theo quan niệm mới, vị ngữ được coi là đỉnh cú pháp của câu. Tác giả
Nguyễn Văn Lộc định nghĩa: “Vị ngữ là thành phần chính duy nhất của câu có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
17
ý nghĩa ngữ pháp hoạt động hay đặc điểm, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng
vị từ với ý nghĩa, hình thức thời thể nhất định, chiếm vị trí trung tâm của câu”
[23, Tr.108].
Vị ngữ có những đặc điểm chính sau:
a) Về nội dung:
- Vị ngữ giữ vai trò chính, vai trò trung tâm của tổ chức câu;
- Vị ngữ luôn biểu thị đặc điểm (hoạt động, tính chất) của sự vật. Đây là
đặc điểm quan trọng, giúp vị ngữ phân biệt với chủ ngữ.
b) Về hình thức:
- Hình thức biểu hiện phổ biến của vị ngữ là hình thức vị từ (động từ,
tính từ). Tuy nhiên, khi miêu tả các kiểu vị ngữ cụ thể, bên cạnh kiểu vị ngữ là
động từ, tính từ, các tác giả còn xác định các kiểu vị ngữ là danh từ, cấu trúc
chủ vị, tổ hợp gồm số từ + quan hệ từ, tổ hợp gồm quan hệ từ + danh từ;
- Ở dạng cơ bản, vị ngữ chiếm vị trí thứ hai trong hai thành tố của cấu
trúc chủ vị, tức là vị trí sau chủ ngữ. Ngoài ra, trong một số trường hợp, vị ngữ
có thể chuyển lên trước chủ ngữ.
Vai trò trung tâm trong tổ chức câu của vị ngữ thể hiện ở những điểm sau:
- Vị ngữ là thành phần có tính thường trực cao nhất trong câu. Chúng có
mặt ở tất cả các kiểu câu hoàn chỉnh. Chủ ngữ mặc dù cũng có tính thường trực
cao nhưng trong tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ khác có thể có những
câu có vị ngữ mà không có chủ ngữ (Ví dụ: “Lại động đất”). Ngoài ra, có
những câu mặc dù có cả chủ ngữ lẫn vị ngữ nhưng sự có mặt của chủ ngữ hầu
như không bắt buộc (Ví dụ: “Trời mưa rồi”, “Mưa rồi”).
- Vị ngữ là thành phần quy định bản chất ngữ nghĩa của câu. Nếu vị ngữ
chỉ hành động thì câu có nghĩa chung là nghĩa hành động. Nếu vị ngữ chỉ trạng
thái thì nghĩa chung của câu là nghĩa trạng thái…
- Vị ngữ là thành phần chi phối cấu trúc của cả câu. Chúng quy định số
lượng và đặc tính của các thành phần bắt buộc của câu. Dựa vào thuộc tính kết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18
trị của vị từ, sau khi xác định được vị từ giữ vai trò vị ngữ, ta dễ dàng xác định
được số lượng các thành phần bắt buộc còn lại. Ngoài ra, vị ngữ còn chi phối
khả năng cải biến của câu. Chẳng hạn, nếu vị ngữ là động từ nội hướng thì chủ
ngữ bên nó thường có khả năng cải biến vị trí nhưng không có khả năng cải
biến bị động; ngược lại, nếu vị ngữ là động từ ngoại hướng thì chủ ngữ thường
có khả năng tham gia cải biến bị động nhưng hầu như không có khả năng cải
biến vị trí.
- Vị ngữ là thành tố duy nhất có khả năng quan hệ cú pháp với các yếu tố
ngoài cấu trúc. Khi hai cụm chủ vị quan hệ với nhau, trong nhiều trường hợp,
nếu lược bỏ chủ ngữ thì bộ phận còn lại không những đứng được mà bản chất
của quan hệ cú pháp trong đó cũng không thay đổi. Ngược lại, nếu lược bỏ vị
ngữ thì cấu trúc sẽ không đứng được.
So sánh:
Nếu trời mưa thì chúng ta nghỉ (+)
Nếu mưa thì chúng ta nghỉ (+)
Nếu trời mưa thì nghỉ (+)
Nếu mưa thì nghỉ (+)
Nếu trời thì chúng ta nghỉ ( - )
Nếu trời thì chúng ta ( - )
Như vậy, không thể cho rằng chủ ngữ và vị ngữ ngang hàng nhau về vai
trò ngữ pháp. Trong cấu trúc của câu nói chung, vị ngữ là thành phần có vai trò
quan trọng nhất, là trung tâm tổ chức câu.
2) Các thành phần phụ của câu
a) Chủ ngữ
“Chủ ngữ là thành phần cú pháp phụ của câu có ý nghĩa cú pháp chủ
thể, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ không được dẫn nối bởi quan
hệ từ phụ thuộc, chiếm vị trí liền trước vị từ” [23, Tr.108].
Chủ ngữ có những đặc điểm chính sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
19