2
Mục lục
Mục lục......................................................................................................................................2
Lời mở đầu................................................................................................................................3
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền
thương mại................................................................................................................................5
1. Khái quát về nhượng quyền thương mại..........................................................................5
2. Khái quát về hợp đồng nhượng quyền thương mại........................................................15
3. pháp luật về nhượng quyền thương mại của một số quốc gia........................................24
chương II: thực trạng nhượng quyền thương mại và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật nhượng quyền thương mại ở việt nam.............................................................................27
1. Thực trạng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam:......................................................27
2. Thực trạng pháp luật nhượng quyền thương mại ở Việt Nam ......................................32
3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại ở Việt Nam,
tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho các hợp đồng nhượng quyền: ............................................41
Kết luận...................................................................................................................................48
Danh mục các tài liệu tham khảo............................................................................................50
3
Lời mở đầu
Nhượng quyền thương mại (franchise) có xuất xứ từ châu Âu hàng trăm
năm trước, sau đó lan rộng và bùng nổ tại Hoa Kỳ. Doanh thu từ hoạt động
kinh doanh nhượng quyền trên thế giới năm 2000 là khoảng 1.000 tỉ USD với
khoảng 320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau. Tại Hoa Kỳ, hoạt động
nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người
lao động trong khu vực này và bình quân cứ 12 phút lại có 1 Franchise mới ra
đời. ở Anh, franchise là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của
nền kinh tế với khoảng 32.000 doanh nghiệp nhượng quyền, doanh thu mỗi
năm 8,9 tỉ bảng Anh. Khu vực franchising cũng thu hút một lượng lao động lớn
với khoảng 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, cánh cửa thị trường sẽ rộng mở và một làn
sóng các tập đoàn bán lẻ, siêu thị, thức ăn nhanh từ nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào
Việt Nam. Về cơ bản, với chính trị ổn định và một thị trường tiềm năng hơn 80
triệu dân, hạ tầng dịch vụ ngày càng hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế
hàng năm đạt trên 7%, số lượng doanh nghiệp tăng đáng kể....là những tiền đề
để hình thức kinh doanh franchising “bùng nổ” ở Việt Nam, hơn nữa theo dự
báo, sau khi gia nhập WTO, nhượng quyền thương mại ở nước ta sẽ có cơ hội
phát triển nhanh do sự đầu tư của các công ty và tập đoàn lớn chuyên
về franchising. Điều này dự báo sự phát triển vượt bậc của hình thức kinh
doanh mới mẻ này trong thời gian sắp tới ở Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại được
ràng buộc với nhau bằng hợp đồng. Chính hợp đồng là căn cứ pháp lý làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời là căn cứ quan trọng để giải
quyết các tranh chấp giữa các bên (nếu có), đồng thời cũng là cơ sở để nhà
nước có thể tham gia điều chỉnh mối quan hệ phức tạp, rất dễ nảy sinh tranh
4
chấp này. Có thể nói, hợp đồng nhượng quyền thương mại đóng một vai trò chủ
chốt trong quan hệ nhượng quyền thương mại giữa các chủ thể kinh doanh.
Trong bối cảnh thị trường nhượng quyền thương mại ngày càng tăng
nhanh ở Việt Nam, việc nghiên cứu thực trạng kinh doanh nhượng quyền
thương mại, cũng như thực trạng pháp luật về nhượng quyền thương mại Việt
Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các hợp đồng nhượng quyền
chặt chẽ, đúng luật, là một nhu cầu cấp thiết.
Để phù hợp với nhu cầu trên, mục tiêu của luận văn này là: tìm hiểu hành
lang pháp lý về nhượng quyền thương mại, kết hợp với thực trạng kinh doanh
của hoạt động này, nêu ra một số kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa quy chế pháp
lý liên quan đến hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng nhượng quyền
thương mại nói riêng.
Trên cơ sở mục tiêu đã xác định, luận văn đã hệ thống những văn bản
pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến nhượng quyền thương mại,
trình bày thực trạng kinh doanh, kết hợp thực tiễn và lý luận để nêu lên những
điểm cần lưu ý khi thiết lập hợp đồng nhượng quyền. Theo đó, các bên nhượng
quyền cũng như nhận quyền có thể đưa ra những yêu cầu sao cho phù hợp với
quy định pháp luật và nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho các bên chủ thể trong
hợp đồng, đồng thời tránh tối đa những khiếu nại tranh chấp về sau.
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và kết luận. Phần nội
dung của luận văn bao gồm hai chương, trong đó, chương một trình bày khái
quát các khái niệm cơ bản về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng
quyền thương mại; chương hai trình bày thực trạng kinh doanh, nghiên cứu các
văn bản pháp luật có liên quan và nêu lên kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
5
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại và
hợp đồng nhượng quyền thương mại.
1. Khái quát về nhượng quyền thương mại
1.1.
Định nghĩa
Nhượng quyền thương mại là một thuật ngữ khá mới mẻ trong khoa học
pháp lý Việt Nam. Mặc dù những biểu hiện thực tế của hoạt động này đã xuất
hiện ở việt Nam gần mười năm nhưng cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có
văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm đầy đủ nhằm điều chỉnh về vấn đề
nhượng quyền thương mại, và thậm chí trên thế giới, hiện nay vẫn chưa có
được một định nghĩa thống nhất về nhượng quyền thương mại.Tuy nhiên cũng
đã có một vài định nghĩa về nhượng quyền thương mại được đưa ra như:
Định nghĩa của Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế
(International Franchise Association - IFA) về nhượng quyền thương mại:
“nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên nhượng
quyền với bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì
sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh
như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận quyền hoạt động dưới
nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng
quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư
đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình”.[19]
Theo quy định của pháp luật Nga, thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh
được định nghĩa là "Sự nhượng quyền thương mại" (commercial concession).
Chương 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa bản chất pháp lý của "sự nhượng
quyền thương mại" như sau:
6
"Theo Hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền)
phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn,
hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của
bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm,
quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh,
và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn
hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ,..".Như vậy, định nghĩa của Nga nhấn mạnh
tới việc Bên giao chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên
nhận để đổi lấy những khoản phí nhất định, mà không đề cập đến vai trò, nghĩa
vụ của bên nhận.
Hội đồng thương mại liên bang hoa kỳ (Federal Trade commission FTC) đưa ra một định nghĩa riêng : “Nhượng quyền thương mại là một hợp
đồng theo đó bên nhượng quyền hỗ trợ đáng kể cho bên nhận quyền trong việc
điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh
nghiệp của bên nhận quyền; li-xăng nhãn hiệu cho bên nhận quyền để phân
phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của bên nhượng quyền;
yêu cầu bên nhận quyền thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản phí tối
thiểu.[19]
Được ban hành năm 2005, Luật thương mại Việt Nam đã định nghĩa:
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại trong đó bên
nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua
bán hàng hóa cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
+Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn
hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,
biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.
7
+Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.” [5]
Có thể thấy, hầu hết các định nghĩa về nhượng quyền thương mại kể trên
đều dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước. Tuy nhiên, có
thể thấy rằng quan điểm chung thể hiện trong tất cả những định nghĩa này là
việc một bên độc lập (Bên nhận quyền) phân phối sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới
nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ
thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (Bên nhượng quyền) phát triển và
sở hữu; để được phép làm việc này, bên nhận quyền phải trả những phí và chấp
nhận một số hạn chế do bên nhượng quyền quy định.
1.2.
Đặc điểm của hoạt động nhượng quyền thương mại.
Xuất phát từ bản chất chung nhất của hoạt động nhượng quyền thương
mại, có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của nhượng quyền thương mại
thể hiện tính chất đặc biệt của loại hoạt động kinh doanh này như sau:
Một là, Bên nhượng quyền và bên nhận quyền là các bên hoàn toàn riêng
rẽ, độc lập, không phụ thuộc nhau về mặt pháp lý và tài chính.
Hai là, Bên nhượng quyền được nhận các khoản tiền do bên nhận quyền
trả cho việc tham gia mạng lưới kinh doanh theo nhượng quyền và cho việc sử
dụng các đối tượng nhượng quyền (nhãn hiệu, tên thương mại, biển hiệu, bí
mật kinh doanh...) của bên nhượng quyền cũng như các khoản tiền cho các
công việc đào tạo, hỗ trợ...
Ba là, Bên nhận quyền được phép sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ như
nhãn hiệu, tên thương mại, biển hiệu, bí mật kinh doanh, các biểu tượng quảng
cáo... thuộc sở hữu của bên nhượng quyền để sản xuất, cung cấp, bán hoặc
phân phối các sản phẩm, dịch vụ do bên nhượng quyền sản xuất, phân phối
hoặc các dịch vụ được tổ chức, điều hành bởi bên nhượng quyền. Đồng thời
8
bên nhận quyền còn được nhận sự trợ giúp, đào tạo của bên nhượng quyền
trong quá trình thiết lập và thực hiện hoạt động kinh doanh theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại.
Tuy nhiên không phải mọi quan hệ nhượng quyền thương mại đều có đầy
đủ các đặc điểm này, tùy theo các hình thức nhượng quyền thương mại mà
quan hệ nhượng quyền thương mại đó có thể chỉ có một số trong những đặc
điểm nêu trên.
Cũng cần phải hiểu rằng: nhượng quyền thương mại là mối quan hệ hợp
tác kinh doanh thể hiện cả về quan hệ phụ thuộc và quan hệ độc lập, bình đẳng.
Sẽ là quan hệ phụ thuộc nếu xem xét dưới góc độ là các sản phẩm dịch vụ được
phân phối từ bên nhượng quyền đến bên nhận quyền sau đó đến người tiêu
dùng; và sẽ là quan hệ bình đẳng độc lập khi xem xét dưới góc độ pháp lý, tài
chính với nghĩa là các bên nhượng quyền và các bên nhận quyền là các chủ thể
độc lập với nhau cả về mặt tài chính và pháp lý; có sự cạnh tranh với nhau (và
cạnh tranh với cả bên nhượng quyền) trong việc đưa sản phẩm, dịch vụ đến
người tiêu dùng.
1.3.
Lịch sử phát triển của nhượng quyền thương mại:
Nhượng quyền thương mại (franchise) có xuất xứ từ châu Âu cách nay
hàng trăm năm và sau đó lan rộng và bùng nổ tại Mỹ. Trong thời gian thập niên
90 do tình hình khủng hoảng kinh tế nên tình trạng “corporate downsizing” tạm
dịch là “cắt giảm biên chế ” trở nên phổ biến ở Mỹ và nhiều nước có nền kinh
tế phát triển trên thế giới. Đội ngũ nhân viên quản trị cao cấp bị cắt giảm biên
chế từ các tập đoàn lớn trong thời kỳ này (với số tiền đền bù thôi việc) đã tìm
đến franchise như một giải pháp cứu cánh. Họ mua franchise để trở thành nhà
đầu tư hay doanh nhân tự làm chủ lấy mình và họ đã góp phần làm bùng nổ mô
hình kinh doanh nhượng quyền thương mại. Doanh thu từ hoạt động kinh
doanh nhượng quyền trên thế giới năm 2000 là khoảng 1.000 tỷ USD với
9
khoảng 320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau. Tại Mỹ, hoạt động
nhượng quyền (franchising) chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên
8 triệu người lao động trong khu vực này và bình quân cứ 12 phút lại có một
cửa hàng franchise ra đời. [18]
Việt Nam mới phát triển franchise khoảng 10 năm nay, nhưng người tiêu
dùng đã rất quen thuộc với những tên tuổi như “cà phê Trung Nguyên, phở 24
của Việt Nam hay McDonald’s, KFC, Dilmah, qualitea nổi tiếng trên thế
giới...” trước đây khi được hỏi về khái niệm này rất nhiều người cảm thấy xa lạ,
nhưng bây giờ đã có rất nhiều doanh nghiệp biết đến franchise. Nếu như gõ
cụm từ: “nhượng quyền thương mại” trên Google thì kết quả sẽ là 260.000
trang web viết về nhượng quyền thương mại, so với trước đây chỉ vài nghìn hay
vài chục nghìn kết quả. Điều đó cho thấy franchise đang được đề cập rất nhiều.
Hiện nay, khi Việt Nam mới gia nhập WTO, rất nhiều thương hiệu nổi tiếng
trên thế giới sẽ vào Việt Nam đồng thời hàng hóa dịch vụ của Việt Nam cũng
sẽ xâm nhập thị trường quốc tế, và “xa lộ” franchise là con đường tốt nhất để
những thương hiệu xa xôi đến được nhiều nơi khác nhau trên thế giới. [13]
1.4.
ý nghĩa của nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại không chỉ mang lại lợi ích to lớn cho các bên
trong quan hệ mà còn tác động trực tiếp theo hướng tích cực tới sự phát triển
của nền kinh tế, xã hội.
1.4.1. Đối với bên nhượng quyền:
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thì
bên nhượng quyền sẽ được hưởng những lợi ích mà nếu kinh doanh theo
phương thức thông thường thì không có được: Theo đó bên nhượng quyền
không cần phải tiêu tốn nhiều vốn đầu tư mà cũng có thể nhanh chóng mở rộng
hệ thống kinh doanh, thâm nhập thị trường và sẽ thiết lập một mạng lưới kinh
10
doanh rộng lớn trên toàn quốc và thậm chí trên toàn thế giới thông qua việc sử
dụng vốn đầu tư của bên nhận quyền. Đồng thời hệ thống kinh doanh được mở
rộng mà vẫn nằm trong sự điều tiết chung của bên nhượng quyền. Bên nhượng
quyền có quyền giám sát việc bên nhận quyền đối xử như thế nào đối với
“quyền kinh doanh” đã được nhượng, nhất là thái độ của bên nhận quyền với
việc bảo vệ và làm cho thương hiệu trở nên tốt đẹp hơn.
Thêm vào đó, cùng với việc chuyển giao “quyền thương mại ” cho một
chủ thể kinh doanh khác cùng kinh doanh, bên nhượng quyền có thể nhận được
một khoản vốn không nhỏ thu được từ khoản phí nhượng quyền mà bên nhận
quyền phải trả.
Ngoài ra, do bên nhận quyền là một cơ sở kinh doanh độc lập về pháp lý
và tài chính với bên nhượng quyền nên bên nhận quyền có động lực đem hết tài
năng của mình nhằm mang lại chất lượng hàng hóa, dịch vụ tốt nhất cho khách
hàng, đem lại sự tín nhiệm của người tiêu dùng -vốn được coi như là yếu tố
quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh, từ đó đem lại thành công, phát
triển chung cho mạng lưới nhượng quyền thương mại và tất nhiên đem lại lợi
ích cho bên nhượng quyền.
1.4.2. Đối bên nhận quyền:
Lợi ích đầu tiên mà bên nhận quyền có được đó là: không phải tốn kém
nhiều chi phí và thời gian vào việc xây dựng mô hình kinh doanh, đào tạo đội
ngũ đội ngũ quản lý hoặc xây dựng một thương hiệu trên thị trường. Bên nhận
quyền có thể tiến hành kinh doanh ngay sau khi được nhượng “quyền thương
mại ” bởi vì bên nhận quyền sẽ ngay lập tức nhận được lợi ích từ sự nổi tiếng
của nhãn hiệu, được tiếp nhận các bí quyết kinh doanh, các chiến lược phương
pháp xây dựng, quản lý tiếp thu các trang thiết bị của doanh nghiệp; Và bên
nhận quyền còn được hưởng sự đào tạo, trợ giúp liên tục bởi bên nhượng
quyền.
11
Hơn thế nữa, nhượng quyền thương mại còn giúp bên nhận quyền hạn
chế đến tối đa mức độ rủi ro trong kinh doanh. Một doanh nghiệp khi mới
thành lập thì dù là kinh doanh theo phương thức nào đi nữa thì cũng hàm chứa
nguy cơ rủi ro, thất bại.Tuy nhiên kinh doanh theo phương thức nhượng quyền
thương mại: kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn, cung cấp một loại
hàng hóa, dịch vụ đã có sức cạnh tranh trên thị trường, phần trăm rủi ro trong
kinh doanh được giảm xuống mức đáng kể.
1.4.3. Đối với nền kinh tế nói chung:
Không chỉ mang lại lợi ích cho các bên trong quan hệ, hoạt động nhượng
quyền thương mại còn mang lại rất nhiều lợi ích to lớn đối với nền kinh tế:
Đầu tiên, nhượng quyền thương mại khuyến khích hoạt động của doanh
nhân và hiệu quả của công việc kinh doanh quy mô nhỏ: chỉ với một khoản tiền
tích lũy khiêm tốn, không cần nhiều kiến thức kinh doanh, không nhất thiết
phải hiểu biết về kỹ thuật, một người hoàn toàn có thể trở thành một nhà đầu
tư, chủ nhân của một cơ sở kinh doanh theo mô hình nhượng quyền thương
mại. Chẳng hạn: tại Việt Nam, để đầu tư một cửa hàng nhượng quyền cà phê
Trung Nguyên, chủ đầu tư phải trả phí nhượng quyền khi gia nhập hệ thống là
hai mươi triệu đồng và đầu tư theo sự tư vấn và các quy định của bên nhượng
quyền. Đây là một khoản đầu tư không phải quá lớn đối với nhiều người Việt
Nam. Nhượng quyền kinh doanh, do vậy, đã huy động một lượng lớn đầu tư xã
hội cả về tài chính và con người - những nguồn tài chính rất cần cho sự phát
triển của nền kinh tế, đặc biệt, đối tượng hưu trí của xã hội có thể trở thành một
chủ đầu tư và đóng góp thiết thực cho quốc gia ngay khi đã nghỉ hưu.
Hơn nữa, nhượng quyền thương mại còn giúp giảm thiểu tổn thất cho
nền kinh tế: sự thất bại trong khởi sự doanh nghiệp là một thất thoát cho nền
kinh tế vì đó chính là các khoản đầu tư không hiệu quả, góp phần gia tăng lực
12
lượng lao động thất nghiệp do sự đóng cửa của doanh nghiệp, làm giảm ý chí
đầu tư của chủ đầu tư, ảnh hưởng lây lan đến các nhà đầu tư khác.
Thêm vào đó, một lợi ích không nhỏ mà nhượng quyền thương mại đem
lại đó là sự thúc đẩy thương mại quốc tế: ưu điểm trong việc mô hình hoá và
khả năng nhân bản nhanh và vượt qua những khó khăn về thông hiểu địa
phương. Một hợp đồng nhượng quyền thương mại được ký kết để thương hiệu
Gà Rán KFC hiện diện tại Việt Nam là nhanh chóng hơn rất nhiều so với việc
phát triển theo hình thức khác (mở văn phòng, chi nhánh, thành lập công ty
v.v... tại Việt Nam đối với KFC).
Trong các nền kinh tế đang phát triển, sự tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa
sống còn trong việc cải thiện mức sống dân cư và nâng cao năng lực cạnh tranh
của quốc gia. Để có tăng trưởng, đòi hỏi quốc gia phải đầu tư. Hình thức
nhượng quyền thương mại được đánh giá cao, khi bài toán vốn và rủi ro đầu tư,
nhược điểm bản chất của nền kinh tế đang phát triển, được giải quyết rất tốt
trong mô hình này.
1.5.
Phân biệt nhượng quyền thương mại và một số phương thức
kinh doanh cùng loại khác:
1.5.1. Nhượng quyền thương mại và bán hàng đa cấp:
Bán hàng đa cấp và nhượng quyền thương mại đều là hình thức phát triển
kinh doanh thông qua một mạng lưới bán lẻ. Tuy nhiên bản chất của nhượng
quyền thương mại và bán hàng đa cấp rất khác nhau, thể hiện ở một số điểm
sau đây:
Một là, khi nhượng quyền thương mại thì bên nhượng quyền được phép
thu một khoản phí dưới danh nghĩa phí gia nhập mạng lưới nhượng quyền
thương mại, phí đào tạo và các khoản phí khác cho việc xây dựng, mở cửa
hàng... trong khi đó theo hình thức bán hàng đa cấp, doanh nghiệp bán hàng đa
13
cấp không được yêu cầu người tham gia trả bất kỳ khoản phí nào, kể cả dưới
danh nghĩa khóa học, khóa đào tạo...
Hai là, Khi kinh doanh theo mô hình nhượng quyền, bên nhận quyền bắt
buộc phải mở cửa hàng với cách trang trí, cách phục vụ giống với bên nhượng
quyền, trong khi theo hình thức bán hàng đa cấp thì người tham gia vào mạng
lưới bán hàng đa cấp không cần phải mở cửa hàng, không cần địa điểm cố định.
Ba là, theo phương thức nhượng quyền thương mại thì lợi nhuận của bên
nhận quyền là doanh thu từ hoạt động kinh doanh của mình, trong khi với
phương thức bán hàng đa cấp, lợi nhuận nằm ở phần trăm hoa hồng được
hưởng từ công ty bán hàng đa cấp.
1.5.2. Nhượng quyền thương mại và li-xăng quyền sở hữu trí tuệ:
Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ
(hoặc người được chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ chuyển giao quyền sử
dụng đối tượng sở hữu trí tuệ) chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử
dụng đối tượng sở hữu trí tuệ của mình cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể
khác, nhằm thu phí. Các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể được chuyển giao bao
gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, bản quyền
tác giả, bí mật kinh doanh, giống cây trông mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn. Khác với hợp đồng li-xăng, trong hợp đồng nhượng quyền thương
mại: bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh theo những cách thức của bên nhượng quyền và được
phép sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền để sản xuất
kinh doanh.
Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại rộng hơn rất nhiều so
với hợp đồng li-xăng, nó còn bao gồm các đối tượng khác như bí quyết kỹ
14
thuật, phương pháp, quy trình kinh doanh, các chỉ dẫn, quy tắc, tiêu chuẩn chất
lượng...
Phí trong li-xăng là phí trả cho từng đối tượng được li-xăng cụ thể, còn
phí trong nhượng quyền thương mại là phí trả cho việc sử dụng tổng hợp mọi
quyền sở hữu trí tuệ được giao .
Trong hợp đồng li-xăng, bên giao li-xăng chỉ thực hiện các công việc
kiểm tra giúp đỡ bên nhận li-xăng. Ngược lại trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại, luôn ràng buộc bên nhận quyền phải triệt để tôn trọng và thực
hiện đầy đủ các tiêu chuẩn, chi tiết kỹ thuật mà bên nhượng quyền quy định .
Một điểm khác biệt nữa giữa li xăng và nhượng quyền thương mại đó là
bên nhượng quyền tiếp tục phát triển hệ thống bí quyết, phương thức kinh
doanh và liên tục chuyển giao các bí quyết, phương thức này cho bên nhận
quyền.Vấn đề phát triển hệ thống bí quyết này bao gồm việc đào tạo cho nhân
viên của bên nhận quyền đến việc củng cố, phát triển các bí quyết, giám sát
hoạt động của bên nhận quyền và hỗ trợ bên nhận quyền trong suốt thời hạn có
hiệu lực của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong khi đó trong hợp đồng
li-xăng sở hữu trí tuệ thì không có điều này.
1.5.3. Nhượng quyền thương mại và hoạt động đại lý :
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên đại lý nhân danh
chính mình mua hoặc bán hàng hóa (tùy vào loại hình đại lý mua hoặc đại lý
bán) cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách
hàng và hưởng thù lao do bên giao đại lý trả trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên
trong hợp đồng đại lý. Nhượng quyền thương mại tuy có nhiều điểm tương
đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt so với loại hình đại lý bán ở những điểm
sau:
15
Bên giao đại lý có quyền ấn định giá mua, giá bán hàng hóa đại lý nhưng
đồng thời cũng có trách nhiệm trả thù lao cho bên đại lý. Ngược lại trong quan
hệ nhượng quyền thương mại thì bên nhận quyền phải trả phí cho bên nhượng
quyền.
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, trong quá trình sản xuất kinh
doanh thì bên nhận quyền phải trả phí định kỳ cho bên nhượng quyền. Còn
trong suốt quá trình làm đại lý thì bên đại lý lại được hưởng thù lao do bên giao
đại lý trả.
Một điểm khác nhau nữa là cách trang trí cửa hàng của bên đại lý là hoàn
toàn theo ý chí của chủ hàng đại lý trong khi đó việc trang trí cửa hàng nhượng
quyền là phải tuân theo những tiêu chuẩn thống nhất do bên nhượng quyền đặt
ra.
2. Khái quát về hợp đồng nhượng quyền thương mại
2.1.
Chủ thể quan hệ nhượng quyền thương mại
2.1.1. Mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền:
Trong một quan hệ kinh doanh nhất định, các chủ thể luôn có địa vị bình
đẳng với nhau: bình đẳng trên phương diện tự do thỏa thuận, tự do khế ước
cũng như thay đổi hay hủy bỏ khế ước... tuy nhiên trong quan hệ nhượng quyền
thương mại thì sự bình đẳng này dường như bị hạn chế. Bên nhượng quyền
thường là bên có ưu thế bởi vì bên nhượng quyền là chủ sở hữu của “quyền
thương mại”, chính điều đó đã tạo cho bên nhượng quyền có quyền đưa ra các
yêu cầu về giá, các quy định về hoạt động sản xuất kinh doanh, các tiêu chuẩn
kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và quyền giám sát
hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền. Có thể thấy rằng Hợp đồng
nhượng quyền lúc nào cũng được soạn thảo bởi bên nhượng quyền nên luôn có
khuynh hướng bảo vệ lợi ích của bên nhượng.
16
Mục đích của bên nhận quyền khi tham gia vào quan hệ nhượng quyền
thương mại là mong muốn tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở sự thành công, uy tín
thương hiệu của bên nhượng quyền. Vì vậy, xét ở một khía cạnh nhất định, bên
nhận quyền luôn chấp nhận sự yếu thế của mình trong quan hệ với bên nhượng
quyền thương mại. Tuy nhiên, bên nhượng quyền không thể áp đặt tất cả các
yêu cầu đối với bên nhận quyền, hơn nữa, bên nhận quyền coi như đã được đối
xử một cách công bằng. Bởi lẽ, xét trên phương diện pháp lý thì bên nhượng
quyền và bên nhận quyền là hai chủ thể pháp lý độc lập cùng hợp tác kinh
doanh, vì vậy quan hệ của hai bên này chỉ được công nhận là hợp pháp nếu như
cả hai bên đều thoã mãn về mặt ý chí khi giao kết hợp đồng.
2.1.2. Mối quan hệ giữa bên nhượng quyền, bên nhận quyền và bên
nhận lại quyền:
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, trong một số trường hợp nhất
định, bên nhận quyền có thể chuyển nhượng lại “quyền thương mại” cho người
thứ ba (gọi là bên nhận lại quyền) nếu được bên nhượng quyền chấp thuận. Và
bên nhận lại quyền này cũng có quyền và nghĩa vụ giống như bên nhận quyền.
Tuy nhiên bên nhận lại quyền sẽ bị giới hạn một số quyền so với bên nhận
quyền, thông thường đó sẽ là việc hạn chế quyền nhượng lại quyền thương mại
cho một bên khác; hoặc là bên nhận lại quyền sẽ bị giới hạn nhiều về phạm vi
hoạt động.
Điều 290 Luật thương mại Việt Nam hiện hành quy định về việc nhượng
quyền lại. Theo đó, nhượng quyền lại là quan hệ pháp luật, theo đó bên nhận
quyền nhượng lại quyền đã nhận cho một bên khác để trở thành bên nhượng
quyền trong quan hệ với bên thứ ba (bên nhận lại quyền). Như vậy trong một
chừng mực nào đó quan hệ nhượng quyền lại là quan hệ giữa ba bên: bên
nhượng quyền, bên nhận quyền và bên nhận lại quyền, mặc dù hình thành trên
hai hợp đồng nhượng quyền riêng biệt nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau.
17
2.1.3. Mối quan hệ giữa các bên chủ thể quan hệ nhượng quyền
thương mại với khách hàng:
Xuất phát từ bản chất của hình thức kinh doanh nhượng quyền thương
mại, đó là: mặc dù bên nhận quyền là một pháp nhân độc lập nhưng lại sản xuất
kinh doanh trên cơ sở công nghệ, uy tín kinh doanh, thương hiệu của một
doanh nghiệp khác, bên nhượng quyền phải tuân theo các tiêu chuẩn của hệ
thống nhượng quyền thương mại về chất lượng, hình thức, phương thức phục
vụ đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng đến tay
người tiêu dùng. Chính đặc điểm của nhượng quyền thương mại đã hình thành
nên một mối quan hệ hết sức chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
tham gia quan hệ này, đặc biệt là khi phát sinh trách nhiệm đối với khách hàng.
2.2.
Một số vấn đề cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương
mại.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là căn cứ pháp lý cao nhất quy định
và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng. Một hợp đồng
nhượng quyền thương mại phải đạt được hai mục đích cơ bản sau:
Một là, các điều khoản của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác để
ràng buộc được các bên bằng quan hệ hợp đồng và có thể giải quyết được các
vướng mắc nảy sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Hai là, bảo vệ được quyền lợi của các bên và đặc biệt là các quyền sở
hữu trí tuệ của bên nhượng quyền.
2.2.1. Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại:
Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại là các bên tham gia vào
quan hệ hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên muốn trở thành chủ thể của hợp
đồng nhượng quyền thương mại các bên phải đáp ứng đủ những điều kiện theo
18
quy định của pháp luật. Về tư cách chủ thể của các bên tham gia quan hệ, pháp
luật các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu chủ thể đó phải có đăng ký kinh
doanh. Yêu cầu trên về chủ thể nhằm đảm bảo các bên có đủ khả năng tham gia
vào quan hệ pháp luật nhượng quyền thương mại, đồng thời cũng nhằm đảm
bảo khả năng quản lý của nhà nước đối với các hoạt động nhượng quyền
thương mại. Bên cạnh những điều kiện đối với tư cách pháp lý của các bên
trong quan hệ, pháp luật của các quốc gia còn đặt ra một số các điều kiện khác
như: thời gian hoạt động tối thiểu của hợp đồng, yêu cầu tài chính lành mạnh
của mỗi bên...
Ngoài các điều kiện chung pháp luật còn đặt ra các điều kiện cụ thể như:
điều kiện về ngành nghề kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, văn bằng, giấy phép
hoặc điều kiện kinh doanh mà các chủ thể đó phải có khi tham gia vào quan hệ
nhượng quyền thương mại.
2.2.2. Hình thức của hợp đồng:
Có thể nói, điều quan trọng nhất đối với một hợp đồng nhượng quyền
thương mại nằm ở chính nội dung của hợp đồng đó, tuy nhiên, hình thức biểu
hiện cũng được coi là một trong những khía cạnh xem xét chủ yếu của hợp
đồng và hầu hết phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Theo pháp luật thương mại của một số quốc gia, hình thức của hợp đồng
nhượng quyền thương mại có thể bằng: văn bản, bằng lời nói, bằng hành vi
hoặc bằng một thỏa thuận ngầm định. Quy định này nhằm tôn trọng tối đa
quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát
triển của quan hệ nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, đối với pháp luật
thương mại của một số nước khác, hợp đồng được thể hiện dưới dạng văn bản
mới có thể ghi nhận được rõ ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa
thuận, đây là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện các điều đã cam kết. Hình thức
hợp đồng bằng văn bản được đánh giá là hình thức tốt nhất giúp các cơ quan
19
nhà nước có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệ nhượng
quyền thương mại và giải quyết các tranh chấp hoặc xử phạt các vi phạm xảy ra
trong quá trình thực hiện hợp đồng.
2.2.3. Nội dung của hợp đồng:
.a
Đối tượng của hợp đồng:
Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại thực chất chính là
“quyền thương mại” - đây là tập hợp các quyền năng của chủ sở hữu liên quan
đến các đối tượng của sở hữu công nghiệp như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương
mại biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì, bí quyết kinh doanh, sáng chế,
giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp.
.b
Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng:
Theo Luật Thương Mại Việt Nam, từ điều 286 đến điều 289 quy định về
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Vấn
đề này khá phức tạp do phụ thuộc vào thỏa thuận rất đa dạng giữa các bên, do
đó pháp luật buộc phải dự liệu rất nhiều trường hợp khác nhau để từ đó điều
chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên một cách đầy đủ. Sự cụ thể hóa quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ nhượng quyền thương mại có vai
trò ảnh hưởng quyết định tới đến hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu tranh chấp
giữa các bên. Vì vậy, để hạn chế các tranh chấp không đáng có xảy ra, trong
hợp đồng, các bên cũng nên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể,
rõ ràng và chi tiết về các nội dung sau:
Một là, về “giá cả và phương thức thanh toán” điều này là vô cùng quan
trọng, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại các bên phải thỏa thuận cụ thể
về phí chuyển nhượng ban đầu, các khoản phí khác và các phương thức thanh
toán phù hợp.
20
Hai là, về nội dung liên quan đến lãnh thổ được nhượng quyền thương
mại,vì việc phân chia thị trường một cách khoa học sẽ giảm đi sự cạnh tranh
không cần thiết và tăng lợi nhuận cho cả hai bên trong quan hệ nhượng quyền
thương mại.
Để đảm bảo được chất lượng hàng hóa dịch vụ, đảm bảo được quyền lợi
của khách hàng, và để bảo vệ được uy tín cho bên nhượng quyền và toàn bộ hệ
thống nhượng quyền thương mại, thì các nội dung như: tiêu chuẩn về nguyên
liệu, nguồn nguyên liệu; việc kiểm tra và giám sát chất lượng hàng hóa, dịch
vụ; việc đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi thông tin cũng là những nội dung
rất quan trọng cần được quy định rõ ràng trong hợp đồng .
.c
Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, thay đổi, chấm dứt, gia
hạn hợp đồng:
Các điều khoản liên quan đến thời hạn hợp đồng cũng như việc chấm dứt
hợp đồng là những vấn đề rất khó thỏa thuận. Dường như không có cơ sở nào
để đưa ra khoảng thời hạn hợp lý cho việc nhượng quyền thương mại, trong
nhiều trường hợp các chủ thể chỉ được quyền thỏa thuận trong giới hạn thời
gian do pháp luật quy định.
Xuất phát từ thực tế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, việc
liên tục thay đổi, nâng cao về chất lượng, hình thức của dịch vụ là một đòi hỏi
tất yếu, vì vậy hai bên trong quan hệ hợp đồng luôn đưa ra điều khoản về việc
thay đổi hợp đồng. Căn cứ vào từng trường hợp thay đổi có thể xảy ra trên thực
tế mà quy định về quyền và trách nhiệm cụ thể của hai bên.
Việc gia hạn hợp đồng được thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận của hai
bên. Nếu trước khi kết thúc thời hạn hợp đồng, cả hai bên đều nhận thấy việc
tiếp tục thực hiện hợp đồng là cần thiết thì sẽ tiến hành gia hạn hợp đồng theo
một khoảng thời gian mà hai bên thỏa thuận.
21
Điều khoản về việc chấm dứt hợp đồng có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích
của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng cũng như các chủ thể có liên quan
khác. Có nhiều trường hợp dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng: chấm dứt thông
thường khi kết thúc thời hạn ghi trong hợp đồng và chấm dứt bất thường khi
một trong hai bên chủ thể phá sản hoặc chấm dứt hoạt động sản xuất kinh
doanh trước khi kết thúc thời hạn hợp đồng. Dù là trường hợp chấm dứt thông
thường hay bất thường thì ngay sau khi chấm dứt hợp đồng, hai bên phải thanh
toán tất cả các quyền và nghĩa vụ với nhau.
.d
Một số vấn đề khác liên quan đến hợp đồng nhượng quyền
thương mại:
Một là, về trách nhiệm của các bên đối với bên thứ ba. Mối quan hệ về
quyền lợi giữa hai bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương
mại luôn ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của người thứ ba đó là khách hàng. Tuy nhiên khi có vấn đề xảy ra thì bắt buộc phải xác định
xem bên nào sẽ đứng ra chịu trách nhiệm với khách hàng. Đây thực sự là lĩnh
vực rất dễ nảy sinh tranh chấp trong quan hệ giữa các chủ thể của quan hệ
nhượng quyền thương mại.
Hai là, về việc nhượng quyền lại cho bên thứ ba. Có rất nhiều lý do khiến
cho bên nhận quyền phải cân nhắc đến xác suất phải nhượng lại cửa hàng của
mình cho người khác trong tương lai. Thông thường thì bên nhượng quyền sẽ
có quyền ưu tiên mua lại với giá cả và các điều kiện tương đương mà bên nhận
muốn nhượng lại cho người thứ ba.
Ba là, quyền và nghĩa vụ của hai bên sau khi kết thúc hợp đồng. Đối với
hợp đồng nhượng quyền thương mại thì sau khi chấm dứt hợp đồng có rất
nhiều vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của hai bên cần phải tiếp tục giải
quyết bởi vì, khi chấm dứt hợp đồng các đối tượng của sở hữu công nghiệp như
bí quyết kinh doanh, tên thương mại, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng
22
công nghiệp rất dễ bị bên nhận quyền chiếm dụng. Để tránh những hậu quả xấu
có thể xảy ra, điều khoản về quyền và nghĩa vụ của hai bên sau khi chấm dứt
hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được quy định cụ thể và đầy đủ trong
hợp đồng.
Bốn là, về vấn đề giải quyết tranh chấp. Mối quan hệ nhượng quyền
thương mại là một mối quan hệ phức tạp, thường có rất nhiều tranh chấp phát
sinh, chính vì vậy, thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp một cách đầy đủ và
chi tiết là rất quan trọng, nó sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng nhất giúp cho việc
giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn; làm giảm khả năng phải
gánh chịu những hậu quả bất lợi cho các chủ thể khi giải quyết tranh chấp.
Ngoài ra một số vấn đề khác có liên quan như: việc đăng ký và phê duyệt
hợp đồng cũng rất quan trọng giúp nhà nước có thể quản lý hoạt động nhượng
quyền thương mại. Việc này không chỉ đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể tham gia hợp đồng, mà còn đảm bảo lợi ích chung cho toàn thể xã hội. Vấn
đề công bố thông tin cũng được đặc biệt quan tâm vì nó có ảnh hưởng lớn đến
quyết định của bên nhận quyền cũng như hiệu quả kinh tế của hợp đồng
nhượng quyền thương mại, sự minh bạch, đúng đắn về thông tin của bên
nhượng quyền còn là điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định việc có hay không cho phép một doanh nghiệp được tiến hành nhượng
quyền thương mại. Ngoài ra, hợp đồng nhượng quyền thương mại thường được
đính kèm theo bản phụ lục để chi tiết hóa một số điều khoản quan trọng của
hợp đồng như: điều khoản về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, kế hoạch đào
tạo, hỗ trợ kỹ thuật, các thông tin liên quan.
2.2.4. Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại:
.a
Chuyển giao quyền sản xuất gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ
(processing franchise)
23
Là loại hình nhượng quyền thương mại theo đó bên nhượng quyền cho
phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các sản
phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Thông thường, trong
nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền
cả những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện
đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên
nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như hỗ trợ
đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi.
.b
Chuyển giao quyền kinh doanh dịch vụ gắn liền với quyền sở
hữu trí tuệ (service franchise)
Nhượng quyền dịch vụ thường thấy phổ biến trong một số lĩnh vực như
dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng... Theo đó bên
nhượng quyền là bên đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số)
mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng. Sau đó, bên nhượng quyền
cho phép bên nhận quyền được sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng
và bí quyết của bên giao để cung ứng các dịch vụ này ra thị trường theo sự chỉ
đạo của bên nhượng quyền.
.c
Chuyển giao quyền phân phối gắn liền với quyền sở hữu trí
tuệ (distribution franchise)
Bên nhận quyền chỉ được bán các sản phẩm gắn nhãn hiệu của bên giao
tại cửa hiệu gắn tên thương mại hoặc biểu tượng của bên giao. mối quan hệ
giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối
quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất
ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận
quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu
của bên nhượng quyền. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân
phối thường gặp trong các lĩnh vực như phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa
24
hàng phân phối mỹ phẩm VICHY, LO'REAL...) hay phân phối nhiên liệu cho
các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX,
EXXON). [10]
3. pháp luật về nhượng quyền thương mại của một số quốc gia
Nhượng quyền thương mại là đối tượng điều chỉnh của pháp luật nhiều
nước trên thế giới. Hoạt động này rất dễ nảy sinh tranh chấp vì vậy trong pháp
luật về nhượng quyền thương mại của các quốc gia đều có những quy định điều
chỉnh quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại:
3.1.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của
Australia:
Luật về hoạt động nhượng quyền thương mại của Australia có hiệu lực
vào ngày 1 tháng 7 năm 1998, Luật này điều chỉnh tương đối toàn diện và cụ
thể về các vấn đề liên quan đến hợp đồng. Luật đã đưa ra định nghĩa về hợp
đồng nhượng quyền thương mại, theo đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại
là một thỏa thuận mà một phần hoặc toàn bộ được thể hiện dưới một trong các
hình thức văn bản, lời nói hoặc một thỏa thuận ngầm định theo đó bên nhượng
quyền cấp cho bên nhận quyền quyền thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp
đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia
theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định, kiểm soát
hoặc được đề xuất bởi bên nhận quyền hoặc hiệp hội của những bên nhượng
quyền.
Luật này cũng đã đưa ra những quy định cụ thể về trường hợp hủy bỏ
hợp đồng nhượng quyền thương mại như sau:
-
Hủy bỏ hợp đồng do vi phạm của bên nhận quyền: trong trường
hợp bên nhận quyền vi phạm hợp đồng nhượng quyền thương mại hoặc có ý
định hủy bỏ hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền có quyền
25
chấm dứt hợp đồng. Tuy vậy, trước khi tiến hành tuyên bố việc chấm dứt hợp
đồng, bên nhượng quyền phải thông báo hợp lý cho bên nhận quyền về việc có
ý định hủy bỏ hợp đồng và cho bên nhận quyền thời gian hợp lý để bồi thường
do vi phạm. Thời gian hợp lý không được quá 30 ngày.
-
Hủy bỏ hợp đồng không do vi phạm của bên nhận quyền
-
Hủy bỏ hợp đồng trong các trường hợp đặc biệt.
Bên nhượng quyền có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp
sau: Bên nhận quyền không còn giấy phép để thực hiện hoạt động kinh doanh
theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền lâm vào tình trạng
phá sản, bên nhận quyền từ bỏ các hoạt động kinh doanh theo các quyền được
nhượng, bên nhận quyền bị kết án tù do có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong
hoạt động nhượng quyền thương mại gây nguy hiểm cho an toàn và sức khỏe
cộng đồng hoặc lừa dối về hoạt động nhượng quyền thương mại hoặc đồng ý
hủy bỏ hợp đồng nhượng quyền thương mại. [21]
3.2.
Pháp luật điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại của
Trung Quốc:
Năm 1997, Bộ Nội thương Trung Quốc thông qua thông tư công bố các
biện pháp quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại. Thông tư đã quy định
cụ thể các vấn đề có liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại: điều
kiện để trở thành bên nhượng quyền và bên nhận quyền, quyền và nghĩa vụ các
bên tham gia ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, yêu cầu công bố
thông tin trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, nội dung hợp
đồng, phương thức thanh toán phí nhượng quyền. Đặc biệt, thông tư quy định
khoản phí nhượng quyền mà bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền
được điều chỉnh theo điều 14 của Quy chế tạm thời điều chỉnh việc quản lý tài
chính của các doanh nghiệp kinh doanh theo mạng. Ngoài ra, theo pháp luật về
26
nhượng quyền thương mại Trung Quốc, các tranh chấp phát sinh trong quá
trình thực hiện hợp đồng giải quyết theo cơ chế được các bên ghi nhận trong
hợp đồng. Hơn nữa, bên nhượng quyền phải nộp các tài liệu liên quan đến việc
nhượng quyền thương mại cho hiệp hội các doanh nghiệp kinh doanh theo
mạng của Trung Quốc trước khi chính thức bắt đầu ký kết bất cứ hợp đồng
nhượng quyền thương mại nào.
3.3.
Pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của liên minh
Châu Âu (EU).
Dựa vào án lệ, ủy ban liên của minh Châu Âu đã ra 5 phán quyết liên
quan đến nhượng quyền thương mại và thông qua quy chế miễn trừ về hợp
đồng nhượng quyền thương mại. Quy chế miễn trừ về hợp đồng nhượng quyền
thương mại quy định sự khác biệt giữa các loại hợp đồng nhượng quyền thương
mại (nhượng quyền thương mại công nghiệp, nhượng quyền thương mại phân
phối, và nhượng quyền thương mại dịch vụ). Quy chế này điều chỉnh hợp đồng
nhượng quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền liên
quan đến việc cung cấp hàng hóa dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng
hoặc sự kết hợp của các lĩnh vực này ví dụ như việc chế biến hoặc cải tiến hàng
hóa cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Quy chế này đồng thời điều
chỉnh các trường hợp đặc biệt khác của nhượng quyền thương mại,ví dụ như
trong trường hợp mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền được
xác lập thông qua một bên thứ ba.
Mặc dù các quốc gia khác nhau đã có những quy định khác nhau về
nhượng quyền thương mại nhưng pháp luật về nhượng quyền thương mại của
những quốc gia này đều là những văn bản có giá trị tham khảo rất lớn trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt
Nam.