Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

Kỹ thuật tiếp cận đa mô hình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (92.81 KB, 5 trang )

Ứng dụng vào tham vấn Các tác giả theo quan điểm tham vấn và trị liệu hành vi cho rằng sự
thay đổi hành vi diễn ra theo 5 bước sau
Bước 1: Xây dựng mối quan hệ: NTV phải xây dựng được một mối quan hệ lành mạnh với TC
và bắt đầu xác định một cách rõ ràng những mục tiêu của tham vấn theo phương pháp tiếp cận
hành vi. NTV xây dựng một mối quan hệ hợp tác với TC và bắt đầu khám phá những vấn đề
trọng tâm mà TC muốn chú ý.
Bước 2: Nhận diện vấn đề và đặt mục tiêu sau khi xác định chính xác một số hành vi mà thân
chủ muốn thay đổi như không ăn quá nhiều, không uống rượu hút thuốc… nhà tham vấn và
thân chủ xác định những hành vi đặc trưng mà thân chủ quan tâm và đặt ra một vài thử
nghiệm.(ở bước này, điều đặc biệt quan trọng là NTV đạt được những thông tin chính xác để
xác định vấn đề của TC. NTV vì thế phải đảm bảo những thông tin nền tảng đầy đủ về TC và đặt
những câu hỏi kiểm tra để bộc lộ sự thực tự nhiên của vấn đề. Một sự chẩn đoán sai vấn đề sẽ
dẫn đến sử dụng sau các kỹ thuật tham vấn. Mỗi lần vấn đề được xác định một cách rõ ràng thì
bản thân nó đã trợ giúp NTV và TC thấu hiểu một cách đầy đủ sự mở rộng của vấn đề, từ đó TC
trong sự cộng tác với NTV, có thể bắt đầu quyết định những vấn đề nào họ muốn tập trung và
đặt ra một vài mục tiêu thử nghiệm.)
Bước 3: Lựa chọn các kỹ thuật: Dựa vào thuyết điều kiện hoá kinh điển, điều kiện hoá thao
thác, thuyết tập nhiễm xã hội, NTV có một số lượng lớn các kỹ thuật để trợ giúp TC trong quá
trình tham vấn thông qua tiến trình thay đổi VD: giúp thân chủ trang bị một số kỹ năng tự thư
giãn trên khuôn mặt để đề phòng với trường hợp căng thẳng. ở bước này, NTV phải lựa chọn kỹ
thuật sát với mục tiêu đã đặt ra ở bước 2 để thân chủ thực hiện theo.
Bước 4: Lượng giá sự thành công: Quá trình tham vấn được coi là thành công khi có sự giảm
thiểu những hành vi bất thường và mạnh mẽ, kéo dài và thường xuyên ở TC. Nếu không đạt
được điều này, NTV phải xác định lại vấn đề và các kỹ thuật.
Bước 5: Kết thúc tham vấn và theo dõi: NTV phải duy trì liên lạc với TC trong một khoảng thời
gian cần thiết để bảo đảm thành công của quá trình tham vấn, chuẩn bị cho TC tâm thế và khả
năng tự điều chỉnh sau khi quá trình tham vấn kết thúc. NTV phải theo dõi xem những thay đổi
hành vi có được duy trì trong cuộc sống hàng ngày của TC không, TC có khả năng ứng phó với
những biến thể của rối nhiễu trong tương lai hay không. Nếu những điều đó xảy ra, có thể coi
quá trình tham vấn đã thành công và mới có thể thực sự được kết thúc.
Ta có những kỹ thuật tham vấn cụ thể


Kĩ thuật hành vi mẫu


Nhà tham vấn xác định những mẫu hành vi có thể quan sát được và yêu cầu TC luyện
tập dưới sự dám sát của NTV. Sau c thời gian thì TC sẽ tự luyện tập ở nhà.
VD: Các kĩ năng thông dụng: nói ngọng, lắng nghe, thấu cảm bằng cách luyện tập nói,
đóng vai tình huống…..
Kĩ thuật điều kiện hóa thao tác
Sau khi các kĩ năng thông dụng đã được hình thành ở TC, NTV giúp TC dập tắt những
hành vi không mong muốn bằng cách hình thành những hành vi mới một cách tích cực
(tăng cường độ hoặc tần số xuất hiện hành vi)
VD: học sinh học kém lười làm bài tập: đầu tiên cho học sinh làm những bài tập cơ bản,
sau đó sẽ tăng số lượng bài tập kèm theo mức độ khó cũng tăng dần.
Sử dụng bài tập thư giãn và giảm cảm giác tiêu cực có hệ thống.
NTV cùng TC và hướng dẫn TC vượt qua sự lo lắng và sợ hãi. Giúp TC tăng năng lực kiểm
soát, có thể đương đầu được với những khó khăn, rối nhiễu tâm lý.
Giải mẫn cảm có hệ thống
Kĩ thuật do joseph Wolpe (1958) đề xướng. Liệu pháp này được dung để hóa giải những
rối nhiễu tâm lí kiểu ám sợ, lo hãi…và được thừa nhận là một trong những phương pháp
hóa giải lo hãi có hiệu quả, dễ sử dụng và dễ thành công.
Kĩ thuật giải mẫn cảm có hệ thống gồm các bước sau :
Bước 1: NTV yêu cầu than chủ nhắm mắt lại và tưởng tượng ra một loại kích thích gây sợ
theo một trật tự từ yếu đến mạnh.
Bước 2: NTV hướng dẫn TC tiến hành các bài tập thư giãn để đưa TC vào trạng thái thư
giãn toàn thân. (bài tập thư giãn được coi là một bộ phận của kĩ thuật giải mẫn cảm có
hệ thống)
Bước 3: Trong trạng thái thư giãn, NTV yêu cầu TC tưởng tượng một cách sinh động lần
lượt những kích thích gây lo âu đã liệt kê từ mức yếu nhất đến mức cơ thể quen dần.
Nếu kích thích được quen dần không gây nên những khó chịu thì chuyển lên một kích
thích mạnh hơn. Nếu thấy ở thân chủ cảm giác lo âu- khó chịu thì dừng lại, tập trung thư

giãn để có thể tiếp tục thích ứng. Cứ vậy đến nấc thang gây sợ cao nhất.
VD: Một cô bé sợ mèo. Nhà trị liệu dùng kỹ thuật này để hóa giải chứng ám sợ của cô. Trước
hết, người ta yêu cầu cô bé tưởng tượng ra các tình huống gây căng thẳng, lo sợ xung quanh
chứng sợ này rồi sắp xếp chúng từ mức độ yếu đến mạnh nhất.
- Nghe người khác nói chuyện về mèo - mức độ sợ hãi thấp nhất.
- Nhìn một con mèo bằng nhựa, 1 bức tranh có hình con mèo.
- Xem một đoạn phim có hình con mèo đang chạy.
- Nhìn từ xa một con mèo bị nhốt trong lồng.


- Nhìn gần con mèo bị nhốt trong lồng.
- Sờ vào con mèo - mức độ căng thẳng sợ hãi cao nhất.
Cô bé này được hướng dẫn kỹ thuật thư giãn, lần lượt từng nhóm cơ rồi thư giãn toàn thân. Khi
cơ thể ở vào trạng thái thư giãn, cô bé được khuyến khích tưởng tượng ra những hình ảnh gây
sợ, tiến tới từng bậc thang sao cho chuyển từ những liên tưởng trước đây hoặc những hình ảnh
gián tiếp gây stress ở mức thấp đến những hình ảnh trực tiếp gây sợ hãi cao nhất. Nếu cơ thể
có phản ứng sợ như căng cơ, vã mồ hồi, run chân tay, nhịp tim, thở tăng thì dừng lại, tập trung
thư giãn đưa cơ thể trở về tạng thái thoải mái trước khi tiếp tục chuyển sang kích thích gây sợ
hơn. Sau một số buổi luyện tập như vậy trẻ sẽ hết ám sợ mèo (khoảng 12 - 15 tuổi)
Kỹ thuật tiếp cận đa mô hình: (BASICID)
Người đưa ra các tiếp cận này : Amold Lazarus
Trọng tâm của cách tiếp cận này là tập trung vào đánh giá, phân tích thân chủ, nhu cầu của thân
chủ qua 7 yếu tố. Nhà tham vấn yêu cầu thân chủ viết ra những đặc điểm của cá nhân trong
từng lĩnh vực sau:

B (behavior – hành vi): xem xét khía cạnh hành vi. Thân chủ phải thống kê một danh sách
hành vi có thể quan sát được như hoạt động thói quen cử chỉ, sự đáp ứng và phản ứng mà họ
muốn thay đổi. Xác định xem họ muốn bắt đầu hay kết thúc làm việc gì.

A (affect – tình cảm, cảm xúc): ghi lại những cảm xúc, tình cảm, trạng thái và những cảm

xúc mạnh không mong muốn (kể cả cảm xúc tức giận, lo lắng, hận thù). Đề nghị họ nói về cảm
xúc hiện tại: tích cực và tiêu cực, cảm xúc nào cần được duy trì, cảm xúc nào cần được loại bỏ.

S (sensation – cảm giác về thân thể): đưa ra những cảm giác tiêu cực liên quan đến các
giác quan như nếm, ngửi, sờ, nghe (ví dụ: căng thẳng, đau đớn, đờ đẫn, kiến bò trong bụng)
Nhà tham vấn có thể đặt những câu hỏi: Bạn có hay ra mồ hôi không? (trán hay tay), thường ra
mồ hôi vào lúc nào, một ngày ra mấy lần, khi cắn mòng tay có hay ra mồ hôi không?

I (imagery – tưởng tượng): kể lại những giấc mơ hoặc những kỷ niệm gì đó đã gây buồn
phiền cho cá nhân.VD: mơ tới cái gì? Khi cắn móng tay nghĩ đến cái gì? Lập ra danh sách bất cứ
hình ảnh tinh thần hay hình ảnh âm thanh nào gây rắc rối cho thân chủ.

C (congnition – nhận thức): để thân chủ đưa ra những giá trị, thái độ, ý kiến, ý tưởng làm
cho cá nhân thoải mái hay không thoải mái.



I (interpersonal relationship – mối quan hệ liên nhân cách): Thân chủ ghi lại tất cả những
điểm tiêu cực trong mối quan hệ với người khác khiến cá nhân không vui (bạn bè, họ hàng,
người thân, đồng nghiệp, người quen) và những hành vi mà thân chủ mong muốn có từ họ. Câu
hỏi nhà tham vấn có thể gợi ý cho thân chủ: Mối quan hệ hiện nay của bạn với những người
khác như thế nào (quan hệ rộng – hẹp, thân thiết – xa cách) bởi vì sự lo âu nhiều khi cũng bắt
nguồn từ sự cô đơn, trống trải.

D (drug – sức khỏe/thuốc men): ghi lại những vấn đề về sức khỏe, bệnh tật, các loại
thuốc đang sử dụng hay bác sỹ đã kê đơn. Từ đó hiểu họ đang mắc bệnh gì và xem bệnh đó có
liên quan đến vấn đề hay không?

Tiếp theo quá trình phân tích là chiến lược trò chuyện cởi mở vào những mục tiêu tham vấn
được phát triển cho mỗi mẫu hành vi. Hướng tiếp cận của Lazarus là rất thực tế và có thể áp

dụng bởi bất kỳ nhà tham vấn có sự hiểu biết sâu về sự can thiệp tham vấn và về phía thân chủ.

Kỹ thuật tràn ngập và chìm ngập:
kỹ thuật tràn ngập : Được thể hiện bằng một kích thích gây sợ hãi nhất ngay cực trên của bậc
thang lo âu, những phải trong môi trường an toàn. TC trong trại thái thư giãn hoàn toàn, tự
tưởng tượng một tình huống gây sợ hãi nhất hoặc nghe một cuốn băng mô tả chi tiết tình
huống đó. ý nghĩa của phương pháp này là TC không được phép né tránh những tình huống kích
thích gây sợ hãi mà ngược lại đối mặt tiếp cận với những kích thích này. Đây cũng là thời điểm
giúp TC khám phá ra rằng tiếp cận với những kích thích hiện tại không có những hiệu quả âm
tính như mình nghĩ trước đây. Việc xuất hiện lặp đi lặp lại kích thích gây sợ khiến cho nó mất
dần sức mạnh tạo ra lo âu của nó. Khi lo âu xảy ra không dài lắm hoặc không xảy ra sẽ làm cho
Stress giảm xuống hoặc mất đi.
Kỹ thuật chìm ngập cũng tương tự như kỹ thuật tràn ngập, ngoại trừ TC đống ý tiếp xúc trực tiếp
với hoàn cảnh có thực, đòi hỏi TC trải nghiệm tiếp xúc với những điều kiện có thực. TC được
kích thích tưởng tượng, chẳng hạn xem một cuốn phim hoặc nghe một đoạn băng mô tả chi tiết
tình huống gây sợ (điều này có thể không giống như sợ hãi mà họ vừa tưởng tượng). Kỹ thuật
này đã được xác nhận là có hiệu lực hơn kỹ thuật giải mẫn cảm có hệ thống và trong tham vấn
stress có liên quan đến rối nhiễu tâm lý như ám sợ ma, ám sợ khoảng trống...
Keyword: môi trường an toàn, hoàn cảnh có thực, kích thích gây sợ hãi, thân chủ đối mặt,


Hai kỹ thuật này cũng được dùng để hoá giải những rối nhiễu tâm lý như lo hãi, ám sợ. Kỹ thuật
tràn ngập đối lập với kỹ thuật giải mẫn cảm có hệ thống. Tại thời điểm bắt đầu của Việc sử dụng
những kỹ thuật này đòi hỏi NTV phải có trình độ cao, đạt tới trình độ tham vấn - trị liệu chuyên
nghiệp.



×