Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân Bình Dương (19541975)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (550.11 KB, 27 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO PHƯƠNG THẢO

LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
CỦA QUÂN VÀ DÂN BÌNH DƯƠNG
(1954-1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:

62 22 03 13

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1.

PGS.TS. HỒ SƠN ĐÀI

2.

TS. TRẦN THỊ NHUNG


Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Ngọc Cơ
Phản biện 2: PGS.TS. Đoàn Ngọc Hải
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Mão

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại: Học viện Khoc học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh
Xuân, Hà Nội
Vào hồi

giờ

ngày

tháng

năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện khoa học xã hội.
- Thư viện Quốc gia Việt Nam


CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

1.

“Quân và dân Thủ Dầu Một phối hợp với chiến trường cả nước trong cuộc
tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954” (viết chung), trong Kỷ yếu
Hội thảo khoa học: “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên chiến trường cực Nam
Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ”, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Nxb. Quân đội

nhân dân, Hà Nội, 2004.

2.

“Phong trào chiến tranh nhân dân chống Mỹ ở Bình Dương 1965-1972”,
trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực
Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2005.

3.

“Cuộc đấu tranh của quân và dân Bình Dương chống chiến lược “chiến
tranh cục bộ” của Mỹ (1965-1968), Tạp chí Khoa học Xã hội (Thành phố
Hồ Chí Minh), số 12 (172), năm 2012.

4.

“Vị thế của Bình Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ góc nhìn địa
lý quân sự”, Tạp chí Khoa học Xã hội (Thành phó Hồ Chí Minh), số 4
(200), năm 2015.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình Dương là một tỉnh thuộc phía Bắc miền Đông Nam Bộ, phía Bắc
giáp tỉnh Bình Phước, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh,
phía Tây Nam và Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng đất có vị trí
trọng yếu về kinh tế và quân sự, do nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố lớn nhất nước, và nằm ở vị trí cầu nối giữa Nam Trường Sơn với Nam
Bộ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược của quân và

dân Việt Nam, Bình Dương là bàn đạp tiến công vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ
và chính quyền Sài Gòn từ hướng Bắc. Chiến trường Bình Dương rất thuận lợi cho
các hoạt động tác chiến với quy mô tập trung của các binh đoàn chủ lực cơ động và
cũng là nơi mà phong trào chiến tranh du kích rất phát triển. Chính vì vậy, cả thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ đều xem Bình Dương là địa bàn mà họ tập trung dồn sức
tiến công. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), vùng
đất Bình Dương ngày nay là một trong những địa bàn đụng đầu vô cùng quyết liệt
giữa quân cách mạng và quân đội Mỹ và Sài Gòn1. Trên chiến trường Bình Dương,
tất cả những đơn vị “sừng sỏ” của đội quân viễn chinh Mỹ và đồng minh của họ
đều có mặt. Đây cũng là nơi mà quân đội Mỹ đã tiến hành những cuộc hành quân
khốc liệt, trong đó có sử dụng những loại vũ khí tối tân nhất lúc bấy giờ nhằm tiêu
diệt lực lượng cách mạng của Việt Nam.
Với truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang, Bình Dương có rất nhiều
địa danh gắn liền với những chiến công vang dội, là niềm tự hào đối với quân và
dân cả nước như Chiến khu Đ, Chiến khu Thuận An Hòa, Chiến khu Long Nguyên,
Tam giác sắt, chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang, Nhà
Đỏ… Trải qua 21 năm kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ nhưng rất đáng tự hào,
dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân
Bình Dương đã phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng kiên
cường, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, lập nên những chiến công xuất sắc,
hoàn thành nhiệm vụ trên một địa bàn chiến lược ở miền Đông Nam Bộ, góp phần
xứng đáng cùng quân và dân cả nước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành thống nhất đất nước.
Từ trước đến nay, do còn có nhiều hạn chế về mặt tư liệu thành văn cũng
. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), chính quyền Sài Gòn ban
hành Sắc lệnh số 143-NV thành lập tỉnh Bình Dương bao gồm các quận: Châu
Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Dầu Tiếng, Củ Chi. Năm 1959, chính quyền Sài Gòn ra
Sắc lệnh số 25-NV thành lập tỉnh Phước Thành trên cơ sở một phần đất tách ra từ
tỉnh Bình Dương, đến năm 1965 thì tỉnh này bị giải thể. Trong thời gian này, chính
quyền cách mạng vẫn sử dụng tên gọi Thủ Dầu Một để chỉ vùng đất Bình Dương

ngày nay.
1

1


như chưa có sự thống nhất cao trong việc nhận định, đánh giá từ các nhân chứng
lịch sử, nên lịch sử tỉnh Bình Dương nói chung và lịch sử đấu tranh cách mạng của
quân và dân tỉnh Bình Dương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
nói riêng chưa được tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ. Vì vậy,
luận án về đề tài này sẽ góp phần bổ sung cho những công trình nghiên cứu về cuộc
đấu tranh cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ ở Bình Dương và miền Đông Nam
Bộ được toàn diện và sâu sắc hơn.
Ngoài ra, trước đây bản thân tác giả luận án cũng đã có điều kiện nghiên
cứu về lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Bình Dương
(1945-1954), vì vậy những kinh nghiệm và tư liệu thu thập được từ quá trình
nghiên cứu sẽ giúp cho tác giả có thêm những hiểu biết cần thiết và điều kiện thuận
lợi để nhận thức một cách đầy đủ về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân
Bình Dương trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954-1975).
Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, vấn đề “Lịch sử đấu tranh cách
mạng của quân và dân Bình Dương (1954-1975)” được tác giả chọn làm đề tài
nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Khoa học Lịch sử với mong muốn góp phần vào việc
tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện về lịch sử đấu tranh cách mạng của
quân và dân Bình Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Bình Dương ngày nay được gọi với tên là tỉnh
Thủ Dầu Một, vì vậy chúng tôi sẽ gọi là tỉnh Thủ Dầu Một trong luận án của
mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu “Lịch sử đấu tranh cách mạng của quân

và dân tỉnh Bình Dương (1954-1975)” thứ nhất là nhằm tổng hợp, xâu chuỗi các
nội dung đấu tranh cách mạng của Bình Dương thành một hệ thống để đưa ra một
cái nhìn tổng thể về cuộc đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hai là từ việc xâu chuỗi và hệ thống hóa lại
để rút ra một số đặc điểm, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm trong đấu
tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là phục dựng chân thật và khoa học
cũng như đánh giá những đóng góp của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ngoài ra, trên cơ sở mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết
những mục tiêu cụ thể sau:
- Sưu tầm, hệ thống hóa và đánh giá tài liệu thông qua các vấn đề nghiên
cứu.
- Trình bày các nội dung đấu tranh cách mạng trong một thể thống nhất
nhằm luận giải một cách hệ thống và toàn diện tiến trình đấu tranh cách mạng trong

2


thời kỳ chống Mỹ, cứu nước của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo
trực tiếp của các cấp Đảng bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phương qua từng
giai đoạn lịch sử.
- Rút ra một số đặc điểm và bài học kinh nghiệm lịch sử nhằm làm rõ hơn
thực tiễn sinh động về việc thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản
Việt Nam thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội… ở một địa bàn cụ thể là tỉnh Thủ Dầu Một
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là phong trào đấu tranh cách

mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Nội dung nghiên cứu:
Đấu tranh cách mạng là phạm vi rất rộng. Luận án chỉ tập trung trình bày:
- Hoạt động của bộ máy chính trị tỉnh (Đảng, chính quyền cách mạng, Mặt
trận Dân tộc giải phóng tỉnh).
- Hoạt động của các lực lượng cách mạng (nông dân, công nhân, công
nhân cao su, học sinh sinh viên…).
- Hoạt động xây dựng căn cứ địa – hậu phương tại chỗ, chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa – xã hội…
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài luận án giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 7-1954 đến
tháng 4-1975, tức trong thời kỳ đấu tranh chống Mỹ cứu nước của quân và dân cả
nước. Mặc dù đề tài chỉ giới hạn trong giai đoạn này, nhưng thực tế cuộc đấu tranh
cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một có liên hệ rất lớn đối với các giai
đoạn trước. Do đó, luận án cũng đề cập khái quát đến lịch sử truyền thống của tỉnh
Thủ Dầu Một cho đến trước tháng 7-1954.
3.2.3. Không gian nghiên cứu
Luận án tập trung phản ánh các cuộc đấu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu
nước của quân và dân trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một trong thời kỳ kháng chiến
chống Mỹ cứu nước gồm có thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, huyện Bến Cát,
huyện Thuận An, huyện Phú Giáo (tức phạm vi thuộc tỉnh Bình Dương hiện nay,
bao gồm thành phố Thủ Dầu Một; các thị xã Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An
và các huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên).
Đồng thời, luận án cũng chú trọng mở rộng hướng nghiên cứu, đặt cuộc
đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong tiến trình đấu tranh
cách mạng trên phạm vi toàn miền Nam và cả nước, để từ đó làm nổi bật những nét
đặc thù của tỉnh Bình Dương trong các cuộc đấu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu
nước.


3


4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phong trào đấu
tranh cách mạng của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc ở các nước thuộc địa.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Hướng tiếp cận: Khác với các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ và
lịch sử kháng chiến (nghiên cứu quá trình hình thành, tổ chức và lãnh đạo của các
tổ chức Đảng), lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu
Một trong giai đoạn 1954-1975 là cuộc chiến tranh nhân dân. Do đó, luận án tập
trung làm rõ những nguyên nhân, quá trình diễn biến và đặc điểm lịch sử của cuộc
đấu tranh cách mạng của quân và dân Bình Dương qua từng giai đoạn lịch sử.
Trong đó nhấn mạnh: Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương; Vai trò của quần
chúng nhân dân; Các vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh như vấn đề xây dựng căn
cứ địa kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân...
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lịch sử đấu tranh cách mạng của
quân và dân từ góc độ sử học, đề tài vận dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu
cơ bản của khoa học lịch sử, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Bên
cạnh đó, đề tài còn chú trọng sử dụng các phương pháp: tổng hợp, so sánh, phỏng
vấn hồi cố, phương pháp liên ngành,…
- Phương pháp lịch sử: Giúp chúng tôi xem xét và trình bày quá trình
hình thành và xây dựng lực lượng cách mạng của quân và dân tỉnh Bình Dương qua
các thời kỳ và giai đoạn lịch sử cụ thể, gắn với bối cảnh tình hình của mỗi thời kỳ,
mỗi giai đoạn; làm rõ các sự kiện và vấn đề lịch sử như nó đã từng xảy ra trong quá
khứ. Kết hợp phương pháp logic với phương pháp lịch sử, đề tài hệ thống lại các
sự kiện, đúc kết những đặc điểm, vai trò, thành công, hạn chế trong quá trình hình
thành, xây dựng và đấu tranh của lực lượng cách mạng tỉnh Bình Dương ở từng

thời kỳ, từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình chống Mỹ xâm lược (từ 1954
đến 1975). Qua đó rút ra những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay.
- Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Nhằm khai thác tư liệu từ các nhân
chứng lịch sử, nhất là các nhân chứng đã trực tiếp tham gia các trận đánh lịch sử,
các phong trào đấu tranh tiêu biểu, sôi nổi trong giai đoạn 1954-1975, để thu thập
thêm nguồn tư liệu sống, đối chiếu và bổ sung thêm vào nguồn tư liệu thành văn có
phần ít ỏi, phân tán ở các giai đoạn này; góp phần làm rõ thêm hiện thực sinh động
của nội dung nghiên cứu mà tài liệu thành văn chưa phản ánh đầy đủ.
Bên cạnh đó, để giải quyết những vấn đề khoa học của luận án, tác giả vận
dụng thêm các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành trong việc khai thác,
chọn lọc và phân tích các tài liệu thu thập được.

4


5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về tài liệu
Sưu tầm và hệ thống hóa các tài liệu đa dạng và phong phú từ nhiều nguồn
như thư viện, bảo tàng, cục lưu trữ, nguồn tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được,... về
lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Luận án góp phần bổ sung tài liệu phục vụ
cho việc tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương. Đây đồng thời là
nguồn tài liệu bổ khuyết cho việc nghiên cứu về lịch sử đấu tranh của quân và dân
miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng trong một giai đoạn
kháng chiến đầy cam go và thử thách.
5.2. Về nội dung
- Luận án góp phần phục dựng một cách hệ thống và toàn diện về tiến trình
đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong 21 năm chiến tranh giải
phóng (1954-1975). Đặc biệt, chúng tôi chú ý đến việc làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng

bộ địa phương, vấn đề xây dựng căn cứ địa kháng chiến, vấn đề xây dựng lực lượng vũ
trang 3 thứ quân và vai trò của quần chúng nhân dân, vai trò của lực lượng chủ lực, xây
dựng hậu phương tại chỗ, xây dựng các tổ chức cách mạng trên địa bàn tỉnh. Đây chính
là những nhân tố tích cực, nêu bật tinh thần “lấy dân làm gốc”, góp phần quan trọng
làm nên chiến thắng của quân và dân Thủ Dầu Một.
- Làm rõ đặc điểm và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống
Mỹ của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một. Trong đó, chú trọng nêu bật vai trò lãnh
đạo sáng suốt và đường lối quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
việc kết hợp sức mạnh tổng hợp của quân và dân Thủ Dầu Một “chung sức, chung
lòng” đấu tranh chống xâm lược.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- “Lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Bình Dương (19541975)” là một bộ phận của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân
miền Nam. Viết về lịch sử Bình Dương trong thời kỳ 1954-1975 có ý nghĩa góp
phần cụ thể để góp phần đánh giá, tổng kết về những năm đấu tranh hào hùng của
dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn.
- Bình Dương – Thủ Dầu Một lúc đó (một tỉnh nằm giữa miền Đông Nam
Bộ) là chiến trường chính của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền
Nam vì nơi này là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng. Giải quyết được
những vấn đề được đặt ra, luận án sẽ bổ sung những luận cứ khoa học không những
để hoàn chỉnh bức tranh đầy đủ, chân thực quá trình đấu tranh cách mạng, đầy tính
sáng tạo, quả cảm của quân và dân tỉnh Bình Dương, mà còn góp phần làm rõ nét
tính độc đáo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hào hùng của dân tộc Việt
Nam. Đồng thời, những nhận xét được rút ra trong quá trình nghiên cứu sẽ gợi mở
những bài học thiết thực đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân

5


dân tỉnh Bình Dương giai đoạn hiện nay. Đây chính là ý nghĩa khoa học và giá trị

thực tiễn của đề tài luận án.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm 4 chương:
- Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
luận án.
- Chương 2. Những yếu tố địa lý và lịch sử chi phối đến cuộc đấu tranh cách mạng
của quân và dân Thủ Dầu Một
- Chương 3. Diễn biến đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một
từ 1954 đến 1965.
- Chương 4. Diễn biến đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một
từ 1965 đến 1975.
- Chương 5. Đặc điểm và bài học kinh nghiệm.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu chung về cuộc kháng chiến chống Mỹ có
liên quan đến luận án
- “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học”
(Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1996).
- Nhóm công trình về lịch sử kháng chiến của cả nước và Nam Bộ như:
“Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975”, gồm 9 tập (Viện Lịch sử
Quân sự Việt Nam, trực thuộc Bộ Quốc Phòng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2013). “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II (1954-1975)” (Hội đồng chỉ đạo lịch
sử Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010) và “Biên
niên sự kiện lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975” (Hội đồng chỉ đạo lịch sử
Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010).
- “Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975)” (là công trình của Hội đồng chỉ đạo biên

soạn lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003).
- “Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (19451975)” (Đảng uỷ – Bộ tư lệnh Quân khu 7, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011)
v.v…
1.2. Nhóm các công trình đề cập trực tiếp đến đấu tranh cách mạng ở Thủ
Dầu Một trong chống Mỹ
- Về Đảng bộ địa phương, có “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (19301975) ” (Đảng bộ tỉnh Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003), Lịch

6


sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương
(1945-2010)” (Đảng bộ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương, Nxb. Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2014).
- Về lịch sử chính quyền, có chuyên khảo “Lịch sử chính quyền nhân dân
tỉnh Bình Dương (1945-2005)” (Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương, Nxb. Chính trị
Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014).
- Về địa chí có “Địa chí Bình Dương, tập I: Tự nhiên – Nhân Văn”, (Uỷ
ban nhân dân tỉnh Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010); “Thủ Dầu
Một Bình Dương Đất nước – con người” (Hồ Sơn Diệp chủ biên, 2012, Nxb. Chính
trị Quốc gia, Hà Nội)…
- Viết về lịch sử địa phương có các sách của thị xã và các huyện thuộc tỉnh
Bình Dương ngày nay như: “Lịch sử Đảng bộ Thị xã Thủ Dầu Một", tập I (19301945), tập II (1945-1975)” (Tỉnh ủy Sông Bé chủ biên, 1986); “Thuận An những
chặng đường lịch sử", tập I (1930-1954), tập II (1954-1975)” (Ban Thường vụ
Huyện ủy Thuận An chủ biên, 1988); “Truyền thống cách mạng của quân và dân
Bến Cát", tập I (1930-1954), tập II (1954-1975)” (Ban Tuyên giáo Huyện ủy Bến
Cát xuất bản, 1988); “Lịch sử Đảng bộ huyện Dầu Tiếng (1945-1975” (Đảng bộ
huyện Dầu Tiếng chủ biên, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000); “Lịch sử
huyện Tân Uyên, tập I (1930-1975)” (Nxb. Tổng hợp Sông Bé, 1992); “Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975)” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình
Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003); …

1.3. Vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
1.3.1. Những nội dung có thể kế thừa từ các công trình khoa học đã
công bố
Đường lối, chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Chính sách, âm mưu, thủ đoạn
của chính quyền Sài Gòn và đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn
1954-1975; Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền Nam giai đoạn
1954-1975; Diễn biến của cuộc chiến tranh, các sự kiện quân sự, chính trị, kinh tế,
văn hóa – xã hội ở tỉnh Thủ Dầu Một từ 1954 đến 1975 ; Những phân tích về đặc
điểm và bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước.v.v…Mặc dù vậy, chưa có một công trình chuyên khảo về lịch sử đấu tranh
cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong kháng chiến chống Mỹ một
cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ.
1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
- Nghiên cứu sâu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân Bình
Dương (theo tổ chức hành chính hiện nay) một cách hệ thống, toàn diện các lĩnh
vực : lãnh đạo điều hành cuộc đấu tranh cách mạng, xây dựng tiềm lực cách mạng,
cuộc đấu tranh cách mạng diễn ra trên các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hóa – xã hội. Tất cả được trình bày trong một thể thống nhất nhằm luận giải một

7


cách hệ thống và toàn diện tiến trình đấu tranh cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ,
cứu nước của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một. Từ đó, làm rõ hơn thực tiễn sinh
động về việc thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam…ở
một địa bàn cụ thể là tỉnh Thủ Dầu Một.
- Phân tích đặc điểm và bài học kinh nghiệm về lịch sử đấu tranh cách
mạng của quân và dân Bình Dương trong giai đoạn 1954-1975.
- Sưu tầm, hệ thống hóa và đánh giá tài liệu thông qua các vấn đề nghiên

cứu, cung cấp một số tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu mà tác giả sưu tầm
được trong quá trình thực hiện luận án.
CHƯƠNG 2
NHỮNG YẾU TỐ ĐỊA LÝ VÀ LỊCH SỬ CHI PHỐI ĐẾN CUỘC ĐẤU
TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN VÀ DÂN THỦ DẦU MỘT
2.1. Đặc điểm địa lý , tự nhiên, hành chính, quân sự và cư dân
2.1.1. Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên
Thủ Dầu Một (phần địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay) là một tỉnh thuộc
miền Đông Nam Bộ, nằm ở vị trí nối tiếp Nam Trường Sơn với đồng bằng sông
Cửu Long, có toạ độ địa lý 10.51’46” - 11.30’00” vĩ độ Bắc và 106.20’00” 106.58’00” kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, Đông giáp tỉnh Đồng
Nai, Tây giáp tỉnh Tây Ninh, Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Khí hậu chia
thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
2.695,22km2.
Trong thời kỳ kháng chiến, rừng rậm không chỉ có tác dụng “che bộ đội”
và “vây quân thù”…Đất đai rắn chắc và khô ráo cũng là điều kiện tốt để xây dựng
những công trình quân sự ngầm dưới lòng đất như các hầm vũ khí, lương thực, căn
cứ địa đạo v.v…Tóm lại, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã đem lại cho tỉnh Thủ
Dầu Một hai lợi thế về mặt quân sự: Có thể làm địa bàn trung chuyển nối các
hướng chiến trường và có thể gây áp lực mạnh mẽ cho địch ngay sát phía Bắc đối
với Sài Gòn.
2.1.2. Địa lý hành chính
Trong quá khứ, Bình Dương ngày nay trải qua nhiều lần tách nhập với
những tên gọi khác nhau.
Sau khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), chính
quyền thực dân thiết lập hạt thanh tra Biên Hòa trên địa bàn tỉnh Biên Hòa cũ.
Ngày 14-3-1866, huyện Bình An được tách khỏi hạt thanh tra Biên Hòa để lập
thành hạt thanh tra Bình An. Sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 16-81867, chính quyền thực dân chia Nam Kỳ Lục tỉnh thành 24 hạt thanh tra. Hạt
thanh tra Bình An đổi tên thành hạt thanh tra Thủ Dầu Một. Ngày 20-12-1899,
Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra nghị định đổi hạt tham biện
(Arrondissement) thành tỉnh (Province) và kể từ ngày 1-1-1900, hạt tham biện Thủ


8


Dầu Một đổi thành tỉnh Thủ Dầu Một. Cơ cấu hành chính này tồn tại đến cuối thời
Pháp thuộc (1945).
Dưới thời Mỹ xâm lược, từ tháng 10-1956, chính quyền Sài Gòn giải thể
tỉnh Dầu Một để thành lập tỉnh Bình Dương và một phần tỉnh Bình Long. Năm
1959, chính quyền Sài Gòn cho tách một phần đất của Bình Dương, cùng với phần
đất của 2 tỉnh Biên Hoà và tỉnh Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành (tỉnh này tồn
tại đến năm 1965 thì giải thể).
Về phía cách mạng, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954),
có thời gian chính quyền kháng chiến Nam Bộ hợp nhất hai tỉnh Thủ Dầu Một và
Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, thuộc Phân liên khu miền Đông (từ năm 1951 đến
cuối năm 1954). Tháng 9-1960, Xứ ủy Nam Bộ ra quyết định sáp nhập lại tỉnh Thủ
Dầu Một và tỉnh Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Tháng 6-1961, tỉnh Thủ Biên lại
tách ra thành hai tỉnh cũ và thành lập ba tỉnh mới: Phước Thành, Bình Long, Phước
Long. Tháng 10-1967, Trung ương Cục miền Nam tổ chức lại chiến trường, thành
lập các phân khu; đại bộ phận các địa phương của tỉnh Thủ Dầu Một thuộc Phân
khu 5 rồi Phân khu Thủ Biên. Đến tháng 10-1972, tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập
theo Chỉ thị 08/CT ngày 30-8-1972 của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.
Tháng 10-1973, một phần đất phía Bắc Thủ Dầu Một được tách ra để thành lập tỉnh
Tân Phú; đến cuối năm 1974 tỉnh Tân Phú lại trả về tỉnh Thủ Dầu Một. Tỉnh Thủ
Dầu Một lúc này gồm các huyện Bến Cát, Lái Thiêu, Châu Thành, Tân Uyên, Dĩ
An, Phú Giáo, Dầu Tiếng và thị xã Thủ Dầu Một (tổ chức hành chính này tồn tại
đến năm 1975).
Ngày 2-7-1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
chính thức quyết định sáp nhập hai tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước thành tỉnh
Sông Bé. Sau đó, theo Quyết nghị của Quốc hội khóa IX (kỳ họp thứ X, ngày 6-111996), tỉnh Sông Bé tách thành hai tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Ngày 1-11997, tỉnh Bình Dương chính thức được thành lập.
2.1.3. Địa lý quân sự

Về tổ chức quân sự, Thủ Dầu Một là địa bàn án ngữ, là tuyến phòng ngự
chủ yếu bảo vệ cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn; là nơi kẻ thù thường xuyên bố trí một
lực lượng khối chủ lực, hình thành hệ thống căn cứ quân sự liên hoàn với hàng
trăm đồn bót dày đặc ở khắp tỉnh để vừa ngăn chặn, vừa làm vị trí xuất phát tiến
công quân cách mạng. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Thủ Dầu Một làm cho
vùng đất này có điều kiện thuận lợi để trồng cây cao su và phát triển các ngành thủ
công mỹ nghệ nổi tiếng. Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược miền Đông Nam Bộ,
họ đã liên tiếp cho xây dựng các hệ thống đường giao thông chiến lược, xây dựng
đồn bót, kho tàng, nhà máy xe lửa, đồn điền cao su… (mở đường quốc lộ 13, 14,
đồn binh Thủ Dầu Một, nhà máy xe lửa Dĩ An, đồn điền cao su Dầu Tiếng, Phước
Hòa, nạo vét cảng, xây dựng 3 chiếc cầu cập bến lớn, 1 nhà tù lớn, 1 tòa án, nhiều
trại lính, phục hồi và mở rộng khu chợ…) nhằm phục vụ công cuộc khai thác thuộc

9


địa và các mục đích quân sự, chính trị, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh” ở Việt Nam và Đông Dương v.v…
Thủ Dầu Một là vùng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt quân sự
đối với cách mạng Việt Nam nên nơi đây có nhiều căn cứ địa cách mạng từ thời
chống Pháp như Chiến Khu Đ (Tân Uyên), chiến khu An Sơn, An Thành, Thuận
An Hòa, Long Nguyên, vùng căn cứ Tây Nam Bến Cát (An Điền, An Phú, An
Tây), vùng căn cứ Bắc Bến Cát (Thanh An, Thanh Tuyền, Long Nguyên) và hình
thành hệ thống căn cứ địa liên hoàn với các huyện trong tỉnh, tạo thành một tuyến
bàn đạp quân sự vững chắc, thuận lợi trong việc tấn công kẻ thù.
2.1.4. Cư dân Thủ Dầu Một
Thủ Dầu Một là vùng đất sinh tụ của tộc người Ang-đô-nê-diên cổ đại, tổ
tiên của người Stiêng, Mạ, Mơnông ngày nay. Cho đến cuối thế kỷ XVI, Thủ Dầu
Một vẫn còn là nơi hoang sơ, có nhiều rừng rậm, đầm lầy, ao hồ với đầy cây cỏ, bụi
rậm. Các nhóm dân tộc bản địa với số dân ít ỏi như người Mạ, Stiêng, Khmer,

Chơro, Mơnông… là chủ nhân của vùng đất này. Đến đầu thế kỷ XVII diễn ra đợt
di dân của một lớp cư dân mới, đó là các nhóm lưu dân người Việt. Cư dân người
Việt đến cư trú đầu tiên ở vùng đất này phần lớn là từ các tỉnh phía Bắc và Trung
Bộ Việt Nam, họ thuộc tầng lớp người lao động nghèo khổ như nông dân, thợ thủ
công…
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt ách xâm
lược và tiến hành khai thác thuộc địa, dân cư Thủ Dầu Một có nhiều biến động.
Việc thực dân Pháp lập ra các đồn điền, nhà máy, thu hút một số nông dân bị bần
cùng hóa ở các tỉnh phía Bắc (Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) và miền Trung,
về sau còn có nông dân nghèo ở đồng bằng Nam Bộ về đây làm phu đồn điền cao
su (đồn điền Dầu Tiếng, Phước Hòa) và các đồn điền trồng nhiều loại cây công
nghiệp khác (mía, trà, ca cao, dứa, bông vải, thuốc lá, cà phê, hồ tiêu…), công nhân
nhà máy xe lửa Dĩ An bị buộc ký hợp đồng dài hạn với tư bản Pháp để làm thuê
kiếm sống.
Về tín ngưỡng, lúc đầu tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Thủ
Dầu Một chủ yếu là tín ngưỡng đa thần. Khi những lớp cư dân người Việt đến định
cư sinh sống ở đây thì vùng đất này xuất hiện các tôn giáo mới như Phật giáo,
Thiên Chúa giáo, về sau có đạo Hòa Hảo và Cao Đài… Tất cả họ đã hình thành
một khối đoàn kết keo sơn để cùng chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống ấm
no cũng như trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và giặc ngoại xâm…
2.2. Truyền thống yêu nước, chống xâm lược của quân và dân tỉnh Thủ Dầu
Một qua các thời kỳ lịch sử đến trước năm 1954
2.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm lỵ sở huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa
(29-2-1861) thì phong trào kháng chiến của nhân dân Bình An nổ ra mạnh mẽ. Từ
cuối năm 1862 đến 1870, nghĩa quân và nhân dân ở đây hưởng ứng các cuộc khởi

10



nghĩa của Trương Định, Trương Quyền… đã tích cực đấu tranh chống Pháp xâm
lược.
Những năm đầu thế kỷ XX, trên địa bàn Thủ Dầu Một, một số gia đình
thuộc tầng lớp nho sĩ cấp tiến đã cho con cháu của họ tham gia phong trào Đông
Du, đồng thời hưởng ứng các cuộc vận động duy tân, chấn hưng thực nghiệp, mở
trường dạy học theo lối mới, cổ động dùng chữ quốc ngữ… Đặc biệt, Thiên Địa
Hội ở Thủ Dầu Một với phương châm “phản Pháp, phục Nam” cũng đã tích cực
chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Từ thập niên 20 (thế kỷ XX), “Hội Danh dự” phát
triển từ chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một) và mở rộng cơ sở ra các làng trong quận
Châu Thành.
Tháng 1-1930, chi bộ An Nam Cộng sản đảng đề-pô xe lửa Dĩ An được
thành lập và không lâu sau đó chi bộ đề-pô xe lửa này được củng cố và trở thành
chi bộ chính thức (3-1930). Cùng thời gian này, tại làng Bình Nhâm (quận Lái
Thiêu), nhiều thanh niên từng tham gia phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh được
các đảng viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin,
trở thành những hạt nhân nòng cốt trong phong trào cách mạng tại địa phương.
Trong cao trào cách mạng 1936-1939, các hoạt động đấu tranh đòi các
quyền dân sinh dân chủ diễn ra mạnh mẽ. Năm 1936, Tỉnh uỷ lâm thời Thủ Dầu
Một được thành lập đã đẩy mạnh công tác vận động tập hợp quần chúng vào các
Hội Tương tế, Hội Ái hữu, Uỷ ban hành động…; đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm
áo, hoà bình. Hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân, thợ thủ công, nông dân,
công chức, tiểu thương, tiểu chủ… cũng liên tiếp nổ ra. Bất chấp lệnh cấm của
chính quyền thực dân, các Uỷ ban hành động ở Chợ Thủ, Lái Thiêu và các làng
Tân Thới, Bình Nhâm, Uyên Hưng, Mỹ Quới… vẫn tổ chức rải truyền đơn, dán
khẩu hiệu, đưa yêu sách đòi quyền lợi và chống khủng bố…
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Tháng 8-1940,
Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một xúc tiến thành lập Uỷ ban khởi nghĩa và tổ chức xây dựng
lực lượng vũ trang được tiến hành khẩn trương, đồng bộ. Ngày 20-11-1940, lệnh
khởi nghĩa của Ban thường vụ Xứ uỷ được phổ biến đến các tỉnh, theo đó toàn xứ
sẽ đồng loạt khởi nghĩa vào nửa đêm 22-11-1940. Tỉnh uỷ và Uỷ ban khởi nghĩa

tỉnh Thủ Dầu Một lãnh đạo các địa phương trong tỉnh nổi dậy hưởng ứng khởi
nghĩa.
Giữa năm 1944, Xứ uỷ phổ biến đến các Tỉnh uỷ chủ trương thành lập các
Hội cứu quốc (trong hàng ngũ Mặt trận Việt Minh), nhằm tập hợp và rèn luyện
phương thức đấu tranh cho đông đảo quần chúng. Tháng 4-1945, Tỉnh uỷ lâm thời
Thủ Dầu Một họp tại làng Mỹ Phước (Bến Cát) nhằm quán triệt nội dung bản chỉ
thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban thường vụ trung
ương Đảng; thống nhất chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công tác phát triển đảng,
phát triển các Hội cứu quốc, xây dựng đội tự vệ và sắm sửa vũ khí chuẩn bị giành
chính quyền.

11


Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945
vừa là thành quả được kết tinh từ máu xương, công sức của nhiều thế hệ cư dân
Bình Dương trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc; vừa là cột mốc mở đầu
cho những trang sử mới của quân và dân tỉnh Bình Dương trong cuộc kháng chiến
chống Pháp xâm lược.
2.2.2. Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược (19451954)
Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, chính quyền các cấp và
lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một ra sức xây dựng, củng cố các căn cứ cách mạng
trong đó có các chiến khu nổi tiếng như: An Sơn, Chiến khu Đ, Thuận An Hòa,
Long Nguyên, địa đạo 3 xã Tây Nam Bến Cát nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bộ
máy chính quyền các cấp đứng chân hoạt động, tổ chức các cuộc trừ gian diệt tề, vũ
trang tuyên truyền kêu gọi thanh niên tòng quân, vận động nhân dân ủng hộ kháng
chiến.
Trong những năm 1947-1950, quân và dân Thủ Dầu Một đã đẩy mạnh
chiến tranh du kích, lập làng kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang ba cấp và
chống chính sách “bình định” của thực dân Pháp. Chiến tranh du kích đã gây cho

quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề, nhất là ở Thủ Dầu Một. Chiến dịch Bến Cát
(1950) là chiến dịch lớn của toàn miền Đông Nam Bộ và qua đó sáng tạo được cách
đánh đặc công.
Ý thức được vai trò trọng yếu của Thủ Dầu Một – Bình Dương, quân và
dân Thủ Dầu Một đã kiên trì và quyết liệt đấu tranh cách mạng. Các biện pháp linh
hoạt từ giáo dục và phát động quần chúng bảo vệ cơ sở cách mạng, đòi thực dân
Pháp thực hiện các cam kết, đòi quyền dân sinh dân chủ đến xây dựng cơ sở nội
tuyến trong lòng đối phương, kết hợp với việc phân hóa cô lập kẻ thù, vận động
binh lính Pháp và tay sai đào, rã ngũ hoặc đi theo cách mạng, tiến công tiêu diệt
đồn bót…Những hoạt động này khiến thực dân Pháp hoang man, càng đàn áp thì
càng thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một trong
năm 1954, góp phần cùng cả nước đánh bại quân Pháp xâm luợc.
Tiểu kết chương 2.
CHƯƠNG 3
DIỄN BIẾN ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN VÀ DÂN
THỦ DẦU MỘT TỪ 1954 ĐẾN 1965
3.1 Giai đoạn 1954-1960
3.1.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau Hiệp định Genève (7-1954), Mỹ - Diệm tiến hành phá hoại Hiệp định
Genève và đàn áp cách mạng miền Nam.

12


Tháng 1-1955, Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ đầu tiên ở Thủ Dầu
Một được tổ chức tại Chiến khu Đ. Đến tháng 1-1959, Hội nghị Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ XV mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên giành
thắng lợi trong phong trào Đồng Khởi.
3.1.2. Hoạt động xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng

bộ, chính quyền cách mạng tỉnh Thủ Dầu Một
- Đấu tranh chính trị, giữ gìn lực lượng cách mạng (1954-1956):
Tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Collins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm cầm đầu được Mỹ giúp sức đã đưa khẩu hiệu “Đả
thực, bài phong, diệt cộng”…Trước tình hình đó, tháng 1-1955, Hội nghị Ban chấp
hành Tỉnh Đảng bộ đầu tiên sau khi tái lập đã được tổ chức tại Chiến khu Đ đề ra
công tác tổ chức bố trí lại lực lượng Đảng từ tỉnh đến huyện…Từ đó các cuộc đấu
tranh chính trị diễn ra sôi nổi trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một có sự tham gia của tất
cả các giai tầng trong xã hội như công nhân, nông dân, đồng bào có đạo…tạo thành
lực lượng quần chúng mạnh mẽ…
- Xây dựng lực luợng cách mạng và căn cú địa kháng chiến:
Ngày 7-7-1956, Ngô Đình Diệm chính thức lên nắm quyền, công khai
tuyên bố đẩy mạnh chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Thực hiện chủ trương của Xứ
ủy Nam Bộ, từ giữa năm 1957, lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh đã phối hợp
với các đơn vị vũ trang của miền Đông Nam Bộ thực hiện một số trận đánh như sở
cao su Bến Củi (5-1957), sở cao su Minh Thạnh (8-1957), tấn công vào quận lỵ
Dầu Tiếng (8-1958)… Trong đấu tranh chính trị, quần chúng còn lấy vũ khí, lương
thực, tiền bạc của địch để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng…
3.1.3. Hoạt động đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu
Một
Thực hiện kế hoạch lập khu trù mật, khu dinh điền, chính quyền Diệm ráo
riết thực hiện đôn quân, bắt lính, lập ra các tổ chức phản động như “Thanh niên
cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”… làm hậu thuẫn. Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một chủ trương
vận động nhân dân đấu tranh quyết liệt. Cuộc đấu tranh của nhân dân ấp Phú Bình
(xã Long Nguyên, huyện Bến Cát) làm phá sản kế hoạch này. Ở Khánh Vân, chính
quyền Diệm lập “khu trù mật kiểu mẫu” (5-1957), trong lễ “cắt băng khánh thành”,
quần chúng đấu tranh đòi tẩy chay khu trù mật v.v…
Ngày 30-1-1960, Hội nghị bất thường của Tỉnh Ủy Thủ Dầu Một họp tại
An Điền (Bến Cát) quyết định chọn ngày 25-2-1960 là ngày “Đồng Khởi”. Từ đó,
các cuộc nổi dậy nổ ra ở các huyện Bến Cát, Châu Thành, Lái Thiêu và các đồn

điền Dầu Tiếng, Hớn Quản, Lộc Ninh…để chống chính quyền Diệm.
3.2. Giai đoạn 1961-1965
3.2.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

13


Sau cuộc "Đồng khởi" ở miền Nam (1960), đế quốc Mỹ tiến hành chiến
lược "Chiến tranh đặc biệt" với âm mưu và thủ đoạn bằng việc tiến hành chiến
tranh xâm lược Việt Nam bằng quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của hệ thống cố
vấn quân sự Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh hiện đại
của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng của Việt Nam. Trước tình hình
trên, từ đầu năm 1961 và 1962, các Hội nghị của Bộ Chính trị nêu chủ trương giữ
vững và phát triển thế tiến công mà ta đã giành được sau cuộc "Đồng Khởi" và đưa
cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách
mạng trên quy mô toàn miền Nam. Thực hiện việc kết hợp song song đấu tranh
quân sự và đấu tranh chính trị, đẩy mạnh đánh địch bằng 3 mũi giáp công trên 3
vùng chiến lược…
3.2.2. Xây dựng, phát triển lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân,
góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965)
- Từng bước xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh tiến
công đich, mở rộng vùng giải phóng:
Sau Đồng khởi, thực hiện theo chỉ thị của Ban Quân sự Miền, Trung đoàn
2 đã tiến đến vùng Bến Cát, Phú Giáo, Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một) với nhiệm vụ vận
động quần chúng và đấu tranh chống phá ấp chiến lược của Mỹ và Diệm. Ở xã
Thới Hòa thuộc tỉnh Bến Cát (Thủ Dầu Một), nhân dân đã kiên quyết kháng cự đến
cùng, không chịu theo sự cưỡng bức của chính quyền Sài Gòn vào các ấp chiến
lược. Quần chúng nhân dân đã phối hợp nổi dậy phá tan ấp Bến Tượng năm 1962.
Thắng lợi của việc phá tan ấp chiến lược Bến Tượng là kết quả của công cuộc

chuẩn bị lâu dài của quân và dân Thủ Dầu Một với phương châm 3 mũi giáp công.
Thành công tiếp nối là việc các ấp chiến lược như Rạch Bắp, Bàu Bàng, Dáng
Hương, Bến Súc, Kiến Điền, v.v…
- Hoạt động đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một:
Để đối phó việc Mỹ sử dụng các chiến thuật mới để càn quét lực lượng
cách mạng, tháng 12-1963, Hội nghị Trung ương lần IX xác định “đấu tranh chính
trị đi đôi với đấu tranh vũ trang” là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng miền
Nam… Giữa năm 1964, nhân dân cùng lực lượng vũ trang và công nhân ở Dầu
Tiếng phá tan ấp chiến lược Suối Giữa, Phú Bình, Dáng Hương. Cuối tháng 101964, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Thành và nhân dân chiến khu Đ đã thành công
trong nhiệm vụ bảo vệ cho đơn vị pháo binh mang vác khí tài lương thực của Miền
từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai tập kích vào sân bay Biên Hòa v.v…
Giai đoạn 1961-1965, cuộc đấu tranh của quân và dân Thủ Dầu Một góp
phần cùng với chiến thắng Tua Hai, Ấp Bắc, Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài…, nhân
dân Thủ Dầu Một đã đồng loạt phá ấp chiến lược, làm phá sản chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Tiểu kết chương 3.

14


CHƯƠNG 4
DIỄN BIẾN ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
CỦA QUÂN VÀ DÂN THỦ DẦU MỘT TỪ 1965 ĐẾN 1975
4.1. Giai đoạn 1965-1968
4.1.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự
phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961-1965), đế quốc Mỹ ào ạt đưa
quân Mỹ và quân các nước Đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiến hành
chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quy mô lớn, đồng thời dùng không quân, hải

quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trước tình hình trên,
Hội nghị Trung ương lần thứ XI (3-1965) và lần thứ XII (12-1965) của Đảng đã tập
trung đánh giá tình hình và quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ trên
toàn quốc, đó là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ở hai miền Nam và Bắc.
Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một và tỉnh Phước Thành đã tổ chức
quán triệt đến các cấp uỷ và lực lượng vũ trang trong từng Đảng bộ, Chi bộ cơ
quan, đơn vị tỉnh, huyện, xã, ấp tập trung lãnh đạo, khẩn trương triển khai xây dựng
củng cố các căn cứ bám trụ, căn cứ chiến đấu.v.v…
4.1.2. Chủ động tiến công tiêu diệt địch, xây dựng thế trận chiến tranh
nhân dân, góp phần đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ (61965 – 12-1968)
- Quân và dân Thủ Dầu Một đánh bại các cuộc hành quân, càn quét,
mở rộng vùng giải phóng:
Ngày 5-7-1965, Lữ đoàn dù 173 của Mỹ hành quân càn quét vùng Thuận
An. Nhân dân và du kích các xã Nam Bến Cát đã chiến đấu tiêu diệt 516 tên (trong
đó có 425 lính Mỹ), bắn rơi 3 máy bay, phá huỷ 4 xe quân sự…
Cuối tháng 11-1966 đầu năm 1967, Mỹ mở cuộc hành quân Cedar Falls, sử
dụng 3 lữ đoàn Mỹ (thuộc Sư đoàn 1 và 25 bộ binh, trung đoàn kị binh thiết giáp số
11) càn vào khu tam giác Trảng Bàng – Củ Chi – Bến Cát. Tại Bến Cát, du kích các
xã ở Tây Nam đã sử dụng địa đạo, hầm chông, bãi mìn, bắn tỉa…
- Quân và dân Thủ Dầu Một chủ động tiến công, bao vây và đánh địch
trong thế trận chiến tranh nhân dân:
Khi quân Mỹ lập các căn cứ quân sự tại Lai Khê, Dĩ An, Phước Vĩnh,…
quân và dân Thủ Dầu Một cùng quân và dân miền Nam thực hiện phương châm
“bám thắt lưng địch mà đánh”. Bên cạnh đó, lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận
bao gồm đông đảo phụ nữ mà nòng cốt là các nữ dân quân, du kích cũng được tổ
chức ở các “vành đai”.

15



Qua các trận chiến đấu, quân và dân Thủ Dầu Một ngày càng đúc kết được
thêm nhiều kinh nghiệm, sáng tạo ra nhiều cách đánh, khiến cho sức mạnh quân sự
của quân Mỹ và quân Sài Gòn bị hạn chế rất nhiều.
- Quân và dân Thủ Dầu Một tổ chức đấu tranh chính trị trong thế trận
chiến tranh nhân dân:
Hội nghị Trung ương cục miền Nam lần thứ IV (3-1966), xác định việc
đẩy mạnh đấu tranh chính trị trực diện với khí thế tiến công quyết liệt ở ba vùng
chống địch, bảo vệ quyền lợi của quần chúng và phải bẻ gãy các âm mưu chính trị
thâm độc của địch, giáo dục gây tin tưởng ở thắng lợi và động viên tinh thần tích
cực, kiên quyết chống Mỹ cứu nước.
Đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang hợp thành những mặt trận đấu tranh
quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân của quân và dân Thủ Dầu Một.
4.1.3. Tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm
1968, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ
Dưới sự chỉ đạo của các Ban chấp hành các Phân khu 1 và 5, nhân dân các
địa phương thuộc tỉnh Thủ Dầu Một hăng hái tham gia công tác hậu cần phục vụ
chiến dịch. Về lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu, Thủ Dầu Một có các đơn vị
bộ đội địa phương và các đội du kích xã, cùng đội Biệt động; các huyện Lái Thiêu,
Châu Thành, Tân Uyên có thêm đội nữ pháo binh.
Vào lúc 0 giờ ngày 31-1-1968, quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một cùng quân
và dân toàn miền Nam đồng loạt nổ súng tổng tấn công và nổi dậy… Các đơn vị
chủ lực, du kích địa phương đã vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo, phong phú, sử
dụng thành thạo nhiều loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, “lấy ít địch nhiều”, phá
hủy nhiều cơ sở vật chất, khí tài phục vụ cho chiến tranh.
4.2. Giai đoạn 1969-1972
4.2.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thất bại trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đế quốc Mỹ chuyển sang
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ cũng là một hình thức

chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn
là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần của Mỹ và do cố vấn
Mỹ chỉ huy…
Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt
Nam thành lập, là cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho quyết tâm và nguyện
vọng của toàn thể nhân dân miền Nam quyết tâm chiến thắng đế quốc Mỹ xâm
lược.
Ở Thủ Dầu Một, Uỷ ban nhân dân cách mạng các cấp chính thức hình
thành. Tuy vậy, việc phân định chức năng và nhiệm vụ giữa các cấp uỷ Đảng và
chính quyền cách mạng chỉ có tính chất tương đối. Trong thực tế, các cấp uỷ Đảng

16


cũng đồng thời thực hiện nhiệm vụ chính quyền trên mọi lĩnh vực hoạt động, chủ
yếu là hoạt động vũ trang.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược mùa hè năm 1972 của quân và
dân miền Nam, đồng thời thất bại trong trận “Điện Biên Phủ” trên không 12 ngày
đêm của đế quốc Mỹ ở Hà Nội đã buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom và
ngừng bắn phá hoàn toàn miền Bắc, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ký kết Hiệp định Paris (4 bên), chấm
dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam”.
4.2.2. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, đẩy lùi những cuộc
tiến công giành dân, lấn đất, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” của Mỹ
Tình hình mới sau tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc Mỹ phải xuống thang
chiến tranh, tìm giải pháp “rút quân trong danh dự”.
Sự ra đời của Khu ủy Phân khu 5 góp phần quan trọng trong việc tăng
cường công tác giao bưu vận cả hệ du kích và công khai cho các huyện vùng ven
và vùng trung tuyến, bảo đảm cho liên lạc kịp thời với Ban chỉ đạo, chỉ huy vùng

ven, vùng trung tuyến với Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu ở bờ Nam và bờ
Bắc Sông Bé, đồng thời móc nối với đường dây của Trung ương cục miền Nam
v.v…
4.3. Giai đoạn 1973-1975
4.3.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Hiệp định Paris, cuối tháng 3-1973, những lính Mỹ cuối cùng rút
khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng Mỹ đã cố tình để lại nhiều cố vấn quân sự và tiếp
tục giúp chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Paris, mở các cuộc hành quân
“bình định và lấn chiếm” vùng giải phóng v.v…
Thực hiện nghị quyết 21, cuối năm 1973, quân và dân miền Nam Việt
Nam đã chủ động mở các cuộc tiến công, trọng điểm là vùng đồng bằng sông Cửu
Long và Đông Nam Bộ, đặc biệt là thắng lợi vang dội ở Đường số 14 – tỉnh Phước
Long (6-1-1975)… Điều đó đã tạo thế và lực cho quân và dân toàn miền Nam tiến
lên giành thắng lợi cuối.
Ở Thủ Dầu Một, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, về mặt chính quyền,
các cấp uỷ Đảng vẫn tiếp tục thực hiện đồng thời nhiệm vụ chính quyền, mà trọng
tâm trong giai đoạn này là tạo thế tạo lực để thực hành tiến công và nổi dậy, giải
phóng quê hương.
4.3.2. Phát triển lực lượng, giữ vững vùng giải phóng
Để giữ cho được những vùng giải phóng, Đại đội 61, đại đội nữ C5 cùng
lực lượng du kích các xã Kiến An, Long Nguyên, Lai Hưng đã kiên trì ngăn chặn
đối phương đưa quân ủi phá những cánh rừng có quân cách mạng bám trụ. Bên
cạnh đó, quân cách mạng cũng đã tiến hành nhiều trận đánh ở Lò Than, Kiến Điền,

17


Mỹ Phước, hỗ trợ cho đồng bào đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng của
họ…lực lượng cách mạng cũng đã mở rộng được vùng căn cứ Lái Thiêu, phát triển

nhiều lõm du kích ở khu vực Thủ Đức, Dĩ An, Châu Thành, vùng Nam Tân Uyên
v.v…
Năm 1974, tỉnh ủy Thủ Dầu Một ra nghị quyết xác định nhiệm vụ của
Đảng bộ và quân dân trong tỉnh là tăng cường, phát triển lực lượng vũ trang của
tỉnh, huyện, du kích xã, ấp; đồng thời tranh thủ thời gian học tập, rèn luyện kỹ
chiến thuật, nhất là học tập kỹ thuật binh chủng đặc công cho cả ba thứ quân; kết
hợp chặt chẽ lực lượng tại chỗ với cơ sở binh vận, đánh mạnh vào hệ thống kìm
kẹp của địch ở xà, ấp, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ trên diện
rộng, nhất là địa bàn trọng điểm.
4.3.3. Đẩy mạnh đoàn kết các giai tầng nhằm tạo “thế và lực” cho cuộc
đấu tranh cách mạng
Lực lượng cách mạng cũng đã thành lập được một số cơ sở mật với thành
phần nòng cốt là đội ngũ công nhân cao su, bí mật đưa lực lượng và vũ khí vào bên
trong các ấp chiến lược ở khu vực Lai Khê, Long Nguyên, An Điền, Phú An,
Thanh An, Thới Hòa. Bên cạnh đội ngũ công nhân cao su, đối với các tầng lớp trí
thức như thanh niên, học sinh, tầng lớp tư sản dân tộc, các thành phần tôn giáo,…
Họ là thành phần chủ chốt của việc tổ chức những cuộc biểu tình, bãi công, bãi
khóa trong đội ngũ công nhân cao su Thủ Biên và các lực lượng khác… Tiêu biểu
như sự kiện tháng 7-1969, hàng ngàn học sinh, sinh viên ở Sài Gòn xuống đường
chống chính sách quân sự hóa học đường, đòi tự trị đại học; hay tại Thủ Dầu Một,
thanh niên, học sinh Trường trung học Bồ Đề, Trường trung học Phú Mỹ… Thành
phần tư sản dân tộc ở Thủ Biên cũng được Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng
xem trọng, bởi họ là những người có điều kiện kinh tế lớn đóng góp về tiền của cho
kháng chiến v.v…
4.3.4. Cùng với cả nước tiến lên tổng tấn công giành chính quyền, góp
phần giải phóng hoàn toàn miền Nam
Ngày 13-3-1975, toàn bộ huyện Dầu Tiếng được giải phóng. Phối hợp với
tiến công quân sự, nhân dân ở nhiều nơi nổi dậy, phá chốt kìm kẹp của địch, giành
quyền làm chủ; đồng thời kêu gọi binh lính địch trở về với cách mạng. Ngày 29-41975, các lực lượng vũ trang cách mạng áp sát thị xã, sẵn sàng hỗ trợ quần chúng
nổi dậy.

Sáng ngày 30-4-1975, các lực lượng cách mạng tiến công vào các mục
tiêu trong thị xã Thủ Dầu Một và các quận còn lại, diệt các chi khu quân sự Phú
Lợi, Bến Cát, Dĩ An, Phú Giáo. Thị xã và toàn tỉnh Thủ Dầu Một hoàn toàn giải
phóng.
Tiểu kết chương 4

18


CHƯƠNG 5
ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
5.1. Đặc điểm
5.1.1. Địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một nằm sát cạnh Sài Gòn và ở vị trí trung
tâm của miền Đông Nam Bộ
Thủ Dầu Một nằm ở vùng đất thuộc địa đầu của miền Đông Nam Bộ, nối liền
với Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, đồng
thời án ngữ cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn. Đây là địa bàn chuyển tiếp từ cao nguyên
xuống đồng bằng, nơi có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng nối liền với
quốc lộ 1, quốc lộ 13 và tuyến đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh chạy dài suốt chiều
dài của tỉnh v.v…
Sau năm 1954, trong tổng thể chiến lược bình định miền Nam, Mỹ và Diệm đã
nhận thức được rằng Đông Nam Bộ là địa bàn quan trọng. Trong đó, địa bàn Thủ
Dầu Một có ý nghĩa chiến lược, có quốc lộ 13 chạy qua, là cửa ngõ phía Bắc Sài
Gòn và là tiền đồn cho các phong trào cách mạng ở miền Nam, v.v…
5.1.2. Có hệ thống căn cứ địa rộng khắp, trong đó chiến khu Đ là căn
cứ của Khu 7 và cả Miền (B2)
Tháng 1-1955, Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ đầu tiên sau khi tái
lập đã được tổ chức tại Chiến khu Đ. Có thể khẳng định tính chất chiến lược của
chiến khu Đ, là nơi thành lập đầu tiên của Trung ương cục miền Nam vào năm
1961 (năm 1962, Trung ương Cục miền Nam chuyển về Tây Ninh).

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, chiến khu Đ
là nơi tập kết của các lực lượng Quân đoàn 1, Quân đoàn 4 trước khi tiến về giải
phóng Sài Gòn. Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang dội trong lịch sử
chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ (thắng Lạc An, Tân Uyên,
chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long…). Chiến khu Đ là
cái nôi của chiến khu Bắc Bến Cát, khu rừng già tiếp giáp trải rộng Kiến An đã
đóng vai trò là “căn cứ trọng yếu của các bộ máy quân sự trú đóng, và là căn cứ trú
đóng của công an, lực lượng Sư đoàn 9, của Huyện ủy Bắc Bến Cát và các đơn vị
chủ lực Miền v.v...
5.1.3. Lực lượng vũ trang cách mạng ra đời sớm, hoạt động trên địa bàn
chủ yếu của quân chủ lực Miền
Để đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm,
lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã phối hợp nhịp nhàng để đề ra những
phương châm tác chiến linh hoạt, hiệu quả. Giữa năm 1964, nhân dân địa phương ở
Thủ Dầu Một đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang và công nhân Dầu Tiếng phá tan
ấp chiến lược Suối Giữa, Phú Bình, Dáng Hương. Đến cuối tháng 10-1964, lực
lượng vũ trang tỉnh Bình Thành và nhân dân chiến khu Đ đã thành công trong

19


nhiệm vụ bảo vệ cho đơn vị pháo binh mang vác của Miền từ Chiến khu Đ vượt
sông Đồng Nai tập kích vào sân bay Biên Hòa.
Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Mỹ tiến hành phản kích quân cách mạng
bằng việc thực hiện kế hoạch phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (19651966). Mỹ cho quân tập trung đánh vào các căn cứ kháng chiến miền Đông Nam
Bộ, tiến đến tiêu diệt bộ phận chủ lực Miền, phá kho tàng để từng bước giành thế
chủ động.
Quân cách mạng miền Nam đã đập đập tan kế hoạch phản công chiến lược
mùa khô lần thứ nhất của Mỹ, trong đó đóng góp của công nhân cao su ở Thủ Dầu
Một có ý nghĩa quan trọng. Theo đó, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Đảng ủy đồn điền Dầu

Tiếng đã giữ vai trò chỉ huy và tiến hành điều động hàng trăm công nhân cao su các
đồn điền tham gia công tác vận chuyển đạn dược, các phương tiện vũ khí, lương
thực, đồng thời tham gia hỗ trợ Sư đoàn 9 để tạo nên chiến thắng Bàu Bàng vang
dội (22-11-1965), sân bay Phú Lợi (30-1-1966), Bông Trang, Nhà Đỏ (23-2-1966),
Bãi Sắn (12-3-1966) đường 13 (30-6-1966) v.v…Những đơn vị và cá nhân lập
được nhiều thành tích tiêu biểu là Tiểu đoàn Phú Lợi, Đại đội CG1, Đại đội nữ vũ
trang huyện Bến Cát, Đội nữ du kích Dầu Tiếng, Đại đội nữ pháo binh Tân Uyên,
anh hùng liệt sĩ Nguyên Văn Lên, anh hùng Đặng Văn Đáu, v.v…
5.1.4. Phong trào công nhân cao su phát triển mạnh mẽ nhất Đông
Nam Bộ
Ở Thủ Dầu Một, các đồn điền cao su được hình thành khắp tỉnh, thường
nằm sát cạnh các trục lộ giao thông chiến lược (như quốc lộ 13, 14, đường xe lửa
Sài Gòn – Lộc Ninh…) và gần các căn cứ địa kháng chiến quan trọng (như Đồn
điền Dầu Tiếng nối với chiến khu Long Nguyên, Đồn điền Phước Hòa nối với
chiến khu Đ…). Mối liên hệ giữa chiến khu và đồn điền được thiết lập vững vàng.
Đồn điền thường xuyên ủng hộ sức người, sức của cho căn cứ cách mạng.
Những trận đánh trong 21 năm đấu tranh cách mạng của công nhân cao su
Thủ Dầu Một (như ở Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Long Nguyên, Núi Cậu, Nhà Mát,
Cam Xe, Tam giác sắt…) đã ghi nhận đóng góp của họ vào thắng lợi chung của
quân và dân Thủ Dầu Một. Trong đó, trận tiến công Dầu Tiếng (1958), đồng khởi
Dầu Tiếng (1960), chiến thắng Dầu Tiếng (1965), công nhân cao su Thuận Lợi
tham gia trong chiến dịch Đồng Xoài (1965), công nhân cao su tham gia trong
chiến dịch Nguyễn Huệ (1972)… đã làm cho địch hoàn toàn thất thủ. Dầu Tiếng
được giải phóng vào ngày 13-3-1975 cũng có một phần công sức không nhỏ của
công nhân cao su ở đây.
5.2. Bài học kinh nghiệm
5.2.1. Giữ vững sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong mọi hoàn cảnh
Thủ Dầu Một là vùng chiến trường tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ, quá
trình phát triển cuộc chiến giữa quân cách mạng và quân đội Sài Gòn luôn diễn
biến phức tạp và bất ngờ. Do có sự giằng co gay gắt, quyết liệt giữa chính quyền


20


cách mạng và chính quyền Sài Gòn nên trong công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy
Thủ Dầu Một luôn tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân để
xây dựng lực lượng cách mạng, giải quyết các tình huống phức tạp của chiến
trường khi có chia tách, sáp nhập, đồng thời chủ động lắng nghe ý kiến quần chúng
nhân dân, rút kinh nghiệm từ thực tiễn để vận dụng sáng tạo, thích hợp với tình
hình cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể.
Việc quán triệt các nhiệm vụ chung của cách mạng là nhằm đáp ứng được
các yêu cầu đề ra như tiêu diệt và phá vỡ các cứ điểm, căn cứ (quận lỵ, chi khu, tiểu
khu...) và khu vực phòng ngự của địch, mở rộng căn cứ địa, hỗ trợ cho quần chúng
nổi dậy giành quyền làm chủ , tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng các
địa phương và thị xã ở Thủ Dầu Một. Thành công trong xây dựng chiến đấu và
công tác của quân và dân Thủ Dầu Một trước hết chính là nhờ biết quán triệt đúng
đắn tư tưởng chỉ đạo và nhiệm vụ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.
5.2.2. Phối kết hợp với một số lực luợng của trên, nhất là trong đấu
tranh quân sự, xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh
Lực lượng vũ trang của tỉnh Thủ Dầu Một và của miền Đông Nam Bộ đều
ra đời sớm, có thể nói là một trong những nơi có lực lượng vũ trang sớm nhất của
miền Nam. Trong tổ chức và xây dựng lực lượng, tỉnh có đơn vị của tỉnh, Miền có
đơn vị của Miền. Trong buổi đầu, các đơn vị của tỉnh là nòng cốt để hình thành các
đơn vị chủ lực Miền. Trong chiến đấu, lực lượng vũ trang của tỉnh và Miền luôn
luôn phối hợp với nhau. Trong chống Mỹ, lực lượng vũ trang ban đầu từ những tổ,
những tiểu đội vũ trang, đến đầu năm 1957, tỉnh Thủ Dầu Một đã tổ chức được 3
trung đội vũ trang. Đến năm 1965, lực lượng vũ trang của tỉnh đã tổ chức đến cấp
đại đội, bên cạnh đó Tiểu đoàn Phú lợi là tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh ra đời
và sau đó các tiểu đoàn vũ trang chủ lực khác cũng hình thành.
Trong phạm vi của tỉnh, chỉ tổ chức lực lượng vũ trang quy mô cấp tiểu

đoàn là chủ trương sát hợp với thực tế chiến trường, với thực tế hoạt động tác chiến
của bộ đội tỉnh.
5.2.3. Đẩy mạnh toàn diện các lĩnh vực đấu tranh cách mạng, trong đó
phát huy vai trò của đội ngũ công nhân cao su
Hàng loạt những phương thức hoạt động khác đã sớm được chú ý tổng kết
như "Đánh lấn, đánh bồi...". Trong tiến công địch, "cán bộ bám dân, dân bám đất,
du kích bám địch...". Trong xây dựng cơ sở; trong xây dựng căn cứ, chống địch
đánh phá bình định thì phải "quyết tử giữ rừng", nhưng khi địch đã ủi phá hết rừng
thì phải "lấy đất làm nhà, lấy dân làm rừng"... Nắm vững đặc điểm và hình thái
chiến trường, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một thường xuyên tổng kết và rút kinh nghiệm đã
góp phần quan trọng trong việc tạo nên những thắng lợi trên chiến trường của quân
và dân ở Thủ Dầu Một.
Trong chiến tranh, ở những tình thế bất lợi, đất có thể tạm thời bị địch
chiếm, nhưng Đảng phải nắm được dân, mà vấn đề quan trọng hàng đầu là phải

21


giáo dục, giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng. Với
quan điểm đó, các cơ sở chính trị được từng bước xây dựng trong thị xã, thị trấn,
đồn điền cao su, ấp chiến lược... Các ấp chiến lược, ấp tân sinh của địch đã biến
thành các cơ sở của cách mạng, cơ sở bảo đảm hậu cần cho kháng chiến. Nét độc
đáo ở Bình Dương là trong các Chiến dịch Xuân 1968 và 1975, ấp chiến lược, ấp
tân sinh của địch luôn là kho lương thực, thực phẩm (kho trong dân của các binh
đoàn chủ lực trên đuờng tiến quân).
Các tổ chức thanh niên, phụ nữ, nông dân, công đoàn giải phóng hoạt
động mạnh mẽ, tiến hành nhiều hoạt động phù hợp với quần chúng, từ đó có nhiều
đoàn viên, hội viên tham gia các phong trào cách mạng. Đội ngũ công nhân cao su
ở các đồn điền đã trở thành lực lượng đấu tranh cách mạng sôi nổi, quyết liệt.v.v…
5.2.4. Kết hợp chặt giữa tiếp nhận sự chi viện, hỗ trợ của trên với xây

dựng căn cứ địa, hậu phượng tại chỗ
Nhìn chung, hệ thống căn cứ địa trên đất Thủ Dầu Một có thể phân chia
thành ba loại: Căn cứ tiền tiêu ; Căn cứ trung chuyển ; Và căn cứ hậu cần, hậu
phương.
Căn cứ tiền tiêu là những căn cứ nằm sát vùng địch chiếm đóng, nơi thế và
lực của kẻ thù luôn nổi trội (như căn cứ Thuận An Hòa, Truông Bòng Bông và
những căn cứ lõm khác rải rác ở thị xã, Lái Thiêu, Dĩ An...); Căn cứ Trung chuyển
(như Vĩnh Lợi, Nam Bến Cát, Phú An...) nằm ở vùng trung tuyến giữa ta và địch,
thường xuyên tập kết những lực lượng có thể uy hiếp địch, nơi tổ chức những hoạt
động có tính chất trung chuyển và ngắn hạn về hậu cần, huấn luyện; Căn cứ hậu
cần, hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là vùng căn cứ chiến khu Đ
được tiếp tục mở rộng, phát triển hành hệ thống liên hoàn, tiếp nối với vùng Nam
Tây Nguyên, vùng biên giới Campuchia và đường Hồ Chí Minh. Hệ thống căn cứ
địa ở Thủ Dầu Một bao gồm những căn cứ lớn nhỏ trên các địa bàn khác nhau (như
Long Nguyên, Tam giác sắt, Thuận An Hòa, Truông Bòng Bong, An Linh... và
hàng loạt những căn cứ lõm khác ở khắp nơi trên địa bàn Nam Bến Cát, Bắc thị xã,
Thủ Dầu Một Lái Thiêu, Dầu Tiếng.v.v…).
KẾT LUẬN
1. Thủ Dầu Một là một địa bàn quan trọng trong công cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Trong tổng thể chiến lược bình định toàn miền Nam Việt
Nam, Mỹ và và chính quyền Sài Gòn đã nhận thức rằng Đông Nam Bộ là địa bàn
có ý nghĩa quan trọng của họ. Trong đó, Thủ Dầu Một là chiếc cầu nối quan trọng
giữa chiến khu cách mạng và vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và là tiền đồn
cho cách mạng miền Nam đã được Mỹ và chính quyền Sài Gòn quan tâm đặc biệt.
Là một vùng đất thuộc địa đầu của miền Đông Nam Bộ, Thủ Dầu Một nối
liền với Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, đồng
thời là tuyến phòng ngự chủ yếu để bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của Sài Gòn. Nhìn

22



×