Tải bản đầy đủ (.docx) (50 trang)

Quan hệ việt trung va nhung chuyen bien

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (308.46 KB, 50 trang )

I.
1.

MỞ ĐẦU
Việt Nam – Trung Quốc là hai quốc gia có núi liền núi, sông liền sông, từ lâu
hai nước đã có quan hệ nhiều mặt trong đó có ngoại giao. Quan hệ Việt NamTrung Quốc là một trong những mối quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế
giới còn tồn tại đến ngày nay. Nói “quan hệ địa chính trị” để nói về một phạm trù
tổng quát hơn, bao trùm hơn phạm trù “quan hệ giữa hai quốc gia”. Bởi vì trong
gần hai mươi hai thế kỷ lịch sử của nó, quan hệ Việt-Trung không phải lúc nào
cũng là quan hệ giữa hai quốc gia, càng không phải lúc nào cũng là quan hệ
giữa hai “nhà nước dân tộc có chủ quyền”, như ta vẫn quen hình dung về mối
quan hệ giữa hai “nước” trong thế giới hiện đại. “Quan hệ Việt-Trung” ở đây
được hiểu là mối quan hệ giữa hai thực thể địa chính trị. Mối quan hệ địa chính
trị này trong từng thời kỳ có tính chất gì, mang đặc điểm gì, hay có thể gọi là gì,
đó chính là câu hỏi bao trùm của bài nghiên cứu này.
NỘI DUNG
Quan hệ Việt – Trung giai đoạn trước 1949:
Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên
Ngay từ rất sớm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đã có con người
sinh sống. Trải qua văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun
đến văn hóa Đông Sơn với chặng đường gần 2000 năm lịch sử, con người Việt
Nam đã chuyển từ nền kinh tế nguyên thủy với công cụ sản xuất bằng đá phổ
biến sang nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề. Đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn
toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả đã được khai
phá căn bản với nhũn làng xóm đông đúc. Cùng với tình trạng phân hóa xã hội,
sức sản xuất phát triển và nhu cầu chống giặc ngoại xâm, vào thiên niên kỷ I
TCN, nhà nước Văn Lang đã ra đời.
Từ rất sớm, vua Hùng đã có quan hệ với Phương Bắc. Đại Việt sử kí toàn thư
chép về mối quan hệ này như sau: “ Thời Thành Vương nhà Chu (1063-1023
TCN) nước Việt ta lần đầu tiên sang thăm nhà Chu xưng là Việt Thường Thị
sang dâng chim trĩ trắng. Chu Công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người


quân tử không coi người ta là bề tôi của mình” rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả
về nước”. Theo sử sách Trung Quốc thì sự kiện này diễn ra vào năm 1110 TCN,
vua Chu đáp lại bằng việ tặng sứ giả 5 cỗ xe có kim chỉ nam để về nước khỏi lạc
1


hướng. Vào cuối đời vua Hùng, nạn ngoại xâm từ Phương Bắc trở thành mối đe
dọa. Sau khi làm bá chủ miền duyên hải từ Sơn Đông đến Quảng Đông. Năm 473
TCN, Việt Vương Câu Tiễn đã sa sứ xuống dụ vua Hùng thần phục nhưng bị cự
tuyệt. Nước Tần sau khi thành lập đã mở rộng những cuộc chiến tranh quy mô
lớn ra hai phía Bắc Nam. Nhà Tần sai 50 vạn quân dưới sự chỉ huy của huyện úy
Đồ Thư tiến xuống phía Nam. Hàng vạn quân Tần vượt biên giới vào lãnh thổ
phía Bắc nước ta lúc đó, cuối cùng người Việt đã chiến thắng, giết chết chủ
tướng Đồ Thư buộc nhà Tần phải rút quân. Sau khi nhà Tàn suy yếu và sụp đổ,
Triệu Đà đã chiếm quận Nam Hải và Quế Lâm dấy binh xâm lược Âu Lạc. Tuy
không thắn được bằng mưu quân sự nhưng bằng mưu mô cuối cùng Triệu Đà
đã đánh thắng An Dương Vương chiếm được phía Bắc lãnh thổ nước ta.

2.

Trong thời kỳ Bắc thuộc
Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà thất bại, đất nước rơi vào thảm họa của
hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Từ đây, nước ta không còn tên nước, bị sáp nhập
vào lãnh thổ Trung Quốc và hoàn toàn bị phụ thuộc. Quan hệ giữa nước ta với
phong kiến phương Bắc là quan hệ thống trị - lệ thuộc, đồng hóa và bị đồng hóa.
Các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Tần, Hán đến Tùy, Đường tuy biện pháp
cai trị có khác nhau nhưng mục đích chung là muốn xóa bỏ hoàn toàn dấu vết
của nước Âu Lạc xưa, đồng hóa và sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Trung Quốc. Qua
các đời, chính sách đô hộ, đồng hóa ngày càng thâm độc và tinh vi hơn. Khi chính
sách đô hộ, bóc lột của kẻ thống trị ngày càng nặng nề thì phong trào khởi nghĩa

đấu tranh chống ách đô hộ ngày càng mạnh mẽ, liên tiếp nổ ra. Đó không chỉ là
sự phản kháng bình thường mà là biểu hiện của lòng yêu nước, tinh thần dân
tộc chống đồng hóa. Những cuộc khởi nghĩa lúc ngấm ngầm, lúc công khai, lúc
thành công, lúc thất bại, nhưng diên ra liên tục thu hút đông đảo nhân dân tham
gia. Từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, các tầng lớp nhân dân ta ở khắp nơi
đều không ngừng nổi dậy đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược, hết giặc Ngô,
giặc Tấn, giặc Lương cho đến Tùy, Đường. Cuối cùng cuộc khởi nghĩa của Ngô
Quyền đã đánh tan cuộc tiến công xâm lược của nhà Nam Hán. Chiến thắng lừng

2


3.

lẫy trên sông Bạch Đằng là một mốc son trong lịch sử, chấm dứt nền đô hộ trên
mười thế kỷ của phong kiến phương Bắc.
Trong thời kỳ từ năm 938 đến năm 1858
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo đã kết thúc họa
mất nước trên mười thế kỷ của dân tộc ta kết thúc giai đoạn Bắc thuộc, mở ra
một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập và phát triển. Cũng từ đây, quan hệ giữa
nước ta với phong kiến phương Bắc cũng bước sang trang mới: quan hệ giữa
hai nhà nước có chủ quyền, có độc lập. “ đây là lúc Việt Nam không còn chấp
nhận tư cách quận huyện trong đế chế Trung Hoa nữa và Trung Hoa cũng phải
chấp nhận cho Việt Nam nằm ngoài cương vực của mình. Đặc điểm nổi bật trong
giai đoạn này chính là bên cạnh những cuộc xâm lược quy mô lớn của phong
kiến phương Bắc là mối quan hệ giao hảo giữa Việt Nam với các triều đại phong
kiến Trung Quốc.
Từ khi giành độc lập, trả qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê,
Nguyễn nước ta từng bước phát triển chế độ phong kiến, đất nước có lúc thịnh
lúc suy, lúc trị lúc loạn. Hơn một ngàn năm chịu ách đô hộ của chế độ phong kiến

phương Bắc, đến lúc giành được độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước, đời
vua nào cũng ý thức được mới đe dọa thường trực từ nước phong kiến khổng lồ
phương Bắc, đồng thời cũng hiểu rõ tương quan lực lượng giữa một nước nhỏ
mới giành độc lập, đang từng bước xây dụng nhà nước phong kiến với một đế
chế phong kiến có lịch sử phát triển lâu hơn hàng ngàn năm. Vì thế, các triều đại
phong kiến Việt Nam luôn biết giữ mình, khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ với
Trung Quốc, nhất là khi đất nước ở trong tình trạng bất ổn hoặc vừa mới xây
dựng triều đại mới. Còn các đế chế trung hoa, mặc dù nước ta đã có tên riêng, có
độc lập chủ quyền nhưng trong tư tưởng của họ Việt Nam vẫn là một nước phụ
thuộc, bởi theo họ thì nước nhỏ phải phụ thuộc một nước lớn. Khi các triều đại
nước ta mạnh thì phải thần phục triều cống nhưng khi có nội loạn, triều đình lục
đục thì phong kiến phương Bắc sẽ đem quân sang xâm lược. Nước ta triều cống
theo định kỳ, vua mới lên phải cầu phong nhu Đinh Tiên Hoàng, sau khi lên Ngôi,
đặt tên hiệu Thái Bình đã cử sứ bộ sang giao hảo với nhà Tống. Năm 1175, nhà
Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của đại việt khi đổi danh hiệu sắc
phong từ giao chỉ quận vương thành sơn nam quốc vương. Đối với nhà Minh,
3


sau khi giải phóng đất nước, Lê Thái Tổ lập tức cử sứ bộ sang cầu phong và đặt
quan hệ ngoại giao. Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh cho người sang
hỏi tổng đốc Lưỡng Quảng về cách bang giao, tiếp đó cử sứ đoàn do Lê Quang
Định dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong quốc ấn và quốc hiệu. Ngoài cầu
sắc phong, Việt Nam còn phải triều cống. Các triều đại phong kiến Việt Nam
thường mang những đặc sản, sản vật quý hiếm sang cống cho Trung Quốc và
Trung Quốc cũng cử sứ giả sang thăm. Nhà Lê cứ 3 năm một lần, theo lệ sang
cống nhà Minh và tiếp đón các sứ bộ của nhà Minh sang thăm. Nhà Nguyễn thì 4
năm một lần cử sứ bộ sang nộp lễ cống. Theo thống kê của Trung Quốc, vào đời
Tống, trong hơn 220 năm từ đời Tống Thái Tổ (968) đến thời Tống Quang Tông
(1190), vương triều phong kiến Việt Nam cử hơn 40 lần sứ thần sang Trung

Quốc, bình quân hơn 5 năm một lần, sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc là hơn 50
lần, bình quân chưa đầy 2 năm một lần. Vào đời Nguyên, trong hơn 70 năm từ
đời Nguyên Thế Tổ (1261) đến Nguyên Văn Tông (1331), sứ giả Việt Nam đến
Trung Quốc hơn 50 lần, bình quân chưa đầy 2 năm một lần. Trong hơn 270 năm
ở đời Minh, sứ giả Việt Nam đến Trung Quốc không dưới 100 lần, bình quân
hơn 2 năm một lần. Đồng thời, vương triều Trung Quốc cũng cử sứ giả tới Việt
Nam, sắc phong vương hiệu tặng lễ vật như sứ giả nhà Tống là Lý Giác đến Đại
Cồ Việt năm 987.
Mặc dù quan hệ 2 nước tồn tại tục sắc phong, triều cống nhưng thực chất là
quan hệ bình đẳng. Học giả Nguyễn Hồng Lâm nhận xét: “ Việt Nam thực hiện
một chính sách hai mặt. Một mặt vẫn thực hiện đủ lễ với trung hoa, nghĩa là về
hình thức công nhận trật tự thế giới của Trung Quốc. Mặt khác cứ thực hiện trật
tự thế giới riêng của mình”. Quách Minh trong diễn biến 40 năm quan hệ Trung
Việt cũng nhận xét “quan hệ phiên thuộc triều cống ở một mức độ nào đó là một
kiểu qua lại mang tính nghi lễ”, “các vương triều phong kiến Trung Quốc rất ít
can thiệp vào công việc nội bộ của vương triều phong kiến Việt Nam”. Trong giai
đoạn này, Việt Nam có một chính sách đối ngoại mềm dẻo như triều cống, tỏ ra
thần phục chế độ phong kiến Trung Quốc để tránh xảy ra chiến tranh nhưng mặt
khác lại luôn khẳng định vị trí độc lập của mình, không chịu khuất phục đầu
hàng trước những cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc. Với
tư tưởng Đại Hán coi mình là trung tâm của thiên hạ, gánh vác nhiệm vụ “bình
4


4.

thiên hạ” cho nên phong kiến phương Bắc luôn có ý đồ xâm lược Đại Việt, đưa
Đại Việt trở lại thành một quận, huyện của Trung Quốc như trước đây. Mặc dù
sau khi lên Ngôi, vua của nước ta đều sai sứ sang Trung Quốc để giao hảo, xin
sắc phong và triều cống đầy đặn nhưng điều đó không đảm bảo sẽ không xảy ra

chiến tranh, không ngăn chặn được nguy cơ bị xâm lược, mất nước. Trước thế
lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh, nhân dân ta với truyền thống yêu nước
đã không chịu lùi bước, không chịu khuất phục. Hai lần chiến thắng quân Tống,
ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên, chiến thắng quân Minh sau bao năm
“nếm mật nằm gai” của Lê Lợi, chiến thắng quân Thanh của Quang Trung đã
viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc. Nhưng sau mỗi lần buộc phải kháng
chiến chống ngoại xâm thì nhân dân ta lại vượt lên đau thương, khoan dung
mềm mỏng khôi phục bang giao với mong muốn không để chiến tranh xảy ra.
Điều này trở thành nét đẹp, truyền thống khiêm nhường, bao dung và yêu
chuộng hòa bình của dân tộc ta.
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945)
Thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia làm Ba Kỳ, nằm trong Liên bang Đông
Dương thuộc Pháp: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ, Nam Kỳ là thuộc địa. Với
Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1885, Trung Quốc từ bỏ bá quyền của mình và thừa
nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung
Quốc do Pháp đảm nhiệm và trở thành một bộ phận của quan hệ Pháp-Trung.
Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà Trung Hoa phải từ bỏ mô hình thế giới truyền
thống của mình và áp dụng mô hình thế giới kiểu Âu, một kiểu trật tự thế giới
được công nhận ở châu Âu từ sau Hòa ước Westfalen (1648). Sự khác biệt lớn
nhất giữa hai mô hình Trung Hoa và Tây phương là trật tự thế giới kiểu Trung
Hoa đòi hỏi phải có một trung tâm thiên hạ, đại diện là hoàng đế Trung Quốc với
tư cách "con trời", dưới ông là một hệ thống các "phiên bang", "chư hầu", "thuộc
quốc", tức là một sự phân biệt trên dưới rất rõ ràng; trong khi trật tự thế giới
kiểu Westfalen không công nhận một trung tâm quyền lực tối thượng đứng trên
các nước khác, cai quản cả thế giới dù chỉ trên danh nghĩa, các nước có chủ
quyền tối cao trong vùng lãnh thổ của mình, và do đó là ngang nhau trên trường
quốc tế.

5



5.

Tuy nhiên, hành xử của các nước Tây phương mang tính hai mặt. Hình thức
ngoại giao là mô hình Westfalen, còn trên thực tế là chính trị dựa trên sức mạnh.
Tại Việt Nam, Pháp dùng vũ lực chiếm Nam kỳ và ép nhà Nguyễn ký Hòa ước
Giáp Tuất (1874) công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ. Sau đó,
bằng sức mạnh quân sự, Pháp ký với nhà Nguyễn Hòa ước Giáp Thân (1884) đặt
Đại Nam dưới sự bảo hộ của Pháp. Trên danh nghĩa nhà Nguyễn vẫn cai trị
nước Đại Nam nhưng phải chịu sự chi phối của Khâm sứ đại diện cho chính phủ
Pháp. Riêng đối với Trung Hoa, do nước này quá lớn, phương Tây bắt Trung Hoa
phải tô nhượng cho họ một số khu vực đầu mối giao thương, phải thừa nhận cho
họ có khu vực ảnh hưởng trên lãnh thổ mình. Chẳng hạn Pháp bắt nhà Thanh
phải thừa nhận các tỉnh Lưỡng Quảng và Vân Nam nằm trong khu vực ảnh
hưởng của Pháp.
Thời kỳ này có nhiều nhà cách mạng chống Pháp của Việt Nam, đặc biệt
trong phong trào Cần Vương, đã sang Trung Hoa nương náu hoặc cầu viện,
như Tôn Thất Thuyết,Nguyễn Thiện Thuật... Năm 1884 đến 1885, chiến tranh
Pháp-Thanh bùng nổ trên chiến trường miền Bắc Việt Nam.
Thời kỳ 1945 – 1949
Do một phần Việt Nam vẫn thuộc Pháp, không phân định rõ ràng do cuộc
chiến giữa Việt Minh và Pháp, đồng thời bên Trung Quốc, có nội chiến giữa hai
bên do Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông cầm đầu, quan hệ thời này chia
thành quan hệ giữa bốn bên (Pháp, Việt Minh, Trung Hoa Dân quốc và Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa).
II. Quan hệ Việt Trung giai đoạn 1949 - 1979
1. Quan hệ Việt Trung giai đoạn 1949-1954
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng trực tiếp, nhân dân Việt
Nam và nhân dân Trung Quốc luôn luôn ủng hộ, cổ vũ, giúp đở lẫn nhau, vì nước
Việt Nam độc lập có nghĩa là Trung Quốc không bị sự uy hiếp của chủ nghĩa đế

quốc ở phía nam. Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và
thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trung Quốc là
nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những
năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam.
Sự kiện đó đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử kháng chiến chống
6


Pháp của nhân dân ta. Cách mạng Việt Nam đã được nối liền với hậu phương xã
hội chủ nghĩa rộng lớn, Trung Quốc, Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa sẵn
sàng giúp đỡ Việt Nam cả về vật chất lẫn tinh thần. Trung Quốc trở thành một
trong hai nước viện trợ chính và là nơi quá cảnh cho hàng viện trợ đến Việt
Nam. Cụ thể sự viện trợ là:
Từ 1950 đến 1954 Việt Nam đã nhận được tổng số viện trợ là 21.517 tấn,
bao gồm: vũ khí, lương thực, ngoài ôtô, hỏa tiễn, cachiusa, pháo cao xạ, tiểu liên
k50 là của Liên Xô và các nước Đông Âu, số còn lại là của Trung Quốc, trong đó
bao gồm : lương thực, xăng đầu , vũ khí bộ binh, pháo 75 ly, 100 ly, cùng các loại
đạn. Sự giúp đỡ đó có ý nghĩa vô cùng to lớn, tăng cường sức mạnh cho bộ đội
Việt Nam.Ngoài viện trợ trên Trung Quốc còn cử một đoàn cố vấn gồm 79 cán bộ
ưu tú sang giúp đỡ cho bộ đội Việt Nam, đóng góp ý kiến và phổ biến kinh
nghiệm chiến đấu của quân giải phóng Trung Quốc.
Sự giúp đỡ to lớn ấy đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp
kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của tinh
thần đoàn kết quốc tế vô sản, góp phần củng cố, bảo vệ Trung Quốc, Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa trước âm mưu của kẻ thù. Kháng Pháp vừa thắng lợi,
nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ. Một lần nữa chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng
hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ. Trung Quốc tiếp tục ủng hộ to lớn cho Việt
Nam, Trung Quốc là một trong ngững nước lên tiếng phản đối mạnh mẽ cuộc
chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam, khẳng định tình đoàn

kết và trách nhiệm cao cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi xâm lược Mỹ. Bên
cạnh sự ủng hộ về chính trị, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam một khối
lượng quân sự khá lớn, kéo dài trong nhiều năm. Trung Quốc còn đảm nhận một
công việc rất quan trọng là vận chuyển quá cảnh số lượng vũ khí, đạn dược mà
các nước khác dành cho Việt Nam. Một số cảng của Trung Quốc đã trở thành nơi
tiếp nhận hàng viện trợ nước ngoài cho Việt Nam.
2. Quan hệ Việt Trung giai đoạn 1954 đến 1975 (kháng chiến chống
Mỹ)
a. Giai đoạn 1954-1975:
Trung Quốc trợ giúp Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ
7


Ngoại giao đã "tấn công" hậu phương quốc tế của Mỹ, mở rộng hậu phương
quốc tế của Việt Nam, hình thành phong trào phản chiến trên toàn thế giới.
Với Trung Quốc, khi cuộc “cách mạng văn hoá” diễn ra, Việt Nam coi đó là
công việc nội bộ của Trung Quốc và bày tỏ mong muốn tình hình Trung Quốc
sớm ổn định, không làm ảnh hưởng đến sự ủng hộ, chi viện của Trung Quốc đối
với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, không gây trở ngại cho việc quá
cảnh hàng viện trợ từ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cho Việt Nam. Đảng,
Chính phủ Việt Nam trước sau như một, ủng hộ lập trường của Đảng, Chính phủ,
nhân dân Trung Quốc trong vấn đề giải phóng Đài Loan và những vấn đề quốc
tế khác. Việt Nam luôn coi trọng vai trò của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế,
coi trọng truyền thống hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước và vai trò của
Trung Quốc đối với sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương.
Vào dịp đầu và cuối năm 1967, khi Việt Nam tuyên bố sẽ có thương lượng trực
tiếp với Mỹ, nếu phía Mỹ chấm dứt ném bom và mọi hành động chống phá
VNDCCH, phía Trung Quốc tỏ ý muốn Việt Nam đánh mà chưa vội đàm, Việt Nam
đã kiên trì trao đổi, giải thích với Trung Quốc về bước đi sách lược nhằm kiềm
chế Mỹ. Ngày 17-11-1968, khi tiếp đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam thăm

Trung Quốc Mao Trạch Đông đã nói rằng, Việt Nam đánh giỏi, đàm phán cũng
giỏi và khẳng định ủng hộ phương châm vừa đánh, vừa đàm của Việt Nam. Năm
1971, Trung Quốc sử dụng phương thức “ngoại giao bóng bàn”, bí mật mời
H.Kitxinhgơ - cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ tới Bắc Kinh, dàn xếp, chuẩn bị
cho chuyến đi của Nicxơn đến Bắc Kinh tháng 2-1972, Đảng, Nhà nước Việt Nam
đề nghị Trung Quốc không tiếp Nicxơn. Đề nghị ấy của Việt Nam mặc dù không
được phía Trung Quốc chấp thuận, nhưng Việt Nam vẫn kiềm chế các phản ứng.
Các động thái trên cho thấy, Việt Nam đã tạo dựng được mối quan hệ thoả đáng
với cả Liên Xô, Trung Quốc, dựa trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, không
đứng về bên nào, không vì quan hệ với nước này mà làm phương hại tới quan hệ
với nước kia.
Đối với Trung Quốc, nếu như trước năm 1964, Trung Quốc “hướng tới xây
dựng môi trường quốc tế hòa bình cho phát triển kinh tế bằng cách ủng hộ Bắc
Triều Tiên, Bắc Việt Nam đấu tranh chính trị là chủ yếu và tránh chiến tranh với
Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á”, thì từ năm 1964 trở đi, Trung Quốc ủng hộ
8


Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh vũ trang chống Mỹ. Vì thế, sách lược “đánh –
đàm” của Việt Nam gặp phải phản ứng không thuận từ phía Trung Quốc. Trong
cuộc hội đàm giữa hai đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, Trung Quốc tại Bắc Kinh
(17-2-1967), sau khi phê phán sách lược “đánh –đàm”, Thủ tướng Chu Ân Lai
cho rằng có bốn hậu quả khi thực hiện “đánh – đàm”: 1- Gây hiểu lầm về giải
quyết tách rời vấn đề miền Bắc và miền Nam; 2- Làm cho nhân dân có ảo tưởng
hòa bình; 3- Gây hiểu lầm miền Bắc bán rẻ miền Nam; 4- Các nước xét lại gây áp
lực đàm phán đối với Việt Nam. Trước tình hình đó, tránh để Trung Quốc nghi
ngờ Việt Nam thương lượng non, nhằm giải thích, thuyết phục các nước anh em,
tránh không để đối phương lợi dụng bất đồng về sách lược giữa Việt Nam với
bạn bè, đồng minh, trong cuộc hội kiến với Chu Ân Lai (4-1967), Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, một mặt, khẳng định quan điểm không thay đổi “trên cơ sở

thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị tiến hành đấu tranh ngoại giao với
thế chủ động, thế tiến công”, “trước mắt đòi Mỹ phải đình chỉ vĩnh viễn và vô điều
kiện việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa” của Việt Nam; mặt khác, giải thích rõ thêm rằng, trên
thực tế dư luận quốc tế có những biểu hiện ủng hộ Việt Nam; Việt Nam nhận
thức đầy đủ Mỹ chưa muốn ngồi nói chuyện với Việt Nam, chắc chắn sắp tới sẽ
đánh mạnh, hiểu rõ những thủ đoạn cực kỳ ngoan cố, xảo quyệt của Mỹ và hoàn
toàn “không có chút ảo tưởng nào, mà trái lại sẵn sàng đánh, đánh mạnh hơn”.
Cùng với Liên Xô và các nước XHCN khác, Trung Quốc đã giành cho nhân dân
Việt Nam sự ủng hộ, viện trợ trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hoá. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là vũ khí
bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một
phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo...
Chỉ tính riêng trong vòng 10 năm (1965-1975), “Trung Quốc đã viện trợ cho Việt
Nam 4,847 triệu tấn lương thực, 262 triệu mét vải, 89,1 nghìn tấn bông, 81,05
nghìn tấn sợi, 625,67 nghìn tấn sắt thép, 1,774 triệu tấn xăng, dầu mỡ các loại,
2.510 toa xe lửa, 32.496 chiếc ô tô, 1.400 chiếc máy ủi...”. Nếu tính chung trong
toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế ước tính
2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp, thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50
% tổng số viện trợ nói trên. Ngoài ra, theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung
9


Quốc một số đơn vị công binh và pháo binh của Trung Quốc đã sang giúp Việt
Nam nâng cấp, sửa chữa mở rộng thêm và bảo vệ các tuyến đường giao thông
trên bộ, thuộc các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc. Từ cuối năm 1966 đến đầu
năm 1969, một số chi đội phòng không của quân đội Trung Quốc đã luân phiên
nhau sang tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ, bảo vệ các tỉnh phía Bắc, giáp
biên giới Việt – Trung (số lượng kỹ sư và lực lượng bộ đội thuộc lực lượng pháo
binh Trung Quốc lên tới 320.000 người). Trung Quốc đồng ý cho quá cảnh một

khối lượng lớn hàng quân sự của Liên Xô viện trợ cho Việt Nam qua biên giới Xô
- Trung và vận chuyển bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc vào Việt Nam.
Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng ở biên
giới
Bên cạnh những giúp đỡ của Trung Quốc với Việt Nam thì trong giai đoạn
này giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng có những bất hòa và những mâu thuẫn.
Cụ thể:
Những người lãnh đạo Trung Quốc tỏ vẻ hoan nghênh Hiệp định Pari về Việt
Nam. Trên thực tế để thực hiện sự thoả thuận với Mỹ và tăng cường câu kết với
Mỹ, đồng thời tiếp tục làm suy yếu hòng khuất phục Việt Nam, họ tìm mọi cách
cản trở cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ
Thiệu phá hoại Hiệp định Pari, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất
nước nhà.
Từ năm 1973, những người cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hành
động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam,
nhằm làm yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trang giải
phóng hoàn toàn miền nam.
Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên
của mình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế. Ngày 26 tháng 12
năm 1973, phía Việt Nam đề nghị mở cuộc đàm phán để xác định chính thức
đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, nhằm sử dụng
phần biển thuộc Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18 tháng
1 năm 1974 phía Trung Quốc trả lời chấp thuận đề nghị trên, nhưng họ đòi
không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong
vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm
10


dò vịnh Bắc Bộ”, vì việc đưa nước thứ ba vào thăm dò “không có lợi cho sự phát
triển kinh tếchung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”. Đó chỉ là một

lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy cuộc đàm phán về đường biên
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ từ tháng 8 đến tháng 11
năm 1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với thái độ của các nước
lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và trong
vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ tháng 10 năm 1977 nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm
biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam để duy trì tình hình căng thẳng ở biên
giới Việt Trung.
Hơn nữa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tức là một ngày sau khi phía Trung
Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực
lượng hải quân và không quân tiến đánh quân nguỵ Sài Gòn và chiếm đóng quần
đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng
thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam
để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm
biển Đông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng
tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ G. Matin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu
viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã
được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa.
Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, phó thủ
tướng Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Điều đó
càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa
là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lần này của nhân dân Việt Nam,
họ can thiệp ngay từ đầu, tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh
trên cả nước Việt Nam, ném bom cực kỳ man rợ miền bắc, lấy vấn đề Việt Nam
để buôn bán với Mỹ, nhưng luôn luôn làm ra vẻ “triệt để cách mạng”, “tích cực”
ủng hộ Việt Nam.
c. Quan hệ Vệt Trung giai đoạn 1975 đến 1979
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bắt đầu bộc lộ nhiều “lỗ
hổng” và mang dáng vẻ lạnh nhạt. Tháng 9-1975 chuyến thăm Bắc Kinh của Lê

11


Duẩn được các nhà quan sát coi như một thất bại chính trị - ngoại giao, bởi mặc
dù được tiếp đón có vẻ như trọng thị, song phái đoàn đã rút ngắn thời gian lưu
lại tại Bắc Kinh và đã không mở tiệc chiêu đãi để cảm tạ lòng hiếu khách của
người Trung Hoa như vẫn thường thấy trong thông lệ ngoại giao. Phái đoàn đã
rời Bắc Kinh đúng hai ngày trước khi kỷ niệm ngày Quốc khánh Trung Quốc (110), mà không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng
thăm.
Ngày 26-11-1975, sau khi Đoàn Việt Nam kết thúc chuyến thăm hữu nghị
Liên Xô, tờ Quang minh nhật báo có bài viết về Hoàng Sa và Trường Sa với lời
báo động không giấu giếm: "Một số đảo vẫn chưa trở về trong tay nhân dân
Trung Hoa… Tất cả các đảo thuộc về Trung Hoa đều phải trở về lãnh thổ của Tổ
quốc"
Giữa những năm 1976, quan hệ Việt - Trung đã xấu đi rất nhanh chóng với
các tranh cãi liên quan đến vấn đề biên giới, vấn đề người Việt gốc Hoa và đặc
biệt về vai trò của Liên Xô trong các vấn đề thế giới, khu vực. Trong bài phát biểu
của Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 25 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam (họp từ ngày 24-9 đến 24-10-1976) xuất hiện những cụm từ nhiều
hàm ý: “Ta thắng là nhờ có sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô, Trung Quốc, của phe
ta, của thế giới, Liên Xô và Trung Quốc giúp ta rất nhiều. Không có sự giúp đỡ
của họ ta khó lòng thắng được. Ta phải luôn luôn biết ơn Liên Xô, Trung Quốc và
các nước anh em khác đã giúp ta; ta nói cho con cháu ta mãi mãi nhớ ơn họ.
Nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có
lập trường riêng do vị trí và quyền lợi mỗi nước một khác, cho nên giữa các
nước anh em, khó có sự nhất trí với nhau, có khi về những vấn đề rất quan trọng
đối với một nước trong phe, cũng không nhất trí được.
Tháng 2-1977, Trung Quốc ngỏ ý với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung
cấpviện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh.
Cũng vào thời kỳ này, biên giới Việt Nam - Campuchia liên tục có xung đột.

Chính phủ Việt Nam không dưới một lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp,
mong muốn thông qua hợp tác với Trung Quốc tác động tới phía Campuchia,
song Trung Quốc đã im lặng. Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Việt Nam trong
việc tìm kiếm các phương thức giải quyết căng thẳng biên giới với Campuchia
12


càng cho thấy những vết nứt sâu hơn trong quan hệ hai nước. Điều đáng chú ý
là trong thời điểm phức tạp, nhạy cảm của quan hệ Việt Nam - Campuchia.
Ngày 20-11-1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc một lần nữa. Đây được
coi như một nỗ lực nhằm hàn gắn những vết rạn nứt trong quan hệ với Trung
Quốc, thực hiện việc cố gắng cân bằng quan hệ giữa Việt Nam - Liên Xô; Việt
Nam - Trung Quốc. Chuyến viếng thăm Trung Quốc lần này của Lê Duẩn chẳng
những không làm cho quan hệ hai nước ấm lên, mà bộc lộ những bất đồng mới.
Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh
nói đến một vấn đề tế nhị trong quan hệ hai nước là những tranh chấp về Hoàng
Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới,
chiến tranh và hòa bình… đã bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm
không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông qua việc "chân thành cảm
ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối
với Việt Nam". Không khí có vẻ căng thẳng hơn, khi Lê Duẩn đề nghị những nhà
lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho
cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc đã không mấy
mặn mà. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9-1975, Lê
Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc khoản đãi “những người Trung Hoa anh
em”.
Về phía Trung Quốc, từ cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng
Châu luôn nhấn mạnh tinh thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam",
tuyên truyền: "Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược
Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho

bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam
là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa". Tháng 1-1978,
Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải
quyết cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp
ứng.
1- Vấn đề “nạn kiều"

13


Đầu năm 1978, những người cầm quyền Trung Quốc dựng lên cái gọi là vấn
đề nạn kiều để mở đầu một chiến dịch quy mô công khai chống nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư
doanh ở miền Nam. Vấn đề người Hoa được Trung Quốc nêu lên. Trung Quốc coi
việc Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp, động chạm tới người Hoa ở
một số thành phố lớn miền Nam như một sự công khai thách đố chính sách bảo
vệ Hoa kiều hải ngoại mà Trung Quốc vừa công bố. Một phong trào đòi lấy quốc
tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam được dấy lên. Trung Quốc đưa ra
chính sách "đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều", kêu gọi chống lại chính sách
"bài Hoa" của Việt Nam.
Đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt, gốc Hoa những luận
điệu kích động về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam Trung Quốc, gây tâm lý hốt hoảng trong quần chúng người Hoa. Do sự khuyến
khích đó của Trung Quốc và với sự im lặng đồng tình ngầm của Việt Nam muốn
tống xuất hiểm họa của "đội quân thứ năm", trong năm 1978, các dòng người
Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc. Ngày 30- 4-1978, Chủ nhiệm Văn phòng
Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ "sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt
Nam về nước hàng loạt", hứa hẹn "sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã
trở về một cách vội vàng".
Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng "nạn kiều", Trung

Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai
tầu chuyên chở sang Việt Nam để đón "nạn kiều" về nước, nói trắng ra rằng, tàu
Trung Quốc sang Việt Nam không phải để đón người Hoa, người Việt gốc Hoa,
hay Hoa kiều muốn đi Trung Quốc", mà đón "nạn kiều". Tháng 5-1978, Trung
Quốc đơn phương đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12-7-1978,
Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người
Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại, tạo nên tình trạng mất an ninh ở khu vực
biên giới. Đến khi các đợt ra đi của người Hoa trở nên ồ ạt, Trung Quốc lại đưa
ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi
hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của
Chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những “nạn kiều người Hoa”
14


đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ dứt khoát không nhận về “người
Việt gốc Hoa”, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam.
Cũng cần nói thêm rằng, trong khi Trung Quốc khêu lên vấn đề bảo vệ Hoa
kiều một cách mạnh mẽ, thì ở Campuchia, do chính sách khủng bố trong nước
của Chính quyền Campuchia, hàng vạn Hoa kiều chạy khỏi Campuchia, song
Trung Quốc đã không có bất cứ một động thái phản đối nào.
2- Cắt viện trợ, rút chuyên gia
Ngày 12-5-1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Công hàm cho Đại sứ
quán Việt Nam ở Trung Quốc thông báo quyết định cắt 21 dự án ở Việt Nam, với
lý do là để chuyển các khoản tiền cùng vật chất trong các dự án này cho người
Hoa hồi hương sinh hoạt và lao động sản xuất. Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã
gửi Chính phủ Việt Nam Công hàm ngày 30-5-1978 hủy bỏ thêm thêm 51 dự án
khác, cũng với lý do cách đối xử của Chính phủ Việt Nam đối với người Hoa là
gánh nặng tài chính cho Trung Quốc, do Trung Quốc phải giải quyết vấn đề
người Hoa nhập vào Trung Quốc từ Việt Nam.
Chỉ trong tháng 5-1978, Trung

Quốc đã cắt 72 trong số 111 công trình viện trợ, gây cho Việt Nam nhiều khó
khăn trong lĩnh vực kinh tế. Ngày 3-7-1978, Trung Quốc gửi thêm một công hàm
nữa cho Chính phủ Việt Nam thông báo chấm dứt mọi trợ giúp kinh tế, kỹ thuật
và rút tất cả các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam về nước.
Ngày 22-12-1978, Trung Quốc đơn phương hủy bỏ việc chuyên chở trên
tuyến đường sắt liên vận từ Hà Nội đến Bắc Kinh. Lý giải việc cắt toàn bộ viện
trợ, ngoài lý do vì “gánh nặng rất lớn về tài chính của Trung Quốc trong việc sắp
xếp sản xuất và đời sống cho nạn kiều”, Trung Quốc còn đưa thêm lý do “Việt
Nam ngày càng chống Trung Quốc, bài Hoa một cách nghiêm trọng, phá hoại
các điều kiện tối thiểu nhất để các chuyên gia Trung Quốc tiếp tục công tác tại
Việt Nam”, nên “Chính phủ Trung Quốc mới buộc phải quyết định ngừng viện trợ
kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam, điều cán bộ Trung Quốc ở Việt Nam về nước”.
Việc từ chối viện trợ cho Việt Nam với lý do “gánh nặng kinh tế giải quyết vấn đề
người Việt gốc Hoa”, nhưng trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu
trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen (2-1976),
những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ký viện trợ quân sự cho Campuchia một

15


khoản tiền không hề nhỏ, trị giá 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ
USD) trong ba năm (1976-1978).
Cắt viện trợ cho Việt Nam vào thời điểm Việt Nam mới ra khỏi khói lửa chiến
trường, đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết đất nước và gồng
mình bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam. Quả thật, Trung Quốc đã giáng một “đòn
chí tử” có tính toán vào nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bấp bênh,
khiến Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thử thách mới.
Cùng với việc đơn phương cắt bỏ mọi khoản viện trợ mà hai bên đã ký kết,
Trung Quốc hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự. Ngày 17-6-1978, Trung Quốc yêu cầu
các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về

nước. Quan hệ Việt - Trung tiếp tục đi xuống một bước.
Lợi dụng vấn đề Cam Pu Chia để đối phó Việt Nam
Đi kèm với vấn đề người Hoa,“câu chuyện Campuchia” tiếp tục là một nhức
nhối mới trong quan hệ Việt - Trung. Ngay từ giữa những năm 60 (XX), các nhà
lãnh đạo Trung Quốc đã có kế hoạch nắm trọn vấn đề Campuchia, phục vụ mục
đích tạo vùng ảnh hưởng của mình tại khu vực Đông Nam Á, sau khi nhận thấy
“những biểu hiện bướng bỉnh” của Việt Nam đi chệch quỹ đạo mà Trung Quốc
muốn sắp đặt
Những năm 1975-1976, Trung Quốc vẫn còn muốn giữ quan hệ, duy trì ảnh
hưởng của mình tại Việt Nam, muốn Việt Nam đứng về phía mình để chống Liên
Xô, giảm ảnh hưởng của Liên Xô tại Việt Nam và vùng Đông Nam Á; Do vậy,
Trung Quốc vẫn đóng vai trò trung gian hoà giải khi những cuộc đụng độ quân
sự giữa Việt Nam và Campuchia mới bắt đầu diễn ra. Nhưng từ đầu năm 1977
trở đi, khi quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia trở nên gay gắt, rồi dẫn đến tan
vỡ ngoại giao vào cuối năm 1977 và tiếp diễn chiến tranh trong năm 1978, quan
hệ Việt – Trung cũng chuyển sang một tình trạng xấu hơn, phức tạp hơn, nhất là
khi Trung Quốc ủng hộ cả chính trị, lẫn quân sự cho chế độ Khơme Đỏ.Từ tháng
9 đến tháng 10-1977, Pôn Pốt có chuyến thăm dài ngày tới Trung Quốc, nhằm
thắt chặt thêm quan hệ liên minh được thiết lập. Sau chuyến thăm này, tháng
12-1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng đã tới thăm Campuchia
và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Tuyên bố của Phó Thủ tướng
Uông Đông Hưng cũng mạnh mẽ hơn và đầy hàm ý: “Không một lực lượng nào
16


có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước
sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi”.
Tháng 3-1978, các kỹ sư Trung Quốc xây dựng lại đường xe lửa
Konpongthom - Phnôm Pênh và ở lại tại chỗ sau khi sửa xong. Ngày 12-7-1978,
lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản

Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam “tìm cách sáp nhập Campuchia vào
một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam”. Ngày 4-11-1978,
Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng đi Phnôm
Pênh để tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với chính sách của Campuchia. Theo Cơ
Bằng Phi, thì đó là sự trả lời trực tiếp của Trung Quốc đối với việc ký Hiệp ước
Việt - Xô. Tháng 1-1979, Việt Nam đưa quân vào Campuchia, lật đổ chế độ Pôn
Pốt và đối với Trung Quốc, "việc không thể chấp nhận được đã thành sự thật".
Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn quan trọng để Trung Quốc có
thể tiếp tục giúp đỡ cho Khơme Đỏ. Tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ
viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn
cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không
quân Utapao. Thái Lan lúc này không còn giữ thái độ trung lập nữa, đồng ý để
Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khơme Đỏ. Đồng
thời, trước sự vận động của Trung Quốc, sau hơn mười năm vắng bóng trên
chính trường, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam phải rút quân
ra khỏi Campuchia
Trong thời gian này, bên cạnh những khúc mắc như đã nói ở trên, xung đột
biên giới trên bộ và tranh chấp chủ quyền trên biển Đông là một trong biểu hiện
cụ thể, tập trung nhất trạng thái bất bình thường trong quan hệ Việt - Trung, nó
đẩy quan hệ Việt - Trung rơi xuống nấc thấp nhất.
3–Duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Nam
Với Trung Quốc, Việt Nam có đường biên giới đất liền dài khoảng 1.406 km,
từ ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào đến bờ biển vịnh Bắc Bộ (Quảng
Ninh – Quảng Đông), đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với hai tỉnh
phía Trung Quốc. Đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là đường biên
giới thực tế lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX đã trở thành đường biên giới pháp lý

17



(được luật pháp quốc tế thừa nhận). Theo R.V.Pretcot thì đây là "một trong
những biên giới được xác định tốt nhất trong khu vực".
Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc trở nên căng
thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam Trung Quốc ngày càng xấu đi với những xung đột ở biên giới Việt Nam - Trung
Quốc tại khu vực Cao Bằng - Lạng Sơn vào cuối năm 1976.
Tháng
3-1977,
Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới Cao Lạng Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên
giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó, Đoàn Trung Quốc
chỉ đề nghị bàn biện pháp ngăn ngừa xung đột, giữ nguyên trạng trong khi chờ
Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Trung
Quốc.
Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, vũ trang khiêu
khích biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, từ
tháng 7-1978, Trung Quốc đã sử dụng hành động này phục vụ cho mục đích công
khai và chuẩn bị tạo cớ, gây cuộc tấn công dọc theo toàn tuyến biên giới Việt
Nam. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15-2-1979, số vụ xâm phạm vũ
trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, tháng 1 và
những tuần lễ đầu tháng 2-1979 tăng lên 230 vụ. Cùng với những hoạt động vũ
trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng rộng lớn, nhịp độ ngày
càng tăng, Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tầu
thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, đã cho trên 100
lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tầu thuyền hoạt động khiêu khích
trên vùng biển Việt Nam.
Vấn đề tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trên biển Đông, vấn đề tranh chấp quan trọng nhất của Trung Quốc đối với
Việt Nam liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 10-9-1975,
phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa khẳng định chủ
quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và

Trường Sa-TG). Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng
và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 9-1975, phía Việt Nam
18


nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày
24-9-1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng, phía Trung
Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ
xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương
hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ rằng, sau này hai
bên có thể thương lượng, bàn bạc. Ngày 12-5-1977, Chính phủ Việt Nam ra
tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm
lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc
đã phản ứng mạnh mẽ. Ngày 30-7-1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa
tuyên bố: “Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần
đảo Trường Sa - TG) mà không cần phải thương lượng gì hết”.
Sau mỗi lần Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và vũ trang khiêu khích biên
giới Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra
tuyên bố và gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
3- Chuẩn bị ngoại giao và tiến hành cuộc tấn công toàn tuyến biên giới
phía Bắc Việt Nam tháng 2- 1979
Song song với việc liên tục xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam,
Trung Quốc cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tấn công quy mô lớn trên
toàn tuyến biên giới Việt Nam, tập trung những quân đoàn chủ lực lớn dọc theo
biên giới Việt – Trung.
Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa
năm 1978 - cuối năm 1978, nhiều biện pháp “trừng phạt” Việt Nam bằng quân
sự được đưa ra. Ngay cả thời cơ cũng được Trung Quốc tạo ra và chuẩn bị kỹ
càng sau một loạt những sự kiện “nạn kiều”, “Việt Nam xâm chiếm, vũ trang
khiêu khích biên giới Trung Quốc”. Trung Quốc một bước chuẩn bị quan trọng

trước khi tiến hành tấn công Việt Nam là việc Trung Quốc đã kịp ký với Nhật
Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị (vào ngày 12-8-1978, có giá trị trong mười
năm và sẽ tái ký sau đó), nhằm thu xếp, tạo thế cân bằng chiến lược ở khu vực
Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc, Trung Quốc có thể rảnh tay đối phó với Việt
Nam.
Ngày 5-11-1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN để tập hợp lực
lượng cho bước đi sắp tới về Việt Nam. Việc Việt Nam – Liên Xô ký kết Hiệp ước
19


Hữu nghị và Hợp tác toàn diện (3-11-1978). Tuyên truyền rằng, việc ký Hiệp ước
Việt - Xô là mối de dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành
lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN
để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của
Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam.
Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt
Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô”; “Trung Quốc quyết không để cho ai làm
nhục”; cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho
Việt Nam một bài học”. Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản
ứng công khai, còn A.Kosyginthì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một
bản “tuyên bố chiến tranh với Việt Nam”.
Nhìn chung lại, thông qua các bước chuẩn bị ngoại giao, Trung Quốc thấy
rằng, nếu đánh Việt Nam, Mỹ sẽ đồng tình, các nước ASEAN ít nhất cũng không
lên tiếng phản đối, Liên Xô sẽ có phản ứng, nhưng không có khả năng mang hải
quân can thiệp. Còn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn nghiêm trọng,
những thách thức về kinh tế, chính trị, nhất là sau cuộc chiến tranh biên giới Tây
Nam, đánh Việt Nam lúc này là thuận lợi.
Từ giữa tháng 12-1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm
quân khu và đưa áp sát biên giới Trung - Việt. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 11979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là
tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam “chiếm” Phnôm Pênh. Trung Quốc

kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung
Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi
các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam.
Từ ngày 9 đến ngày 12-2-1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình.
Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung. Ngày 162-1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp
tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp các ngành. Trong cuộc họp này, Đặng
Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn
mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian.

20


Ngày 17-2-1979, sau sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cả hai phương diện trong
nước và quốc tế, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe
tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía
Bắc Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) và đánh sâu
vào lãnh thổ Việt Nam. Các nhà bình luận phương Tây gọi cuộc tấn công của
Trung Quốc dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam (1979) là "cuộc chiến giữa
những người anh em Đỏ", hay "cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba".
Về phía Trung Quốc, biện minh cho hành động của mình, Trung Quốc
tuyên bố đây chỉ là “một cuộc phản kích để tự vệ". Mục đích của Trung Quốc
trong cuộc chiến là xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, làm giảm tiềm lực quốc
phòng, kinh tế, làm suy yếu Việt Nam, hạ uy thế chính trị, quân sự của Việt Nam,
thể hiện vai trò nước lớn trong khu vực và củng cố đoàn kết nội bộ. Mặt khác, lợi
dụng vào dân số và quân số đông đảo, số lượng vũ khí dồi dào, Trung Quốc dự
định bằng cuộc hành quân chớp nhoáng, chiếm đóng một số thị xã dọc biên giới,
phân tán mỏng lực lượng quân sự của Việt Nam, buộc Việt Nam phải rút bớt
quân từ chiến trường Campuchia về nước, cứu nguy cho Khơme Đỏ. Ngoài ra,
Trung Quốc tấn công Việt Nam còn nhằm mục đích kiểm tra tính chặt chẽ của

Hiệp ước phòng thủ Liên Xô - Việt Nam, thăm dò phản ứng của Liên Xô, thách đố
“liên minh quân sự” Việt - Xô. Hành động quân sự để đối phó với Việt Nam sau
khi Việt Nam vừa ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô là một thách đố liều
lĩnh, nhưng có tính toán. Chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra khi Liên Xô trả
đũa, Trung Quốc muốn cho Liên Xô biết quyết tâm của Trung Quốc không thể để
bị bao vây, không thể chấp nhận ảnh hưởng gia tăng của Liên Xô tại Đông Nam
Á; đồng thời, chứng minh cho các quốc gia Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào
Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và tham vọng của Liên Xô
thông qua Việt Nam.
Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà những người cầm quyền Trung
Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá trình
hành động tội ác chống độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân
Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm suy yếu, thôn tính và khuất phục Việt Nam.
Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất
bại thảm hại, đã bị toàn thế giới lên án và một bộ phận nhân dân Trung Quốc
21


phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979 họ đã buộc phải tuyên bố rút quân và sau đó
đã phải nhận ngồi đàm phán với phía Việt Nam.
4- Việt Nam hành động
Cuộc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc (1979) là nấc thang cao nhất thể
hiện thái độ thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ngay sau khi Trung Quốc
tấn công Việt Nam, trong ngày 17-2-1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố:
“Nhân dân Việt Nam là một dân tộc kiên cường, anh dũng, bất khuất đã từng
đánh thắng mọi kẻ xâm lược, tin tưởng sắt đá rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam, lại
được bạn bè khắp năm châu đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, nhất định sẽ đánh
thắng cuộc chiến tranh xâm lược của những người cầm quyền Trung Quốc, bảo
vệ độc lập, chủ quyền của mình”.

Ngày 18-2-1979, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam ra Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và
đập tan cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của bọn phản động Trung Quốc”.
Ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu
gọi,trong đó có đoạn viết: “Quân thù đang giày xéo non sông đất nước ta
(…).Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ. Cuộc kháng chiến chống
quân Trung Quốc xâm lược đang diễn ra(…) Đánh thắng quân xâm lược Trung
Quốc lần này là nghĩa vụ dân tộc vẻ vang”.
Ngày 1-3-1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 67, Về việc phát động và tổ chức
toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, nêu bật nhiệm vụ “xây dựng thế
phòng thủ vững chắc của đất nước, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đánh bại
quân xâm lược Trung Quốc”. Ngày 3-3-1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16, Về
cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược, dự đoán chiến
tranh có thể diễn biến theo hai tình huống: “Một là, địch bị chặn lại ở các vùng
biên giới, bị tiêu diệt lớn, buộc phải rút quân về nước. Hai là, địch tạm thời
chiếm được một số thị xã và huyện biên giới, mở rộng chiến tranh đến Hà Nội,
vùng đồng bằng Bắc Bộ và lan ra cả nước”. Trong bất kỳ tình huống nào, cũng
phải giữ vững tư tưởng chủ đạo: “Nỗ lực vượt bậc, tranh thủ giành thắng lợi
trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời phải chuẩn bị mọi điều kiện để đánh
lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh, quyết đánh thắng hoàn toàn quân địch. Phải
22


nắm vững phương châm “làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường để tiêu diệt
địch; tiêu diệt địch để làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường”. Về quân sự, Nghị
quyết xác định: 1- Quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược ở biên giới; 2- Cả nước ráo
riết chống chiến tranh xâm lược, sẵn sàng, mạnh mẽ, vững chắc chiến đấu ở các
tuyến trung du và đồng bằng; 3- Triển khai kế hoạch bảo vệ Thủ đô Hà Nội và
thành phố Cảng Hải Phòng; 4-Tiến hành bố phòng, chuẩn bị chiến đấu ở khu vực
hậu phương trực tiếp (từ Hà Nội đếTrên tinh thần “tất cả cho Tổ quốc quyết

sinh”, quân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ từng mảnh đất biên
cương của Tổ quốc. Trên các mặt trận dọc tuyến biên giới phía Bắc, chiến thuật
“biển người” của Trung Quốc đã không thể phát huy tác dụng trước ý chí bảo vệ
non sông, đất nước và lòng quả cảm của những con đất Việt Thanh Hoá-Nghệ
Tĩnh) và trong cả nước.
Ngay khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên
thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, đấu tranh đòi Trung Quốc rút
quân. Ngày 18-2-1979, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm
lược Việt Nam
Ngày 14-3-1979, trước sự chống trả của quân, dân Việt Nam ở biên giới,
trước sức ép của dư luận và có lẽ tự cho là đã "dạy" cho Việt Nam một bài học,
Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Trong điều kiện đó, ngày 6-31979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận
định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ
thị của Ban Bí thư ghi rõ: Tối 5-3-1979, Tân Hoa Xã (Trung Quốc) ra Tuyên bố về
việc "Quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút quân từ 5-3-1979", khẳng định:
“Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh
giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật
lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa”. Chỉ thị nhấn mạnh thêm: “Không được
một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là
thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến
đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược”.
Về mặt quốc tế, “cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của
Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới
ủng hộ, bảo vệ Việt Nam". Bên cạnh việc “chấp nhận cho Trung Quốc rút quân”,
23


để trả lời, phía Việt Nam cũng phản kích đánh vào Malipô, Ninh Minh, hai thành
phố biên giới của Trung Quốc.
III. Quan hệ Việt – Trung 1979-1991

1. Tình hình căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung trước 1979
Trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân và
cách mạng XHCN, Trung Quốc và Liên Xô là 2 nước đi đầu viện trợ và giúp đỡ
Việt Nam. Song mối quan hệ giửa các nước XHCN dần xuất hiện những mâu
thuẫn mà trước hết là 2 nước lớn trong hệ thống XHCN Liên Xô và Trung Quốc.
Trung Quốc sau nội chiến phát triển nhanh chóng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Trung Quốc, từ dần trở thành 1 nước lớn, do đó Trung Quốc không
muốn tiếp tục nằm dưới sự lãnh đạo của Liên Xô. Bên cạnh đó vì muốn đạt được
những lợi ích chiến lược cho quốc gia mình nên Trung Quốc đặc biệt là muốn
thay thế Tưởng trong Liên Hợp quốc, và muốn phá thế bao vây cấm vận của Mỹ,
nên Trung Quốc bắt đầu thỏa hiệp với Mỹ.
Năm 1968 mối quan hệ Việt Trung bắt đầu rạn nứt khi mà Việt Nam muốn
giữ mối quan hệ nồng thắm với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô thì mâu thẫu giữa
Trung Xô gần như đến đỉnh điểm. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh
về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh
muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong
khi Hà Nội muốn tiến hành Tổng tiến công để thống nhất đất nước. Và hơn thế
nửa Việt Nam muốn trực tiếp đàm phán với Mỹ chứ không muốn thông qua một
quốc gia trung gian nào.
Năm 1972, Nixson chính thức thăm Trung Quốc đây là hành động phản bội
với Việt Nam. Năm 1975 Lê Duẩn thẳng thừng khước từ tham gia vào liên minh
chống Liên Xô của Trung Quốc, từ đây viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam
giảm dần đến năm 1978 thì cắt toàn bộ viện trợ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc
đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ
của Liên Xô. Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung
Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng
xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt
Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã
24



trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung
Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt
Nam và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Vì vậy, Trung Quốc đã bắt đầu có
những hành động chống phá Việt Nam. Trung Quốc đã tìm đến lực lượng
Khơme đỏ, cùng với Mỹ viện trợ cho lực lượng này tiến hành nội chiến tại
Campuchia và tấn công biên giới Tây Nam của Việt Nam.
Tại Campuchia Việt Nam và Liên Xô ủng hộ cho lực lượng cách mạng
Campuchia thì Trung Quốc cùng với Mỹ hậu thuẫn cho lực lượng Pôn Pốt tiến
hành nội chiến. Vấn đề ở Campuchia càng làm cho mâu thuẫn trong quan hệ
Việt – Trung lên đến đỉnh cao, và đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979.
2. Quan hệ Việt Trung trong thời kỳ xung đột quân sự 1979 – 1989
Chiến tranh biên giới Việt Trung xảy ra tháng 2 năm 1979 là cực điểm của
quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong thời gian đó, Việt Nam
gọi Trung Quốc là "phản động", "bành trướng", "bá quyền". Đồng thời Trung
Quốc cũng gọi Việt Nam là "tiểu bá". Việt Nam cũng thường chỉ trích Trung Quốc
đã theo chiến lược "liên Mỹ đả Việt" và xem đó là quốc sách trong thời điểm đó,
đặc biệt sau khi Việt Nam biết được những cuộc mật đàm giữa Chu Ân Lai và
Kissinger.
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 xảy ra, kéo dài suốt hơn 10 năm, để
lại nhiều hậu quả cho phía Việt Nam. Phía Trung Quốc cho rằng cuộc chiến 1979
chủ yếu để "dạy cho VN một bài học" vì "xâm lăng Campuchia", nước khi đó là
đồng minh của Trung Quốc. Theo Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Trung Quốc
đánh Việt Nam "Cũng một cách nữa là họ trả thù cho Pôn Pốt. Đồng thời lúc bấy
giờ ông Đặng Tiểu Bình cũng muốn quan hệ với Mỹ cho nên đánh chúng tôi để
cho Mỹ thấy rằng là giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là đồng minh,
không phải là cùng nhau Cộng sản nữa. Trung Quốc muốn cho Mỹ tin để phát
triển quan hệ với Trung Quốc. Vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan
hệ với Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ.

Khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979, Trung Quốc
tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam". Trên thực
tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ có tranh chấp mà Việt
25


×