Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

KINH tế BRUNEI 2001 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (336.06 KB, 24 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Tiểu vương quốc Hồi giáo Brunei hay còn được gọi với tên đầy đủ là Brunei
Darussalam, theo tiếng Malay có nghĩ là “ nơi ở của hòa bình”. Brunei là mảnh đất còn
sót lại của đế chế rộng lớn bao gồm cả Borneo và phía Tây Nam của Philippines . Hiện
nay, Brunei là một trong những quốc gia có diện tích nhỏ bé nhất trên địa cầu nhưng lại
có vị trí chiến lược, có tầm ảnh hưởng nhất định trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhỏ
bé, nhưng quốc gia này lại được thiên nhiên ban tặng trữ lượng dầu mỏ lớn nhất Đông
Nam Á. Vì thế, khi nhắc đến Brunei, người ta thường nghĩ ngay đến nguồn vàng đen dồi
dào cùng với những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn chưa có bàn tay của con người khai
phá.
Brunei là nước có nền kinh tế nhỏ nhưng khá thịnh vượng. Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) trên đầu người cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Hiện
nay, Brunei là nước sản xuất dầu mỏ đứng thứ ba Đông Nam Á (sau Indonesia và
Malaysia), đứng thứ tư thế giới về sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng. Việc khai thác dầu mỏ
và khí đốt đem lại nguồn ngoại tệ khổng lồ cho Brunei, riêng dầu mỏ và khí đốt đã chiếm
80% tổng thu nhập trong nước và 90% thu nhập về xuất khẩu. Bên cạnh đó, người dân
Brunei có điều kiện sống thuộc loại tốt nhất trong khu vực, Brunei còn nằm trong số
những nước có tỉ lệ tội phạm và ô nhiễm môi trường thấp nhất thế giới, và cũng là nơi có
các đấng quân vương giàu có.
Theo đánh giá của chuyên gia nước ngoài, nguồn dầu khí của Brunei có nguy cơ cạn
kiệt trong vòng 25 năm tới cùng việc giá dầu trên thế giới không ổn định, nhiều quốc gia
đang tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế mới thân thiện với môi trường. Do vậy, Brunei
buộc phải tiến hành đa dạng hóa nền kinh tế thay vì chỉ phụ thuộc vào nền kinh tế đơn
điệu- xuất khẩu dẩu mỏ và khí đốt. Ngoài ra, bên cạnh việc tích cực thúc đẩy gia tăng giá
trị của các mỏ dầu cũ và đẩy mạnh tìm các mỏ dầu mới, Brunei đã xác định và hướng đến
bốn ngành kinh tế mũi nhọn đó là du lịch, dịch vụ tài chính, hậu cần quân sự và dịch vụ
phần mềm. Việc đa dạng hóa nền kinh tế được đánh giá là sự thay đổi đầy khả quan và
được ưu tiên đặt lên hàng đầu trong chính sách phát triển kinh tế của Brunei hiện nay.
Với mục tiêu phân tích và dự báo tình hình phát triển của kinh tế Brunei trong giai
đoạn 2001-2014,nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Kinh tế Brunei
trong giai đoạn 2001-2014”. Cùng với sự hiểu biết của mình, nhóm chúng tôi muốn cung


cấp một phần nào đó những thông tin cơ bản về kinh tế Brunei nhằm đem lại cho ngưởi
đọc cái nhìn tổng quát về nền kinh tế của đất nước này.

1


CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC BRUNEI
1.Một số thông tin chung và sơ lược lịch sử :1

Tên đầy đủ : Brunei Darussalam
Diện tích : 5.770 km² ( đất liền : 5270 km², phần nước: 500 km2)
Đường bờ biển : 161 km²
Dân số : 408.786 người ( 2014 )
Thủ đô : Bandar Seri Begawan
Quốc vương : Sultan Hassanal Bolkiah
Quốc khánh : 23/02/1984
Thể chế chính trị : Quân chủ chuyên chế
Đơn vị tiền tệ : Brunei Dollar ( BND )
Múi giờ : VTC + 8
Mã số điện thoại : 673
Dựa trên tài liệu của Trung Quốc và Ả Rập, đất nước Brunei tồn tại ít nhất từ thế kỉ
VII hoặc thế kỉ VIII. Không lâu sau đó, Brunei bị đô hộ bởi vương quốc Sriwijaya vào

1 />
2


đầu thế kỉ thứ IX, tiếp theo lại bị đánh bại bởi Majapahit và cuối cùng bị thực dân Anh
chiếm đóng và trở thành đế quốc bù nhìn của Anh.
Vương quốc Brunei đạt đến thời kì thịnh vượng từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI khi đất

nước này chiếm giữ được khu vực ven biển phía Tây Bắc Borneo và phía Nam của
Philippines. Brunei đặc biệt mạnh nhất vào thời kì vị vua thứ năm, Bolkiah (1473– 1521),
ông nổi tiếng với những chuyến đi vượt đại dương và chinh phục được Manila. Bên cạnh
đó, trong thời kì cai trị của vị vua thứ chín, Hassan ( 1605 – 1619 ) người đã thành lập và
phát triển hệ thống hoàng gia mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Năm 1888, Brunei trở thành nước chịu sự bảo hộ của Anh. Trong chiến tranh thế giới
thứ hai, Brunei bị Nhật Bản chiếm đóng (1941–1945). Năm 1946, Anh trở lại xâm lược
Brunei. Vào năm 1959, dưới phong trào đấu tranh giành độc lập mạnh mẽ ở Brunei, Anh
phải kí với Quốc vương thỏa ước qui định Brunei vẫn là đất nước tự chủ về đối nội đặc
biệt là kinh tế và tôn giáo, trong khi đó Anh là nước bảo hộ về đối ngoại, quốc phòng và
các vấn đề an ninh.
Ngày 14/12/1960, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua nghị quyết về trao trả
độc lập cho các lãnh thổ thuộc địa và chưa tự trị trong đó có cả Brunei.
Hiệp định ngày 13/11/1971, Anh đã phải thỏa thuận với Brunei thay đổi hiến pháp
năm 1959, công nhận Brunei có quyền tự quyết về công việc nội bộ, Anh sẽ phụ trách về
vấn đề đối ngoại còn an ninh và quốc phòng là vấn đề chung của cả hai quốc gia.
Ngày 1/7/1979, Anh và quốc vương Brunei đã kí một hiệp định theo đó Anh trao trả
hoàn toàn độc lập cho Brunei vào 30/12/1938. Brunei lấy ngày 1/1/1984 làm ngày độc
lập nhưng đến ngày 23/2/1984 Brunei mới chính thức thoát khỏi sự đô hộ của Anh, ngày
này trở thành ngày Quốc khánh của đất nước Brunei.
1.1 Điều kiện tự nhiên :
• Vị trí địa lí :2
Brunei là một đất nước nhỏ nằm trong khu vực Đông Nam Á. Nó nằm ở phía Bắc của
đảo Kalimantan và giáp với biên giới Malaysia dài 381 km, phía Bắc giáp với biển Đông
dài 161 km. Brunei có vị trí địa lí 5 VTB và 115KTĐ. Địa hình Brunei bao gồm vùng bờ
biển là đồng bằng ven biển bằng phẳng ở phía Tây và đồi núi ở phía Đông. Đỉnh núi cao
nhất là Bukit Pagon (1850m), phần phía Đông Bắc có nhiều vũng vịnh ăn sâu vào đất
liền, thuận lợi cho xây dựng hải cảng.
Diện tích của Brunei là 5.769 km², trong đó 70% là rừng, bờ biển dài 160km, diện
tích vùng nước là dài 500 km², diện tích đất liền là 5.369 km² 3

2 Wikipedia.com
3 />%2Fchinhphu%2FNuocCHXHCNVietNam%2FChiTietVeQuocGia%3FdiplomacyNationId
%3D146%26diplomacyZoneId%3D85%26vietnam%3D0&h=UAQGtGE88

3


• Khí hậu :4
Brunei Darussalam có khí hậu nhiệt đới cận xích đạo nóng ẩm và mưa nhiều, chỉ có
hai mùa mưa và khô, nhiệt độ trung bình năm từ 24đến 32, lượng mưa trung bình năm
khoảng 2500 mm ở ven biển và 4000 mm ở các ngọn đồi bao phủ rừng rậm. Mùa mưa ở
Brunei kéo dài từ tháng 9 tới tháng 1 và mùa khô kéo dài từ tháng 2 tới tháng 8. Độ ẩm
không khí cao từ 70% đến 100%. Brunei là nơi không có bão, động đất, lũ lụt nghiêm
trọng, phần lớn Brunei chỉ chịu ảnh hưởng từ những cuộc cháy rừng của Indonesia.
• Tài nguyên thiên nhiên :
Tài nguyên thiên nhiên được coi là lợi thế kinh tế lớn nhất của Brunei là dầu mỏ và
khí tự nhiên. Trữ lượng dầu mỏ của Brunei được chứng minh vào khoảng 1,1 tỉ thùng
năm 20095. Brunei còn là quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất dầu khí trong khu vực Đông
Nam Á ( chỉ sau Malaysia và Indonesia ). Bên cạnh đó tài nguyên rừng cũng là một thế
mạnh của Brunei, đất nước này có những thảm xanh trải đều khắp, là lá phổi xanh che
chắn làm đất nước nhiệt đới này tuy nóng nhưng không ngột ngạt và oi bức vì bụi và ô
nhiễm. Ở Brunei có những khu rừng nguyên sinh chưa hề bị bàn tay con người tác động
như rừng quốc gia Ulu Temburong.
Với các nguồn tài nguyên như vậy, Brunei có điều kiện để phát triển các ngành công
nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ.

1.2 Chính trị - xã hội :
• Chính trị :6
Brunei theo thể chế chính trị quân chủ lập hiến. Mọi quyền hành đều nằm trong tay
quốc vương và gia đình hoàng tộc, có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp và sửa đổi luật

pháp kể cả hiến pháp. Quốc gia vừa là nguyên thủ quốc gia, đồng thời ông cũng kiêm
luôn chức Thủ tướng, Bộ trưởng quốc phòng, Bộ tài chính và Tổng tư lệnh các lực lượng
vũ trang.
Hiến pháp ban hành 19/9/1959 và được sửa đổi năm 1984. Bộ máy nhà nước giúp
Quốc vương cai quản đất nước có 5 hội đồng do Quốc vương chỉ định :
Hội đồng bộ trưởng ( nội trưởng ) gồm 11 Bộ trưởng và 7 Thứ trưởng, trong đó Bộ
trưởng Ngoại giao là em trai Quốc vương; Hội đồng xét xử;Hội đồng lập pháp; Hội đồng
truyền ngôi quyết định về việc kế thừa ngôi vua và Hội đồng tôn giáo.

4 Vi.wikovoyage.org
5 123.doc.org
6 />
4


Ở Brunei chỉ có một Đảng quốc gia thống nhất đó là National Development Party.
Ngày 2/9/2005, Quốc vương chỉ định 29 thành viên hội đồng Lập pháp mới. Theo công
bố sửa đổi Hiến pháp Brunei 2004, số thành viên trong hội đồng được tăng lên 45 người,
trong đó 15 thành viên được lựa chọn thông qua bầu cử.
• Xã hội :
Dân số :
Brunei có dân số ít và mật độ dân số thưa, năm 2014 dân số Brunei vào khoảng
408.786 người. Mật độ dân số trung bình của nước này 72 người / km. 97% dân số sống
ở phía Tây rộng lớn, chỉ 10.000 người sống ở khu vực Temburong phía Đông. Brunei có
kết cấu dân số trẻ tạo nguồn lao động dồi dào cho đất nước.

Bảng 1: Các chỉ số dân cư – xã hội chủ yếu của Brunei
Tên mục
Số dân
0-14 tuổi

15-64
65 tuổi trở lên
Tỷ lệ tăng dân số
Tỷ lệ nhập cư

Năm
Đơn vị
Người
%
%
%
%


2005

2008

336000
28,6

381371
27,2

68,4

69,6
3,2
1,785
2,47


3,0
1,9

Nguồn: www.cia.gov/cia/library/theworldfactbook/geos
Thành phần dân tộc :
Khoảng 2/3 dân số của Brunei là người Malaysia ( 66,3 % ), người Hoa chiếm 11,2%
dân số, người bản xứ chiếm 3,4% dân số còn lại 19,1% là các dân tộc khác.
Ngôn ngữ :
Ngôn ngữ chính của Brunei là tiếng Mã Lai, thuộc học Mã Lai – Đa Đảo. Ngoài ra do
thành phần dân tộc nên tiếng Hoa và tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi.
Tôn giáo :
Hồi giáo là quốc giáo của Brunei chiếm 67% dân số. Bên cạnh đó, Phật giáo chiếm
13%, Cơ đốc giáo chiếm 10% còn lại các dân tộc khác bao gồm cả tín ngưỡng bản địa
chiếm 10%.
Điều kiện sống của người dân :
Với sự giàu có của mình, Quốc vương Brunei cũng đem đến những điều tốt nhất cho
người dân. Tại đất nước này mọi thứ đều miễn phí, từ y tế, giáo dục, đường xá cho đến
các loại thuế, chính phủ cho người dân vay tiền sắm siêu xe hoặc bất cứ gì họ thích.
Brunei có thu nhập bình quân đầu người cao thứ hai tại Đông Nam Á ( sau Singapore)
GDP/người theo giá hiện hành 2014 là 77,700 USD.7
77 />%2F2015%2F04%2F27%2FBrunei-2014.pdf&h=UAQGtGE88

5


Chỉ số và dân cư – xã hội của Brunei ở mức cao ngang với các nước đang phát triển
như tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh thấp ( 12,69% năm 2008 ); tuổi thọ trung bình cao (vào khoảng
75,52 tuổi); tỉ lệ biết chữ từ 15 tuổi trở lên 92,7%; số năm đi học trung bình 14 năm; đầu
tư cho giáo dục 5,2% GDP…8


1.3 Văn hóa :
Brunei cùng chung nền văn hóa với Malaysia dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hồi
giáo nhưng dường như ở Brunei bảo thủ hơn Malaysia và Indonesia. Bên cạnh những
chính sách an sinh xã hội đảm bảo tốt nhất cuộc sống của người dân thì ở đây cũng tồn tại
những đạo luật khắc khe và những hình phạt hết sức tàn khốc như chặt tay hoặc ném đá,
đánh roi nếu người dân vi phạm pháp luật. Đàn ông ở Brunei bị cấm uống rượu và phụ
nữ bị phân biệt giới tính nặng nề.
Với Hồi giáo là tôn giáo chính nên hàng năm ở đây vẫn diễn ra các lễ hội lớn như
tháng ăn chay Ramadan của người Hồi giáo, lễ hội Hari Idul Fitri…nhiều công trình kiến
trúc đậm nét Hồi giáo như những cung điện, thánh đường đặc trưng với màu trắng cẩm
thạch và mái hình chóp dát vàng lộng lẫy.

CHƯƠNG 2: KINH TẾ BRUNEI TỪ NĂM 2001- 2014
1.Tổng quan tình hình kinh tế Brunei trước năm 2001
Quy mô kinh tế : Brunei là nước có diện tích nhỏ, quy mô nền kinh tế không lớn.
“Trước năm 1929, Brunei còn rất nghèo, kinh tế chủ yếu dựa vào việc trồng và xuất khẩu
cao su, với sản lượng và thu nhập thấp. Từ năm 1929 trở đi, việc phát hiện ra dầu mỏ và
khí đốt đã đem lại sự giàu có cho nước này. Nền kinh tế Brunei phụ thuộc nhiều vào dầu
lửa.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, vào năm 1980, Brunei
đã xây dựng được nhà máy hoá lỏng dầu khí (một trong những nhà máy hoá lỏng dầu khí
lớn nhất thế giới). Khi giá dầu lửa thế giới tăng, GDP của Brunei cũng tăng lên, đạt đỉnh
cao vào năm 1980 với 5,7 tỷ USD. Sau đó GDP giảm nhẹ vào 5 năm tiếp theo và mất
khoảng 30% vào năm 1986. Nguyên nhân của tình trạng này do sự sụt giảm của giá dầu
thế giới, cũng như việc thực hiện chiến lược năng lượng và phát triển kinh tế bền vững,
Brunei đã cắt giảm sản lượng khai thác dầu. Gía trị GDP của Brunei trở lại từ năm 1987
đạt 12%, năm 1988 đạt 10%, năm 1989 đạt 9%.”9
8 Www.brunei.gov.bn
9 Trang 194-Địa lý kinh tế- xã hội châu Á.


6


Tốc độ tăng trưởng GDP: GDP của Brunei không ổn định và ở mức thấp hơn các
nước trong ASEAN. Năm 1995 GDP của Brunei đạt 1,01%(ASEAN đạt 6,39%), năm
1999 đạt 2,56% ( ASEAN đạt 6,13%).
Cơ cấu nền kinh tế :Kinh tế Brunei phụ thuộc vào khai thác và xuất khẩu dầu mỏ. Về
lâu dài, để ổn định và phát triển nền kinh tế, hạn chế sự phụ thuộc vào giá dầu mỏ và khí
đốt. Với mục tiêu đa dạng hoá nền kinh tế, Brunei đã tiến hành thực hiện kế hoạch 5 năm
(1991- 1995) và đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn. Trong kế hoạch năm 5 lần thứ 6,
Brunei đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là: đa dạng hoá nền kinh tế, phát triển các
ngành công nghiệp mới hướng vào xuất khẩu nhằm thoát khỏi sự phụ thuộc vào công
nghiệp dầu mỏ, tăng cường sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, phát triển công
nghiệp dịch vụ du lịch, tài chính đồng thời tìm cách khôi phục sản xuất nông nghiệp và
khí đốt, thị trường nội địa nhỏ, thiếu hụt nguồn lao động do dân số ít.
Tỷ lệ lạm phát: Brunei có một nền kinh tế nhỏ nhưng giàu có, phát triển với tốc độ
chậm và ổn định với tỷ lệ lạm phát trung bình 1,5% trong hai mươi năm qua. Chất lượng
cuộc sống của người dân cao.
Tuy nhiên nền kinh tế của Brunei bị chi phối bởi các ngành công nghiệp dầu mỏ và
khí đốt trong 80 năm qua. Dầu khí chiếm hơn 90% lượng xuất khẩu và khoảng 50% tổng
sản phẩm trong nước.
.

2. Kinh tế Brunei từ năm 2001 đến 2014:
2.1 Kinh tế Brunei giai đoạn 2001 đến 2007:
Ngoài việc dựa vào dầu mỏ và khí đốt, chính phủ Brunei đã cố gắng đa dạng hoá các
nguồn lực kinh tế trong lĩnh vực thương mại. Với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận
lợi, Brunei có rất nhiều thế mạnh để phát triển đất nước, trong đó tập trung vào 3 thế
mạnh: thế mạnh về dầu khí, thế mạnh về du lịch và thế mạnh về kinh tế biển. Mặc dù nền

kinh tế của Brunei có quy mô cùng với nguồn nhân lực nhỏ nhưng nhờ vào nguồn tài
nguyên của đất nước và các kế hoạch khôi phục nền kinh tế của nước này trong giai đoạn
này dần ổn định và phát triển.
Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP): theo biểu đồ, GDP của Brunei có xu hướng tăng
dần đều từ năm 2002-2007. Trong đó, giai đoạn tăng trưởng cao nhất là từ năm 20062007 ( tăng 1,94 tỉ USD )

7


Biểu đồ 1 : Tổng sản phẩm quốc nội của Brunei ( 2002-2007)

Nguồn : />Bên cạnh đó, Chính phủ Brunei thực hiện chính sách khuyến khích thu hút đầu tư
nước ngoài. Những doanh nghiệp mới đáp ứng những tiêu chuẩn cho phép, được coi như
người tiên phong sẽ được miễn thuế thu nhập trung bình khoảng 30%, không có thuế lợi
nhuận thu từ việc bán các khoản đầu tư hoặc tài sản.
“ Một trong những ưu điểm quan trọng của Chính phủ Brunei là khuyến khích phát
triển cộng đồng người Malay đi đầu trong các ngành công nghiệp và thương mại. Không
có sự phân biệt đáng kể giữa quyền sở nước ngoài và quyền sở hữu của người sở tại.
Các công ty nước ngoài hoạt động ở Brunei phải hợp tác chặt chẽ với các công ty
trong nước hoặc đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền. Các công ty nhà nước phải có ít
nhất 7 cổ đông. Các công ty tư nhân có ít nhất 2 cổ đông và không quá 50 cổ đông. Ít
nhất ½ số nhà quản lý của công ty phải thường trú tại Brunei”.10
“Nguồn dự trữ ngoại tệ của Brunei được quản lý bởi Brunei Investment Agency,
thuộc bộ tài chính. Những nguyên tắc của BIA làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ của đất
nước, song vẫn nắm giữ cổ phần trong các công ty của Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu và các
nước Đông Nam Á”11
GDP bình quân đầu người:Trong giai đoạn 2001-2007 GDP/ đầu người ở Brunei có
sự biến động không lớn. Trong đó, mức tăng trưởng cao nhất năm 2004 (26712,84 USD)

Biểu đồ 2: GDP bình quân đầu người của Brunei trong những năm 2001-2007

10 Trang 195,Địa lý kinh tế- xã hội châu Á.
11 Trang 195, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.

8


Nguồn : />Cơ cấu kinh tế: Kinh tế Brunei đã đạt được một số kết quả đáng kể, cơ cấu kinh tế
theo hướng phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ, hai ngành này chiếm tỷ lệ chủ yếu
trong GDP (99,1%). Ngành công nghiệp có xu hướng ngày càng tăng trong khi đó cơ cấu
ngành nông nghiệp, dịch vụ có xu hướng giảm xuống.

Bảng 2: Cơ cấu kinh tế của Brunei
NĂM

CÔNG NGHIỆP

NÔNG NGHIỆP

DỊCH VỤ

2001
2007

60%
71,3%

38,9%
28%

1,1%

0,7%

Nguồ
ADB

n:
Key
Indicators Asia anPacific
Lạm phát ở mức thấp nhất các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, thời kỳ
2002 – 2007 chỉ có 0,97%/năm.
Cân đối ngân sách/GDP có tỷ lệ cao nhất các nước ASEAN, 16,48% thời kỳ 2002 –
2007. Đồng nội tệ lên giá so với đồng đôla Mỹ (B$/USD), năm 2002 là 1,79; năm 2004
là 1,69; năm 2007 là 1,51. Giá trị xuất khẩu tăng nhanh, năm 2004 đạt 4,6 tỷ USD; năm
2007 đạt 6,767 tỷ USD, luôn xuất siêu, thặng dư thương mại cao; từ năm 2004 đến 2007
thặng dư thương mại đạt 19,44 tỷ USD.12
Bảng 3:. Các chỉ số phát triển kinh tế chủ yếu của Brunei (2002 – 2007)
Tên mục

Năm

2002

2003

2004

2005

2006


2007

%
Cân dối ngân %
3,6
8,0
9,7
15
4,9
57,7
sách
Lạm phát
%
0,3
2,0
1,7
0,7
0,7
0,4
Tỷ giá hối đoái BND/USD 1,79
1,75
1,69
1,67
1,59
1,51
Nguồn: www.cia.gov/cia/library/theworldfactbook/geos
2.2 Kinh tế Brunei giai đoạn 2008 – 2014
12 Trang 195 Địa lý kinh tế - xã hội Châu Á

9



Quy mô kinh tế: trong những năm gần đây, quy mô kinh tế của Brunei ngày càng
được mở rộng và nâng cao, ngoài ngành công nghiệp dầu khí năm vị trí chủ chốt trong
nền kinh tế thì Brunei còn chú trọng phát triển các ngành kinh tế khác như : du lịch, công
nghiệp xây dựng,…nhằm đa dạng hóa nền kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP): nền kinh tế của Brunei từ năm 2008-2014 có
nhiều biến động rõ rệt. Từ 2008 đến 2011, GDP tương đối thấp và có sự chênh lệch cao,
thấp nhất vào năm 2010 (10,73 tỉ USD). Đến 2012, GDP tăng trưởng nhanh và tương đối
đồng đều cụ thể : năm 2012 ( 16,7 tỉ USD), năm 2013 ( 16,95 tỉ USD), năm 2014 ( 16,11
tỉ USD).
Biểu đồ 3: Tổng sản phẩm quốc nội Brunei (2008-2014)

Nguồn: />Tuy nhiên, nền kinh tế Brunei vẫn còn tồn tại: thị trường nhỏ bé, bộ máy hành chính
trì trệ, bộ phận kinh tế tư nhân ở Brunei so với các nước khác trong khu vực khá nhỏ bé,
yếu kém và thụ động ( 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ). Về thương mại, Brunei là nước
lâu nay phải nhập khẩu hầu hết các loại hàng hoá, đặc biệt là máy móc và lương thực
thực phẩm, phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu dầu khí đã gây áp lực lớn tới sự phát triển
bền vững của Brunei.
GDP bình quân đầu người: Trong giai đoạn này, GDP bình quân đầu người của
Brunei có sự chênh lệch theo chiều hướng giảm dần: cao nhất vào năm 2008 ( 26127,17
USD) và thấp nhất vào năm 2014 ( 24184,67 USD).

Biểu đồ 4 : GDP bình quân đầu người của Brunei ( 2008-2014) ( đơn vị: USD )

10


Nguồn : />“Brunei có nền kinh tế nhỏ nhưng khá thịnh vượng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
trên đầu người của Brunei cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á nói

riêng (sau Singapore) và thế giới nói chung (31.000 USD/người năm 2008; năm 2011
Brunei đạt 49,000 USD/ người và đứng thứ 8 trên thế giới). Với nguồn thu nhập rất lớn
từ xuất khẩu dầu khí và dân số ít, chính phủ Brunei có điều kiện thực hiện một số chính
sách phúc lợi xã hội cao cho người dân”.13
Tỉ lệ lạm phát : trong giai đoạn này, tỉ lệ lạm phát tăng giảm không đồng đều, cao
nhất vào cuối 2008 đầu 2009 ( khoảng 3,7%), thấp nhất năm 2014 ( khoảng -0,8%).
Biểu đồ 5 : Tỉ lệ lạm phát của Brunei từ 2008-2014 (đơn vị : %)

Nguồn: />
13 />
11


Tỉ lệ thất nghiệp: ở mức thấp từ năm 2008 đến năm 2011, và tăng mạnh vào năm
2012 ( 9,3%).

Biểu đồ 6: Tỉ lệ thất nghiệp của Brunei từ 2008-2012 (đơn vị :%)

Nguồn: />3. Các ngành kinh tế của Brunei
3.1 Công nghiệp
Công nghiệp là ngành kinh tế chính, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Brunei.
Công nghiệp Brunei đặc biệt phát triển trong các lĩnh vực : dầu khí và công nghiệp xây
dựng. Là một nước nhỏ, thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp không
nhiều nên tốc độ tăng trưởng của ngành này thấp hơn nhiều so với các nước khác trong
khu vực.
“Ngành công nghiệp năm 2004 đóng góp 45% GDP, sử dụng 61,1% nguồn lao động,
đạt mức tăng trưởng 5%; năm 2007 đóng góp 71,6% GDP và đạt mức tăng trưởng
1,8%”14
• Lĩnh vực dầu khí
Kể từ khi tìm ra mỏ khí đốt đầu tiên cho đến nay thì ngành dầu khí là ngành kinh tế

mũi nhọn và có đóng góp vô cùng to lớn vào sự phát triển của Brunei. Năm 2006, Brunei
đạt sản lượng 219.300 thùng dầu/ngày ( năm 2006 tiêu thụ 14.900 thùng/ngày, xuất khẩu
205.600 thùng/ngày, nhập khẩu 660 thùng/ngày)
Năm 2009, ngành dầu khí đóng góp 80% về GDP và 90% về kim ngạch xuất khẩu,
có vai trò lớn trong định hướng phát triển nền kinh tế trong tương lai đồng thời là nguồn
cung cấp tài chính cho các lĩnh vực về giáo dục an sinh xã hội, hoạt động của bộ máy
chính trị.
“ Brunei Shell Petroleum (BSP) - một tập đoàn của Chính phủ, Hãng Royal Duch (Hà
Lan) là hãng xăng dầu và gas tự nhiên lớn nhất ở Brunei. BSP đạt sản lượng 10000 thùng
sản phẩm dầu tinh chế/ ngày, đáp ứng nhu cầu trong nước về các sản phẩm từ dầu.

14 Trang 196, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.

12


Hãng ELF Aquitaine của Pháp là công ty thăm dò dầu khí ở Brunei từ những năm
1980 và đã tìm ra nhiều mỏ dầu khí có trữ lượng lớn ở nước này, với khoảng 1/3 giếng
dầu được khai thác kể từ năm 1987. Trong những năm gần đây, hãng UNOCAL cùng đối
tác Fletcher Challenge của New Zealand cũng được phép vào thăm dò dầu khí ở Brunei.
Chính phủ nước này đang chuẩn bị cho phép các hãng được thăm dò ở địa hình sâu hơn.
Năm 2005, Brunei sản xuất được 11,03 tỷ m 3 gas tự nhiên (tiêu thụ 2,25 tỷ m3/năm,
xuất khẩu 8,776 tỷ m3/năm). Năm 2006, dự trữ được 374,8 tỷ m3 gas tự nhiên. Hầu hết
gas tự nhiên của Brunei được hoá lỏng tại nhà máy của hãng Brunei Shells Liquefied
Natural Gas (LNG). Hơn 82% sản lượng khí gas hoá lỏng tại LNG được xuất khẩu sang
Nhật Bản theo một hợp đồng dài hạn năm 1993. Theo hợp đồng này, mỗi năm Brunei
cung cấp cho Nhật Bản 5 triệu tấn gas tự nhiên.
Sản lượng điện của Brunei được sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện, sử dụng nguồn
nhiên liệu là dầu lửa trong nước, đáp ứng nhu cầu của đất nước. Năm 2005, Brunei sản
xuất được 2,735 tỷ kWh và tiêu thụ 2,625 tỷ kWh”.15

Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước thì ngành này
cũng đang là vấn đề đáng quan tâm của Brunei vì trữ lượng dầu đang giảm dần và có khả
năng cạn kiệt trong hai thập kỉ nữa, các mỏ khí đốt, nguồn dự trữ khí đốt sẽ cạn kiệt trong
vòng 40 năm tới. Chính phủ Brunei cũng chưa có chiến lược khai thác rõ ràng mà khai
thác theo biến động của giá dầu và khí đốt trên thị trường thế giới.
• Công nghiệp xây dựng
Về công nghiệp xây dựng, do đặc thù quốc gia chỉ mạnh về dầu khí còn các ngành
công nghiệp khác hầu như không phát triển. Ngành xây dựng của Brunei khá nhỏ bé, chỉ
chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như xây dựng các công trình phục vụ ngành dầu
khí ( các giàn khoan và các nhà máy lọc dầu), xây dựng các công trình phục vụ vui chơi
giải trí và du lịch ( công viên vui chơi giải trí, các khu resort), các công trình mang tính
tâm linh như các thánh đường Hồi giáo…..
3.2 Nông nghiệp
Do diện tích nhỏ hẹp nên nền nông nghiệp của Brunei giữ vị trí nhỏ bé trong nền kinh
tế Brunei. Nông nghiệp chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: trồng cây lương thực
( lúa, rau màu, củ quả,…), chăn nuôi gia súc, gia cầm, và trồng các loại cây công nghiệp.
“Ngành nông nghiệp chỉ đáp ứng nhu cầu về trứng, và thịt gà ở trong nước, còn phần
lớn thực phẩm, lương thực phải nhập ngoại. Năm 2007, ngành nông nghiệp đóng góp
0,9% GDP và sử dụng 2,9% lực lượng lao động”.16

15 Trang 197, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.
16 Trang 197, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.

13


Để khắc phục những khó khăn trong nông nghiệp do diện tích nhỏ hẹp thì Brunei đã
thuê diện tích đất nông nghiệp ở các quốc gia khác để đáp ứng một phần nhu cầu trong
nước. “Chính phủ Brunei sở hữu một trang trại chăn nuôi gia súc tại Australia , với diện
tích 5.859 km2 . Đây là nơi cung cấp thịt cừu cho Brunei. Ngành nông nghiệp và đánh bắt

hải sản là hai trong số các ngành được Chính phủ lựa chọ ưu tiên phát triển nhằm đa dạng
hoá nền kinh tế”.17
3.3 Dịch vụ
Brunei có thế mạnh lớn về tự nhiên nên lĩnh vực dịch vụ phát triển khá mạnh đặc biệt
là lĩnh vực du lịch và hàng hải. Ngành dịch vụ giữ vị trí thứ hai về đóng góp tỷ trọng thu
nhập trong GDP và sử dụng lực lượng lao động của Brunei. Ngành này là hướng được ưu
tiên phát triển trong nổ lực đa dạng hoá nền kinh tế của Brunei. Ngành dịch vụ đóng góp
50% GDP và sử dụng 36,0% nguồn lao động; năm 2007 đóng góp 27,5 % GDP.

• Giao thông vận tải và thông tin liên lạc
“Brunei là một nước có hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc chất lượng
tốt, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Giao thông vận tải
Hàng không: có hai sân bay lên thẳng, trong đó 1 sân bay quốc tế lớn tại thủ đô
Bendar Sari Begawan với đường băng rộng trên 3.047 m. Ngoài ra, Brunei còn có 3 sân
bay trực thăng. Hãng hàng không Royal Brunei của Chính phủ là hãng máy bay quốc tế
lớn, phục vụ cho ngành khai thác dầu khí và nhu cầu của hành khách trong nước cũng
như quốc tế (năm 2007).
Đường ô tô: có 3650 km, trong đó có 819 km được trải nhựa ( năm 2007).
Đường thuỷ nội địa: có 209 km, chỉ thuyền nhỏ mới đi được.
Đường biển: Brunei sở hữu 8 tàu biển có trọng tải từ 10000 tấn trở lên và 1 tàu do
Anh sở hữu (năm 2007). Các cảng lớn gồm Lumut, Muara, Seria.
Thông tin liên lạc
Brunei có 3 đường cáp quang qua đại dương đến các nước châu Á, châu Âu và châu
Mỹ, và có 2 trạm vệ tinh mặt đất Intelsat ( 1 trạm ở Ấn Độ Dương, 1 trạm ở Thái Bình
Dương); 1 trạm radio phát sóng AM, 1 trạm phát sóng FM, 4 trạm thu phát truyền hình.
Số máy điện thoại cố định: 80.200. Số thuê bao di động: 301.400. Số người sử dụng
Internet 165.600 (năm 2007)”.18

17 Trang 197, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.

18 Trang 198, Địa lý kinh tế - xã hội châu Á.

14


• Du lịch
Du lịch là một trong những ngành ưu tiên phát triển, nên những năm gần đây ngành
này đạt mức tăng trưởng số lượt khách quốc tế đến khá cao, đạt 20,3%/năm trong giai
đoạn 2005- 2007.
Không chỉ giàu có về tài nguyên thiên nhiên, vương quốc này còn là điểm đến thú vị
đối với khách du lịch nhờ những cung điện, đền đài, và bản sắc văn hoá độc đáo.
Đến Brunei du khách sẽ ngạc nhiên trước sự lộng lẫy của những thánh đường trải
thảm Ả Rập, tường bằng gạch Châu Âu, vàng dát khắp chốn. Các khu du lịch nổi tiếng có
đầy đủ các tiện nghi, các khu du lịch tâm linh với những thánh đường Hồi giáo nguy nga,
tráng lệ đã hấp dẫn lượng khách du lịch trong và ngoài nước. Bên cạnh đó du lịch sinh
thái ở Brunei cũng thu hút lượng lớn khách du lịch đặc biệt là làng nổi Kampong Ayer- là
một di sản sống động, là một biểu tượng tự do, thống nhất, phát triển của Brunei.
Tuy nhiên do diện tích đất nước nhỏ, dân số ít, nguồn tài nguyên du lịch hạn chế nên
thu nhập từ ngành du lịch cũng như số lượng du khách quốc tế đến còn ít.
Bảng 4. Số lượt khách du lịch đến Brunei
Năm
Số
lượt
khách (nghìn
lượt người)
Mức tăng
trưởng (%)

2004
118,9


2005
127,0

2006
158,0

2007
178,5

6,8

24,4

29,7

Nguồn: www.ASEAN.Org/stalistics/travel

• Hàng hải
Do nằm ở vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải lớn chiếm đến 20% lượng hàng hoá
vận chuyển bằng đường biển trên toàn thế giới, Brunei có thế mạnh lớn về kinh tế biển
đặc biệt là dịch vụ hàng hải.
Brunei đã và đang xây dựng các cảng biển lớn để đáp ứng nhu cầu về trung chuyển
hàng hoá đồng thời phục vụ nhu cầu trong nước. Đồng thời cũng xây dựng các trung tâm
dịch vụ hậu cần để phục vụ nhu cầu của tàu thuyền quốc tế khi qua các cảng của Brunei.
4. Ngoại thương
4.1 Chính sách và các nguyên tắc của thương mại quốc tế
Cho đến nay nền kinh tế Brunei đã trải qua hai giai đoạn phát triển cơ bản. Giai đoạn
trước năm 1984, nền kinh tế nằm dưới sự bảo hộ của Anh quốc. Và từ năm 1984 đến nay,
nền kinh tế phát triển độc lập. Trong quá trình phát triển kinh tế, Brunei chủ trương phát


15


động khai thác dầu mỏ, khí đốt và coi đó là ngành then chốt của nền kinh tế đồng thời mở
rộng hoạt động ngoại thương đầu tư tư bản ra nước ngoài, phát triển nông nghiệp hương
đến đa dạng hoá nền kinh tế.
Do đó kinh tế Brunei đã thu được một số thành tựu. Chính sách thương mại đã góp
phần cho sự phát triển kinh tế Brunei. Đoạn đầu thay thế nhập siêu sau đó chuyển sang
định hướng xuất khẩu, đưa Brunei từ thương mại được bảo vệ sang chế độ thương mại tự
do. Nhờ đó kinh tế Brunei đã đạt được những thành tựu và được nhiều nước châu Á noi
theo.Các nguyên tắc chính của chính sách thương mại quốc tế:
Thực hiện thương mại tự do và mở cửa trong bối cảnh các quy tắc thương mại đa
phương.
Hỗ trợ cho một hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ, tự do và không phân
biệt đối xử.
Coi “chủ nghĩa khu vực mở” như là một khối xây dựng theo hướng tự do hoá thương
mại đa phương.
Brunei coi hiệp định thương mại Tự do (AFTA) như là một phần quan trọng của
chính sách thương mại quốc tế để tối đa hoá tiềm năng của thương mại tự do và mở cửa
cho người dân trong một thế giới toàn cầu hoá.
4.2 Xuất khẩu
Nền kinh tế Brunei giữ được sự phát triển ổn định phần lớn là nhờ các hoạt động
ngoại thương, nhất là khu vực xuất khẩu. Brunei luôn có giá trị mậu dịch thặng dư khổng
lồ. Dự trữ hối đoái có giá trị 20 tỉ USD vào năm 1986, tương ứng với mức 87.000
USD/người. Vào năm 1997 dự trữ hối đoái ước tính vào khoảng 40 tỉ USD.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Brunei năm 2008 là 13,28 tỷ USD trong đó kim
ngạch xuất khẩu là 10,67 tỷ USD. Nguồn xuất khẩu chính là dầu mỏ và khí đốt, hằng
năm chiếm trên 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của Brunei. Brunei là nước sản xuất dầu
mỏ lớn thứ 3 ở Đông Nam Á, sau Indonesia và Malaysia. Vào thời điểm năm 2008,

Brunei khai thác khoảng 170.000 – 200.000 thùng/ngày. Brunei cũng là nước sản xuất
khí đốt lỏng lớn thứ 4 thế giới (khoảng 27 – 30 triệu m3 khí đốt thiên nhiên mỗi ngày
năm 2008).
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,67 tỷ USD. Nguồn xuất khẩu chính là dầu mỏ,
khí đốt, dệt may, hằng năm chiếm trên 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của Brunei. Cán
cân thương mại của Brunei luôn xuất siêu và ở mức thặng dư, lãi do hoạt động đầu tư
ngoại tệ ở nước ngoài đủ đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước. Hàng hoá của Brunei
chủ yếu xuất khẩu sang các nước có nền kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới như:

16


Nhật Bản (42,5%), Hàn Quốc(15,9%), Úc (11,4%), Indonesia (8,1%), Ấn Độ (5,7%) và
Trung Quốc (4,4%) (số liệu cập nhật tháng 1/2013).
Kim ngạch xuất khẩu của Brunei chủ yếu phụ thuộc vào Nhật Bản, riêng mặt hàng khí
đốt thiên nhiên của Brunei thì đến gần 99% là xuất khẩu sang Nhật. Năm 2009, giá trị
xuất khẩu của Brunei vào Nhật Bản chiếm khoảng 28% GDP của cả nước, đứng đầu
trong danh sách các quốc gia phụ thuộc xuất khẩu Nhật Bản.
Brunei còn có một số mặt hàng xuất khẩu khác là hàng dệt may, sản phẩm thủ công
và các hàng nông lâm sản nổi tiếng từ lâu đời của đất nước này. Hàng dệt may là sản
phẩm thủ công lâu đời của Brunei, ngành công nghiệp dệt may có kim ngạch xuất khẩu
đạt trên 300 triệu USD Brunei với các sản phẩm dệt được xuất khẩu chủ yếu sang các thị
trường Mỹ, Canada và EU.
4.3 Nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu của Brunei năm 2008 là 2,61 tỷ USD với các mặt hàng ô tô,
các máy công cụ và hoá chất. Bên cạnh đó do công nghiệp nặng không phát triển và nông
nghiệp có qui mô nhỏ không đáp ứng được nhu cầu trong nước do đó hai mặt hàng này
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng nhập khẩu của Brunei, khối lượng mặt hàng này
chiếm khoảng 1/3 so với tổng kim ngạch nhập khẩu.
Bảng 5. Danh sách các mặt hàng nhập khẩu của Brunei năm 2003

Mặt hàng
Giá trị ( triệu BND)
Máy móc và thiết bị giao thông vận tải
815,2
Hàng công nghiệp (chủ yếu là nguyên vật liệu)
597,5
thực phẩm và động vật sống
348,0
Các hàng nông nghiệp khác
264,0
Hoá chất
175,9
Đồ uống và thuốc lá
42,5
Nguyên vật liệu khác, trừ nhiên liệu
23,9
Nhiên liệu khoáng sản, chất bôi trơn
19,7
Dầu mỡ động thực vật
15,0
Các sản phẩm khác
0,4
Nguồn: Chân dung kinh tế Brunei của HSBC
Bạn hàng lâu đời trong nhập khẩu của Brunei là Anh, ngoài ra còn có Mỹ, Nhật,
Singapore, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc đều là nhũng bạn hàng nhập khẩu
lớn của Brunei. Trong đó Brunei nhập khẩu hàng hoá từ Singapore khoảng 1/3 tổng kim
ngạch nhập khẩu. Trong tổng kim ngạch nhập khẩu có 30% là máy móc và phương tiện
vận tải.
Nhưng dù thế nào thì Brunei cũng ngày càng thắt chặt quan hệ buôn bán với các
nước thuộc thành viên ASEAN mà một biểu hiện đó là thành lập Liên đoàn ASEAN.


17


Liên đoàn ASEAN được sự tài trợ của Quốc vương Brunei nhằm mục đích đảm bảo sự
hợp tác chặt chẽ trong tổ chức ASEAN với nhau, để đảm bảo yêu cầu về các mặt hàng
nông sản, lâm sản và thực phẩm cho nhân dân trong nước.

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KINH TẾ BRUNEI
1.Đánh giá chung về nền kinh tế Brunei
1.1 Thuận lợi
Brunei có vị trí chiến lược trong 10 nước thành viên ASEAN, tiếp cận dễ dàng từ bất
cứ nơi nào ở châu Á. Trong thực tế, Brunei Darussalam là "Trung tâm của Asean" với
thời gian bay đến Bangkok, Jakarta, Kuala Lumpur, Manila và Singapore giữa 2-3 giờ.
Đó là điều kiện thuận lợi để Brunei đẩy mạnh giao thương, buôn bán với các nước trong
và ngoài khu vực.
Brunei có kết cấu dân số trẻ tạo lực lượng lao động tiềm năng cho đất nước.
Brunei có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào thuận lợi phát triển ngành công
nghiệp khai khoáng.
Điều kiện sống ở Brunei Darussalam là một trong những tốt nhất trong khu vực vì:
tính ổn định và thịnh vượng, cơ sở hạ tầng tuyệt vời, tỉ lệ tội phạm và mức độ ô nhiễm
nằm trong số thấp nhất trên thế giới sẽ thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài.
Brunei có nhiều phong cảnh đẹp,nhiều đền đài, cung điện,… là điều kiện để phát triển
dịch vụ du lịch.
1.2 Khó khăn
Brunei là quốc gia có dân số ít dẫn tới việc thiếu nguồn lao động.
Thị trường nội địa quá nhỏ bé, khu vực tư nhân yếu kém, phụ thuộc quá nhiều vào
khai thác và xuất khẩu dầu khí đã gây áp lực lớn tới sự phát triển bền vững, lâu dài của
Brunei.
Bộ máy hành chính của Brunei còn trì trệ, quan liêu, bộ phận kinh tế tư nhân ở Brunei

so với các nước ASEAN khác lại khá nhỏ bé, yếu kém và còn thụ động.
Về thương mại Brunei luôn là nước phải nhập khẩu hầu hết các loại hàng hóa như
lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và đặc biệt là may mặc.
1.3 Thách thức
Nền kinh tế Brunei phụ thuộc rất nhiều vào doanh thu từ dầu khí. Phần lớn hàng xuất
khẩu của Brunei là khí tự nhiên và dầu thô. Đứng ở góc độ kinh tế, có người nhận xét:
“Brunei là một quốc gia tăng trưởng kinh tế nhưng không có phát triển kinh tế”. Trong
bối cảnh hiện nay, sự biến động thất thường và nguy cơ cạn kiệt nguồn dầu khí dokhai
thác quá mức đã và đang tác động đến quốc gia này.

18


Lực lượng lao động trong nước ít. Brunei đang đương đầu với tình trạng thiếu nguồn
lao động, hơn một nửa lao động trong nước chủ yếu là người nhập cư.
Brunei có diện tích đất nông nghiệp rất ít, chiếm chưa tới 5% tổng diện tích đất đai.
Để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước, bên cạnh việc nhập khẩu từ nước ngoài,
Brunei còn thực hiện chính sách thuê đất từ các nước khác để trồng trọt và canh tác.
Như vậy, nhằm thoát khỏi sự phụ thuộc vào công nghiệp dầu mỏ, Brunei cần có
những chính sách đẩy mạnh phát triện các ngành nông nghiệp,du lịch, dịch vụ, thương
mại… của đất nước.
2. Tiềm năng và triển vọng nền kinh tế Brunei
Là quốc gia có trữ lượng dầu thô và khí thiên nhiên rất lớn, việc khai thác dầu từ
những năm 1930 đã nhanh chóng đưa Brunei từ một đất nước bé nhỏ thành một siêu
cường về kinh tế, có thu nhập đầu người cao nhất vùng Đông Nam Á. Nền kinh tế của đất
nước này phát triển chủ yếu dựa vào dầu thô và khí thiên nhiên, chiếm 96% thu nhập
quốc dân.
Ý thức được nguồn dầu mỏ không phải là không có ngày cạn kiệt, trong những năm
1980 và 1990, chính phủ Brunei đã ưu tiên phát triển nông nghiệp để khỏi phải lệ thuộc
vào nhập khẩu thực phẩm, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để phát triển ngành công

nghiệp nhẹ, các ngành công nghiệp mới hướng vào xuất khẩu.
Brunei còn là thành viên của nhiều tổ chức hợp tác trong khu vực và quốc tế như như
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC) và thuộc khối thịnh vượng chung Anh… điều này đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán và có cơ hội trao đổi, nâng cao trình độ khoa
học kĩ thuật.
Brunei sở hữu 161km bờ biển với nhiều bãi biển, một quê hương thanh bình với
những con người hiền lành và rất mực hiếu khách, một vương quốc thân thiện với nhiều
dịp lễ trong năm hoàng cung mở rộng cửa tiếp kiến thần dân và du khách, một đất nước
trầm mặc với nền văn hóa Hồi giáo cổ kính và những ngôi thánh đường tráng lệ tuyệt mỹ,
là một “hòn ngọc xanh” với những cánh rừng nguyên sinh chạy dài dọc theo hệ thống
đường cao tốc rất phong phú chủng loại động, thực vật qúy hiếm rất hấp dẫn đối với
khách du lịch nếu có chính sách khai thác hợp lí thì đây là lĩnh vực đầy tiềm năng của
Brunei trong tương lai. Bên cạnh đó, diện tích rừng ở Brunei chiếm gần 70% diện tích
lãnh thổ rất thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp.

3.Quan hệ kinh tế của Brunei với các nước trong khu vực và trên thế giới
3.1 Hợp tác quốc tế

19


Thực tế cho thấy, cùng một nhịp độ phát triển trong nước để chuẩn bị cho những
bước tiến vào tương lai Brunei coi trọng công tác đối ngoại làm nguồn hỗ trợ cần thiết và
không thể thiếu đối với một nước vừa mới bước ra khỏi những hạn chế của một thời bảo
hộ. Phải thấy rằng ở khu vực Đông Nam Á ngoài các quốc gia mà Brunei đã có quan hệ
thì mối quan hệ với Singapore và Malaysia hai nước gần kề là đặc biệt thắm thiết, do
những gốc rễ đã có từ lâu đời. Đáng chú ý là các cuộc hợp tác với Singapore trong lĩnh
vực an ninh quốc phòng là rất chặt chẽ và được coi là dựa trên cơ sở tình bạn chân thành.
Brunei đã và đang tích tham gia vào các tổ chức hợp tác quốc tế, cụ thể tháng 1/1984

Brunei tham gia vào cộng đồng ASEAN sau đó trở thành thành viên của tổ chức đại hội
Hồi giáo (OIC), tháng 10/1984 trở thành thành viên 159 của Liên Hợp Quốc,… Bước đầu
thực hiện thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được Brunei hoan
nghênh, vì theo nguồn chính thức của nước này thì AFTA có lợi thế cho chính sách đa
dạng hóa nền kinh tế Brunei do họ có thể tăng được khối lượng xuất khẩu của mình đối
với thị trường trong khối ASEAN.
Để xúc tiến hoạt động thương mại công nghiệp nhằm hỗ trợ sự hợp tác giữa tư nhân
và nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, ngoài ra chính phủ
Brunei còn cung cấp tài chính phát triển công nghiệp.
Brunei ưu tiên phát triển quan hệ kinh tế, thương mại song phương với một số đối tác
chính như Nhật, Trung Quốc, Anh, Singapore, Malaysia, Indonesia và một số nước Hồi
giáo ở Trung Đông. Ở cấp độ đa phương, Brunei dành ưu tiên phát triển quan hệ
với ASEAN, OIC và khối thịnh vượng chung.
3.2 Tình hình đầu tư
Để bắt đầu thực hiện đa dạng hóa nền kinh tế Brunei đã có những chính sách nhằm
thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Các nguồn vốn đầu tư vào Brunei chủ yếu từ các nước
lớn như công ty thép Alcoa Inc của Mỹ và công ty sản xuất vỏ xe ACI corporation Ltd.
đã có 2 dự án đầu tư với tổng trị giá 3,32 tỉ USD vào Brunei. Nhà máy sản xuất khí
Methanol ở Khu công nghiệp Sungai Liang Park (gần Seria), khởi công năm 2008 là một
hình mẫu theo hướng này, là biểu tượng của sự hợp tác giữa Brunei và Nhật Bản. Với
vốn đầu tư trên 450 triệu đô la Mỹ, nhà máy sản xuất khí Methanol là một liên doanh
giữa Công ty Methanol Brunei với Mitsubishi Gas Chemical and Itochu (Nhật Bản). Sản
phẩm này sẽ được xuất sang Nhật Bản và một số thị trường khác. Một cảng biển đang
được gấp rút xây dựng để phục vụ cho hoạt động xuất, nhập khẩu các sản phẩm của khu
công nghiệp này. Ngoài ra các nước trong khu vực ASEAN cũng có những dự án đầu tư
vào Brunei.
Khi đầu tư ra bên ngoài, Brunei luôn chú yếu nhằm vào bất động sản, tài chính, chứng
khoán ở một số nước phương Tây như Anh, Pháp, Mĩ, Úc, Singapore,Philippines và gần

20



đây nhất là cùng với Thái Lan lập quỹ đầu tư 200 triệu USD, Brunei còn đầu tư cho phát
triển ngành công nghiệp vi phân tử với sự trợ giúp kĩ thuật của Nhật Bản.
4. Quan hệ kinh tế Việt Nam - Brunei
4.1 Hợp tác kinh tế
Quan hệ thương mại giữa 2 nước Brunei – Việt Nam đạt mức rất thấp, chưa
tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa 2 nước. Kim ngạch buôn bán 2 chiều của 2
nước năm 1999 đạt 500,000 USD, năm 2000 đạt trên 2 triệu USD, năm 2005 đạt 4,5
triệu USD. Đến năm 2012, kim ngạch buôn bán 2 chiều giữa Việt Nam và Brunei đã đạt
trên 627,4 triệu USD.
4.2 Tình hình đầu tư19
• Brunei vào Việt Nam
Tính đến tháng 10/2009, Brunei có 96 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 4,693
tỷ USD.
Năm 2011, Brunei có 129 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 4.85 tỷ USD,
đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 12 trong tổng số hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư vào Việt Nam, trong đó riêng dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp New City-Thành phố
xanh bên bờ cát trắng tại Phú Yên lên tới 4,3 tỉ USD (thông qua nhà đầu tư thứ ba). Hàng
năm, Brunei cấp cho ta một số học bổng đào tạo về dầu khí, tiếng Anh và bảo dưỡng máy
bay. Tính riêng năm 2011, Brunei có thêm 11 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 60.18
triệu USD.
Ban Phát triển kinh tế Brunei cũng đã vạch ra các cơ hội đầu tư trong các lĩnh vực hóa
dầu, sản xuất đèn điện, thông tin truyền thông và các ngành công nghệ cao, cũng như
ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng cho các doanh nghiệp Việt Nam.
• Việt Nam vào Brunei
Nhân chuyến thăm cấp nhà nước từ ngày 27-29/11/2012 Chủ tịch nước đánh giá cao
việc các nhà đầu tư Brunei Darussalam thời gian qua tăng cường đầu tư vào Việt Nam,
duy trì vị thế là một trong những quốc gia đầu tư hàng đầu trong các nước ASEAN. Chủ
tịch nước đề nghị doanh nghiệp hai bên tích cực thúc đẩy các biện pháp xúc tiến thương

mại và đầu tư, tăng cường giao lưu, trao đổi thông tin về thị trường mỗi nước, qua đó đẩy
mạnh hơn nữa thương mại và đầu tư, tăng cưmang lại lợi ích cho hai nước nói chung và
cộng đồng doanh nghiệp hai nước nói riêng.
Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện cho Tập đoàn Dầu khí Viêt Nam phát triển
quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là với các đối tác nước ngoài có kỹ thuật và cộng nghiệp
tiên tiến cao như Brunei Shell. Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan
nghênh việc hai bên kí kết hợp đồng mua bán dầu thô trị giá 250 triệu USD và đánh giá,

19 />21


đây là minh chứng sống động cho sự hợp tác hiểu quả của hai bên. Nhân chuyến thăm
Brunei của chủ tịch nước Trương Tấn Sang ( tháng 11/2011), tại cung điện Istanal nurul
Iman diễn ra lễ kí thỏa thuận hợp tác về dầu khí giữa Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt
Nam và công ty Công Ty Dầu Khí quốc gia Brunei. Ngoài ra Việt Nam cũng có một dự
án đầu tư vào Brunei với tổng vốn đăng kí 650,000 USD là dự án của Công ty trách
nhiệm hữu hạn Kim Thịnh đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh kim loại màu, kim loại quý,
kinh doanh hóa chất.
Trong những năm qua, hai nước đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao như: Chủ tịch nước Trần
Đức Lương thăm Brunei Darussalam năm 2001, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm
2007... Quốc vương Hassanal Bolkiah thăm Việt Nam và tham dự các hội nghị: ASEAN,
ASEM, APEC vào các năm 1998, 2004, 2006.
Hai nước cũng đã có nhiều cơ chế hợp tác và ký kết nhiều hiệp định, thỏa thuận song
phương. Trong đó, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư, thông qua việc tăng cường các
hoạt động xúc tiến thương mại, tổ chức hội chợ, hội thảo giới thiệu tiềm năng kinh tế của
mỗi nước được tổ chức thường xuyên.
Đặc biệt, hai bên đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Bản ghi nhớ về hợp tác thể
thao và thanh niên, Bản ghi nhớ về hợp tác dầu khí… Đây là những văn kiện sẽ tạo cơ sở
pháp lý thuận lợi cho việc tăng cường quan hệ hợp tác song phương trong các lĩnh vực
thương mại, dầu khí và thể dục-thể thao...

Thời gian qua, hợp tác kinh tế- thương mại-đầu tư giữa Việt Nam và Brunei đã có
những khởi sắc, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 204 triệu USD năm 2011 và 403
triệu USD trong 8 tháng của năm 2012.
Hiện Brunei đứng thứ 12/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 124
dự án và tổng vốn đạt 4,9 tỷ USD.
Ngoài hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao…, Việt
Nam và Brunei cùng thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác như lao động, trên cơ sở
nguồn lao động dồi dào của Việt Nam và nhu cầu về lao động nước ngoài khá lớn của
Brunei, hiện có khoảng 1000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Brunei. Đó là bước
khởi đầu đầy triển vọng cho quan hệ hợp tác giữa hai nước trong tương lai.

22


KẾT LUẬN
Brunei là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặc biệt là nguồn dầu
mỏ và khí đốt. Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi giúp cho nền kinh tế Brunei có bước
phát triển mạnh mẽ, vươn lên trở thành một trong những quốc gia giàu nhất thế giới
(quốc gia sản xuất dầu khí lớn thứ ba Đông Nam Á và xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa
lỏng lớn thứ 9 thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Brunei năm 2011 là gần 50.000
USD). Vì thế, dù không phải là nước lớn, nhưng tiếng nói và ảnh hưởng của Brunei cũng
có trọng lượng trên trường quốc tế. Brunei trở thành chủ nợ của nhiều cường quốc, có cả
Anh. Trong bối cảnh lớn của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Brunei đã nhận thức được
những khó khăn và thách thức khi nền kinh tế quốc gia chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu dầu
khí. Do vậy, trong những năm gần đây, Brunei đã hướng tới việc đa dạng hóa nền kinh tế
với những chính sách phát triển đồng bộ, bền vững và lâu dài. Bên cạnh đó, Brunei trở
thành thành viên của nhiều tổ chức khu vực và thế giới như Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương ( APEC)… nhằm
đẩy mạnh ngoại giao, hợp tác quốc tế và khẳng định vị thế trong khu vực và trên trường
quốc tế.


23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.NGUỒN TÀI LIỆU TỪ SÁCH:
1. Địa lý kinh tế- xã hội Châu Á- Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), Phạm Thị Ngọc Diệp,
Phạm Yến Ngọc.
2. Giáo trình kinh tế châu Á – Thái Bình Dương- GS.TS Hoàng Thị Chỉnh.
3. Địa lý Singgapore, Malaysia và Brunei - Huỳnh Văn Giáp.
II. NGUỒN TÀI LIỆU TỪ WEBSITE:
1. />2. />3. s/documents/kinh-te-brunei.html
4. />5. />6. />ietVeQuocGia?diplomacyNationId=146&diplomacyZoneId=85&vietnam=0
7. />8. />Nguồn biểu đồ:
9. www.ASEAN.Org/stalistics/travel
10. www.cia.gov/cia/library/theworldfactbook/geos
11. />12. www.cia.gov/cia/library/theworldfactbook/geos

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×