ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
--------******--------
NIÊN LUẬN
Đề tài:
QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG CƠ CẤU QUYỀN LỰC
Ở VIỆT NAM VÀ HOÀN THIỆN QUYỀN
HÀNH PHÁP
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Trần Việt Dũng
Hồ Thị Thanh Nga
Lớp: B2 – 2013.VKS
Huế, 6/2015
Để hoàn thành bài niên luận này, trước tiên em
xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo đã và đang công tác tại
Đại học Luật Huế đã hướng dẫn, chỉ bảo ân cần, tạo mọi điều
kiện trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Niên
luận. Và đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng
viên, Thạc sĩ Trần Việt Dũng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
hoàn thành bài niên luận này.
Mặc dù đã có sự cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt
đề tài Niên luận, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về kinh
nghiệm và kiến thức nên đề tài Niên luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết. Do vậy em rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo để đề tài Niên
luận của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy, cô giáo luôn
mạnh khỏe hạnh phúc và công tác tốt.
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Thanh Nga
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ TỔ
CHỨC QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM...........................................................3
CHƯƠNG 2:...............................................................................................................22
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.................22
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Để đáp ứng cho công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự chuyển biến về
kinh tế, bộ máy nhà nước Việt Nam cũng cần có sự thay đổi tương ứng sao
cho phù hợp với các yêu cầu của xã hội. Các cơ quan hành pháp là nơi chỉ đạo
việc thi hành pháp luật, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của xã hội, có liên quan
trực tiếp đến người dân. Trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt
Nam hiện nay, việc xác định chính xác vị trí, vai trò của quyền hành pháp có
ảnh hưởng rất lớn đến các quyền khác trong cơ cấu quyền lực nhà nước và
toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặc dù Hiến pháp 2013 đã ghi nhận
khá rõ trong hệ thống quyền lực nhà nước, nhưng để đảm bảo thực hiện đúng
trên thực tế, lại là vấn đề không đơn giản, nhất là đối với thực hiện quyền
hành pháp. Các cơ quan hành pháp, đặc biệt là Chính phủ là nơi chỉ đạo việc
thi hành pháp luật, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của xã hội.
Đề tài này có thể đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt
Nam. Đồng thời góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vị trí, vai trò, ý nghĩa
của quyền hành pháp đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước cũng
như của toàn xã hội. Với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn đó nên tôi chọn đề
tài “Quyền hành pháp trong cơ cấu quyền lực ở Việt Nam và hoàn thiện
quyền hành pháp” làm đề tài niên luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Niên luận tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền hành
pháp và cơ cấu tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam, nhằm đánh
giá những ưu điểm, nhược điểm trong các quy định của pháp luật và cách tổ
chức thực hiện quyền hành pháp trong thực tế qua các thời kỳ, gắn với các
Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013. Đồng
thời nêu ra những yêu cầu điểm mới trong công cuộc đổi mới đất nước, đề ra
1
một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc tổ chức, thực hiện nhánh
quyền lực này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Quyền hành pháp là một vấn đề rất rộng và phức tạp là một đề tà khó và
rộng cần có sự nghiên cứu lâu dài và đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình
độ chuyên môn và có sự am hiểu về vấn đề. Với khả năng của một sinh viên,
niên luận chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ quyền hành pháp và tổ chức quyền
hành pháp ở Việt Nam hiện nay. Trong đó, có đề cập sơ lược về quyền hành
pháp và cách tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới.
Trọng tâm của niên luận là tập trung nghiên cứu về quyền hành pháp, vị trí,
vai trò của nó trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước và cách tổ chức, thực
hiện quyền hành pháp ở Việt Nam theo các bản Hiến pháp đặc biệt chủ yếu là
Hiến pháp 2013. Vì vậy đề tài chỉ nghiên cứu theo hướng những vấn đề lý
luận cơ bản, phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hành pháp
và khái quát thực trạng tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam qua các giao
đoạn lịch sử.
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp luận nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,
quy nạp, diễn dịch…
5.Cơ cấu đề tài
Đề tài gồm 3 phần, mở đầu phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung có 2 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyền hành pháp và tổ chức quyền
hành pháp ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng hoạt thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam và
giải pháp hoàn thiện thực hiện quyền hành pháp trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
2
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HÀNH
PHÁP VÀ TỔ CHỨC QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm về quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp ở
việt Nam
1.1.1 Quyền hành pháp và mô hình tổ chức quyền hành pháp ở một
số nước trên thế giới
1.1.1.1 Khái niệm quyền hành pháp
Qua việc khảo cứu một số quan niệm về quyền hành pháp ở trong và
ngoài nước có thể thấy được về khái niệm quyền hành pháp xét về góc độ
nguyên nghĩa quyền hành pháp là chấp hành và tổ chức thực thi các đạo luật.
Tuy nhiên ngày nay khái niệm này được mở rộng quyền hành pháp không chỉ
là công việc điều hành chính sách quốc gia mà còn phải thực hiện công việc
hoạch định chính sách quốc gia. Vì vậy trong Hiến pháp năm 2013 quy định
trong thẩm quyền của chính phủ không chỉ có việc “ tổ chức thi hành Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” như quy định ở các bản Hiến pháp trước
mà được bổ sung thêm nội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền
để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn.
Quyền hành pháp không xuất hiện rộng mọi chế độ xã hội loài người mà
nó chỉ xuất hiện khi có sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Tuy ra đời cùng
với nhà nước và pháp luật nhưng không phải ở mọi thời kỳ quyền hành pháp
đều được quan niệm giống nhau, mà có sự phát triển theo thời gian.
1.1.1.2. Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới.
a. Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở Mỹ.
Ở Mỹ cơ cấu quyền lực nhà nước chia làm ba nhóm riêng biệt đó là
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh hành pháp với quyền hành
pháp tập trung vào người đứng đầu là Tổng thống theo nguyên tắc các bộ
3
trưởng không hợp thành một cơ quan bàn bạc chịu trách nhiệm tập thể trước
nghị viện mà chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống; họ là những người giúp
việc cho Tổng thống, thực hiện những chính sách do Tổng thống đề ra.
Theo quy định của Hiến pháp Mỹ quyền hành pháp được giao cho một
người đó là Nguyên thủ quốc gia – Tổng thống Mỹ. Hành pháp không chịu
trách nhiệm trước lập pháp, Tổng thống về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm
trước cử tri. Tổng thống Mỹ là người có rất nhiều quyền hạn: Tổng thống có
quyền lãnh đạo chính phủ và Nội các; Tổng thống có những quyền hạn hết
sức to lớn trong các lĩnh vực đối nội; Tổng thống nắm giữ các quyền trong
lĩnh vực đối ngoại.
Có thể nói, quyền hành pháp trong nhà nước Mỹ được quy định trong
Hiến pháp đã cho phép Tổng thống – người nắm giữ quyền hành pháp có rất
nhiều quyền năng, là người nắm giữ và quyết định sự phát triển của đất nước.
b.Mô hình tổ chức quyền hành pháp ở Anh.
Tổ chức bộ máy nhà nước Anh là một cơ cấu tổ chức đặc biệt chế độ
luôn tồn tại mối liên hệ thường xuyên giữa lập pháp và hành pháp. Nguyên
thủ quốc gia chỉ là mang tính chất tượng trưng vì bộ máy hành pháp trực
thuộc Thủ tướng và Thủ tướng mới phải chịu trách hiệm trước lập pháp. Vì
thế chỉ có quyền hành pháp của Thủ tướng mới là thực quyền, còn quyền
hành pháp của nữ hoàng chỉ mang tính hình thức.
c. Mô hình tổ chức quyền hành pháp trong chính thể Cộng hòa hỗn hợp
Chính thể Cộng hòa hỗn hợp hay còn gọi là Cộng hòa lưỡng tính là dạng
chính thể có các đặc trưng của cả Cộng hòa đại nghị lẫn Cộng hòa Tổng
thống. Trong những nước áp dụng nguyên tắc này, bộ máy hành pháp gồm
hai cơ quan, một là Tổng thống, hai là Thủ tướng chính phủ và Nội các.
Chính phủ không chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, mà còn cả Tổng
thống - người đứng đầu nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước cử tri,
thông qua các cuộc bầu cử Tổng thống. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia
đồng thời là người có tác động trực tiếp đến bộ máy hành pháp. Thủ tướng là
4
người đứng đầu bộ máy hành pháp, có quyền chỉ đạo chính phủ thực thi chính
sách quốc gia của Tổng thống và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và
Tổng thống về việc thực hiện chính sách này.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của quyền hành pháp ở Việt Nam
1.1.2.1. Khái niệm
Quyền hành pháp là một bộ phận tạo thành cơ cấu quyền lực nhà nước.
Quyền hành pháp được hiểu là quyền thi hành pháp luật. Trong cơ cấu quyền
lực nhà nước quyền hành pháp là một khái niệm chung dùng để chỉ một bộ
phận quyền lực - quyền thi hành pháp luật, phản ánh mối quan hệ quyền lực
giữa các bộ phận hợp thành của quyền lực nhà nước. Chủ thể chủ yếu của
quyền hành pháp là Chính phủ (cơ quan hành pháp ở trung ương) với tính
chất điển hình của cơ quan này là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành
các hoạt động của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, các chủ thể thực hiện quyền
hành pháp không chỉ có Chính phủ, các cơ quan hành pháp ở Trung ương, mà
một số các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng thực hiện quyền lực này.
Quyền hành pháp được đề cập đến tại khoản 3, điều 2 Hiến pháp năm
2013 : “ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp.” Đồng thời tại điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.
Quyền hành pháp bao gồm hai quyền: quyền lập quy và quyền hành chính.
Quyền lập quy: Quyền lập quy được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Ở nghĩa rộng, quyền lập quy bao gồm: lập pháp ủy quyền (ủy quyền trực tiếp)
và thẩm quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc
liên tịch ban hành QPPL dưới luật (ủy quyền gián tiếp) để quy định chi tiết thi
hành QPPL do cơ quan lập pháp hoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hành
theo hình thức văn bản, thủ tục và trình tự do pháp luật quy định. Ở nghĩa
hẹp, quyền lập quy là hình thức ủy quyền lập pháp gián tiếp, tức là thẩm
5
quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch
ban hành QPPL dưới luật trên cơ sở và để thi hành QPPL do cơ quan lập pháp
hoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hành theo hình thức văn bản, thủ tục và
trình tự do pháp luật quy định.
Quyền hành chính: là quyền tổ chức quản lý tất cả các mặt, các quan hệ
xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước. Quyền hành chính bao gồm
các quyền về tổ chức nhân sự trong cơ quan hành chính, quyền tổ chức thực
thi và áp dụng pháp luật trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổ
chức với tổ chức và giữa cá nhân với nhau trong đời sống xã hội.
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, ở Việt Nam các chủ thể thực
hiện quyền hành pháp không chỉ có Chính phủ, các cơ quan hành pháp ở
trung ương mà một số các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng thực hiện
quyền lực này.
Quyền hành pháp được thực hiện theo nguyên tắc trên cơ sở luật và
nhằm thực hiện luật bằng hoạt động có tính thẩm quyền gồm lập quy và điều
hành hành chính trong nội bộ nhà nước và tác động quản lý hành chính đối
với cá nhân, công dân, tổ chức bằng quyền năng có tính tạo khuôn khổ pháp
lý, cấm đoán bắt buộc để triển khai luật và chính sách.
1.1.2.2. Đặc điểm của quyền hành pháp
Quyền hành pháp là một trong những yếu tố cấu thành quyền lực nhà
nước nên nó cũng có những đặc điểm cơ bản của quyền lực nhà nước. Ngoài
ra nó còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Quyền hành pháp có tính quyền lực nhà nước và độc lập tương đối so
với các các nhánh quyền lực khác. ở Việt Nam các cơ quan hành pháp là do
các cơ quan dân cử lập ra, thực hiện các hoạt động chấp hành và điều hành.
Mặc dù các cơ quan hành pháp là do cơ quan quyền lực lập ra nhưng không
có nghĩa là quyền hành pháp chỉ là quyền phái sinh từ cơ quan quyền lực.
Quyền hành pháp vừa mang tính chính trị vừa mang tính hành chính.
Tính chính trị thể hiện ở chỗ quyền hành pháp hướng đến việc ban hành các
6
chính sách quản lý hành chính nhà nước, một số chủ trương chính sách được
ban hành phải phản ánh đầy đủ chủ trương chính sách của Đảng cầm quyền
và nhu cầu đời sống xã hội, phù hợp với đối tượng chính sách. Tính hành
chính Nhà nước được thể hiện thông qua tổ chức điều hành đối với toàn xã
hội, được thực hiện bởi những hành vi hành vi hành chính Nhà nước.
Quyền hành pháp được thực hiện trên nguyên tắc luật định.Thông qua
thẩm quyền lập quy thì quyền hành pháp tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hành
chính đối với tổ chức, công dân và xã hội nhằm thực hiện pháp luật, chính
sách chung từ ơn trung ương đến các đơn vị hành chính, lãnh thổ quốc gia.
Điều này tạo ra sự thống nhất quản lý của Trung ương với tự chủ, tự quản của
địa phương đồng thời tạo nên tính bền vững, hiệu lực, hiệu quả của quản lý
Nhà nước.
Quyền hành pháp có khả năng phản ánh một cách chính xác nhất những
nhu cầu xã hội. Quyền hành pháp không chỉ dừng lại ở việc thi hành pháp luật
mà nó còn bao gồm cả việc quản lý, điều hành, lãnh đạo các hoạt động trong
hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một trong những nhánh
quyền lực có sự đụng chạm mạnh nhất tới quyền và lợi ích của công dân trong
quá trình thực thi và quản lý…
1.2. Nội dung của quyền hành pháp ở Việt Nam
1.2.1. Tính chất của quyền hành pháp
1.2.1.1. Tính chấp hành
Tính chấp hành của hành pháp là khả năng làm cho pháp luật được thực
hiện trên thực tế bằng sức mạnh của nhà nước hay nói một cách khác là khả
năng đưa pháp luật vào đời sống của các cơ quan nắm giữ quyền hành pháp.
Với tính chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội như Hiến pháp năm 2013
đã quy định: Chính phủ là chủ thể cơ bản nắm quyền hành pháp ở Trung
ương. Chính phủ có trách nhiệm đưa pháp luật vào đời sống xã hội và đảm
bảo cho mọi chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện, tuân thủ một
cách nghiêm minh. Chính phủ Việt Nam trong quá trình chấp hành Hiến
7
pháp, pháp luật của Quốc hội chỉ có nhiệm vụ thực thi đúng và đầy đủ pháp
luật mà không có quyền “ phủ quyết” như một số nước tư bản.
Bên cạnh Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp cũng là các cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân, các chủ thể này thực hiện quyền hành pháp ở
địa phương, góp phần đưa pháp luật đến gần người dân trong xã hội.
1.2.1.2. Tính hành chính Nhà nước
Hiến pháp năm 2013 quy định ngoài tính chấp hành, quyền hành pháp ở
Việt Nam còn mang tính chất hành chính: “Chính phủ là cơ quan hành chính
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiểu theo
cách ngắn gọn nhất hành chính là hoạt động quản lý, điều hành phục vụ trên
tất cả các lĩnh vực của hoạt động của đời sống xã hội trong đó hành chính
công (hành chính nhà nước) giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Ngoài tính chấp
hành các cơ quan hành pháp ở Việt Nam còn được xác định là cơ quan hành
chính Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý, điều hành. Tính hành chính
làm cho quyền hành pháp có tính độc lập tương đối, có khả năng phát huy
được tính chủ động, sáng tạo của mình trong việc quản lý các lĩnh vực của
sống xã hội.
1.2.2. Chức năng của quyền hành pháp
Chức năng của quyền hành pháp là những phương diện hoạt động mà
thông qua đó quyền hành pháp được triển khai để thực thi pháp luật và tiến
hành các hoạt động quản lý, điều hành phục vụ xã hội.
Các chức năng của quyền hành pháp bao gồm:
- Chức năng đảm bảo an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Chức năng thực thi pháp luật.
- Chức năng tài phán.
- Chức năng quản lý, điều hành.
8
1.3. Quá trình hình thành và phát triển quyền hành pháp qua các bản
Hiến pháp
Quyền hành pháp thể hiện qua quyền hạn, nhiệm vụ của Chủ tịch nước,
Chính phủ và Nội các. Mặc dù Hiến pháp năm 1946 đã ít nhiều đề cập đến
Chính phủ - với tư cách là cơ quan nắm quyền hành pháp ở Trung ương
nhưng không quy định rõ ràng, cụ thể các hình thức hoạt động của cơ quan
này mà chủ yếu quy định cho Chủ tịch nước rất nhiều quyền hạn trong lĩnh
vực hành pháp. Hoạt động chủ yếu của Chính phủ thông qua hoạt động của
Chủ tịch nước. Chủ tịch nước là người đứng đầu cơ quan hành pháp, nắm
quyền hành pháp ở Trung ương. Chủ tịch nước vừa nắm giữ những quyền hạn
của một nguyên thủ quốc gia, vừa nắm giữ những quyền hạn của người đứng
đầu cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Hội đồng nhân dân lúc này
được xác định là “cơ quan thay mặt cho dân”, các Ủy ban hành chính là “cơ
quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ”. Về tính
chất, Ủy ban hành chính lúc này mặc dù có cấp do Hội đồng nhân dân bầu ra
và có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân nhưng chưa
xác định là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân mà là cơ quan hành
chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
Nhìn chung Hiến pháp năm 1946 đã xây dựng được một quyền hành
pháp có sức mạnh đảm bảo cho việc tổ chức, điều hành và thực thi các đạo
luật, chính sách của Nghị viện đề ra.
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1946.
Quy định cho Chủ tịch nước nắm rất nhiều quyền hạn là phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Do đất
nước đang trong giai đoạn khó khăn khi mới bước ra khỏi chiến tranh việc
cần kíp là phải thiết lập và thực thi một bộ máy hành chính mạnh mẽ và sáng
suốt, có tính độc lập, chủ động trong việc điều hành đất nước.
Chế định Chủ tịch nước được quy định khá đặc biệt phù hợp với mô
hình chính thể Cộng hòa dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, còn áp dụng một số
yếu tố phân quyền phù hợp với điều kiện của chế độ dân chủ nhân dân.
9
1.3.1 Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1959 quy định quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền
hành pháp thuộc về Chủ tịch nước và Chính phủ. Chế định Chính phủ được
đổi thành Hội đồng Chính phủ, là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ
quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Với tính chất
này, quyền hành pháp không còn độc lập hoàn toàn như trước, quyền hạn của
cơ quan lập pháp lại được mở rộng hơn. Nhưng với quy định Chính phủ là cơ
quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã làm cho
Chính phủ có sự độc lập nhất định trong hoạt động của mình. Chính phủ vẫn
giữ vai trò chủ thể nắm quyền hành pháp chủ yếu và tổ chức triển khai thực
hiện quyền đó, tăng cường hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, đặc
biệt là bộ máy hành pháp.
Về cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước bị thu hẹp hơn so
với Hiến pháp năm 1946. Theo đó, Chủ tịch nước đã tách khỏi Chính phủ và
không còn là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ nữa mà trở
thành nguyên thủ quốc gia, đại diện cho đất nước trong lĩnh vực đối nội và
đối ngoại. Chức năng nguyên thủ quốc gia được tách khỏi chức năng hành
pháp, song Chủ tịch nước vẫn còn quyền hành pháp tượng trưng thông qua
việc tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng chính phủ khi xét thấy
cần thiết.
Chính quyền địa phương vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển. Hội
đồng nhân dân được thành lập ở tất cả các cấp và được xác định là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân bầu ra Ủy ban hành
chính là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức bộ máy
nhà nước được tăng cường.
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1959
Theo Hiến pháp năm 1959 Chủ tịch nước đã không còn nằm trong cơ
cấu của Chính phủ, người đứng đàu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ. Đây
10
cũng là lần đầu tiên trong Hiến pháp quy định “ Chính phủ là cơ quan chấp
hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Việc tổ chức cơ quan chấp
hành, hành chính cao nhất cũng không hoàn toàn lệ thuộc vào Quốc hội, vì
Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất nhưng vẫn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Điều này làm cho Hội đồng chính phủ còn tương đối độc lập
trong lĩnh vực hành chính nhà nước. Đây cũng là một ưu điểm của Hiến pháp
năm 1959 vì nó vẫn thực hiện quyền lực nhà nước, tạo điều kiện cho các cơ
quan hành chính nhà nước phát huy được vai trò quản lý và điều hành các
hoạt động xã hội của mình.
1.3.2. Tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 1980
Theo Hiến pháp năm 1980 Quốc hội là cơ quan nhà nước có quyền lực
tối cao, có vai trò chi phối tuyệt đối, đối với các cơ quan nhà nước có quyền
lực tối cao, có vai trò chi phối tuyệt đối với cơ quan khác trong bộ máy nhà
nước. Quốc hội được xây dựng theo đúng tinh thần cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát,
là “ tập thể hành động”. Hội đồng Bộ trưởng thực hiện chức năng hành pháp
qua sự bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, tổ chức thực hiện kế
hoạch và ngân sách nhà nước, thống nhất quản lý việc cải tạo, xây dựng và
phát triển nền kinh tế quốc dân, việc xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục,
khao học, kỹ thuật… Theo Hiến pháp 1980 quyền hành pháp vẫn được ghi
nhận, nhưng có sự thay đổi lớn nó không còn độc lập với lập pháp. Vì Quyền
hành được nhập lại với quyền lập pháp và thuộc về cơ quan lập pháp.
Quy định Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính nhà
nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã làm cho trong cơ
chế thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta lúc đó không có sựu phân biệt
giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Thiết chế Chủ tịch nước tập thể
làm cho sự phản ứng nhanh nhạy của hành pháp phần nào bị hạn chế, không
phù hợp với yêu cầu mà chức năng hành pháp cần thực hiện, Cơ quan hành
11
chính cao nhất của nhà nước không còn độc lập như trước đây, mà nó phụ
thuộc hoàn toàn vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Cơ quan nắm
quyền hành pháp gần như thuộc về cơ quan lập pháp.
- Ưu điểm và hạn chế của hiến pháp năm 1980.
Mặt tích cực trong cơ chế quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 1980
là vẫn tiếp tục duy trì nguyên tắc bảo đảm thống nhất quyền lực, bảo đảm
thực sự quyền lực nhân dân. Đồng thời tập trung quyền lực vào Quốc hội và
Hội đồng nhân dân, là cơ sở để đảm bảo quyền lực nhân dân.
Một số hạn chế: Về chế định Chủ tịch nước qua một thời gian đã tỏ ra
không mấy hiệu quả bởi có những công việc trong lĩnh vực hành pháp đòi hỏi
phải ra quyết định nhanh chóng thì Hội đồng nhà nước không đáp ứng được
yêu cầu. Thẩm quyền của Hội đồng nhà nước bao gồm những thẩm quyền của
cơ quan thường trực của Quốc hội cộng với những thẩm quyền của nguyên
thủ quốc gia. Sự thống nhất hai cơ quan này tạo nên sự tập quyền thái quá
trong tay một cơ quan duy nhất, dễ dẫn đến sựu lạm quyền của cơ quan đó.
Hội đồng Chính phủ được thay bằng Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp
hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước. Tính
chất này đã làm cho Hội đồng Bộ trưởng không còn tính đọc lập tương đối mà
lệ thuộc hoàn toàn vào Quốc hội. Qua đó ta thấy rằng Hiến pháp năm 1980 đã
tập trung quá nhiều quyền lực cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong khi
bới phương thức hoạt động như hiện nay là chưa thể thực hiện được. Trong cơ
cấu quyền lực nhà nước cũng thiếu sự phân công, phối hợp rành mạch giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
1.3.3.Tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 1992
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Lần đầu tiên trong Hiến pháp
của nước ta có sự quy định khá rõ ràng về các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Quyền hành pháp ở nước ta không được giao cho một cơ quan cụ thể nào
12
mà nó được thực hiện bởi nhiều chủ thể như Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ
quan thuộc Chính phủ và các cơ quan hành pháp ở địa phương.
- Chính phủ - chủ thể cơ bản của quyền hành pháp: Chính phủ là thiết
chế có vị trí và vai trò to lớn trong cơ chế quyền lực nhà nước. Pháp luật còn
quy định rõ ràng cách thức hoạt động của Chính phủ - chủ thể cơ bản cảu
quyền hành pháp, góp phần làm cho hành pháp được thực thi có hiệu quả hơn.
Hiến pháp năm 1992 quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc
hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam. Chính phủ không còn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhát của
Quốc hội nữa mà là của nhà nước. Với tính chất là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của đất nước cho thấy Chính phủ vẫn có sự độc lập trong lĩnh
vực hoạt động của mình. Phạm vi nghiên cứu, quyền hạn của Chính phủ về cơ
bản giống như trước, nhưng có một số điều chỉnh quan trọng thể hiện sự tăng
cường vị trí, vai trò của Chính phủ theo hướng là cơ quan hành chính nahf
nước cao nhất có tính độc lập nhất định trong lĩnh vực này. Chính phủ là cơ
quan thực hiện chức năng quản lý chung trên tât cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội.
- Chủ tịch nước - một chủ thể của quyền hành pháp: Các Hiến pháp của
nước ta có sự khác nhau trong việc quy định về chế định nguyên thủ quốc gia.
Chủ tịch nước là một khâu rất quan trọng trong việc kết nối, liên kết, phối hợp
hoạt động giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ. Chủ tịch nước thực hiện cả hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Chủ tịch nước có ảnh hưởng đến quyền hành pháp chủ yếu thông qua các
quyền như quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhệm Phó chủ tịch
nước, Thủ tướng Chính phủ (Khoản 3 điều 103).…
Sự độc lập và quyền hạn của Thủ tướng cũng cao hơn và được quy định
cụ thể hơn so với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Hiến pháp đã có sự phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ vói tính cách là tập thể chịu trách
nhiệm của cá nhân Thủ tướng, các Bộ trưởng. Các quy định của Hiến pháp
13
năm 1992 đã tạo ra khung pháp lý cơ bản cho Thủ tướng Chính phủ có thể
tiến hành tốt hoạt động quản lý của mình.
Mặc dù trách nhiệm của cá nhân những người đứng đầu đã được đề cao
nhưng Hiến pháp vẫn coi trọng hình thức làm việc làm việc tập thể được cụ
thể bằng quy định “những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ
phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”.
•
Các cơ quan hành pháp ở địa phương.
Cơ quan chính quyền địa phương được Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 xác định gồm có Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Hội đồng nhân dân có vai trò rất lớn
trong việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của kinh tế xã hội địa
phương. Vị trí pháp lý và nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân các cấp được xác
định rất rõ trong Hiến pháp, Uỷ ban nhân dân là cơ quan trực tiếp thực thi
nhiệm vụ đưa Hiến pháp và pháp luật vào đời sống trong địa bàn quản lý của
mình.
- Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp năm 1992.
Hiến pháp năm 1992 đã hoàn thiện hơn trong nguyên tắc tổ chức quyền
lực nhà nước. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy đinh: “… quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Hiến pháp cũng
xác định “ Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chính phủ được xác
định là cơ quan hành chính nhà nươc cao nhất của nước ta là cơ quan đứng
đầu hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương thực hiện
hoạt động hành chính còn mang tính độc lập tương đối, chỉ do các cơ quan
hành chính nhà nước điều hành.
Tại Hiến pháp năm 1992, bộ máy nhà nước có nhiều đổi mới nhằm mục
đích vừa bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước vừa có sự phân công
rành mạch chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tăng cường hiệu lực của bộ
14
máy nhà nước. Cũng bắt đầu từ đay các khái niệm quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp đi liền với nó là việc sử dụng các thuật ngữ cơ
quan lập pháp, cơ quan hành pháp cơ quan tư pháp để chỉ các cơ quan trong
bộ máy nhà nước được sử dụng rộng rãi và chính thức.
Hiến pháp năm 1992 đã đề cao vai trò cũng như trách nhiệm của cá nhân
Thủ tướng Chính Phủ. Đây cũng là điểm mới so với các quy định trong các
bản Hiến pháp trước, là một phương pháp hữu hiệu để xây dựng một Chính
phủ hành pháp đủ lực.
Hiến pháp năm 1992 đã bắt đầu quá trình tổ chức lại cơ cấu Chính phủ
theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực bằng quá trình sát nhập, điều chuyển chức
năng và tổ chức lại các cơ quan thuộc chính phủ theo hướng không còn các cơ
quan thuộc Chính phủ làm chức năng quản lý nhà nước, chỉ còn cơ quan làm
chức năng chuyên mô, sự nghiệp. Tuy nhiên cơ cầu tổ chức của Chính phủ
vẫn còn cồng kềnh, số lượng các Bộ, cơ quan ngang Bộ còn nhiều.
Cơ cấu tổ chức của Chính Phủ có quá nhiều chức danh Phó thủ tướng
đặc biệt hơn còn thiết lập chức danh Phó thủ tướng thường trực. Sự tồn tại của
các Phó Thủ tướng phụ trách các Khối, Bộ và liên Bộ đã giảm đi trách nhiệm
của các Bộ trưởng phụ trách các ngành, lĩnh vực mà đúng ra theo quy định
của Hiến pháp họ chính là những người chịu trách nhiệm.
Nhìn chung Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện mức độ hoàn thiện cao hơn
các Hiến pháp trước ở chỗ nó quy định rõ ràng hơn trách nhiệm , quyền hạn
của các chủ thể nắm quyền hành pháp góp phần làm cho quyền hành pháp
phát huy được tác dụng của nó. Song luật cần phải quy định rõ ràng hơn nữa
trách nhiệm cho từng chủ thể nắm quyền hành pháp tạo điều kiện cho quyền
hành pháp được tổ chức, thực hiện tốt, phát huy được chức năng, vai trò của
hành pháp trong sự phát triển của Nhà nước.
Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân năm 1994 và năm 2003 đã đặt nền móng cho việc đổi mới tổ chức chính
quyền địa phương theo hướng gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả trong quản lý các
15
hoạt động đời sống xã hội của địa phương. Nhưng so với nhiều nước trên thế
giới thì cách thức tổ chức cơ quan chính quyền địa phương giống nhau ở tất
cả các cấp hành chính đã tạo ra một hệ thống cơ quan chính quyền địa phương
rập khuôn, cứng nhắc không phân biệt được sự khác nhau trong quản lý hành
chính nhà nước ở đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo..và cũng không bảo
đảm được tính quản lý hành chính tập trung từ trung ương xuống địa phương
trong việc thực hiện quyền lực nhà nước cần phải khắc phục những hạn chế
của cơ quan này.
1.3.4 Tổ chức quyền hành pháp ở Việt Nam theo Hiến pháp 2013
Lần đầu tiên Hiến pháp chính thức khẳng định tính chất, vị trí của Chính
phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đồng thời, chế định Thủ Tướng
Chính phủ tiếp tục được đề cao, trách nhiệm cá nhân của các Bộ trưởng được
tăng cường.
Điều 109 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Chính phủ là cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chũ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.
Hiến pháp năm 2013 kế thừa đồng thời bổ sung để thể hiện một cách
toàn diện tính chất, vị trí chức năng của Chính phủ.
Như vậy lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp chính
thức khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng giúp xác định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, vai trò của Chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
trường xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Về tính chất, vị trí, nội dung, phạm vi và cơ chế thực hiện quyền hành
pháp và hành chính của Chính phủ đều có những sửa đổi, bổ sung theo tinh
thần đổi mới nhằm xây dựng Chính phủ mạnh, hiện đại, dân chủ, pháp quyền,
thống nhất quản lý vĩ mô các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc
phòng an ninh và đối ngoại của đất nước.
16
Trước hết về vị trí phạm vi và nội dung thẩm quyền của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hiến pháp năm
2013 đã điều chỉnh, phân công lại mức độ nhất định, làm rõ hơn nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của từng thiết chế: Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
- Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp: Cụ thể đối với Chính
phủ, lần đầu tiên Hiến pháp chính thức khẳng định tính chất, vị trí cả Chính
Phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và đề cao hơn tính chất, vị trí
Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước cộng hòa
XHCN Việt Nam.
Đồng thời khẳng định vai trò hoạch định chính sách của Chính phủ,
quy định tại Khoản 2 Điều 96 “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để
thực hiện nhiệm, quyền hạn…”
Quy định tại khoản 3 Điều 96 nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; thi hành các biện pháp
cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của nhân dân.
Bên cạnh quyền trình dự án luật, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quyền
ban hành văn bản pháp quy của Chính phủ như một nhiệm vụ quyền hạn độc
lập để thực hiện chức năng hành pháp tại Điều 100: “ Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp
luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra viêc thi hành các
văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của Luật”.
Với những sửa đổi, bổ sung trên, quyền hành pháp của phủ đã có bước
đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với bản chất, chức năng của quyền hành pháp
hiện đại.
Ưu điểm và hạn chế của Hiến pháp 2013.
Do Hiến pháp năm 2013 mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 cho nên thời
gian thực hiện và triển khai Hiến pháp còn chưa được nhiều, vì vậy những bất
17
cập, hạn chế trong việc thực hiện quyền hành pháp trong Hiến pháp 2013 so
với Hiến pháp 1992.
- Làm rõ vị trí pháp lý, chức năng của Chính phủ.
Lần đầu tiên Hiến pháp của Chính phủ khẳng định tính chất, vị trí của
Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp.
Hiến pháp năm 2013 kế thừa đồng thời bổ sung để thực hiện một cách
toàn diện tính chất, vị trí và chức năng của Chính phủ. Điều 109 Hiến pháp
năm 2013: “ Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp
hành của Quốc hội”.
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp chính
thức khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng giúp xác định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, vai trò của Chính phủ trong điều kiện phát triển nền knh tế thị
trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Nhiệm vụ, quyền hạn được thiết kế lại.
Hiến pháp năm 2013 đã thay đổi kỹ thuật lập hiến khi quy định nhiệm
vụ, quyền hạn của Chính phủ. Theo đó, các quy định này thể hiện khái quát
hơn, tạo cơ sở hiến định để kiện toàn bộ máy Chính phủ, nâng cao hiệu quả
quản lý vĩ mô trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quôc tế.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013 hiện
hành có những điểm mới cơ bản sau:
+ Hiến pháp quy định cụ thể các loại văn bản QPPL mà Chính phủ tổ
chức
+ Hiến pháp bổ sung thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
(khoản 3 Điều 96), (khoản 2 Điều 96). Thẩm quyền này thể hiện rõ vai trò của
Chính phủ trong việc thực hiện chức năng hành pháp - chức năng hoạch định
và thực hiện chính sách.
18
+ Hiến pháp đã chuyển thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập,
chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh sang thẩm quyền của
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Hiến pháp đã thay đổi cách thức quy định về hình thức ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Để phù hợp với thực tiễn xây dựng
pháp luật ở nước ta và Hiến pháp nhiều nước trên thế giới Điều 100 Hiến
pháp năm 2013 quy định: “ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các
văn bản pháp luật theo quy định của pháp luật”.
+ Hiến pháp phân định cụ thể thẩm quyền của Chính phủ trong việc tổ
chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của
Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu
lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình quốc
hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70 Hiến pháp.
- Tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ hơn.
Tại Điều 95 Hiến pháp năm 2013: “Chính phủ gồm Thủ tướng Chính
phủ, các phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ. Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định”.
Có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã bỏ cụm từ “ các thành viên khác ”
của Hiến pháp năm 1992, bổ sung quy định “ cơ cấu, số lượng thành viên
Chính phủ do Quốc hội quy định” để trên cơ sở đó quy định trong luật về cơ
cấu, số lượng thành viên Chính phủ. Như vậy, Chính phủ mới có cơ cấu gọn
nhẹ, hợp lý và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ cảu quyền hành pháp
trong thời kỳ mới.
- Đề cao chế định Thủ tướng Chính phủ.
Lần đầu tiên Hiến pháp khẳng định: “ Thủ tướng Chính phủ là người
đứng đầu Chính phủ” (khoản 2 Điều 95 Hiến pháp 2013). Hiến pháp đã bổ
sung quy định: “ Phó Thủ tướng… chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính
19
phủ về nhiệm vụ được phân công”. (khoản 3 Điều 95 Hiến pháp 2013); “ Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ
tướng Chính phủ” (khoản 4 Điều 95);“ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Thủ tướng Chính phủ”…( khoản
2 Điều 99). Trong Hiến pháp mới, chế định Thủ tướng Chính phủ tiếp tục đề
cao. Tập trung thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ trong việc Lãnh đạo, điều
hành Chính phủ và hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa
phương.
Thủ tướng Chính phủ được Hiến pháp khẳng định rõ vị trí, vai trò là
người đứng đầu Chính phủ. Đồng thời, quy định rõ hơn trách nhiệm giải trình
của Thủ tướng: chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ
và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ trước quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Quy định rõ hơn nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng đối với Chính
phủ nhất là đối với hệ thống hành chính Nhà nước (khoản 1, khoản 2, Điều
98).
Với các sữa đổi, bổ sung này vị thế và vai trò của Thủ tướng đã được
nâng cao hơn. Thủ tướng Chính phủ thực sự trở thành nhân tố định hướng các
mục tiêu chung và thúc đẩy xây dựng chính sách và toàn bộ hoạt động của
Chính phủ và hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương tới địa phương
trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
-Tăng cường trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng.
Hiến pháp năm 2013, bổ sung nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm cá
nhân của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thể hiện rõ hơn vị trí,
nhiệm vụ, trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư
cách vừa là thành viên Chính phủ, đồng thời là một thiết chế có trách nhiệm
quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước.
Một điểm mới rất quan trọng là Hiến pháp đã bổ sung quy định về trách
nhiệm giải trình. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không chỉ chịu
20
trách nhiệm giải trình trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách
nhiệm quản lý (khoản 2 Điều 99).
- Nâng cao tính dân chủ pháp quyền.
Nội dung sữa đổi, bổ sung quan trọng và lớn nhất về Chính phủ là về cơ
chế thực hiện quyền hành pháp phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền.
Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định đổi mới về cơ chế thực thi
quyền lực, phù hợp với tính chất, vai trò của từng thiết chế Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ và Bộ trưởng theo hướng nâng cao hơn tính dân chủ pháp
quyền trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, bảo đảm minh bạch, linh
hoạt, nhanh nhạy, trách nhiệm giải trình trong thực hiện quyền lực được trao;
đồng thời bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa ba thiết chế trong thực hiện quyền
hành pháp và hành chính được giao.
21
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT
NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN QUYỀN
HÀNH PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
2.1.1 Những thành tựu đạt được
2.1.1.1. Những thành tựu đạt được trong tổ chức và hoạt động của
Chính phủ, các Bộ và các cơ quan ngang bộ
Năm 2014 mặc dù nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng
nhưng tăng trưởng GDP của nước ta đạt 5,98%, một mức tăng trưởng khá cao
so với nền kinh tế thế giới. Chứng tỏ đường lối chủ trương chính sách của
Nhà nước, Chính phủ là phù hợp với từng hoàn cảnh, khắc phục được những
khó khăn, phát huy được các lợi thế của đất nước nên kinh tế nước nhà vẫn
đảm bảo ổn định.
Công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức đạt được nhiều tiến bộ, cải cách
hành chính có bước tiến lớn, các thủ tục hành chính phiền hà ngày càng giảm
đã đưa đến hoạt động hành pháp của cơ quan hành pháp có hiệu quả hơn. Các
cơ quan, tổ chức và cá nhân tiết kiệm được thời gian, chi phí…
Công tác chống tham nhũng vẫn luôn được chú trọng và đấu tranh mạnh
mẽ trong năm 2014, Ban Nội chính trung ương và địa phương đã có nhiều biện
pháp tác động mạnh, đồng thời phát hiện và đưa ra xét xử nhiều vụ án được dư
luận xã hội quan tâm: Vinasin, Vinaline, Nguyễn Đức Kiên, Huyền Như…
Ngoài ra còn đạt được một số thành tựu lớn trong xóa đói giảm nghèo,
xóa mù chữ và nhiều biện pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội …
2.1.1.2. Những thành tựu đạt được trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban
nhân dân và các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân
UBND các cấp đã khắc phục những khó khăn vươn lên đạt được một số
thành tựu:
22