Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

SỰ ỨNG PHÓ VỀ NƯỚC VÀ KHÍ HẬU CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.02 MB, 21 trang )


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

Workshop

Nội dung

Ho Chi Minh City

Sơ lược về báo cáo3
Tóm Lược Nội Dung Báo Cáo4
1 Giới thiệu5
2Thành Phố Hồ Chí Minh và Nước 5
2.1 Giới thiệu

5

2.2 Giới Thiệu Về Tài Nguyên Nước Của TPHCM

5

2.3 Tình Trạng Ngập Lụt Đô Thị Ở TPHCM

7

3Thành Phố Hồ Chí Minh và Biến Đổi Khí Hậu9
3.1 Giới thiệu



9

3.2 Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu

9

3.3 Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Vấn Đề Nhiễm Mặn Của Nước Sông Và Nước Ngầm

9

3.4 Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Tài Nguyên Nước

10

3.5 Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Ngập Lụt Đô Thị

10

4Quản Lý Tài Nguyên Nước Và Khả Năng Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu11
4.1 Nâng Cao Khả Năng Ứng Phó Của Tài nguyên Nước – Tổng Quan

11

4.2 Nâng Cao Dung Lượng Nước Thô

11

4.3 Chống nhiễm mặn


13

4.4 Thực Hiện Quản Lý Nhu Cầu

15

4.5 Cải Thiện Quản Lý Lưu Vực Sông

18

5Phòng Chống Ngập Lụt Và Khả Năng Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu21
5.1 Nâng Cao Khả Năng Ứng Phó Ngập Lụt Đô Thị - Tổng Quan

21

5.2 Cải Thiện Hệ Thống Thoát Nước Hiện Hữu

21

5.3 Ứng Dụng Thiết Kế Đô Thị Nhạy Cảm Về Nước (WSUD) Vào Quy Hoạch Thành Phố

25

5.4 Thu Hoạch Nước Mưa Và Bổ Sung Nguồn Nước Ngầm

28

6Quản lý Hợp Nhất Nước Và Ngập Lụt Và Khả Năng Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu –
Các Bước Tiếp Theo


30

6.1 Giới thiệu

30

6.2 Tăng Trữ Lượng Nước Thô

30

6.3 Phòng Chống Nhiễm Mặn31
6.4 Quản lý nhu cầu

31

6.5 Một Kế Hoạch Quản Lý Tài nguyên Nước Cho Lưu Vực Sông Đồng Nai

32

6.6 Giải Quyết Tình Trạng Ngập Lụt Đô Thị

33

6.7 Ứng Dụng Thiết Kế Đô Thị Nhạy Cảm Về Nước (WSUD)

33

6.8 Quản Lý Nguồn Nước Ngầm

33


7 Kết Luận34
8 Tham Khảo34
9 Phụ Lục35

1

Báo cáo này có đưa vào các chỉ thị và yêu cầu cụ thể của khách hàng của chúng tôi.

9.1 Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị C-40 Arup

35

Báo cáo này không dành cho bất kỳ bên thứ ba nào, do vậy bên thứ ba không nên dựa vào nội dung báo cáo, đồng thời chúng tôi không chịu
trách nhiệm đối với bất cứ bên thứ ba nào

9.2 Bối Cảnh Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị Thành phố HCM C-40 Arup

36
2


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

Tóm Lược Nội Dung
Báo Cáo

TPHCM vừa có quá nhiều nước lại vừa có quá ít nước.
Một dân số tăng trưởng, sung túc hơn cùng với biến đổi
khí hậu sẽ làm tăng áp lực đối với nhu cầu về nước,
và với mực nước biển dâng, sẽ gia tăng áp lực lên khả
năng phòng chống ngập lụt đô thị của thành phố.
Đồng thời, nhu cầu về nước tăng cao sẽ làm suy giảm
nguồn nước ngầm và gây ra tình trạng lún sụt đất. Điều
này, cùng với mực nước biển dâng và khả năng xâm
nhập của nước mặn, có thể làm cho nguồn nước ngầm
trở nên mặn hơn.

Sơ lược về báo cáo
Báo cáo kỹ thuật này trình bày các đề xuất về tài
nguyên nước và việc phòng chống ngập lụt ở Thành
phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Báo cáo này dựa trên
nghiên cứu do Arup thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị
Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị C40 được tổ chức với sự
hiện diện của sở ban ngành của thành phố và các đối
tác chủ chốt tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 12
tháng 5 năm 2010.

Vì thế đối với TPHCM, việc cung cấp nước và phòng
chống ngập lụt liên kết mật thiết với nhau. Các hoạt
động cải thiện việc cấp nước, chẳng hạn như kiểm soát
sự nhiễm mặn, cũng có thể mang lại lợi ích cho việc
phòng chống ngập lụt bằng cách xây dựng thêm hồ
chứa có khả năng giảm dòng chảy cao điểm của sông.
Các biện pháp phòng chống ngập lụt cũng có thể giúp
phục hồi mực nước ngầm.
Thành phố hiện đang dựa vào nguồn nước mặt từ lưu

vực sông Đồng Nai từ phía bắc và phía đông, cũng như

Workshop

các nguồn nước ngầm dự trữ hạn chế màHo
nhiều
Chingười
Minh City
cho rằng đang sắp sửa cạn kiệt. Mặc dù dồi dào trong
mùa mưa, nguồn nước mặt trở nên khan hiếm khi mùa
nắng kéo dài. Việc thiếu dự trữ nước trong các hồ khiến
việc duy trì lưu lượng nước sông để đáp ứng nhu cầu
gia tăng là không có khả năng.
Gần một nửa lượng nước mặt từ lưu vực được sử
dụng cho nông nghiệp và một lượng nước lớn được lấy
từ các hồ chứa trong mùa khô để phòng chống nhiễm
mặn. Tình trạng ngập lụt đô thị đã trở thành một phần
của cuộc sống trong nhiều khu vực trũng thấp của
Thành Phố. Ngập lụt xảy ra mỗi khi có triều cường và
càng trở nên trầm trọng hơn do hệ thống thoát nước
chưa hoàn thiện.
Biến đổi khí hậu có thể làm cho tình hình xấu thêm.
Mực nước biển chung quanh TPHCM dự kiến sẽ tăng
cao 1m vào cuối thế kỷ này. Thành Phố có thể sẽ có
lượng mưa ít hơn trong mùa khô nhưng sẽ có lượng
mưa rất cao vào mùa lũ. Đồng thời, mùa giông bão có
thể sẽ kéo dài hơn với những cơn bão mạnh hơn. Các
thay đổi này sẽ làm tăng độ nhiễm mặn tại các vị trí
lấy nước sông hiện hữu, trong lúc đó, thủy triều cao và
mưa lớn sẽ làm cho tình trạng ngập lụt đô thị trở nên

thường xuyên và nghiêm trọng hơn.

Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày một cách tổng
quan về tài nguyên nước và tình trạng nhạy cảm về
ngập lụt của Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mô tả
các dự báo về biến đổi khí hậu dựa trên các nghiên
cứu mà Việt Nam đã thực hiện, đồng thời đề xuất làm
thế nào thành phố có thể tăng khả năng ứng phó đối
với những tác động biến đổi khí hậu.
Các đề xuất của chúng tôi được cũng cố bằng các
trường hợp nghiên cứu các nơi trên thế giới mà có thể
áp dụng cho TPHCM hoặc nêu bật các thực tiễn tốt nhất.
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu cùng với việc hợp tác
với Sở Tài Nguyên Môi Trường (DONRE) và các sở ban
ngành khác của thành phố HCM, cũng như bằng việc rà
soát và tham khảo nhiều tài liệu, hồ sơ liên quan.

Các đề xuất
Quản lý nhu cầu phải là một ưu tiên đối với TPHCM.
Thành Phố cần giảm bớt lượng nước thất thoát (rò rỉ,
đấu nối bất hợp pháp và bị lấy cắp) và sự thất thoát
trong tưới tiêu cũng như áp dụng các phương pháp tưới
tiêu hiệu quả hơn.
Hơn nữa, việc quản lý lưu vực một cách hiệu quả rõ
ràng là cần thiết nhằm đảm bảo các nguồn nước mặt
được chia sẻ một cách công bằng. Qua nghiên cứu,
chúng tôi cho rằng hai phương pháp áp dụng ở Úc và
Canada là thích hợp nhất đối với TPHCM.
Thành Phố cũng cần phải tăng cường việc trữ nước
thô hoặc nước thiên nhiên – hoặc gần các nhà máy

xử lý nước hiện hữu hoặc ở thượng nguồn trong lưu
vực sông Đồng Nai. Cùng với việc cải thiện hệ thống
cấp nước, việc xây dựng thêm các hồ chứa nước gần
TPHCM có thể giúp phòng chống nhiễm mặn đồng thời
có chức năng chứa lũ hoặc chuyển dòng. Ngoài ra,
chúng tôi cũng đề xuất Thành Phố nên nghiên cứu vấn
đề khử mặn cho nước lợ của các con sông.
Thậm chí sau khi hoàn thành dự án đê bao, Thành Phố
vẫn có khả năng ngập lụt do mưa và việc xây dựng
một hệ thống thoát nước hiệu quả hơn là rất cần thiết.

3

TPHCM cần nghiên cứu làm thế nào để chứa nước lũ
ngầm dưới đất khi cổng điều tiết đóng lại và làm thế
nào để có thể xả nước lũ này vào sông rạch một cách
an toàn khi cổng điều tiết mở ra.
Việc quy hoạch thành phố cần được tiến hành đồng
bộ với dự án đê bao và cần phải nhạy cảm hơn đối với
yêu cầu về tích trữ nước đáp ứng cho công tác phòng
chống ngập lụt hiệu quả. Nhiều nơi trên thế giới, thiết
kế đô thị nhạy cảm về nước đang trở thành trọng tâm
của quy hoạch thành phố và điều này nên được áp
dụng cho TPHCM.
Một phương cách hiệu quả duy trì hồ chứa nước mặt
đô thị là sử dụng các đầm lầy hoặc các hồ chứa nước
(hồ ướt) và khu vực chứa nước (hồ khô) để bổ sung
nguồn nước ngầm. Chúng tôi đề xuất rằng Thành Phố
nên nghiên cứu vấn đề này cùng với việc thu hoạch
nước mưa và việc bảo toàn các khu vực đầm lầy nước

ngọt hiện hữu.
Một khi các ý tưởng này được ứng dụng, chúng tôi tin
tưởng rằng TPHCM sẽ có khả năng ứng phó với biến
đổi khí hậu và trở nên một hình mẫu cho các thành phố
khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

4


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

1 Giới thiệu
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), theo một báo cáo
gần đây của Tổ Chức WWF (Quỹ quốc tế bảo tồn động
vật hoang dã), được xếp trong số 10 thành phố hàng
đầu trên thế giới mà cư dân có nhiều khả năng bị ảnh
hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, ví dụ như
mực nước biển dâng và sơ đồ mưa khó lường trước
được, TPHCM cũng đang trải qua quá trình đô thị hóa
nhanh chóng. Dân số chính thức của thành phố đã tăng
từ 3 triệu người vào năm 1975 đến trên 7 triệu người
vào năm 2009.
Như sẽ được trình bày trong những phần dưới đây, hai
yếu tố chủ yếu – sự tăng trưởng dân số và biến đổi khí
hậu – chắc chắn sẽ làm gia tăng áp lực đối với nhu cầu
về nước ở TPHCM và đối với khả năng phòng chống

ngập lụt trong tương lai của Thành Phố.
Ngoài ra còn có các mối quan ngại khác là quá trình đô
thị hóa và sự tăng dân số sẽ dẫn đến tăng nhu cầu sử

dụng nước và từ đó làm suy giảm nguồn nước ngầm và
hậu quả là gây lún sụt đất. Điều này cùng với hiện tượng
mực nước biển dâng và khả năng xâm nhập của nước
mặn có khả năng sẽ làm cho các nguồn nước ngầm
nhiễm mặn.
Điều quan trọng cần nhấn mạnh là trong trường hợp này
việc cấp nước và phòng chống ngập lụt liên kết mật thiết
với nhau. Bởi vì các giải pháp cho việc cấp nước, chẳng
hạn như kiểm soát sự nhiễm mặn, cũng có thể mang lại
lợi ích cho việc phòng chống ngập lụt qua việc xây dựng
thêm hồ chứa có khả năng giảm dòng chảy cao điểm
của sông. Các biện pháp phòng chống ngập lụt cũng có
thể giúp phục hồi mực nước ngầm.
Trong báo cáo này, chúng tôi cố gắng bóc trần các mối
liên kết này nhằm cung cấp các giải pháp mạnh mẽ, thực
tế và khả thi hơn cho Thành Phố.

2 Thành Phố Hồ Chí Minh và Nước

Độ sâu dưới
mặt đất

Cách sử dụng

Chất lượng


Thứ nhất

Từ 2m đến 20m

Chỉ ở Cần Giờ

Nói chung là kém do ô nhiễm từ
nước thải

Thứ hai

Từ 3m đến 72m

Chỉ được sử dụng bởi các
cộng đồng nghèo nơi chưa
có đường ống cấp nước

Nói chung là kém do ô nhiễm từ
nước thải

Thứ ba

Từ 20m đến 138m

Sử dụng rộng rãi nhưng có
công suất hạn chế

Đạt yêu cầu ngọai trừ ở Cần Giờ nơi
bị nhiễm mặn


Thứ tư

Từ 8m đến 142m

Sử dụng rộng rãi, công suất
lớn nhưng cách sử dụng
không bền vững

Đạt yêu cầu cho phần lớn nhu cầu.
Được xử lý để cấp cho công nghiệp
và sinh hoạt

Nguồn Nước Ngầm
Nước ngầm đóng một vai trò phụ trong tổng thể tài
nguyên nước của Thành Phố. Bảng dưới đây thể hiện
sự hiểu biết của chúng tôi về thực trạng các tầng nước
ngầm dựa trên tài liệu thu thập được.
Theo báo cáo rộng rãi thì nước ngầm hiện đang đuợc
khai thác bởi tư nhân vượt quá khả năng tái tạo. Việc
khai thác nước ngầm như thế là không bền vững.
Ngoài ra còn có các mối quan ngại về ảnh hưởng của
việc khai thác nước ngầm đối với tình trạng lún sụt đất.

Lưu Vực Sông Đồng Nai - Việc Cung Cấp
Nước Mặt So Với Nhu Cầu
Lưu lượng hàng năm ước tính của lưu vực gấp ba lần
nhu cầu tính toán nhưng không đủ để đáp ứng tất cả
các nhu cầu trong mùa khô và lại dư thừa cũng như
sinh ra ngập lụt trong mùa mưa. Sơ đồ theo mùa này
là phổ biến trong các khu vực có mùa khô tách biệt

ở đó phần lớn lượng mưa rơi vào trong những tháng
mùa mưa, như ở miền nam Việt Nam là từ tháng 6 đến
tháng 10.
Hình 2.2.1
Lưu Vực Sông
Đồng Nai
(DNRB)

2.1

Giới thiệu

Phần này trình bày tình hình hiện nay về tài nguyên
nước TPHCM và các vấn đề về hiện trạng ngập lụt đô
thị. Phần này cũng nghiên cứu các dự án của Thành
Phố trong việc cải thiện các hạn chế hiện hữu về tài
nguyên nước và ngập lụt đô thị.
Dữ liệu về các nguồn nước / tình trạng ngập lụt đô thị
và các dự án cải thiện được thu thập từ các cuộc họp
với các sở ban ngành chủ yếu là với Tổng Công Ty Cấp
Nước Sài Gòn (SAWACO), Phân Viện Khí Tượng Thủy
Văn và Môi Trường phía Nam và Trung Tâm Điều Hành
Chương Trình Chống Ngập Nước. Chúng tôi cũng tiến
hành xem xét, rà soát các tài liệu và hồ sơ. Các nguồn
thông tin này được ghi nhận trong phần Tham Khảo ở
cuối báo cáo này.

2.2



Giới Thiệu Về Tài Nguyên Nước
Của TPHCM

Vì vậy trữ lượng nguồn nước mặt từ tháng 1 đến tháng
4 là mối quan tâm chủ yếu. Với sự gia tăng nhu cầu về
nước sẽ có khả năng xác thực rằng trong những năm
khô hạn, lưu vực sẽ bị thiếu nước theo mùa. Có hai hệ
quả chính là sự hạn chế sử dụng nước có thể trở nên
cần thiết và sẽ khó khăn hơn để cộng đồng chấp nhận
sự hạn chế áp đặt lên việc sử dụng nước ngầm trong
khu vực tư nhân.

5

“Mega-Stress for Mega Cities”. WWF. />
Ho Chi Minh City

Bảng 2.2.1 Tổng
Quan Về Tài
Nguyên Nước
Ngầm ở TPHCM

Việc Trữ Nước Trong Hồ Chứa Ở Lưu
Vực Sông Đồng Nai
Việc trữ nước trong các hồ chứa ở lưu vực giúp đảm bảo
có đủ nước để tăng lưu lượng dòng chảy trong mùa khô
nhờ vào lượng nước lưu trữ trong mùa mưa. Việc nghiên
cứu tài liệu cho thấy rằng lượng dự trữ nên vào khoảng từ
10% đến 15% lưu lượng trung bình hàng năm, hệ số dự trữ
2

ltừ 0,10 đến 0,15.
Các lưu vực có tính chất và yêu cầu lưu trữ khác nhau
trong việc quản lý hiệu quả tài nguyên nước trong năm.
Điển hình là các lưu vực khô cằn cần dự trữ nhiều nước
hơn. Do vậy, khó có thể so sánh trực tiếp với các lưu vực
khác. Tuy nhiên, việc trữ nước trong lưu vực là một yếu tố
quan trọng để quản lý tài nguyên nước một cách hiệu quả.
Lưu vực Murray-Darling ở Úc, (xem phần 4.5.1) có hệ số
dự trữ lên đến 2,5. Lưu vực Colorado ở Hoa Kỳ có hệ số
dự trữ khoảng 4. Hai ví dụ này cho thấy là việc dự trữ nhiều
nước hơn ở Lưu vực sông Đồng Nai sẽ tạo điền kiện cho
việc quản lý tốt hơn và hiệu quả hơn tài nguyên nước trong
lưu vực.

Tổng Nhu Cầu Về Nước ở Lưu Vực
Sông Đồng Nai
Tổng nhu cầu đối với nguồn nước mặt trong lưu vực chưa
đựợc am hiểu một cách rõ ràng. Vấn đề nữa là việc phân
chia nhu cầu giữa nước mặt và nước ngầm thật sự rất
khó. Việc tính toán lượng nước sử dụng cho tưới tiêu và
lượng nuớc dự kiến xả ra để kiểm soát nhiễm mặn là rất
khó khăn. Dữ liệu trong Hình 2.2.2 có được từ việc nghiên
cứu tài liệu, cho thấy rõ rằng tưới tiêu và việc xả nước từ

Nguồn Nước Mặt
Lưu Vực Sông Đồng Nai (DNRB) bao phủ một khu vực
có diện tích tổng cộng trên 40.000km2 và có lưu lượng
dòng chảy hàng năm ước tính khoảng 30,6 x 109 m3.
Khoảng 85% tổng diện tích lưu vực nằm trong phạm vi
Việt Nam, phần còn lại thuộc Cambodia.

Hình 2.2.1 do SAWACO cung cấp cho thấy lưu vực và
các hệ thống sông ngòi chính. TPHCM nằm gần chỗ
gặp nhau của hai con sông chính là sông Đồng Nai và
sông Sài Gòn. Hình này còn thể hiện hai hồ chứa nước
chính là Hồ Dầu Tiếng và Hồ Trị An, là nguồn cấp nước
mặt mà Thành Phố đang lệ thuộc.

Hình 2.2.2
Tổng Nhu Cầu
Về Nước Đối Với
Lưu Vực Sông
Đồng Nai

Trước tiên chúng tôi nghiên cứu về tài nguyên nước
của Thành Phố, sau đó nghiên cứu các vấn đề về ngập
lụt và đề xuất các giải pháp.
1

Workshop

Tầng nước
ngầm

2

Quản lý tưới tiêu và lưu vực sông: các phương án quản trị và thể chế. Biên tập bởi Mark Svendsen – IWMI, CABI Publishing xuất bản 2005.

6



Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

hồ Dầu Tiếng và Trị An để kiểm soát nhiễm mặn tại các
vị trí lấy nước sông của thành phố là các đối tượng sử
dụng chính nguồn nước mặt.
Các mục đích sử dụng quan trọng và có giá trị cao khác
chỉ chiếm khoảng 20% tổng nhu cầu. Điều này tập trung
quan tâm vào vấn đề là ở đâu sẽ cần đến việc quản
lý nhu cầu tốt hơn trong quy hoạch quản lý tài nguyên
nước mới có cân nhắc vấn đề biến đổi khí hậu.

2.2.1 Các Dự Án Của TPHCM Để Cải
Thiện Việc Cung Cấp Và Quản
Lý Nước
Chúng tôi được biết rằng SAWACO đã nghiên cứu
nhiều phương thức khác nhau nhằm gia tăng cung
cấp nước thô cho Thành Phố. Chúng tôi hiểu rằng các
phương thức này phụ thuộc vào việc truyền dẫn nước
từ các hồ Dầu Tiếng và Trị An, sử dụng các hồ này,
trong tương lai, như hồ chứa cung cấp trực tiếp hơn là
hồ điều tiết. Chúng tôi chưa hiểu rõ cơ sở của phương
thức này nhưng có thể đây là một phản ứng đối với việc
giảm sút chất lượng nước sông tại các vị trí lấy nước
cũng như để phòng chống tình trạng nhiễm mặn của
nước sông.
Chúng tôi cũng hiểu rằng Sở Tài Nguyên Môi Trường

(DONRE) đang điều phối các nỗ lực của các sở ban
ngành chủ chốt để xây dựng Quy Hoạch Quản Lý tài
nguyên Nước cho Thành Phố. Quy hoạch này dự kiến
sẽ hoàn tất để UBND Thành Phố xem xét trong thời
guan khoảng 18 tháng.

2.3


Tình Trạng Ngập Lụt Đô Thị Ở
TPHCM

Theo Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống
Ngập Nước, việc giảm nhẹ tình trạng ngập lụt là một

trong những mối quan tâm lớn nhất của chính quyền
thành phố trong những năm gần đây. Cư dân của
TPHCM phải đối mặt với tình trạng ngập lụt hàng năm
trong mùa mưa, không chỉ ở các khu vực trũng thấp mà
cả các khu vực trung tâm thành phố. Theo các tài liệu
nghiên cứu thì tình trạng ngập lụt đô thị của TPHCM
chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

Mưa Lớn
TPHCM có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng Năm đến
tháng Mười Một) và mùa khô (từ tháng Mười Hai đến
tháng Tư). Tổng lượng mưa hàng năm thông thường
trên 2.000mm trong đó hơn 80% rơi vào mùa mưa.
Lượng mưa tối đa hàng ngày là 200mm, lượng mưa
hàng giờ tối đa vào khoảng 50mm và đang tăng. Một

số hệ thống thoát nước đô thị không đủ khả năng giải
quyết lượng mưa lớn, dẫn đến tình trạng ngập lụt.

Triều Cường
TPHCM bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều bán nhật
triều qua sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Mùa thủy
triều cao nhất là vào giữa tháng 9 và tháng 1 và mức
thủy triều cao nhất ghi nhận được hiện nay là +1.48m.
TPHCM có địa hình tương đối bằng phẳng. Tổng diện
tích của TPHCM là 2.095km² nhưng 60% diện tích có
cao trình thấp hơn +1.5m. Do vậy việc bị ngập trực tiếp
do thủy triều tại các khu vực trũng thấp là môt nguyên
nhân khác của tình trạng ngập lụt đô thị ở nơi chưa có
công trình chống lũ để bảo vệ các vùng trũng thấp.

Mưa Và Thủy Triều Kết Hợp
Tình trạng ngập lụt đô thị cũng có thể gây ra bởi tác
động kết hợp của mưa lớn và thủy triều cao, kết hợp
cùng với hệ thống áp thấp khí quyển làm tăng độ cao
của thủy triều dự kiến.

Việc Xả Nước Từ Các Bể Chứa Trên
Thượng Nguồn

Workshop

Ho Chi Minh City

Khi mực nước trong hồ chứa thủy điện Trị An và hồ
thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng nguồn vượt quá cao trình

thiết kế, phần nước thặng dư sẽ được xả xuống hạ
lưu dọc theo sông Đồng Nai và sông Sài Gòn để bảo
vệ các đập của hồ chứa. Dòng chảy quá mức của các
dòng sông sẽ tràn qua bờ sông và gây ra ngập lụt đô thị
ở TPHCM.

Tác Động Của Đô Thị Hóa Đối Với Dòng
Nước Mặt
TPHCM đang trải qua quá trình đô thị hóa một cách
nhanh chóng. Dân số chính chức của thành phố đã
tăng từ 3 triệu người từ năm 1975 lên đến trên 7 triệu
người vào năm 2009. Sự mở rộng của Thành Phố
không chỉ làm giảm bề mặt thấm nước mà còn xuất
hiện các công trình mới xây dựng trên các đồng bằng
chứa lũ, khu đầm lầy và các khu vực chứa lũ hiện hữu.
Nhiều kênh rạch đang bị lấp và gây tắc nghẽn bất hợp
pháp. Trong khi đó, hạ tầng thoát nước hiện nay ở các
trung tâm đô thị thì quá cũ và xuống cấp. Quá trình đô
thị hóa đã làm giảm khả năng giữ nước tự nhiên đồng
thời làm tăng khả năng ngập lụt của Thành Phố.

Tình Trạng Lún Sụt Đất
Báo cáo cho thấy tình trạng khai thác nước ngầm quá
mức đã xãy ra ở một số khu vực trong thành phố nơi
không có mạng lưới cấp nước đô thị. Việc khai thác
nước ngầm quá mức làm tăng độ sụt lún đất và nếu
các khu vực này thuộc vùng trũng thấp, chúng sẽ trở
nên dễ bị ngập lụt.

2.3.1 Các Dự Án Bảo Vệ Chống Ngập


Lụt ở TPHCM
Theo Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống Ngập
Nước, TPHCM hiện đang có hai Quy Hoạch Tổng Thể
liên quan đến công trình thoát nước và thủy lợi, đó là:







Quy Hoạch Quản Lý Công Trình Thủy để Quản Lý
Tình Trạng Ngập Lụt trong TPHCM do Bộ
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (NN&PTNT)
xây dựng. Quy hoạch này đã được phê duyệt vào
tháng 10 năm 2008 và chủ yếu tập trung vào các
biện pháp kiểm soát thủy triều.










Quy Hoạch Tổng Thể về hệ thống thoát nước và
nước thải của TPHCM do Cơ Quan Hợp Tác Quốc

Tế Nhật Bản (JICA) xây dựng. Quy hoạch này đã
được phê duyệt vào tháng 6-2001 và là cơ sở cho
các công trình thoát nước hiện nay ở TPHCM. Dự
án tập trung vào việc giảm bớt tình trạng ngập lụt đô
thị bằng cách tăng cường khả năng của hệ thống
thoát nước.

• Xây dựng 13 cổng điều tiết dọc theo sông Sài Gòn.
• Nạo vét 30 con sông và kênh hiện hữu có chiều dài
tổng cộng 219km.
Chúng tôi hiểu rằng hệ thống đê bao và cổng điều tiết
sau khi hoàn thành sẽ bảo vệ TPHCM tránh ngập lụt do
thủy triều trực tiếp từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai
và trở thành một bộ phận hợp nhất của hệ thống bảo vệ
chống ngập lụt của Thành Phố trong tương lai.

Trong Quy Hoạch Quản Lý Công Trình Thủy, “Dự án
Đê bao” đã được đề xuất. Các bộ phận chính của dự
án bao gồm:
• Xây dựng đê bao dọc theo bờ phải của Sông Sài
Gòn có chiều dài tổng cộng 172km.
• Xây dựng đê bao dọc theo sông Đồng Nai ở Quận
9, có chiều dài tổng cộng 13,5km.

7

8


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup

Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

3 Thành Phố Hồ Chí Minh và Biến Đổi Khí Hậu
3.1

việc đảm bảo có đủ nước xả ra từ các hồ chứa để kiểm
soát độ mặn trong mùa hè sẽ trở nên khó khăn. Tình
hình này thậm chí sẽ trở nên xấu hơn nếu mùa khô kéo
dài sang tháng 5.

Giới thiệu

Như đã đề cập trong Phần 1, TPHCM nằm trong số 10
thành phố hàng đầu trên thế giới mà cư dân có nhiều khả
năng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu.3

Để minh họa cho các khó khăn hiện nay mà Thành Phố
đang phải đối mặt, một bài viết trên báo Saigon Times
Daily vào cuối tháng 3/2010 có tiêu đề “Độ mặn được
dự báo tăng cao vào cuối tháng 4”, mô tả cách thức Hồ
Dầu Tiếng xả nước nhằm duy trì mức độ mặn tại Nhà
máy xử lý nước Tân Hiệp ở dưới ngưỡng 250mg/l, là
mức an toàn cho nước máy. Bài tường thuật này cũng
mô tả cách thức mà 378 triệu mét khối nước được xả
từ 20/3 đến 31/3/2010 nhưng lượng nước xả đó bị đình
chỉ từ ngày1/4 đến 15/4 để đảm bảo giữ lại mức nước
an toàn là 430 triệu m3 trong hồ chứa. Bài báo còn trích

dẫn lời phát biểu của Giám Đốc NMN Tân Hiệp rằng khi
độ mặn đạt tới ngưỡng giới hạn, nhà máy sẽ ngưng lấy
nước thô từ sông.

Các thông tin về tác động biến đổi khí hậu trong phần
này dựa trên báo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
(MONRE) có tiêu đề “Kịch Bản về Biến Đổi Khí Hậu,
Mực Nước Biển Dâng cho Việt Nam” xuất bản vào tháng
6, 2009. Báo cáo này cung cấp các dữ liệu dự báo về
nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển theo các kịch
bản khác nhau.
Phần này tóm tắt các dự báo về mực nước biển dâng và
sơ đồ mưa trong tương lai do các yếu tố này ảnh hưởng
nhiều nhất đến tài nguyên nước và ngập lụt đô thị của
TPHCM.

Chúng tôi dự định sẽ trao đổi thêm với SAWACO nhằm
xác định mức độ mặn cao nhất vào mùa khô này tại
NMN Tân Hiệp vì liên quan đến Thành phố Hồ Chí
Minh, mùa khô năm nay sẽ kéo dài đến tận tháng 5.

Sau đó, tập trung vào ảnh hưởng của mực nước biển
dâng, mùa khô ngắn hơn và lượng mưa ít hơn gây nên
sự nhiễm mặn của nguồn nước mặt và nước ngầm cũng
như tác động của các điều kiện ẩm ướt hơn đối với tình
trạng ngập lụt đô thị.

3.2

3.4



Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu

Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối
Với Tài Nguyên Nước

Do vậy, có ba mối quan tâm chính liên quan đến tác
động của biến đổi khí hậu:

Mực nước biển
Dự báo cho biết rằng trong kịch bản khí thải cao (A1F1)
thì vào năm 2050 mực nước biển sẽ dâng cao 330mm
và vào năm 2100 mực nước biển sẽ cao hơn 1.000mm
so với năm 1999. Mức dâng cao mực nước này chưa
tính đến ảnh hưởng của áp lực bão lên mực nước biển.
Những tác động này còn có thể cao hơn do có nhiều
bão lớn hơn trong khu vực.

Workshop

• Độ mặn sẽ tăng cao trong những tháng mùa khô

Ho Chi Minh City

• Tình trạng ngập lụt ở phía hạ lưu có thể xảy ra
thường xuyên hơn do lượng nước xả lớn hơn từ các
hồ chứa và có thêm lượng nước mặt từ thành phố.

3.5



Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối
Với Ngập Lụt Đô Thị

Mực nước biển dâng hơn và do đó mực thủy triều dâng
cao do biến đổi khí hậu có thể dẫn đến việc phá hỏng
công trình bảo vệ sông/bờ biển hiện hữu. Điều này sẽ
gây ra ngập lụt trực tiếp cho nhiều khu vực rộng lớn ở
TPHCM và gây quá tải hệ thống thoát nước đô thị hiện
hữu nếu các cửa xả ra sông không được bảo vệ bằng
cổng điều tiết hoặc van một chiều ngăn thủy triều. Mực
nước biển dâng còn ảnh hưởng đến rừng đước ở Cần
Giờ, hiện đang bảo vệ tránh sóng và áp lực giông bão
từ Biển Đông. Đước đang sống ở khu vực dọc theo
bờ biển trong trường hợp mực nước biển dâng sẽ di
chuyển xa hơn vào đất liền. Đước bị ngập hoàn toàn sẽ
không tồn tại.
Mưa mùa mưa sẽ khắc nghiệt hơn do biến đổi khí hậu,
nghĩa là cường độ mưa cao hơn, kéo dài hơn và tần
suất mưa gia tăng sẽ làm quá tải hệ thống thoát nước
hiện hữu, làm tăng ngập lụt đô thị và giảm mức bảo vệ
chống ngập của hệ thống thoát nước đô thị hiện hữu.

• Nước sẽ trở nên khan hiếm hơn và có thể không
đáp ứng đủ nhu cầu trong tương lai trong những
tháng nóng nhất trong năm.

Lượng Mưa Trong Mùa Khô
Dự báo là lượng mưa ở Nam Việt Nam sẽ giảm bớt

trong những tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 2 và
từ tháng 3 đến tháng 5. Bảng dưới đây trình bày các dự
báo này theo tỷ lệ phần trăm trong kịch bản khí thải cao.
Việc giảm lượng mưa từ tháng 3 đến tháng 5 theo dự
báo có thể cũng chứng tỏ sự kéo dài của mùa khô từ
tháng 4 đến tháng 5. Lượng mưa hàng tháng ở TPHCM
thông thường vào tháng 3, 4 và 5 lần lượt vào khoảng
10mm, 50mm và 220mm.

Bảng 3.2.1
Lượng mưa giảm trong mùa khô theo tỷ lệ phần trăm

Tháng

2050

2010

12 – 2

-7.4

-19.6

3–5

-7.2

-18.2


Lượng mưa trong mùa hè
Ngược lại, lượng mưa trong những tháng mùa mưa dự
kiến tăng theo tỷ lệ phần trăm. Xem bảng dưới đây dựa
trên kịch bản lượng khí thải cao.
Ngoài ra còn các mối quan ngại nữa là lượng mưa mùa
mưa có thể trở nên mãnh liệt hơn và mùa giông bão kết
thúc trễ hơn bình thường.

3.3



Bảng 3.2.2
Lượng mưa tăng trong mùa mưa theo tỷ lệ phần trăm

Tháng

2050

2010

6–8

0.8

2.1

9 – 11

6.5


16.5

Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đối
Với Vấn Đề Nhiễm Mặn Của
Nước Sông Và Nước Ngầm

Mực nước biển dâng sẽ đẩy nút ngăn mặn xa hơn về
phía thượng nguồn. Với lượng mưa ít hơn ở lưu vực,
3

9

“Mega-Stress for Mega Cities”. WWF. />
10


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

4 Quản Lý Tài Nguyên Nước Và Khả Năng Ứng Phó Biến
Đổi Khí Hậu

thành từ các mỏ đá không còn khai thác nhưng ở gần
nhà máy xử lý nước hiện hữu phục vụ một dân số vào
khoảng 200.000 người ở trong và chung quanh khu
vực Southampton. Hồ Little Testwood trở thành một

công trình trữ nước trong khi các hồ còn lại và khu vực
chung quanh được chuyển thành các khu bảo tồn thiên
nhiên.

Workshop

Ho Chi Minh City

Dự án Hồ Testwood có hai lợi ích chính về mặt cấp
nước. Dự án đảm bảo việc cấp nước đáp ứng nhu cầu
cao nhất trong thời gian dòng chảy nước sông thấp
đồng thời đảm bảo phòng chống các sự cố về ô nhiễm
dòng sông ngắn hạn.

Hình 4.1.1 Bản Đồ Vị Trí Các Trường Hợp Nghiên Cứu

4.1



Nâng Cao Khả Năng Ứng Phó
Của Tài nguyên Nước –
Tổng Quan

Câu hỏi đặt ra cho TPHCM là Thành Phố sẽ áp dụng
biện pháp gì để gia tăng khả năng ứng phó đối với tác
động biến đổi khí hậu, như tình trạng nước khan hiếm
hơn trong mùa khô, sự nhiễm mặn mặn tăng lên tại các
vị trí lấy nước sông hiện hữu cũng như tình trạng mưa
khắc nghiệt hơn trong mùa mưa.


dự kiến, đồng thời sẽ giúp Thành Phố đương đầu với
thách thức của việc đô thị hóa tăng cao và sự gia tăng
dân số.
Các phần phụ dưới đây trình bày các trường hợp
nghiên cứu quốc tế đối với từng đề xuất ở trên. Các
trường hợp nghiên cứu này đã được tuyển chọn hoặc
vì các thành phố đó có khả năng bị tổn hại tương tự với
TPHCM hoặc vì chúng tiêu biểu cho các hoạt động tốt
nhất trong từng lãnh vực.

Nhằm thích nghi với những tác động như mùa khô trở
nên khô hơn, mùa mưa có nhiều mưa hơn, Lưu Vực
Sông Đồng Nai (DNRB) cần xây dựng thêm nhiều hồ
chứa nước. Như đã trình bày trong Phần 2, Lưu Vực
Sông Đồng Nai hiện có sức chứa hạn chế so với các
lưu vực khác.

4.2


Việc dự trữ này có thể thực hiện ở thượng nguồn trong
lưu vực hoặc trong phạm vi thành phố. Nếu hồ trữ
nước này ở gần hoặc được kết nối vào các nhà máy
nước hiện hữu thì cũng có lợi cho việc phòng chống
nhiễm mặn đỉnh điểm tại các vị trí lấy nước sông đồng
thời thực hiện chức năng điều tiết lũ.

Với sự gia tăng nhu cầu về nước sẽ có khả năng xác
thực rằng trong những năm khô hạn, lưu vực sẽ bị thiếu

nước theo mùa. Có hai hệ quả chính là sự hạn chế sử
dụng nước có thể trở nên cần thiết và sẽ khó khăn hơn
để cộng đồng chấp nhận sự hạn chế áp đặt lên việc sử
dụng nước ngầm trong khu vực tư nhân.

Các biện pháp sau đây được đề xuất nhằm cải thiện
khả năng ứng phó và thích nghi với biến đổi khí hậu
của Thành Phố liên quan đến việc quản lý tài nguyên
nước:

Việc trữ nước trong các hồ chứa ở lưu vực giúp đảm
bảo có đủ nước để tăng lưu lượng dòng chảy trong
mùa khô nhờ vào lượng nước lưu trữ trong mùa mưa.

• Tăng Cường Khả Năng Lưu Trữ Nước Thô
• Áp Dụng Các Phương Án Chống Nhiễm Mặn

Nâng Cao Dung Lượng
Nước Thô

Như trình bày trong Phần 2.2 lượng nước mặt sẵn có
từ tháng 1 đến tháng 4 là mối quan tâm chủ yếu đối với
Lưu vực sông Đồng Nai.

Các trường hợp nghiên cứu dưới đây cho thấy việc
tăng trữ lượng nước thô đã được các nơi khác thực
hiện như thế nào.

• Thực Hiệc Quản Lý Nhu Cầu


4.2.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu

• Cải Thiện Quản Lý Lưu Vực

Trường hợp nghiên cứu 1 – Dự án Hồ Testwood,
Southampton UK4

Các biện pháp này sẽ mang lại lợi ích thậm chí trong
trường hợp biến đổi khí hậu không nghiêm trọng như

Dự án Hồ Testwood bao gồm ba hồ – Hồ Little
Testwood, Testwood và Meadow. Các hồ này được tạo

Arup cung cấp dịch vụ quản lý dự án, thiết kế và giám sát thi công cho dự án hồ chứa Testwood và trạm bơm nước sông. Việc kiến tạo các khu bảo tồn và thiết lập hệ
thống quan trắc môi trường toàn diện cũng được bao gồm trong phần thông tin tóm lược.

4

11

©Southern Water

Hồ Little Testwood có dung lượng lên tới 270 triệu lít
và nằm cách Sông Test 800m, nơi nước được hút lên
bằng bơm. Trước khi vận hành Hồ Little Testwood
với chức năng hồ chứa, nước thô được bơm từ Sông
Test trực tiếp tới Nhà máy xử lý nước. Tuy nhiên, trong
tình hình khô hạn theo mùa, lưu lượng dòng chảy thấp
khiến cho hoạt động của nhà máy gặp khó khăn vì yêu
cầu phải duy trì dòng chảy cho môi trường ở hạ lưu.

Hình 4.2.1 Dự án Hồ Testwood

Do vậy dự án không chỉ cung cấp cho vùng Southern
Water một công trình tích trữ nước giá trị mà còn mang
lại lợi ích cho cộng đồng địa phương qua việc cung cấp
một công trình tiện ích và giải trí lớn.
Việc thực hiện một công trình trữ nước theo cách này là
một cách mà các cơ quan phụ trách về nước đang áp
dụng để ứng phó tác động biến đổi khí hậu chẳng hạn
như mùa khô kéo dài, đồng thời đảm bảo phòng chống
các nguy cơ ô nhiễm và do vậy rất gần gũi với tình
trạng của TPHCM.

Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Hồ Chứa Plover
Cove ở Hồng Kông
Một phương pháp khác có thể tăng cường dung lượng
nước thô là nâng cao trình của đập tràn hiện hữu.
Các dự án nâng cao đập hiện đang được nghiên cứu
và thực hiện ở Úc, ví dụ như dự án Đập Hinze ở phía
đông nam Queensland chủ yếu nhằm chống lại tác
động của tình trạng hạn hán.5

Hình 4.2.2 Đập Tràn Kiểu Si-phông Plover Cove

Trường Hợp Nghiên Cứu ở Hồng Kông về Hồ Chứa
Plover Cove hoàn thành vào năm 1968. Đập Chính
Plover Cove giữ nước trong một vịnh biển hẹp được
bơm cạn rồi châm đầy nước ngọt vào – quy trình kéo
dài 7 năm để hoàn thành. Dự án này chưa hề được
thực hiện ở nơi nào khác trên thế giới. Trong thiết kế

ban đầu, hồ chứa có dung tích 170 triệu m3, tuy nhiên
để đáp ứng nhu cầu gia tăng người ta đã khảo sát và
hoàn thành một dự án nâng cao cao trình đập vào năm
1973.
Đập tràn ban đầu là một đập có đỉnh rộng và bằng
phẳng có cao trình 8,2m trên cao trình thủy triều thấp.
Các khảo sát cho thấy rằng nếu xây dựng một đập tràn
kiểu si-phông ở phía trên đập cũ thì cao trình giữ nước
có thể nâng lên được 5,2m. Dung lượng có thể tăng
từ 60 triệu m3 lên 230 triệu m3. Gần một phần ba dung
lượng tăng thêm này là do việc áp dụng đập tràn kiểu
si-phông. Việc bố trí đập si-phông cho phép đạt được
một mức xả lớn hơn đối với một cao trình đỉnh đập tràn
nêu trên so với loại đập tràn trọng lực đơn giản.

5

/>
12


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

4.2.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với

TPHCM

Các lợi ích chủ yếu đối với TPHCM khi có thêm dự trữ
nước thô là:
• Tăng lưu lượng dòng chảy trong mùa khô nhằm đáp
ứng nhu cầu trong tương lai
• Duy trì được dòng chảy môi trường và kiểm soát
nhiễm mặn
• Bảo vệ chống ô nhiễm và các sự cố nhiễm mặn cực
đại trong các dòng sông, và
• Tối ưu hóa chất lượng nước thô
Các lợi ích này phần lớn là hiển nhiên nhưng cần lưu ý
rằng việc duy trì các dòng chảy môi trường là một yếu
tố quan trọng để thành phố có thể tiếp tục được hưởng
một hệ thống sông ngòi lành mạnh. Việc tối ưu hóa chất
lượng nước thô đòi hỏi một trữ lượng nhiều hơn nhưng
chất lượng nước thô cũng có thể được cải thiện nếu
Thành Phố có khả năng kết nối các nguồn nước lại với
nhau và điều này cũng đồng thời tăng cường độ tin cậy
của hệ thống. Trường Hợp Nghiên Cứu ở Thượng Hải
trong phần tiếp theo là một ví dụ tốt về cách thực hiện ở
các nơi khác.

Kết Nối Với Nguồn Nước Ngầm Và Phòng Chống
Ngập Lụt
Việc gia tăng khu vực lưu trữ nước không những chỉ
mang lại lợi ích đáp ứng nhu cầu tương lai, nó còn có
thể cải thiện nước ngầm và phòng chống ngập lụt từ
sông. Sự thẩm thấu từ Hồ Thủy Lợi Dầu Tiếng và các
kênh mương liên quan được công nhận là đã mang lại
lợi ích đối với mực nước ngầm ở Tỉnh Tây Ninh, làm
tăng cao trình nước ngầm lên 5m.

Những ảnh hưởng tương tự có thể thấy được từ các
dự án chuyển dòng chảy lớn của sông ngòi vào các hồ
chứa như là một biện pháp phòng chống ngập lụt hoặc
như là một biện pháp thu nước bằng trọng lực vào hồ
chứa nước thô. Nên khảo sát các khả năng đó khi xem
xét nơi bố trí các hồ chứa mới.

Đề Xuất
Chúng tôi đề xuất TPHCM hợp tác với các tỉnh trong
lưu vực sông Đồng Nai tiến hành khảo sát phương thức
tốt nhất để tăng dự trữ nước thô. Hai lĩnh vực nghiên
cứu đã được xác định:





Nghiên cứu các phương án trữ nước gần các trung
tâm nhu cầu của TPHCM vì các phương án này
cũng có thể có lợi ích về mặt quản lý nước ngầm và
phòng chống ngập lụt.






Nghiên cứu xem việc nâng cao trình của đập tràn tại
các hồ chứa hiện hữu trong Lưu Vực sông Đồng Nai
có khả thi không cùng với khả năng kết hợp với các

dự án tăng dung lượng tích nước.

Chúng tôi đề xuất rằng lĩnh vực nghiên cứu đầu tiên
nên được tiến hành trước do có khả năng mang lại
nhiều lợi ích như trình bày ở phần trên. Đồng thời lĩnh
vực nghiên cứu thứ hai cũng tạo ra một số kết quả. Ví
dụ như chúng tôi hiểu rằng Dự Án Tài Nguyên Nước
Phước Hòa do Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB)
tài trợ nhằm mục đích làm tăng trữ lượng của Hồ Thủy
Lợi Dầu Tiếng cho thấy sẽ cải thiện lưu lượng ở hạ lưu
sông Sài Gòn chảy về TPHCM lên 500m3 /ngày.
13

4.3

Chống nhiễm mặn

Có hai cách để chống nhiễm mặn:
Phương pháp thứ nhất là tăng trữ lượng nước thô để
bảo vệ chống lại tác động của việc nhiễm mặn và có
thể cho phép sản xuất nước liên tục tại các nhà máy xử
lý khi nguồn nước thô từ sông trở nên quá mặn trong
mùa khô. Phương pháp này cũng sẽ bảo vệ chống lại
các sự cố ô nhiễm ngắn hạn có thể làm các nhà máy
xử lý phải ngưng vận hành.
Phương pháp thứ hai là cải thiện việc xử lý nước bằng
cách áp dụng một quy trình khử mặn cho nước lợ vận
hành song song với việc xử lý nước mặt thông thường.
Các quy trình xử lý thông thường chẳng hạn như kết
tủa, tạo bông, lắng cặn và lọc không thể loại bỏ muối ra

khỏi nước.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi và dựa trên các tài liệu
chúng tôi đã nghiên cứu, hai phương pháp này còn khá
mới đối với TPHCM mặc dù chúng tôi biết rằng có một
nhà máy khử mặn thí điểm cỡ nhỏ đang được sử dụng
tại Cần Giờ để xứ lý nước biển.

4.3.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu
Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Hồ Chứa Qing Cao
Sha ở Thượng Hải
Có nhiều điểm tương đồng về mặt địa lý giữa Thượng
Hải và TPHCM. Cả hai thành phố đều ở gần các cửa
sông lớn trên vùng đất tương đối trũng thấp và cả hai
thành phố đều thường xuyên chịu ảnh hưởng của triều
cường, giông bão và áp lực bão. Khả năng bị tổn hại
của thành phố đối với tác động biến đổi khí hậu do vậy
khá giống nhau.
Vào tháng 11/12 khi dòng chảy của sông Dương Tử
giảm yếu trong mùa khô, triều cường có thể gây nhiễm
mặn sâu vào nội địa một khoảng cách trên 80km như
ở phía bắc Đảo Chongming. Việc nhiễm mặn này đã
và đang là mối quan tâm chính trong những năm gần
đây do lưu lượng chảy thấp hơn dự kiến, một tình trạng
có thể trở nên xấu hơn theo thời gian do việc xây đập,
khai thác quá mức nước sông và nước ngầm và việc
chuyển nước về phía bắc Trung Quốc. Thêm vào đó,
nguồn nước chính khác của Thượng Hải là sông Hoàng
Phố đang càng ngày càng trở nên ô nhiễm hơn.
Tính khả thi của việc tích trữ nước khối lớn từ sông
Dương Tử và cung cấp cho 20 triệu người của Thượng

Hải đã và đang được ban cố vấn khoa học của chính
quyền nhân dân thành phố nghiên cứu trên hai mươi
năm nay. Việc xây dựng một hồ chứa ở giữa dòng sông
Dương Tử gần Đảo Changxing cuối cùng được chọn
như phương án tốt nhất sau khi xem xét các yếu tố như
có sẵn đất, chất lượng nguồn nước và tính kinh tế của
đường ống và hệ thống bơm cần thiết để chuyển nước
ngọt tới các nhà máy xử lý hiện hữu.
Hồ chứa Qing Cao Sha dự kiến hoàn tất vào năm 2010.
Diện tích của hồ là 70km2, với dung lượng 435 triệu m3
tương đương với nhu cầu dùng nước hiện tại trong 68
ngày.
Một điều cũng đáng lưu ý về công việc Thượng Hải
đang làm là qui mô của mạng lưới ống mà thành phố
đang triển khai để kết nối nguồn nước mới này với các
nhà máy xử lý nước khác nhau nằm dọc theo sông
Hoàng Phố và ở Pudong. Dự án đồ sộ này sẽ tạo ra

một hệ thống nước thô rất lớn cho phép thành phố
có thể tối ưu hóa việc chuyển nước ngọt đến các nhà
máy xử lý trong những năm tới. Điều này có nghĩa là
Thượng Hải sẽ không cần phải áp dụng việc khử mặn
hoặc biện pháp xử lý cao cấp cho nước có chất lượng
thấp để giải quyết các vấn đề về cấp nước của thành
phố như các thành phố khác ở vùng phía bắc khô hạn
của Trung Quốc như Thiên Tân đang làm.

Workshop

Ho Chi Minh City


Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Nhà Máy Khử Mặn
Broken Hill
Broken Hill là một khu định cư nằm ở miền viễn tây tiểu
bang New South Wales của Úc.
Sau thời kỳ khô hạn kéo dài trong khu vực khiến mực
nước trong các Hồ ở Menindee, nơi cấp nước cho khu
Broken Hill, hạ thấp dẫn đến tình trạng nguồn nước
nhiễm mặn. Nhà máy xử lý nước hiện hữu ở Broken
Hill không có khả năng loại bỏ muối khỏi nguồn nước bị
bốc hơi khá nhiều của Hồ Menindee.
Việc nhiễm mặn này không chỉ làm cho nước có mùi
khó chịu mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ tin
cậy và tuổi thọ của trang thiết bị như tháp làm lạnh bốc
hơi và máy nước nóng. Điều này gây hệ quả nghiêm
trọng cho nền kinh tế địa phương và chất lượng cuộc
sống ở một thành phố mà nhiệt độ mùa hè có thể vượt
quá 40°C.
Arup lúc đầu được đề cử xem xét tính hiệu quả của
việc vận chuyển nước bằng đường sắt từ khu vực gần
Crystal Brook ở phía Nam nước Úc tới Broken Hill – cự
ly 350km. Chi phí dự kiến khá lớn. Cần có một giải
pháp thay thế và việc phân tích các phương án sau đó
đưa đến quyết định là xây dựng các dây chuyền khử
mặn tại nhà máy xử lý nước để cải thiện nước có chất
lượng không tốt bằng phương pháp xử lý Thẩm Thấu
Ngược (RO).

Hình 4.3.1 Hồ chứa Qing Cao Sha ở Thượng Hải


Một nhà máy khử mặn theo phương pháp thẩm thấu
ngược có công suất 6.000m3/ngày hiện đang hoạt
động. Nước sản xuất ra không có chất độc hại như kim
loại nặng, hóa chất như natri quá mức và các vi sinh
vật như Giardia và Cryptosporidium. Do vậy nước hoàn
toàn an toàn cho mọi mục đích sử dụng.
Quy trình xử lý theo phương pháp thẩm thấu ngược
(RO) hoạt động bằng cách ép nước áp lực qua một
màng lọc. Màng lọc này được thiết kế đặc biệt sao
cho thành phần muối và các tạp chất khác trong nước
không đi qua được và dung dịch nước muối đậm đặc
được giữ lại và xả như chất thải từ phía trên của màng
lọc. Tại Broken Hill, phần nước muối thải ra được cho
bốc hơi trong các hồ chứa để dễ thải bỏ phần cặn lắng.

Hình 4.3.2 Nhà máy khử mặn Broken Hill

4.3.2 Các lợi ích và đề xuất đối với

TPHCM
Có những lợi ích rõ ràng đối với TPHCM từ việc đảm
bảo nguồn nước cung cấp vẫn nằm trong giới hạn cho
phép về độ mặn. Kinh nghiệm từ Úc và các nơi khác
cho thấy là nước nhiễm mặn không chỉ khó uống mà
còn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính năng hoạt
động và tuổi thọ của ống nước và các thiết bị gia dụng
như máy điều hòa không khí cũng như các quy trình
công nghiệp kể cả quy trình làm mát bằng bốc hơi.
Do đó, điều quan trọng là các nguồn cấp nước cho
Thành Phố phải được duy trì sao cho độ mặn vẫn nằm

trong giới hạn cho phép không quá 250mg/l.

14


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

Workshop

4.4.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu

Ho Chi Minh City

Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Quản Lý Nhu Cầu
Nước ở Jordan
Jordan là một trong số các quốc gia khô hạn nhất trên
thế giới. Phần lớn các khu vực nội địa có lượng mưa
hàng năm ít hơn 50mm. Chỉ số áp lực nước của Jordan
chỉ ở mức 140m3 /người /năm, một trong những chỉ
số thấp nhất so với bất cứ ở đâu. Các quốc gia có chỉ
số áp lực nước ở mức thấp hơn 1.700m3 /người /năm
được xem là có căng thẳng về nước, các quốc gia có
chỉ số dưới 1.000m3 /người /năm được xem là khan
hiếm nước. Các quốc gia như Jordan có chỉ số dưới
500m3 /người /năm được xem là bị khan hiếm tuyệt đối.
Chương trình IDARA – Xây dựng Quản Lý Nhu Cầu

Nước ở Jordan là một chương trình rộng khắp về các
sáng kiến quản lý nhu cầu về nước có mục đích giảm
tối đa mức sử dụng nước. Chương Trình hiện do Ban
Quản Lý Nhu Cầu Nước thuộc Bộ Nước và Thủy Lợi
chỉ đạo với sự hỗ trợ của USAID cùng với các đơn vị
khác.
Jordan không chỉ khan hiếm nước mà còn thiếu vốn.
Quốc gia này không có khả năng đáp ứng nhu cầu của
dân số đang tăng qua việc đầu tư vào các dự án cung
cấp. Họ cần phải có sự tham gia trực tiếp của từng
người dân vào các nỗ lực bảo tồn nước.
Hình 4.4.1 Lượng Mưa ở Jordan

Đề xuất

4.4

Nhằm đạt tới các giải pháp khả thi để phòng chống hiện
tuợng nhiễm mặn nước sông đang gia tăng, Thành Phố
nên tiến hành khảo sát các phương án khác nhau, bao
gồm:

Nước sạch là một tài nguyên quý giá. TPHCM có thể
bị thiếu nước theo mùa trong tương lai nếu không có
hành động cụ thể.

• Dự trữ và phân phối nước thô trong một mạng lưới
như đang được thực hiện ở Thượng Hải, và
• Xử lý nước lợ bằng cách áp dụng công nghệ
màng lọc.

Phương án tốt nhất có thể là kết hợp cả hai phương
pháp này.
Vấn đề kinh tế then chốt trong hoạt động của các nhà
máy khử mặn nước lợ là việc chọn màng lọc. Thiết kế
nên dựa vào hàm lượng muối trong nước sẽ được xử
lý. Cấp độ hoặc kết cấu của màng lọc sẽ quyết định
áp lực cần thiết để ép nước đi qua và giữ lại các thành
phần muối trong nước ở phía trên của màng lọc.
Do vậy việc trộn lẫn các nguồn nước có hàm lượng
muối khác nhau có thể mang lại lợi ích kinh tế đồng thời
có thể chỉ cần xử lý một phần nước cần sản xuất áp
dụng quy trình màng lọc nhằm đáp ứng tiêu chuẩn yêu
cầu.
Đề nghị Thành Phố tiến hành khảo sát cách thức và
địa điểm xây dựng các hệ thống dự trữ mới và làm thế
nào để có thể triển khai một mạng lưới nước. Các biện
pháp này sẽ làm giảm ảnh hưởng của việc tăng độ mặn
tại các vị trí lấy nước sông hiện hữu đồng thời làm cho
hệ thống cấp nước vững mạnh hơn và có khả năng cao
hơn để phòng chống các sự cố ô nhiễm nguồn nước.

Thực Hiện Quản Lý Nhu Cầu

Quản lý nhu cầu là một phần quan trọng trong quy
hoạch tài nguyên nước vững mạnh và có khả năng ứng
phó của bất cứ thành phố nào chứ không chỉ đối với
TPHCM. Các phương pháp “không gia tăng cung cấp
chỉ dựa vào nhu cầu” là rất quan trọng để Thành Phố
có thể tận dụng tối đa một nguồn tài nguyên có khả
năng suy giảm do tình trạng khí hậu khô hạn hơn trong

tương lai.
Việc bảo tồn nguồn nước có thể được xem xét tại một
số cấp độ như:
• Giảm thất thoát trong các hệ thống truyền dẫn và
mạng lưới đường ống
• Sử dụng các phương pháp sử dụng hiệu quả hơn
• Tái chế nước
• Sử dụng các thiết bị hiệu quả hoặc tiết kiệm nước
• Áp dụng các biện pháp tài chính để bảo đảm nước
được cung cấp đến các đối tượng sử dụng có giá trị
kinh tế/xã hội cao nhất
• Đảm bảo sông ngòi được duy trì ở tình trạng trong
lành và lợi ích như các hệ sinh thái

Chương trình IDARA thực hiện điều này thông qua việc
thay đổi chính sách về nước, các quy định mới, sự hỗ
trợ của các cơ quan, công nghệ hiện đại, các bài học
quản lý tốt nhất, giáo dục và tư vấn.
Đây có thể là chương trình giảm thiểu nhu cầu toàn
diện và lớn nhất trên thế giới.
Dưới đây là một số ví dụ về những gì đã đạt được:
• Giảm 40% nhu cầu về nước trong các công trình
nhà cao tầng mới ở thủ đô Amman nhờ thực hiện
quy chuẩn mới về xây dựng được tư vấn, và
• Giảm từ 15% đến 20% nhu cầu về nước trong các
khu dân cư tham gia vào chương trình tư vấn
IDARA.
Điều đáng lưu ý là các công ty thuộc khu vực tư nhân
như HSBC cũng trở thành thành viên trong chương
trình, hỗ trợ các dự án bảo tồn nước.

Khu vực nông nghiệp là nơi tiêu thụ nước nhiều nhất ở
Jordan, ước khoảng 63% tổng nhu cầu về nước. Một
số biện pháp được áp dụng để giảm bớt nhu cầu này
là:
• Tái sử dụng nguồn nước thải đã qua xử lý cho việc
tưới tiêu – chiếm tới 14% tổng mức sử dụng vào
năm 2004.
• Thay đổi kỹ thuật tưới tiêu đồng thời áp dụng các
công nghệ tưới tiêu hiện đại.
• Thay đổi giống cây nông nghiệp sang các loại cây
trồng sử dụng ít nước hơn và có hiệu quả kinh tế
cao hơn như lê, xoài, và
• Đặt ra các mức lệ phí đối với nước bơm lên từ giếng
sử dụng cho mục đích nông nghiệp.

Hình 4.4.2 Tuyến ống Truyền Dẫn Nước Old A Rita

Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Quản lý Nhu Cầu
Nước – Công Ty Manila Water 6
Từ năm 1997, Công ty Manila Water (MWC) trở thành
công ty nhượng quyền ở khu vực phía đông cho các dịch
vụ về nước và nước thải ở Metro Manila. Các hoạt động
chính của công ty là cấp nước, cung cấp các dịch vụ về
vệ sinh và nước thải cho khoảng 6 triệu dân trong 23
thành phố và đô thị ở phía đông Metro Manila và Rizal.
Điều đáng lưu ý là chiến lược về Nước Thất Thu của
công ty đã được bình chọn là “Dự Án Nước Hiệu Quả
Trong Năm” của các Giải Thưởng về Nước Toàn Cầu
2010.
Chiến lược về Nước Thất Thu của công ty MWC đề

cập đến tình trạng rò rỉ, kết nối bất hợp pháp và lấy cắp
nước, đồng thời kết hợp động thái xã hội và bài học kỹ
thuật tốt nhất.
Dưới đây là một số đặc điểm của chiến lược:






Lượng nước thất thu giảm từ 63% vào năm 1997
xuống 16% vào cuối năm 2009 trong khi đó, vào cùng
thời điểm, dân số được phục vụ tăng gấp đôi thành 6
triệu người, đồng thời mức độ hài lòng của khách
hàng được báo cáo là tăng từ 3% lên 100%.









Việc quản lý mạng lưới được chia ra thành 255 khu
vực quản lý nhu cầu với các cán bộ quản lý theo vùng
phụ trách hoạt động tại địa phương. Qua sự gắn bó
của cán bộ quản lý với cộng đồng mà họ phục
vụ và việc áp dụng các chương trình cấp nước
cho dân nghèo đô thị, vấn đề đấu nối bất hợp

pháp phần lớn đã được loại trừ.

Arup tham gia vào việc xem xét và đánh giá các hồ sơ về CCTV và các kết quả thí nghiệm bê tông; tiến hành các nghiên cứu so sánh đối với các phương án bọc lại lớp
lót một cách kinh tế nhất, soạn thảo và xem xét các hồ sơ thầu thi công và thiết kế, đồng thời đánh giá về mặt kỹ thuật các hồ sơ dự thầu thay mặt cho công ty MWC.
Ngoài ra, Arup còn thực hiện nghiên cứu khả thi, đánh giá chi tiết và triển khai chiến lược khôi phục.

6

15

16


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

Workshop

• Một chương trình thay thế đường ống quy mô lớn
đang được thực hiện với trên 3.000km đường
ống được thay thế.







Ho Chi Minh City

Mức giảm lượng nước thất thu năm 2009 đã đạt
được sau khi làm vệ sinh phần lớn mạng lưới,
tháo gỡ các đường ống không sử dụng, lắp đặt các
van giảm áp và khôi phục các đường ống cũ và
không còn sử dụng.

Hình 4.5.1 Hồ Chứa
Murray Darling

Như một phần của chương trình cân bằng cung cấp
của công ty MWC nhằm tăng cường hiệu quả trong các
hoạt động cấp nước, một số dự án kỹ thuật đang được
thực hiện.
Dự án tuyến ống truyền dẫn AQ2 liên quan đến việc
khôi phục tuyến ống phân phối nước chính không vận
hành. Đường ống dẫn nước bằng bê tông cốt thép dài
2.9km, đường kính 1.525mm được đưa vào vận hành
trở lại để giảm bớt áp lực trên tuyến ống chính khác
và tạo tính linh hoạt trong vận hành của mạng lưới cấp
nước.
Một phần khác của cùng chương trình cân bằng cung
cấp tổng thể là khôi phục tuyến ống truyền dẫn Old A
Rita. Đây là một đường ống cấp nước chính bằng gang
có ĐK 900 -1.350mm, dài 5.5km được lắp đặt trong
thập niên 1940 và hoạt động cho tới năm 2004. Sau
khi được khôi phục, đường ống này sẽ hoạt động như
tuyến truyền dẫn chính cung cấp nước cho Khu Trung
Tâm Makati và giảm bớt sự lệ thuộc của Thành Phố

vào các tuyến ống nhỏ hơn.

4.4.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với
TPHCM
Các trường hợp nghiên cứu trên đây chứng tỏ sự quyết
tâm trong việc giảm thiểu nhu cầu về nước và sự thất
thoát, đồng thời nâng cao tính hiệu quả mang tính toàn
diện trong lĩnh vực, xem việc cấp nước và bảo tồn
nước như một mục tiêu xã hội thông qua việc giáo dục
và tư vấn cũng như một cơ hội để áp dụng các bài học
kỹ thuật tốt nhất.
TPHCM có thể được lợi về các mặt dưới đây do việc
quản lý nhu cầu tốt hơn:


Bằng cách giảm bớt nhu cầu tưới tiêu, lượng nước
có sẵn sẽ nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích
mang lại giá trị cao hơn chẳng hạn như nước sinh
hoạt và dùng cho công nghiệp ở hạ lưu và việc
kiểm soát nhiễm mặn hiệu quả hơn nhờ lưu lượng
dòng chảy cao hơn.



Bằng cách giảm bớt nhu cầu nước trong công
nghiệp Thành Phố sẽ có nhiều khả năng hơn để
bảo tồn tài nguyên nước ngầm vì nước ngầm là
nguồn thông dụng cho công nghiệp.




Bằng cách giảm bớt nhu cầu nước cho sinh hoạt
và giảm bớt sự thất thoát qua mạng lưới đường
ống, lượng nước sạch có giá trị cao này sẽ dùng
để phục vụ một dân số đông hơn trong tương lai.

Các đề xuất
Chúng tôi hiểu rằng TPHCM đã tiến hành các bước
cải thiện quản lý tài nguyên và giảm bớt mức rò rỉ qua
mạng lưới đường ống. SAWACO đang hợp tác với

17

công ty Manila Water để cải thiện việc phát hiện rò rỉ
và ứng dụng các kỹ thuật khôi phục và thay thế đường
ống.
Do đó, đề xuất của chúng tôi tập trung vào các vấn đề
Thành Phố nên nghiên cứu nhằm giảm thiểu nhu cầu
về nước trong nông nghiệp và công nghiệp.

Nông nghiệp
Lượng nước thất thoát do thẩm thấu và bốc hơi tại các
kênh thủy lợi có thể rất cao, và các thất thoát do thẩm
thấu này không phải lúc nào cũng có lợi cho những đối
tượng sử dụng ở hạ lưu.
Chúng tôi đề xuất hai phương pháp để quản lý nhu cầu
nước trong nông nghiệp. Phương pháp đầu tiên là tiến
hành rà soát tình trạng của các hệ thống truyền dẫn
tưới tiêu hiện hữu ở khu vực Hồ Dầu Tiếng cung cấp.
Từ việc rà soát này, chúng ta sẽ hiểu biết rõ hơn về quy

mô thất thoát từ hệ thống và nơi nào có thể được cải
thiện. Việc bọc lót kênh hay thậm chí lắp đặt đường ống
tưới tiêu có kinh tế hay không tùy thuộc vào giá trị của
lượng nước thất thoát so với chi phí của các công trình
cải thiện dự kiến và thời gian mà đầu tư đó cần để thu
hồi vốn.
Phương pháp thứ hai (như đã thực hiện ở Jordan) là
xem xét và định chuẩn các kỹ thuật tưới tiêu hiện hữu
cũng như các loại hoa màu đang được canh tác để tìm
xem liệu có kinh tế hay không nếu thực hiện việc cải
thiện ở nơi khác, xét về mặt hao hụt nước ở khu vực
cấp nước Dầu Tiếng.

Công nghiệp
Công nghiệp ở TPHCM sử dụng khá nhiều nước ngầm
chủ yếu do các lý do về lịch sử nhưng đồng thời cũng vì
lý do kinh tế, thậm chí ngay cả khi nguồn cấp nước của
SAWACO có sẵn. Do vậy việc quản lý nhu cầu là quan
trọng nếu muốn giảm thiểu sự cạn kiệt nguồn nước
ngầm và tránh được sự nhiễm mặn nguồn nước ngầm
do mực nước biển dâng cao.
Tiểu bang Victoria phía Nam nước Úc hiện nay đang
buộc tất cả các cơ sở công nghiệp có luợng nước tiêu

thụ 10 triệu lít hoặc nhiều hơn mỗi năm phải xây dựng
Kế Hoạch Hành Động cho việc Quản Lý Nước (MAP).
Điều này có nghĩa là những người sử dụng nước như
vậy phải :
• Đánh giá việc sử dụng nước của họ
• Xác định các điểm không hiệu quả và các cơ hội để

tiết kiệm nước
• Soạn thảo một kế hoạch hành động nhằm thực hiện
các hoạt động bảo tồn nước.
• Báo cáo hàng năm về việc thực hiện các hoạt động
bảo tồn nước.
Theo ước tính thì các khách hàng thuộc có Kế Hoạch
Hành Động trong năm 2008/09 trên khắp Tiểu Bang đã
tiết kiệm được khoảng 5 triệu lít nước.
Ngành công nghiệp TPHCM cần tìm ra các phương
thức tương tự để thực hiện các biện pháp Quản Lý
Nước. Ví dụ như điều này có thể bổ sung vào các kế
hoạch của Sở Công Thương nhằm cải thiện tính hiệu
quả về năng lượng và giảm nhu cầu về năng lượng.

4.5


Cải Thiện Quản Lý Lưu Vực
Sông

Trên thế giới người ta đã nhận ra rằng trong một thời
gian nào đó các lưu vực sông là tài sản quốc gia có giá
trị và việc quản lý tài nguyên nước không thể nằm trong
tay của các lợi ích riêng lẽ, chẳng hạn như thủy điện
hoặc nông nghiệp.
Các lưu vực cần được quản lý vì lợi ích của tất cả các
bên liên quan và các hệ sinh thái lệ thuộc vào các hệ
thống sông ngòi trong lành. Để thực hiện điều này một

cách hiệu quả cần phải có sự đầu tư thời gian và nguồn

lực từ các cơ quan chính quyền.
Việc quản lý lưu vực không nên chỉ quan tâm vào việc
sử dụng tốt nhất tài nguyên nước. Việc quản lý hiệu
quả tình trạng ngập lụt do nước thải ra từ các hồ chứa
và các dòng chảy vào ở hạ lưu cũng cần được quan
tâm.

4.5.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu
Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Hồ Chứa Murray –
Darling ở Úc
Hồ Chứa Murray-Darling bao quanh các tiểu bang
Queensland, New South Wales, Victoria và South
Australia và trong một thời gian dài việc bố trí quản lý
cho hồ chứa được chỉ đạo bởi từng tiểu bang riêng biệt.
Việc chỉ đạo này không phải lúc nào cũng êm xuôi và
xung đột thường xảy ra.
Năm 2007, Chính phủ Úc công bố một chương trình 12
tỷ đô-la để tiếp quản hồ chứa đang xuống cấp do bị khô
hạn nghiêm trọng và việc phân bổ nước quá nhiều cho
nông nghiệp.
Ngày 3 tháng 7 năm 2008 một phiên họp của Hội Đồng
Chính Phủ Úc (COAG), Thủ Tướng Chính Phủ, Thủ
Hiến các tiểu bang New South Wales, Victoria, South
Australia và Queensland và Lãnh Đạo của Australian
Capital Territory cùng ký kết một Thỏa Ước Liên Chính
Phủ về Việc Cải Tạo Hồ Chứa Murray-Darling, chỉnh
sửa Đạo Luật Nước 2007.
Thỏa ước này bao gồm:
• Thành lập một Ban Quản Lý Hồ Chứa Murray-
Darling độc lập để soạn thảo một Kế Hoạch cho Hồ

Chứa, và

18


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

• Tăng cường vai trò của Ủy Ban Cạnh Tranh và
Người Tiêu Dùng (ACCC) trong việc điều hòa thị
trường nước và chi phí sử dụng nước.
Việc thành lập Ban Quản Lý Hồ Chứa Murray-Darling
(MDBA) có nghĩa rằng lần đầu tiên một đơn vị duy
nhất chịu trách nhiệm về việc lập kế hoạch quản lý
thống nhất cho tài nguyên nước của Hồ Chứa Murray–
Darling.
Vai trò chính của Ban Quản Lý là soạn thảo Kế Hoạch
Hồ Chứa mà, lần đầu tiên, đề ra một giới hạn bền
vững lâu dài đối với việc sử dụng cả nước mặt và
nước ngầm trong khu vực Hồ Chứa Murray-Darling. Kế
hoạch này sau đó được công bố cho công chúng tham
khảo vào năm 2010.
Ban Quản Lý Hồ Chứa Murray-Darling chịu trách nhiệm
về việc quản lý một cách thống nhất và bền vững tài
nguyên nước trong Lưu Vực, bao gồm quản lý việc
mua bán và phân bổ nước, chất lượng nước, các hoạt
động tưới tiêu và quản lý nước ngầm.

Các chương trình bổ sung mà BQL thực hiện bao gồm:







Sự tham gia của các bên liên quan: một bộ phận
quan trọng trong việc xây dựng Kế Hoạch Hồ Chứa.
Giúp mọi người hiểu về quy trình xây dựng kế
hoạch, nội dung, các tác động tiềm năng và cung
cấp các cơ hội để mọi người tham gia đóng góp vào
kế hoạch.

• Việc Kiểm Tra Sông mang tính Bền Vững: theo dõi
sự trong lành của lưu vực.





Chương Trình Quan Trắc Chất Lượng Nước Sông
Murray: mục tiêu chính của chương trình này là thu
thập các thông số hóa lý tại 36 điểm dọc theo sông
Murray và các vùng hạ lưu của các nhánh sông.

Trách nhiệm quan trắc chất lượng nước của BQL
Hồ Chứa Murray là một khía cạnh của Trường Hợp
Nghiên Cứu này, là mối quan tâm cụ thể hiện nay đối


Workshop

với TPHCM. Mặc dù Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường của
Thành Phố (HEPA) quan trắc chất lượng nước tại hệ
thống sông ngòi khu vực và ấn hành một báo cáo hàng
năm, nhưng thông tin cho Thành Phố về tình trạng trong
lành của nước trong chính lưu vực thì lại thiếu.

Ho Chi Minh City

1 Flood Management and
Climate Resilience

Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Kế Hoạch Quản Lý
Nước Sông Nipigon ở Ontario
Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên của Ontario (MNR) chịu
trách nhiệm về việc điều hòa mực nước trong Hồ
Nipigon. Hồ Nipigon và các khu vực chung quanh của
lưu vực Ngũ Đại Hồ sở hữu một khối lượng lớn tài
nguyên nước thiên nhiên. Các tài nguyên này đã và
đang được khai thác để làm thủy điện, nuôi cá thương
mại, cấp nước và các hoạt động giải trí.
Nhiều nhà máy thủy điện đã được xây dựng trong phạm
vi các lưu vực này để cung cấp điện cho các cộng
đồng dân cư ở Hoa Kỳ và Canada. Duy trì mực nước
hồ tối ưu là một yếu tố quan trọng trong việc xác định
doanh thu từ việc phát điện thủy lực. Tuy nhiên, việc
giữ nguyên mực nước cao trong các lưu vực ở thượng
nguồn cũng có thể đưa tới sự xói mòn nghiêm trọng bờ

sông, gây ngập lụt và thậm chí cả tổn thất cho tài sản
dọc theo bờ sông và ven bờ hồ. Mực nước thấp cũng
có thể gây ra các vấn đề cho các công trình tàu thuyền
và có thể ảnh hưởng đến các vị trí thu nước. Thời gian
của các biến động về cao trình mực nước cũng khá
quan trọng cho việc sinh sản của cá và biến động lớn về
cao trình mực nước có thể gây ra các vấn đề cho giao
thông thủy.
Để xây dựng một kế hoạch quy định về mực nước cho
lưu vực Sông Nipigon, cần có sự nhất trí giữa các bên
liên quan khác nhau chung quanh hồ và dọc theo dòng
sông. Các bên liên quan bao gồm các công ty thủy điện,
các cơ sở nuôi cá thương mại, chủ sở hữu các bất động
sản ven bờ, các nhà điều hành tiện ích đô thị, ngư dân,
du khách và các công ty vận tải.

Năm 1990, Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên tiếp xúc với
Công ty Ontario Hydro để thảo luận về việc điều chỉnh
các hoạt động vận hành hồ chứa nhằm giảm bớt các
biến động quá lớn và thường xuyên về lưu lượng đang
tác động lên sự sinh tồn của giống cá hồi nước ngọt và
một thỏa ước tạm thời về lưu lượng đã được lập vào
tháng 9 - 1990.
Sau đó, Ban Quản Lý Sông Nipigon được thành lập
nhằm đáp ứng các nhu cầu về giải trí, công nghiệp và
thương mại đang tăng ở lưu vực Sông Nipigon cũng
như giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên
sử dụng nguồn nước.
Nhằm đạt được một kết quả công bằng, một quy trình
được các đơn vị tư vấn cho Bộ TNTN triển khai dựa

trên kỹ thuật lập trình động lực để hỗ trợ cho việc thiết
lập các quy định về mực nước tối ưu. Các hoạt động xử
phạt được xây dựng để đại biểu cho chế độ mực nước
thích hợp đối với từng bên liên quan. Các hoạt động xử
phạt này được kết hợp với một hệ số gia trọng nhằm
phản ánh tầm quan trọng tương ứng của từng bên liên
quan. Mức độ quan trọng tương ứng của các hoạt động
xử phạt đối với bên liên quan được dựa trên các yếu tố
như ảnh hưởng môi trường, ảnh hưởng kinh tế và sự
phân bổ những ảnh hưởng này. Các hoạt động xử phạt
nặng được áp dụng cho hệ thống quản lý phát triển để
ban hành các quy định về mực nước khác nhau.
Nhờ việc này mà vào năm 1994, thỏa ước tạm lúc đầu
với các công ty thủy điện được mở rộng thành một kế
hoạch quản lý đường phân thủy, tạo ưu tiên cao hơn
cho các nhu cầu của ngành công nghiệp đánh cá – cả
về nghề đánh cá thương mại và đánh cá thể thao.

Hình 4.5.2 – Sông
và Hồ Nipigon

19

Kế hoạch này vẫn còn hiệu lực cho tới nay và các cải
tiến to lớn trên dòng sông đã được ghi nhận kể từ khi
kế hoạch được thiết lập. Vào năm 2002, việc chỉnh sửa
Đạo Luật Cải Thiện Sông Hồ vùng Ontario được thực
hiện, yêu cầu thực hiện các kế hoạch quản lý nguồn
nước đó cho tất cả các đập và các kết cấu kiểm soát
nước trong lưu vực. Các kế hoạch này phải qui định cụ

thể các phương án về lưu lượng và mực nước công
nhận nhu cầu của các bên sử dụng.

4.5.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với
TPHCM
Việc quản lý lưu vực được cải thiện sẽ mang lại các lợi
ích cho TPHCM trong các lĩnh vưc dưới đây:
• An ninh nguồn nước bằng cách đảm bảo việc phân
chia công bằng về tài nguyên giới hạn
• Kiểm soát được ô nhiễm nguồn nước, và
• Phòng chống ngập lụt
Ba lợi ích này liên kết qua lại, và do vậy điều căn bản
là trong tương lai, lưu vực sẽ trở thành hình mẫu về
phương diện phòng chống ngập lụt cũng như dung
lượng tích nước và chất lượng nước.

Đề xuất
Các trường hợp nghiên cứu nêu trên minh họa cách
thức hai quốc gia đã tìm ra để đạt được sự phân chia
công bằng đối với tài nguyên tài nguyên nước mà sẽ
trở nên ngày càng quan trọng đối với khả năng ứng phó
và thích nghi của TPHCM đối với biến đổi khí hậu.
Trong cả hai trường hợp này, các thỏa ước đã đạt
được bằng sự tham gia của tất cả các bên liên quan lệ
thuộc vào tài nguyên của lưu vực. Vì thế bước đầu tiên
của Thành Phố là xác định các bên liên quan và tầm
quan trọng tương ứng của họ là gì. Sự phân bổ tổng
nhu cầu trong Hình 2.2.2 được nghiên cứu cách đây
một thời gian vì thế có thể không phản ánh chính xác
tình hình hiện nay và cần được cập nhật. Công việc này

cần được thực hiện trên cơ sở một cơ cấu về giá nước
phản ánh giá trị đối với nền kinh tế của từng mục đích
sử dụng nước so với tác động môi trường của mục tiêu
sử dụng đó.
Để có hiệu quả, các thỏa ước trên phải được cũng cố
và bắt buộc thi hành thông qua pháp chế bởi các cơ
quan chính quyền độc lập. Các quy định pháp lý về
nước hiện nay áp dụng cho Nam Việt Nam cần được
xem xét và định chuẩn so với các thỏa ước ở trên và
các thỏa thuận tương tự, các Đạo Luật của các thể chế
khác cũng như các đề xuất thay đổi được thảo luận tại
cấp độ chính sách trong chính phủ.

20


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

5 Phòng Chống Ngập Lụt Và Khả Năng Ứng Phó Với Biến

Đổi Khí Hậu

Workshop

sang phía đông tới Sông Edo. Dự án gồm 5 giếng thu
thẳng đứng (ĐK 32m và sâu 50m) được kết nối bằng

một đường hầm nước ngầm dưới đất dài 6,3km, có ĐK
10m. Như trình bày trong Hình 5.2.1 dưới đây, độ dốc
thủy lực trong hệ thống đường hầm dẫn nước mưa đã
xả nước lũ vào bể chứa ngầm ở hạ lưu. Trạm bơm đặt
gần bể chứa bơm nước lũ vào Sông Edo với công suất
tối đa là 200m3/gy.

Ho Chi Minh City

Kênh chuyển dòng Sông Kanda
Sông Kanda hiện hữu có lưu lượng dòng chảy hạn chế
nhưng việc mở rộng lòng sông để tăng lưu lượng dòng
chảy bị hạn chế bởi các công trình hiện hữu và việc sử
dụng đất dọc theo hai bên bờ sông. Để khắc phục các
hạn chế này, một cống hộp chạy dọc bên dưới đường
gần Sông Kanda được đề xuất nhằm bổ sung lưu
lượng dòng chảy cho Sông Kanda.
Bể chứa ngầm ở Sông Meguro

Hình 5.1.1 Bản Đồ Các Trường Hợp Nghiên Cứu

5.1


Nâng Cao Khả Năng Ứng Phó
Ngập Lụt Đô Thị - Tổng Quan

Câu hỏi mấu chốt đặt ra cho TPHCM là Thành Phố cần
áp dụng biện pháp gì để phát triển khả năng ứng phó
đối với tác động biến đổi khí hậu. Về phương diện ngập

lụt đô thị thì những tác động này là mực nước biển dâng
và mưa khắc nghiệt trong mùa mưa.
Nhằm thích nghi với tình trạng mực nước biển dâng,
Thành Phố đang dự kiến thực hiện dự án đê bao nhưng
đê bao chưa phải là giải pháp duy nhất. Để phòng
chống với mùa mưa khắc nghiệt hơn, Thành Phố cần
xây dựng thêm các khu vực chứa nước mưa. Như giải
thích dưới đây, Thành Phố hiện nay có ít không gian
xanh hơn nhiều thành phố khác và điều này sẽ không
có lợi cho thành phố trong việc phòng chống ngập lụt
đô thị.
Khu vực trữ nước mưa có thể ở thượng nguồn trong
các hồ chứa ở lưu vực hoặc trong phạm vi Thành Phố
như các hồ chứa “ướt” và “khô”. Nếu khu vực trữ nước
ở gần và được kết nối vào các nhà máy nước hiện hữu
thì có thể có lợi trong việc phòng chống cao điểm nhiễm
mặn tại các vị trí thu nước sông cũng như có chức năng
trữ nước lũ.
Do đó, các biện pháp dưới đây đã được nghiên cứu
và đề xuất nhằm nâng cao khả năng ứng phó và thích
nghi với biến đổi khí hậu của Thành Phố liên quan tới
việc phòng chống ngập lụt. Các biện pháp này có thể
được xem như các biện pháp “không hối tiếc” vì chúng
sẽ mang lại lợi ích thậm chí nếu như biến đổi khí hậu
ít nghiêm trọng hơn dự báo, đồng thời còn giúp cho
Thành Phố đối phó với sự thách thức của sự đô thị hóa
đang gia tăng. Các biện pháp đề xuất này là:
• Cải thiện mạng lưới thoát nước hiện hữu
• Ứng dụng Thiết Kế Đô Thị Nhạy Cảm Về Nước
(WSUD) vào quy hoạch thành phố

• Thu hoạch nước mưa và bổ sung nguồn nước ngầm
21

Các phần phụ dưới đây trình bày các trường hợp
nghiên cứu quốc tế đối với từng đề xuất ở trên. Các
trường hợp nghiên cứu này được chọn lọc hoặc vì các
thành phố có các khả năng bị tổn hại tương tự như
TPHCM hoặc vì chúng tiêu biểu cho cách làm tốt nhất
trong từng chủ đề.

5.2


Cải Thiện Hệ Thống Thoát
Nước Hiện Hữu

Như đã trình bày ở phần trên, dự án đê bao tự bản
thân sẽ không giải quyết hoàn toàn vấn đề ngập lụt đô
thị. Đây là phản ứng nhạy cảm và tự nhiên đối với ảnh
hưởng của mực nước biển dâng, tuy nhiên cũng cần
phải có thêm nơi tích trữ nước mưa và một hệ thống
thoát nước hiệu quả hơn để có thể giảm thiểu tình trạng
ngập lụt đô thị.

5.2.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu

Một ví dụ khác về việc sử dụng không gian ngầm để
chứa nước lũ là dự án hồ chứa ngầm Sông Meguro. Một
hồ chứa ngầm được xây dựng để tạm thời chứa lượng
nước lũ từ Sông Feguro. Khi dòng chảy trong Sông

Meguro ở mức cao, nước sẽ tràn qua một đập tràn ở
bên vào một hồ chứa ngầm. Nhằm tối đa hóa tiềm năng
phát triển, việc sử dụng đất ở cao trình mặt đất phía
trên hồ chứa ngầm được dành cho việc xây dựng cao
ốc trong đó thiết kế xây dựng của hồ chứa ngầm có tính
đến tải trọng từ công trình xây dựng phía trên.

Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Mạng Lưới Kênh
Đào Ở Khu Pudong Mới, Thượng Hải
Bên cạnh nhiều điểm tương đồng về mặt địa lý giữa
Thượng Hải và TPHCM, hoạt động của hệ thống thoát
nước ở TPHCM sau khi dự án đê bao hòan thành sẽ
tương tự như những gì đang diễn ra ở Khu Phát Triển
Mới Pudong hiện nay. Khu vực này bao gồm một diện
tích 500km2 với dân số khoảng 1,5 triệu người và được
phát triển lần đầu vào thập niên 1990 ở phía đông Sông
Hoàng Phố.
Hệ thống thoát nước của Pudong vận hành như một hệ
thống thoát nước ở khu vực trũng được bao bọc bởi đê
bao. Trong thời gian triều cường và áp lực giông bão,
hệ thống thoát nước trong đất liền hoàn toàn bị cô lập

Hình 5.2.2


Mạng Lưới Kênh Đào ở Khu Phát Triển Mới
Của Pudong

với sông và biển. Pudong có bờ kè của Sông Hoàng
Phố phía tây bảo vệ cho Pudong khi mực nước sông

dâng cao. Phía bắc và phía đông có các tường ngăn
biển hiện hữu với cổng điều tiết tại các cửa kênh trong
đất liền. Khi đóng lại, các cổng điều tiết này ngăn nước
biển và sông để không làm ngập các vùng trũng thấp.
Việc phòng chống ngập lụt đóng một vai trò quan trọng
trong quy hoạch Pudong. Pudong có một mạng lưới
kênh đào vừa đóng vai trò hệ thống thoát nước để thóat
nước mặt ra sông biển đồng thời là hệ thống kênh giao
thông thủy. Các kênh đào hiện đang chiếm khoảng
8% tổng diện tích Pudong và đang có kế hoạch tăng tỷ
lệ phần trăm diện tích đường thủy này lên 12%. Mực
nước trong kênh ban đầu đã được thiết kế một cách
cẩn thận bằng cách nghiên cứu độ cao của mực nước
trong các thời điểm đóng cổng điều tiết để đảm bảo khả
năng đủ để giữ lại nước trong hệ thống kênh nhằm tiếp
nhận lượng mưa khi cổng điều tiết ở hạ lưu đóng lại.
Cơn bão Matsu, tháng 8- 2005
Vào tháng 8 năm 2005, Thượng Hải trải qua cơn bão
Matsu gây ra sự phá hủy và tổn hại nghiêm trọng
cho Thành Phố với 7 người chết. Sức gió đạt tới 147
km/g – cường độ gió giật lớn nhất được ghi nhận ở
Thượng Hải. Theo báo cáo, lượng mưa rơi xuống khu
vực Pudong trong 6 giờ khoảng từ 85mm đến 120mm.

Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Các Biện Pháp Cải
Thiện Tình Trạng Ngập Lụt Dưới Đất ở Tokyo
Tokyo có diện tích đô thị khoảng 2.200km2 với 13 triệu
dân. Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng
1,500mm. Tình trạng ngập lụt tại một số khu vực đô thị
ở Tokyo do mưa lớn và giông bão đã từng là một sự cố

xảy ra đều đặn do khả năng thoát nước không đủ, chỉ
bằng 1/3 tần suất mưa hàng năm. Có nhiều biện pháp
kiểm soát ngập lụt truyền thống bao gồm cải thiện các
công trình thoát nước, cải tạo dòng sông, mở rộng và
nạo vét dòng kênh, nhưng các biện pháp này không
phải luôn luôn khả thi do sự hiện diện của các công
trình hiện hữu dọc theo bờ sông và trong các khu đô thị
đông đúc. Do đó, Tokyo nhắm vào không gian ngầm để
thực hiện các công trình phòng chống ngập lụt.
Đường tháo lũ bên ngoài khu trung tâm đô thị
Nhằm giảm thiểu tình trạng tràn bờ của các dòng sông
Naka, Kuramatsu và Ohotoshi-no-furutone, dự án sau
đây đã chuyển dòng nước lũ từ các dòng sông này

Hình 5.2.1
Mặt Cắt Của
Đường Tháo Lũ
Bên Ngoài Khu
Trung Tâm
Đô Thị

22


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife


Workshop

Do áp suất bão ở Biển Đông gây ra bởi các cơn gió
mạnh, cổng điều tiết ở Sanjiagang (nằm dọc theo một
trong số các kênh chính) buộc phải đóng lại trong 6 giờ.
Hình 5.2.3 dưới đây thể hiện mực nước ghi nhận tại
một trong các trạm đo mực nước dọc theo kênh đào.
Có thể thấy rằng trong thời gian đóng cổng 6 giờ, mực
nước trong kênh dâng cao khoảng 0,75m. Mặc dù có
tình trạng ngập lụt bề mặt cục bộ do hệ thống thoát
nước không đủ khả năng ở thượng nguồn kênh, mực
nước kênh dâng cao vẫn còn trong phạm vi bờ kênh và
không tràn ra ngoài.
Hình 5.2.3 Mực Nước Ghi Nhận Tại Trạm Đo

Trường Hợp Nghiên Cứu 3 – Dự Án Chuyển
Dòng Lũ Trong Đường Hầm Và Quản Lý Nước
Mưa (SMART) ở Kuala Lumpur
Dự án SMART là một giải pháp mang tính sáng kiến
giải quyết 2 vấn đề riêng biệt, ngập lụt và giao thông
ở Kuala Lumpur, thủ đô của Malaysia. Đường hầm
hai công dụng chuyển dòng lũ từ điểm hợp lưu của
hai dòng sông lớn chảy qua trung tâm thành phố trong
khi đó phần giữa của đường hầm được mở gấp đôi
thành đường xe hai tầng để giảm bớt tình trạng tắc
nghẽn giao thông tại cửa ngõ phía nam đi vào trung
tâm Thành Phố. Với chi phí dự án vào khoảng 490 triệu
USD, dự án được hợp tác thực hiện bởi Sở Thủy Lợi
và Thoát Nước và Ban Quản Lý Xa Lộ của Malaysia và
hoàn thành vào tháng 5 năm 2007.


Hình 5.2.4 Mặt Bằng Vị Trí Của Dự Án SMART

Dự án SMART ban đầu được dự trù để giảm bớt
tình trạng ngập lụt thường xuyên ở Thành phố Kuala
Lumpur. Một nghiên cứu đã xác định rằng một nhánh
kéo dài quan trọng của Sông Klang trong Thành Phố
không bảo đảm khả năng. Các giải pháp đề xuất là
hoặc nâng cấp đoạn sông này hoặc giảm bớt lưu lượng
chảy qua sông. Do các điều kiện thực tế khó khăn tác
động bởi các toà nhà cao tầng nằm dọc hai bên bờ của
Sông Klang, hệ thống SMART đã được chọn để chuyển
dòng lũ thông qua một hồ giữ nước, một đường hầm
vòng (dài 9,7km và có đường kính trong 11.8m) và một
hồ chứa.
Trong giai đoạn thiết kế của dự án SMART, ý tưởng
hai công dụng được đưa ra và một đường hầm ô-tô dài
3km được kết hợp vào hệ thống để giảm tình trạng kẹt
xe ở trung tâm thành phố. Khi xảy ra các giông bão,
hệ thống SMART sẽ được kích hoạt và đường ô-tô sẽ
được đóng lại không cho xe cộ giao thông. Thời gian
được tính tóan đủ để cho phép chiếc xe cuối cùng thoát
ra khỏi đường hầm ô-tô trước khi các cổng kín nước tự
động mở ra cho nước lũ tràn vào hầm.

Hình 5.2.5 Ba Chế Độ Vận Hành Của Hệ Thống SMART

Hoạt động của SMART dựa trên dự báo lũ lụt và hệ
thống quan trắc mực nước đáng tin cậy. Điều này đạt
được bằng cách lắp đặt một bộ vũ lượng kế tối tân, các

trạm đo mực nước và lưu lượng của sông và một hệ
thống đo từ xa thời gian thực với các mô hình thủy văn
và thủy lực của mạng lưới sông ngòi để phân tích các
dữ liệu quan trắc này.

Trường Hợp Nghiên Cứu 4 – Công Trình Cải
Thiện Hệ Thống Thoát Nước Bằng Hầm Chuyển
Dòng Và Bể Chứa Nước Lũ Ngầm Dưới Đất ở
Hồng Kông
Tình trạng ngập lụt nghiêm trọng trong một khu vực
đông dân và chật chội ở Hồng Kông (Mongkok) khi
có mưa dông lớn đã xảy ra vào mùa hè năm 1997 và
1998. Để giải quyết vấn đề này, chính quyền Hồng
Kông đã thực hiện một loạt dự án lớn để cải thiện hệ
23

Ho Chi Minh City

Kai Tak Transfer
Tunnel
(1.5km 4m dia.)

Tai Hang Tung Flood
Storage Tank
(100,000m3)

thống thoát nước. Ngoài các biện pháp cải thiện cục bộ
chẳng hạn như tăng kích thước một số đoạn quan trọng
của đường ống/cống thoát nước, tâm điểm của dự án
cải thiện hệ thống thoát nước là (i) Hầm Trung Chuyển

Kai Tak và (ii) Bể Chứa Lũ Tai Hang Tung, vị trí được
thể hiện trong Hình 5.2.6.

Hầm Trung Chuyển Kai Tak
Nhằm giảm khối lượng nước mưa chảy vào khu
Mongkok từ thượng nguồn nội địa, Hầm Trung Chuyển
Kai Tak chuyển dòng khoảng hai phần ba lượng nước
mưa vào một đường hầm ngầm dài 1,5km có đường
kính 4m bằng một công trình thu nước. Thay vì đào
đường để nâng cấp nhiều km hệ thống thoát nước hiện
hữu ở Mongkok, mà sẽ gây cản trở giao thông và ảnh
hưởng đến nhiều kết cấu và tiện ích kỹ thuật ngầm hiện
hữu, phương án chuyển dòng ở thượng nguồn này đã
được đề xuất. Đề xuất áp dụng phương pháp thi công
đường hầm giúp giải quyết vấn đề đất đai, giảm thiểu
ảnh hưởng giao thông và sự xáo trộn cộng đồng.
Bể Chứa Lũ Tai Hang Tung
Ngoài đường hầm trung chuyển ở thượng nguồn, một
bộ phận chính khác của dự án cải thiện hệ thống thoát
nước là Bể Chứa Tai Hang Tung. Bể chứa ngầm có
dung tích 100.000m³ này được xây dựng bên dưới một
sân bóng đá hiện hữu. Một hệ thống đập tràn bên và
công trình xả nước tràn được xây dựng để thu dòng
nước mưa quá mức từ lưu vực ở thượng nguồn chảy
vào bể chứa để trữ tạm thời. Lượng trữ lại được bơm
trở lại vào hệ thống thoát nước sau khi dòng chảy cao
nhất rút xuống hạ lưu.
Tình trạng ngập lụt ở Mongkok đã được cơ bản giải
quyết bằng dự án cải thiện thoát nước này. Tổng chi
phí dự án ước tính vào khoảng 550 triệu USD.


Urban Flooding Area

Hình 5.2.6 Công
Trình Cải Thiện
Hệ Thống Thoát
Nước (Bể Chứa
Lũ Tai Hang Tung
và Hầm Trung
Chuyển Kai Tak)

5.2.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với
TPHCM
Để phòng chống ngập lụt đô thị, hệ thống thoát nước
đô thị mới và hiện hữu của TPHCM cần được điều
chỉnh để thích nghi sau khi hoàn thành Dự Án Đê Bao,
nhất là sau khi 13 cổng điều tiết tại các kênh đào đi vào
hoạt động để ngăn thủy triều chảy ngược vào từ sông
Sài Giòj và sông Đồng Nai, với một cách làm tương tự
như ở Pudong, Thượng Hải .
Trong tương lai, dự kiến là hệ thống thoát nước đô
thị sẽ có hai chế độ hoạt động như trình bày tóm lược
trong bảng dưới đây.
Các trường hợp nghiên cứu ở Tokyo, Kuala Lumpur
và Hồng Kông minh họa các ví dụ thành công của ba
thành phố ở Châu Á đã khắc phục được vấn đề ngập
lụt đô thị bằng cách thực hiện các dự án tích trữ nước
mưa và chuyển dòng thoát nước. Việc xây dựng khu
vực giữ nước bổ sung và thực hiện các phương án
chuyển dòng lũ ở TPHCM có thể:

• Chuyển dòng lũ ra khỏi các khu vực đô thị thường bị
ngập lụt hiện nay
• Tích trữ nước mưa tạm thời để giảm bớt tình trạng
ngập lụt bề mặt.
Trường Hợp Nghiên Cứu từ Thượng Hải cho thấy sự
quan trọng của việc tích trữ nước lũ cho các khu vực
“trũng thấp bị bao bọc”. Sau khi hoàn thành Dự Án Đê
bao, các cổng điều tiết đôi khi cần phải được đóng lại
để chặn nước thủy triều. Cần có đủ nơi trữ nước trong
các kênh đào, mạng lưới thoát nước và các lưu vực
trong đô thị để tiếp nhận nước mặt và tránh ngập lụt.
Chúng tôi đề xuất Thành Phố nên tiến hành nghiên
cứu khả thi để rà soát các dự án cải thiện hệ thống

Bảng 5.2.2

Chế độ hoạt động

Khi nào

Các quan ngại chính đối với tình trạng ngập
lụt đô thị

Xả tự do vào sông Sài
Gòn và Đồng Nai

Khi mực nước sông Sài Gòn và
Đồng Nai thấp và các cổng điều
tiết mở


Hiệu quả truyền dẫn của hệ thống thoát nước đô
thị để xả nước mặt vào các dòng sông ở hạ lưu mà
không gây ra ngập lụt bề mặt

Không xả vào sông Sài
Gòn và Đồng Nai

Khi mực nước sông Sài Gòn và
Đồng Nai cao và các cổng điều tiết
đóng

Khả năng giữ nước trong hệ thống thoát nước đô thị
và lưu vực đô thị trong việc tiếp nhận nước mặt trong
thời gian cổng điều tiết đóng

24


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

thoát nước hiện nay và thăm dò khả năng áp dụng các
phương án giữ lại nước mưa và chuyển dòng thoát
nước.

phương pháp của chúng tôi đến với dự án này. Arup áp
dụng khái niệm WSUD trong việc soạn thảo các chiến lược

quản lý nước mưa.

Nghiên cứu khả thi nên tập trung vào các khu vực đô
thị có khả năng ngập lụt. Đồng thời nên được xây dựng
dựa trên tính năng thủy lực của hệ thống thoát nước
hiện hữu/ hoạch định với cao trình chống lụt mong
muốn được xác định lại. Nghiên cứu khả thi cũng nên
xem xét một cách thích đáng tác động biến đổi khí hậu
đối với cường độ mưa và mực nước biển cùng với vấn
đề sử dụng đất và quy hoạch trong tương lai.

Hệ thống quản lý nước mưa mới được thiết kế nhằm giảm
nhẹ vấn đề ngập lụt có từ lâu. Gắn bó với triết lý ‘làm nhiều
hơn với công sức ít hơn’, chúng tôi đề xuất các chiến lược
quản lý nước mưa chủ yếu dưới đây:

5.3



Ứng Dụng Thiết Kế Đô Thị Nhạy
Cảm Về Nước (WSUD) Vào Quy
Hoạch Thành Phố

Thiết kế Đô thị nhạy cảm về nước (WSUD) là một ý
tưởng về thực hành quản lý tốt nhất được xúc tiến một
cách rộng rãi ở Châu Mỹ, Châu Úc và Châu Âu. Đây là
một phương pháp quy hoạch và thiết kế đô thị kết hợp
việc quy hoạch và quản lý đất và nước mặt vào thiết
kế đô thị. Phương pháp này liên quan tới tất cả các bộ

phận của tuần hoàn nước đô thị và đòi hỏi sự cải thiện
về quy hoạch thành phố, thiết kế kỹ thuật, quản lý tài
sản, cảnh quan đô thị và quản lý nước đô thị.

5.3.1 Các Trường Hợp Nghiên Cứu
Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Thiết Kế quản Lý
Nước Mưa Cho Khu Phát Triển Mới Tại Vịnh
Meadows, San Francisco7
Nằm dọc theo một trong số hành lang đường sắt hành
khách đông đúc nhất Khu Vực Vịnh San Francisco và
tại giao lộ của hai đường xa lộ chính, Khu Phát Triển
‘Bay Meadows Phase II” đa dụng rộng 34 ha đề xuất
sẽ đáp ứng được nhu cầu cho sự tăng trưởng của khu
phát triển đa công dụng trong khu vực bằng cách xây
dựng khu dân cư, thương mại, giải trí và hoạt động
cộng đồng.
Cả ba điểm mấu chốt của Chủ Đầu Tư về tính bền
vững qua “môi trường, xã hội và kinh tế” đã định hướng
















Nước mặt từ khu phát triển chảy vào một khu chứa
nước được chỉ định trước khi xả vào hệ thống thoát
nước hiện hữu ở hạ lưu. Khu chứa nước này không
chỉ lưu giữ và làm giảm nhẹ nguồn nước mặt cực đại
từ hiện trường mà còn làm sạch nước mưa. Khu chứa
nước còn cung cấp 2.270m³ trữ lượng nước quanh năm
để cung cấp nước cho việc phòng cháy chữa cháy. Các
khu vực giải trí có thể bị ngập lụt ở phía sau khu chứa
nước “ướt”, nghĩa là khu chứa nước “khô’ , đã được
thiết kế một cách đặc biệt để có thể tiếp nhận và lưu
giữ nước lũ một cách an toàn trong và ngay sau các sự
cố giông bão lớn khi khả năng tích trữ của khu chứa
nước “ướt” bị quá tải.







Một số các thông lệ quản lý tốt nhất, chẳng hạn như các
khu vườn chứa nước mưa, các chậu cây lọc sinh học,
khu đất trũng sinh học, vv. đã được đề xuất ở mức độ
đường phố và mức độ khu vực phát triển nhằm giảm
dòng chảy cực đại và kiểm soát ô nhiễm khu vực.

Do vậy lượng nước mưa thải ra từ khu vực sẽ được cải thiện

đáng kể về mặt chất lượng nước và giảm về khối lượng.

Trường Hợp Nghiên Cứu 2 – Khôi Phục Sông
Cheonggye ở Seoul
Về mặt lịch sử, Seoul phát triển chung quanh dòng sông
Cheonggye. Dòng sông này đóng vai trò biểu tượng như
một ranh giới về mặt chính trị, xã hội và văn hóa của Seoul.
Trong giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng sau thời kỳ
chiến tranh từ năm 1955 đến năm 1977, Sông Cheonggye
River, trong nhiều giai đoạn, đường được xây dựng trên đó
và sau đó là một xa lộ để phục vụ nhu cầu giao thông gia
tăng và giảm bớt sự bất tiện do sự ô nhiễm của dòng sông.

Sau khi dòng sông được bao phủ, khu vực Sông
Cheonggye được phát triển thành một trung tâm công
nghiệp và trở nên một trong những khu vực đông đúc
và ồn ào nhất của Seoul. Khi các doanh nghiệp bắt đầu
di chuyển sang các trung tâm đô thị mới, dân số và việc
làm trong khu vực này giảm xuống một cách đều đặn.

Workshop

Hình 5.3.2
HoSau
Chi Minh City
Dự Án Khôi Phục Sông Cheonggye: Trước Và

Trong một nỗ lực nhằm quảng bá thiết kế đô thị thân
thiện với môi trường sinh thái và đem lại sức sống cho
khu vực về mặt kinh tế, vào tháng 7- 2003 Dự Án Khôi

Phục Sông Cheonggye được khởi sự. Dự án này bao
gồm các cấu phần chính dưới đây:
• Công trình chuyển dòng giao thông và phá hủy
đường cao tốc trên cao hiện hữu.
• Khôi phục khoảng 6km Sông Cheonggye.
• Cung cấp một kế hoạch cấp nước để bảo đảm dòng
chảy môi trường trên dòng sông Cheonggye.
• Lắp đặt một hệ thống thu gom nước thải dọc theo
hai bờ của Sông Cheonggye được khôi phục để
ngăn chặn nước thải chảy vào sông.
• Các lối đi bộ dọc theo địa hình thấp của dòng sông
được khôi phục và các khu vực tiện nghi ở hai bên
dòng sông.
Công tác thi công ở Sông Cheonggye River bắt đầu vào
tháng 7/2003 và hoàn thành vào tháng 9-2003. Mặc dù
chức năng chính của lòng sông được khôi phục vẫn
là chuyển dẫn dòng nước mưa trong mùa mưa (khả
năng thiết kế của dòng sông khôi phục là 1 trong 200
năm tương đương với cường độ lượng mưa 118mm/g),
Sông Cheonggye đã trở thành một trong những điểm
thu hút nhiều khách du lịch của Seoul và đã đóng góp
đáng kể vào việc phục hồi khu vực này.

5.3.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với
TPHCM
Giống như nhiều thành phố khác trên thế giới, TPHCM
cần có thêm nhiểu không gian xanh để cung cấp cho
dân số đang tăng và các du khách đến thành phố một
môi trường trong lành và hấp dẫn để sống, làm việc
và giải trí. Thành Phố cũng cần có động thái để ứng

phó với những tác động biến đổi khí hậu trong các quy
hoạch thành phố hoặc đô thị của mình. Cho tới khi dự
án đê bao hoàn thành, việc lập quy hoạch cho các khu
phát triển mới cần tập trung vào việc thực hiện ở đâu
và như thế nào. “Ở Đâu”, không nên thực hiện ở các
khu vực hiện đang chịu ngập lụt và có dự kiến sẽ được
đắp để nâng cao trình lên +2m. “Làm Thế Nào”, nên
bao gồm thêm không gian xanh và đưa khái niệm thiết
kế nhạy cảm về nước (WSUD) vào quy hoạch qua việc
thực hiện thiết kế thoát nước đô thị bền vững.

Thiết Kế Thoát Nước Đô Thị Bền Vững (SUDS)

Hình 5.3.1
Thiết Kế Ý
Tưởng Cho
Khu Vực Chứa
“Ướt” Và “Khô”
7

25

Arup được Chủ Đầu Tư tuyển chọn để cung cấp các dịch vụ quy hoạch tổng thể, kỹ thuật xây dựng, quản lý nước mưa và thiết kế bền vững cho công trình đề xuất.

Trường Hợp Nghiên Cứu từ San Francisco minh họa
ý tưởng tiến hóa về thiết kế thoát nước mang tính chất
bền vững cho các công trình xây dựng mới, chuyển
từ thiết kế thoát nước thông thường là thải nước mưa
càng nhanh càng tốt sang một khái niệm mới về thoát
nước là giữ lại và cho chảy tràn một cách tự nhiên.

Thiết kế thoát nước mới “mang tính chất bền vững”
này sẽ tìm ra phương cách để quản lý cả chất lượng
và khối lượng nước mưa đồng thời sẽ xử lý nước mưa
ngay tại nguồn chứ không phải ở hạ lưu. Rõ ràng là sẽ

26


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

5.4


Thu Hoạch Nước Mưa Và Bổ
Sung Nguồn Nước Ngầm

Các lý do để thu hoạch nước mưa và bổ sung nguồn
nước ngầm, đồng thời cung cấp cho Thành Phố khả
năng ứng phó với biến đổi khí hậu được tóm tắt trong
bảng dưới đây:
Trường Hợp Nghiên Cứu dưới đây trình bày cách thức
thu hoạch nước mưa và bổ sung nguồn nước ngầm đạt
được ở các nơi trên thế giới

5.4.1 Trường Hợp Nghiên Cứu
Trường Hợp Nghiên Cứu 1 – Dự Án Thu Hoạch

Nước Mưa Đô Thị ở Salisbury, Phía Nam Nước Úc
Đây là dự án đầu tiên trên thế giới thuộc loại này,
nơi nước mưa đô thị thu hoạch từ một lưu vực được
chuyển đến một khu đầm lầy đã được thiết kế, tích trữ
ngầm dưới đất trong một tầng ngậm nước và khôi phục
thành nước thích hợp cho việc cung cấp liên tục và bền
vững với chất lượng uống được.
Công trường tọa lạc trong phạm vi Thành Phố Salisbury
ở miền Bắc Adelaide Plains, phía Nam nước Úc. Lượng
mưa trung bình hàng năm là 500mm trên diện tích thu
nước là 1.500 ha khu dân cư và công nghiệp, có tổng
lưu lượng nước mặt vào khoảng 1.300ML/năm.
có nhiều lợi ích cho TPHCM khi thực hiện thiết kế thoát
nước mang tính chất bền vững, chẳng hạn như kiểm
soát ô nhiễm, giảm bớt ngập lụt, tái tạo nguồn nước
ngầm và tăng cường môi trường xanh, vv.
Chúng tôi đề xuất Thành Phố nên xây dựng chiến lược
thiết kế thoát nước mang tính chất bền vững và các
hướng dẫn đối với việc quản lý nước mưa cho các
công trình phát triển mới và cả các công trình tái phát
triển. Các chiến lược và hướng dẫn này nên xác định rõ
các bài học tốt nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh, có lưu
ý đến điều kiện địa phương. Đồng thời, các chiến lược
và hướng dẫn này cũng nên giới thiệu việc đưa thiết kế
thoát nước mang tính chất bền vững (SUDS) vào các
giai đoạn phát triển khác nhau, nghĩa là vào quy hoạch
đô thị, phân vùng và quản lý lưu vực nước. Chúng tôi
cũng đề xuất là các quy định và chính sách quy hoạch
hiện nay cần được xem xét để giao việc quản lý nước
mưa cho các khu phát triển mới và các khu tái phát

triển.

Khôi Phục Các Kênh Hiện Hữu
Khi tham quan một số kênh đào hiện hữu ở TPHCM,
ví dụ như Kênh Tẻ, chúng tôi nhận thấy có nhiều nhà
lụp xụp nằm dọc theo hai bên bờ kênh. Nếu Thành
Phố quyết định tái phát triển các khu vực này để cung
cấp các chỗ ở tốt hơn dọc theo các con kênh hiện nay,
chúng tôi đề nghị Thành Phố nên xem xét kết hợp một
số các đề xuất dưới đây vào các dự án tái phát triển:





Nghiên cứu áp dụng các chi tiết về bờ kênh “mềm”
với hệ thống lọc tự nhiên để giảm ô nhiễm nguồn
nước trong kênh và đẩy mạnh sự tăng trưởng của
môi trường sống bờ nước.

• Thiết kế không gian mở phía sau kênh với chức
năng tích trữ lũ ngầm.
• Thiết kế không gian mở để khuyến khích/lôi cuốn
mọi người “đến gần” nước kênh hơn.
Không nên giảm khả năng truyền dẫn tự nhiên của các
kênh hiện hữu do các dự án tái phát triển này.

Việc Phân Kỳ Dự Án Đê Bao
Nhằm tăng tối đa hiệu quả của Dự Án Đê Bao, chúng
tôi đề nghị Ban Chỉ Huy của Trung Tâm Điều Hành

Chương Trình Chống Ngập Nước nên làm việc chặt
chẽ với Sở Quy Hoạch và Kiến Trúc của Thành phố.
Một số đề xuất của chúng tôi cho Dự Án Đập liên quan
đến quy hoạch thành phố là:





Hệ thống bao gồm các cấu phần sau (i) một hồ chứa
giữa dòng (ii) một bể chứa giữ nước (iii) một khu đầm
lầy được xây dựng (iv) các giếng và (v) tầng ngậm
nước. Các bộ lọc chất bẩn được lắp đặt trong khu tập
trung nước để loại bỏ các chất gây ô nhiễm. Nước mặt
thu được từ khu tập trung nước trước hết được tích trữ
trong một bề chứa giữa dòng có dung lượng 50 triệu lít
rồi sau đó được bơm vào các hồ chứa giữ nước gần
đó có dung lượng tương đương trong 20 ngày để các
chất gây ô nhiễm và hạt mịn lắng xuống. Sau đó nước
mưa chảy về một khu vực đầm lầy rộng 2ha để trữ lại

Bảng 5.4.1

Thu hoạch nước mưa

Workshop

Ho Chi Minh City

• Giảm lượng nước mưa chảy vào hệ thống thoát

nước ở hạ lưu.
• Cung cấp một nguồn cấp nước khác tại nguồn

Bổ sung nguồn nước ngầm
• Sẽ làm giảm hoặc ngăn chặn tình trạng sụt lún đất
• Bảo vệ nguồn nước ngầm như một nguồn cấp
nước dự trữ trong một số trường hơp có thể chấp
nhận
trong thời gian từ 7-10 ngày để xử lý về mặt vật lý và
sinh học. Hàm lượng chất dinh dưỡng và chất gây ô
nhiễm giảm xuống gần 90% và độ mặn giảm xuống
dưới 220mg/l.
Sau đó, nước mưa được bơm vào tầng ngậm nước xây
ngầm để tích trữ và xử lý thêm. Có tất cả 6 giếng (đặt
cách nhau 50m). Bốn giếng bên ngoài được sử dụng
để bơm nước mưa đã khử sạch vào một tầng ngậm
nước ở độ sâu 160-180m, nơi nước trải qua một quy
trình thoái biến kỵ khí và giảm thiểu mầm bệnh. Sau
cùng, hai giếng bên trong rút nước ra khỏi tầng ngậm
nước. Sau khi được xử lý bổ sung tại nhà máy xử lý
nước để loại bỏ mầm bệnh và các hợp chất hữu cơ,
nước được bơm vào mạng lưới cấp nước của Thành
Phố Salisbury.
Dự án này đã làm cho Thành Phố Salisbury trờ thành
đầu tàu của thế giới trong lĩnh vực thu hoạch nước
mưa, xây dựng khu đầm lầy chứa nước, thực hiện việc
trữ nước trong tầng ngậm nước và công nghệ khôi
phục. Các lợi ích khác của dự án này là loại bỏ một
cách hiệu quả nguy cơ ngập lụt tại khu vực dễ bị ngập
lụt cũng như tăng cường cảnh quan và tạo ra sự đa

dạng về môi trường sống.

City of Salisbury

Các khu vực của thành phố không dựa vào đê bao
để phòng chống ngập do thủy triều, nghĩa là các
khu vực có cao trình mặt đất cao hơn khoảng +2m
nên được phát triển trước.

• Các dự án trong các khu vực trũng thấp nên được
xem xét cẩn thận.

Holding Storage

Quy hoạch phát triển dựa trên địa điểm và sự tiện lợi có
thể không mang lại cho TPHCM khả năng ứng phó mà
thành phố cần để phòng chống ngập lụt đô thị.

In-stream Basin

Wells (6 nos.)

Wet land

Parafield Airport
Hình 5.4.1 Không Ảnh Dự Án Khôi Phục Chuyển Giao Tầng Ngậm Nước ở Salisbury

27

28



Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife
Workshop
6 Quản lý Hợp Nhất Nước Và Ngập Lụt Và Khả Năng Ứng
Ho Chi
Minh City
Phó Biến Đổi Khí Hậu – Các Bước Tiếp Theo
6.1

Giới thiệu

Trong phần cuối này, chúng tôi xin trình bày những gì
cần làm để TPHCM có tiến đến thực hiện các đề xuất
chính trong báo cáo này một cách hợp nhất với sự
nhận biết các mối tương quan hiện hữu giữa các chủ
đề.
Các lĩnh vực chủ yếu mà chúng tôi tin rằng có thể cải
tiến là:
• Xây dựng thêm nơi tích trữ nước thô
• Phòng chống vấn đề nhiễm mặn sông ngòi đang gia
tăng
• Giảm bớt nhu cầu sử dụng nước của các đơn vị sử
dụng nước quá nhiều
• Thực hiện Kế Hoạch Quản lý Nước cho Lưu Vực
Sông Đồng Nai

• Phòng chống Ngập Lụt Đô Thị
• Ứng dụngThiết Kế Đô Thị Nhạy Cảm Về Nước
(WSUD) và Quy Hoạch Thành Phố
• Quản lý Tài Nguyên Nước Ngầm của Thành Phố

5.4.2 Các Lợi Ích Và Đề Xuất Đối Với

TPHCM

Các Phương Án Về Thu Hoạch Nước Mưa Và Bổ
Sung Nguồn Nước Ngầm

TPHCM cần quản lý tốt hơn các tài nguyên nước ngầm.
Thành phố cần tìm các nguồn nước ngọt khác trong
các khu vực bên ngoài mạng lưới cấp nước mà không
phải khai thác nguồn nước ngầm làm gia tăng lún sụt
đất. Nước mưa là một trong những nguồn bổ sung
nhưng cần phải được thu gom một cách sạch sẽ, tích
trữ và xử lý để trở thành một nguồn nước hiệu quả.
Các chuyên gia về môi trường đã ví các khu vực đầm
lầy chứa nước ngọt như những quả thận của thiên
nhiên – chúng có các chức năng quan trọng trong việc
tái tạo nguồn nước ngầm, kiểm soát lũ lụt, điều hòa lưu
lượng, giảm bớt ô nhiễm, phục vụ nhu cầu giải trí và
du lịch, thu hoạch thú hoang và thúc đẩy nông nghiệp,
vv Các khu đầm lầy có thể đóng một vai trò quan trọng
trong việc xử lý lượng nước mưa thu hoạch được.

Trường Hợp Nghiên Cứu từ phía Nam Australia cho
thấy một cách thức có tính chất đổi mới để thu hoạch

nước mưa và sử dụng nguồn nước này để cấp nước.
Phương án này nên được điều chỉnh để có thể áp dụng
trực tiếp cho TPHCM, ví dụ:

Bảo Tồn Các Khu Đầm Lầy Chứa Nước Ngọt
Hiện Hữu
Chúng tôi đề xuất Thành Phố nên thực hiện một
chương trình bảo tồn khu đầm lầy chứa nước ngọt.
Nên thành lập một tổ công tác để làm việc với các sở
ban ngành như Sở TNMT, Sở Quy Hoạch Kiến Trúc,
Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Trung
Tâm Điều Hành Chương Trình Chống Ngập Nước của
thành phố để soạn thảo kế hoạch bảo vệ, khôi phục và
tăng cường các khu đầm lầy chứa nước ngọt hiện hữu
để các khu này hoạt động như một phần của chiến lược
về nước của thành phố, đồng thời làm tăng tính hấp
dẫn và giá trị của các khu đất lân cận.

29






Đối với công trình, thu hoạch nước mưa từ mái nhà
và chuyển sang các khu vực tích trữ nước mưa để
làm nguồn cấp nước không dùng để uống, như tưới
cây, rửa đường hoặc khử bụi







Chuyển dòng nước mưa sang các khu đầm lầy
chứa nước được xây dựng để tích trữ và khử sạch.
Sử dụng khu đầm lầy này để bổ sung nguồn nước
ngầm một cách thụ động.






Bơm nước mưa được xử lý đúng cách vào một
tầng ngậm nước ngầm để tích trữ và bổ sung để
phòng chống lún sụt đất và suy thoái nguồn nước
ngầm.

Các bước tiếp theo trong từng chủ đề được trình bày
chi tiết dưới đây

6.2

Tăng Trữ Lượng Nước Thô

Việc tích trữ nước thô có thể mang lại nhiều lợi ích cho
Thành Phố. Như đã trình bày trong Phần 4, nếu được
thực hiện một cách thận trọng, các phương án này có


thể giúp làm giảm ngập lụt đô thị, phòng chống nhiễm
mặn và bổ sung nguồn nước ngầm.
Chúng tôi được biết là SAWACO đã và đang nghiên
cứu nhiều phương thức khác nhau nhằm tăng nguồn
cung cấp nước thô cho Thành Phố. Chúng tôi hiểu rằng
các phương thức này dựa trên việc truyền dẫn nước từ
các hồ chứa Dầu Tiếng và Trị An bằng cách sử dụng
các hồ chứa này trong tương lai như các hồ chứa cung
cấp trực tiếp hơn là hồ mang chức năng điều hòa. Cơ
sở cho phương thức này chưa được hiểu rõ nhưng một
phần có thể là để đáp ứng lại hiện tượng chất lượng
nước suy giảm trong các dòng sông tại các vị trí thu
nước và cũng để phòng chống nhiễm mặn nước sông.
Chúng tôi tự hỏi liệu đây có phải là phương thức duy
nhất mà Thành Phố áp dụng vì các lợi ích mà việc có
thêm nơi tích trữ mang lại như kiểm soát lũ và bổ sung
nguồn nước ngầm của thành phố sẽ không đạt được
nếu như các vấn đề về nguồn nước được giải quyết
theo cách này. Chất lượng nước trong các hồ chứa
hiện nay đặc biệt là hồ Trị An cũng có thể gây ra mối
quan ngại trong tương lai, đó là lý do tại sao việc quản
lý lưu vực tốt hơn có tính chất tối quan trọng đối với
Thành Phố.
Sau khi nghiên cứu các dự án của SAWACO một cách
chi tiết, chúng tôi mong được xem xét kỹ hơn về khả
năng xây dựng thêm nơi tích trữ nước gần TPHCM.
Các trường hợp nghiên cứu trên đây đưa ra một số
phương thức khả thi để thực hiện nhưng các phương
án này phải mang lại lợi ích về mặt kiểm soát ngập lụt

và quản lý nguồn nước ngầm nếu có để nâng cao khả
năng ứng phó của TPHCM đối với biến đổi khí hậu.

Chúng tôi đề xuất Thành Phố nên thực hiện một nghiên
cứu khả thi về vấn đề thu hoạch nước mưa và các ứng
dụng về bổ sung nguồn nước ngầm tiềm năng này.

30


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

6.2.1 Việc Tích Trữ ở Bờ Sông

Kiểm Soát Nhiễm Mặn

Khả năng áp dụng phương án Hồ Testwood hoặc hồ
chứa khổng lồ của Thượng Hải ở khu vực sông Dương
Tử đối với TPHCM nên được xem xét kỹ. Làm việc với
Sở TNMT, Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống
Ngập Nước và Sở QHKT, chúng tôi mong được tìm
hiểu những cách thức để biến các khu vực ven sông và
kênh trở thành các khu vực chứa nước và giảm lũ. Một
số vấn đề chủ yếu tại từng địa điểm hiện trường là:

Việc duy trì các dòng chảy của sông ở mức tối ưu trong

suốt năm có nhiều lợi ích. Các lợi ích này bao gồm:
• Duy trì hệ sinh thái và môi trường sống trong sông
và dọc theo hai bên bờ,
• Vận chuyển và tiếp cận bằng đường sông,
• Kiểm soát ô nhiễm qua việc pha loãng và xối rửa
cũng như

• Chất lượng nước sông hiện hữu và dự kiến

• Kiểm soát độ mặn tại các khúc sông thấp hơn.

• Tình trạng đất ngầm và chất lượng nước ngầm

Chức năng chính của các hồ điều hòa trong Lưu vực
sông ĐN là duy trì các “dòng chảy môi trường” trong
suốt mùa khô và giảm bớt càng nhiều càng tốt lưu
lượng nước lũ trong mùa mưa. Câu hỏi chủ yếu về
quản lý nhu cầu, đồng thời cũng là câu hỏi khó nếu
không có sự tập trung quan trắc Lưu vực sông ĐN là
liệu có thể giảm lượng nước xả mà không ảnh hưởng
đến mức độ trong lành của hệ thống sông và khả năng
cung ứng cho các nhu cầu cơ bản về nước ở khu vực
ven sông? Một mục tiêu của việc quản lý lưu vực tốt
hơn là cung cấp các phương tiện để trả lời câu hỏi này
như Ban Quản Lý Lưu Vực Murray-Darling đang làm ở
Australia.

• Giai đoạn lũ của sông và dòng chảy lớn nhất
• Cao trình nước sông ở mức thấp
• Dự định về quy hoạch sử dụng đất hiện nay và dự

kiến
• Khoảng cách đến các nhà máy xử lý nước hiện hữu

6.2.2 Việc Bổ Sung Nguồn Nước Ngầm
Ngoài các lợi ích mà việc tích trữ nước lũ có thể mang
lại đối với việc duy trì mực nước ngầm, các trường
hợp nghiên cứu ở Salisbury thuộc Australia và Bay
Meadows ở Hoa Kỳ có thể áp dụng cho TPHCM và các
phương án này cũng nên được nghiên cứu.
Một đề xuất về cách thức đưa các phương án này vào
việc quản lý nguồn nước ngầm của thành phố là nhắm
vào các khu công nghiệp. Từ những gì chúng tôi được
biết, hiện nay khá nhiều khu công nghiệp dựa vào các
nguồn nước ngầm, do vậy cần có một chiến lược để
bảo vệ tài nguyên này để không bị ô nhiễm bởi nước
biển. Bên cạnh đề xuất về quản lý nhu cầu mà chúng
tôi đưa ra, việc quản lý nguồn nước mưa trong phạm
vi các khu công nghiệp cũng nên được sắp xếp lại
theo các nguyên tắc về hệ thống thoát nước đô thị bền
vững. Việc này có thể thực hiện hoặc bằng cách ứng
dụng việc thu hoạch nước mưa hoặc bằng cách tạo ra
các khu chứa nước “ướt” và ‘khô’ để phần lớn nước
mưa tại các khu công nghiệp có thể chảy vào khu tích
trữ để thẩm thấu vào nguồn nước ngầm chứ không
chảy vào các kênh mương trong vùng.

6.3

Phòng Chống Nhiễm Mặn


Mặc dù rất quan trọng đối với việc quy hoạch tài
nguyên nước của TPHCM trong tương lai, các phương
án mới về tích trữ nước thô sẽ cần thời gian để hoạch
định, phê duyệt và thực hiện.
Đồng thời chúng tôi cho rằng cũng quan trọng không
kém là Thành Phố cần nghiên cứu về cách thức và địa
điểm để bắt đầu xây dựng các dây chuyền xử lý nước
hiện đại, chẳng hạn như dây chuyền khử muối.
Chúng tôi đề nghị rằng một cuộc nghiên cứu mang tính
thử nghiệm do các đơn vị tư vấn hợp tác với SAWACO
cần được thực hiện nhằm xác định phương thức tốt
nhất về công nghệ quy trình và thiết kế hệ thống xử
lý. Việc này, theo quan điểm của chúng tôi, không nên
nhắm vào việc khử mặn nước biển, có lẽ ngoại trừ cho
các khu vực như Cần Giờ, mà nên nhắm vào các mục
tiêu sau:

31

6.5



• Nước lợ từ sông và kênh đào
• Nước lợ đã được xử lý, và
• Nước lợ từ nguồn nước ngầm
Chúng tôi cũng hiểu rằng một số nguồn nước chung
quanh thành phố có tính acid tự nhiên cao hoặc đang
trở nên cao, do vậy việc nghiên cứu thử nghiệm tương
tự cũng nên nhằm vào khả năng xử lý nguồn nước khó

khăn này.

6.4

Quản lý nhu cầu

Việc tưới tiêu và kiểm soát nhiễm mặn, các “đối tượng
sử dụng” lớn nhất nguồn nước từ Lưu vực sông Đồng
Nai nên là các mục tiêu chính trong các biện pháp
nhằm giảm bớt nhu cầu.
Tưới tiêu
Trong phần 4.4.2 chúng tôi đề xuất các phương thức
nhằm giảm nhu cầu về nước trong nông nghiệp cũng
như công nghiệp. Chúng tôi mong có cơ hội làm việc
với Sở TNMT, Bộ NN và PTNT và Sở Công Thương
TPHCM để nghiên cứu sâu hơn về định hướng của
Thành Phố trong việc cải thiện hiệu quả về nước sử
dụng cho nông nghiệp và công nghiệp. Việc này sẽ liên
quan đến việc xem xét các cách làm hiện nay và định
chuẩn những cách làm này so với các bài học tốt nhất
ở các nơi trên thế giới.

Một Kế Hoạch Quản Lý Tài
nguyên Nước Cho Lưu Vực
Sông Đồng Nai

Workshop

liên quan đến lưu lượng dòng chảy và không còn trực
tiếp liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm.Ho Chi Minh City

Nếu sự ô nhiễm ở Lưu Vực Sông ĐN không thể bỏ qua
thì bước đầu tiên là nên chỉ đạo đánh giá xem các mục
tiêu dưới đây trong Kế Hoạch của Ban Quản Lý Lưu
Vực Murray Darling sắp được xuất bản trong năm nay
có thể áp dụng được cho Lưu Vực Sông ĐN hay không.

Đề ra và buộc thực hiện các giới hạn thân thiện
với môi trường đối với khối lượng nước có thể
lấy từ các nguồn nước trong lưu vực
Câu hỏi mấu chốt đặt ra là làm thế nào TPHCM có thể
xác định các giới hạn này là gì và rồi thúc đẩy việc thực
hiện các giới hạn đó. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết
chi tiết về lưu lượng xả của dòng sông và các hệ sinh
thái lệ thuộc vào sông, đồng thời tại một số địa điểm
các giới hạn này có thể đã bị vượt quá.

Đề ra các mục tiêu về môi trường, chất lượng
nước và độ mặn cho toàn lưu vực
Để làm được điều này cần phải có sự hiểu biết chi tiết
về “tình trạng sức khỏe’ của Lưu vực sông Đồng Nai và
các mục đích sử dụng dự kiến có lợi đối với các nguồn
nước mặt và nước ngầm. Một kế hoạch quan trắc chất
lượng nước trong toàn lưu vực sẽ là bước đầu tiên
theo hướng này, xem phần dưới đây để biết thêm chi
tiết.

Triển khai các chế độ mua bán nước hiệu quả
trong Lưu Vực

Câu hỏi chính là mức độ của các hệ thống đang được

áp dụng ở các nơi trên thế giới (ví dụ như Australia
và Ontario) sẽ được áp dụng cho TPHCM và Lưu vực
sông Đồng Nai? Arup rất mong được tìm hiểu vấn đề
này cùng với Sở TNMT cũng như các sở ban ngành
khác của thành phố trong những tháng sắp tới để xem
có thể làm gì trong thời hạn 18 tháng mà UBND giao
cho Sở TNMT DONRE để xây dựng một Quy Hoạch
Quản Lý Tài nguyên Nước cho Thành Phố.

Việc mua bán nước chỉ hiệu quả trong phạm vi pháp lý,
nơi thiết lập các quyền hạn về nước như một phần của
cơ cấu pháp luật. Việc cho phép mua bán, trao đổi các
quyền hạn này được xem như một phương cách hiệu
quả để đảm bảo rằng nước đến với mục đích sử dụng
kinh tế nhất hoặc có lợi nhất. Quan điểm của chúng
tôi là TPHCM cần tìm ra các phương thức khác để đạt
được mục tiêu này qua các phương án giá hoặc các
hạn chế bắt buộc trong khai thác nước ngầm.

Kế hoạch Lưu Vực Murray–Darling được mô tả là một
kế hoạch mang tính chiến lược cho việc quản lý tài
nguyên nước một cách thống nhất và bền vững tại Lưu
Vực Murray–Darling và là trách nhiệm của Ban Quản
Lý Lưu Vực Murray–Darling (MDBA) theo Đạo Luật về
Nước năm 2007.

Đề ra các yêu cầu đối với kế hoạch về tài nguyên
nước của Nhà Nước

Ban Quản Lý Lưu Vực được lãnh đạo bởi một nhóm

gồm 6 nhà quản lý và khoa học gia chuyên nghiệp có
sự hiểu biết rất chi tiết về Lưu Vực qua kinh nghiệm thu
thập được sau nhiều năm làm việc cho bốn Cơ Quan
Nhà Nước trong Lưu Vực.
Cũng cần lưu ý là Lưu Vực Sông Đồng Nai có điểm
khác biệt quan trọng so với Lưu Vực Murray–Darling
là trữ lượng của lưu vực đang được phát triển lớn hơn
cho thủy điện trong khi ở Australia chủ yếu dựa vào trữ
lượng than để phát điện.
Về phương diện này thì phải chăng kinh nghiệm từ
Ontario, dựa nhiều vào thủy điện, liên quan nhiều hơn
đối với TPHCM?
Ở Ontario, việc xây dựng một Kế Hoạch Quản Lý Nước
có sự tham gia của các bên liên quan chính, trước hết
là công ty thủy điện và sau đó là các đơn vị khác. Điều
này sau cùng dẫn đến một kế hoạch quản lý nước kết
hợp việc bố trí các dòng chảy theo mùa phù hợp nhất
đối với nhu cầu khác nhau của các bên. Vấn đề chỉ còn

Như một phần trong Quy Hoạch Quản Lý Tài nguyên
Nước, TPHCM cần làm việc với các tỉnh để thiết lập
các quy định cho việc sử dụng tài nguyên nước bền
vững và đề ra các mục tiêu chất lượng nước sông và
nước ngầm. Điều này sẽ đòi hỏi phải có sự hiểu biết
sâu sắc về lưu lượng xả của của sông, các hệ sinh thái
sống dựa vào đó và các mục đích sử dụng hợp pháp
được mong đợi đối với tài nguyên nước mặt và nước
ngầm trong các tỉnh.

Cải thiện an ninh nguồn nước đối với tất cả các

mục đích sử dụng nước của Lưu Vực
An ninh nguồn nước là mực tiêu quan trọng nhất của
TPHCM cũng như của các vùng lân cận và là các mục
tiêu ưu tiên để Lưu vực Murray-Darling có thể được
xem như đóng góp vào mục tiêu chính.
Bước đầu tiên và để hiểu biết rõ hơn về mức độ trong
lành của Lưu Vực Sông ĐN, chúng tôi đề xuất một
chương trình quan trắc chất lượng nước.

6.5.1 Chương Trình Quan Trắc Chất
Lượng Nước Đề Xuất
Đối với những cán bộ quản lý nước một Chương Trình
Quan Trắc Chất Lượng Nước(WQM) là một phần cơ

32


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

bản trong việc quản lý lưu vực để họ có thể tiếp cận
thông tin về mức độ trong lành của nước trong lưu vực.
Nếu trong tình trạng hiện nay, chương trình quan trắc
chất lượng nước trong Lưu Vực Sông Đồng Nai còn sơ
sài hoặc chưa có, chúng tôi đề xuất trước hết là nên
thực hiện chương trình WQM cơ sở theo mùa để hỗ trợ
việc xây dựng các Mục Tiêu Chất Lượng Nước (WQO)

dựa trên cơ sở các mục đích sử dụng chính có lợi đối
với nước trong phạm vi lưu vực (thủy lợi, công nghiệp
và nước sinh hoạt). Chương trình WQM về lâu dài sau
đó sẽ được thực hiện nhằm xác định các thay đổi về
chất lượng nước qua thời gian.
Chương trình WQM cơ sở nên bao gồm các thông số
vật lý – nhiệt độ, độ dẫn, vận tốc dòng chảy, độ đục,
chất rắn huyền phù, kim loại nặng và độ mặn, các thông
số hóa học như pH, K, N, DO, COD và BOD cùng với
các thông số sinh học và sinh thái tại các địa điểm
được chọn.
Các dụng cụ lấy mẫu nước tự động thường được ưa
chuộng do thời gian huy động ngắn hơn và chi phí vốn
tương đối thấp. Dụng cụ lấy mẫu được đặt tác các địa
điểm chỉ định dọc theo dòng sông hoặc trong hồ để thu
mẫu nước theo một cách thức định sẵn, sau đó mẫu
được trộn lẫn để tạo thành một hỗn hợp được xem như
một mẫu tiêu biểu của khu vực mà từ đó mẫu được
lấy. Các mẫu thu được sau đó sẽ được giao cho các
phòng thí nghiệm có hợp chuẩn để thực hiện các thử
nghiệm phân tích. Tuy nhiên, dựa trên các sản phẩm
thử nghiệm phân tích hiện có sẵn trên thị trường, phần
lớn các thông số lý hóa hiện nay có thể được phân tích
ngay tại địa điểm quan trắc.
Các địa điểm lấy mẫu trong giai đoạn quan trắc chất
lượng nước cơ sở có thể mang tính chất tổng quát
hoặc cụ thể. Các trạm chung nên mang tính biểu trưng
cho một đoạn sông cụ thể và các địa điểm nên được
thiết lập sau khi nghiên cứu tại văn phòng, khảo sát
dòng sông và các nguồn ô nhiễm trong lưu vực. Các

trạm cụ thể sẽ đặt tại hạ lưu của các dòng chảy có vấn
đề hoặc các thàn phố hoặc tại các vị trí lấy nước hiện
hữu.
Để thực hiện chúng tôi đề xuất nghiên cứu sâu hơn
với sự tham khảo các phương pháp đã được áp dụng
thành công ở các nơi khác. Vui lòng xem phần 6.5.1 ở
trên.

6.6


Giải Quyết Tình Trạng Ngập Lụt
Đô Thị

Chúng tôi đã đề xuất là Thành Phố nên tiến hành một
nghiên cứu khả thi để xem xét các dự án về cải thiện
hệ thống thoát nước hiện nay và thăm dò khả năng áp
dụng các phương án trữ nước mưa và chuyển dòng
thoát nước. Công tác này nên tiến hành qua sự tham
vấn với Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống
Ngập Nước TPHCM nhưng Sở TNMT có thể tham gia
một phần về mặt các cơ hội cấp nước có thể phát sinh
từ các phương án này.
Việc nghiên cứu khả thi này nên xem xét một cách thích
đáng các tác động biến đổi khí hậu đối về cường độ
mưa và mực nước biển cùng với vấn đề sử dụng đất và
quy hoạch trong tương lai.
Một khía cạnh khác cho việc nghiên cứu tương lai là
các hậu quả có thể xảy ra về mặt môi trường của dự
33


án xây dựng đê bao đối với sự chuyển dịch của nước
tự nhiên về phía sông. Khi dự án đê bao hoàn thành sẽ
cần có các biện pháp để tránh tình trạng ứ đọng nước
mặt ở phía trên thượng nguồn đê bằng cách xây dựng
các kênh đào. Như thế sẽ có thêm cơ hội để “xanh hóa”
các khu vực này khi các công viên đô thị dọc theo một
khu bảo tồn được chỉ định như một vùng đệm để phát
triển đê trong tương lai.

6.7


Ứng Dụng Thiết Kế Đô Thị Nhạy
Cảm Về Nước (WSUD)

Giống như nhiều thành phố trên thế giới, TPHCM cần
có thêm không gian xanh nếu muốn cung cấp cho
dân số đang tăng và du khách của thành phố một môi
trường hấp dẫn và trong lành để sống, làm việc và
giải trí. Chúng tôi mong có cơ hội làm việc với Sở Quy
Hoạch Kiến Trúc và các đơn vị khác để tìm ra câu trả
lời cho các câu hỏi về địa điểm và cách thức chúng tôi
đã nêu trong Phần 5.3.2.
Địa điểm không nên là các khu vực hiện đang chịu
ngập lụt cần được đắp thêm để nâng cao trình lên +2m.

Workshop

7 Kết Luận

Là một trong 10 thành phố trên thế giới mà người dân
có khả năng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi
khí hậu nhất, thành phố HCM đang đứng ở vị trí quan
trọng để chứng tỏ rằng họ vô cùng quan tâm đến biến
đổi khí hậu trong quy hoạch và phát triển thành phố;
rằng môi trường trong tương lai của thành phố sẽ bền
vững và nguồn nước của thành phố sẽ an toàn và
không bị ô nhiễm.
Cho đến ngày nay, thành phố HCM cùng với Miền
Nam Việt Nam đã nỗ lực nghiên cứu càng sâu càng tốt
những gì biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến khu
vực, nhưng cần thiết phải làm nhiều hơn để xác lập các
chiến lược có giá trị cho thành phố và khu vực. Điều
này có lẽ càng quan trọng vì sự gia tăng dân số mà
thành phố dự kiến phải đáp ứng trong các thập kỷ tới.
Trong báo cáo này chúng tôi đề xuất một số biện pháp
chủ yếu để nghiên cứu mà chúng tôi tin tưởng rằng sẽ
có tác dụng trong việc đảm bảo khả năng ứng phó biến

Ho Chi Minh City
đổi khí hậu. Các biện pháp này liên quan đến cả tài
nguyên nước và phòng chống lũ lụt và vì vậy nhiều biện
pháp phải được cân nhắc cùng nhau như là các giải
pháp hợp nhất để quản lý cả hai. Trong báo cáo này
chúng tôi đã bóc trần các liên kết giữa việc cung cấp
nước và lũ lụt để có thể cung cấp cho thành phố các
giải pháp mạnh mẽ hơn.
Các biện pháp đề xuất đã được minh hoạ bằng các
trường hợp nghiên cứu từ các nơi khác nhau trên thế
giới. Về các địa điểm và dự án lựa chọn, một số trong

đó Arup đã hỗ trợ trong việc thực hiện, được đánh giá
là có thể áp dụng được cho thành phố HCM và đã thể
hiện sự thành công trong khu vực.
Cuối cùng chúng tôi trình bày chi tiết làm thế nào các
biện pháp đề xuất này có thể thực hiện được và phần
nào chúng tôi có thể cùng với các sở ban nghành liên
quan thực hiện chúng.

Cách thức nên bao hàm thêm không gian xanh và việc
ứng dụng WSUD (Thiết kế đô thị nhạy cảm về nước)
vào quy hoạch qua việc thực hiện thiết kế thoát nước
đô thị bền vững.
Như chúng tôi đã trình bày, việc quy hoạch phát triển
dựa trên vị trí và sự tiện lợi có thể sẽ không mang lại
cho TPHCM khả năng ứng phó mà thành phố cần để
phòng chống ngập lụt đô thị.
Bước tiếp theo là làm việc với Thành Phố để đưa các
hướng dẫn về SUDS vào các quy định về xây dựng áp
dụng cho các khu vực mới và tái phát triển. Việc này có
thể là một nỗ lực hợp tác giữa Sở Xây Dựng và Sở Tài
Nguyên Môi Trường và với mục tiêu là đạt được tối đa
việc bổ sung nguồn nước ngầm tại cấp độ khu vực.

6.8

Quản Lý Nguồn Nước Ngầm

Chúng tôi đề xuất là Thành Phố nên thực hiện một
chương trình bảo tồn khu vực đầm lầy nước ngọt bằng
một tổ công tác được thành lập để làm việc với các sở

ban ngành như Sở TN&MT, Sở Quy Hoạch Kiến Trúc,
Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Trung
Tâm Điều Hành Chương Trình Chống Ngập Nước. Việc
này nên được thực hiện bằng cách lựa chọn các khu
vực chứa lũ mới theo sự xem xét của Trung Tâm Điều
Hành Chương Trình Chống Ngập Nước làm các khu
vực nghiên cứu thí điểm nhằm chứng minh lợi ích của
phương pháp áp dụng khu vực đầm lầy về mặt tính hấp
dẫn, tiếp cận dễ dàng và làm tăng giá trị của các khu
đất kề bên.
Cũng đề xuất với Thành Phố là nên thực hiện một
nghiên cứu khả thi về tiềm năng thu hoạch nước mưa
và các ứng dụng để bổ sung nguồn nước ngầm tương
tự như trường hợp nghiên cứu ở miền Nam nước Úc.
Dự án này nên được điều chỉnh theo cách làm thế nào
để có thể trực tiếp áp dụng cho TPHCM. Các mục đích
sử dụng có thể đối với việc thu hoạch nước mưa ở
mức độ khu vực là dùng để tưới cây, rửa đường, khử
bụi nhưng với việc xử lý kỹ thêm thì các mục đích sử
dụng có lợi khác có thể trở thành thực tế.

8 Tham Khảo
Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu thành phố HCM: Báo Cáo Tóm Tắt. Do ADB phát hành 2010
Quản lý Tưới Tiêu và Lưu vực sông: Các phương án cho các Viện và Chính phủ. Do Mark Svenden – IWMI biên soạn,
CABI Publishing phát hành 2005
Áp lực của các thành phố lớn. WWF />
34


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup

Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

9 Phụ Lục

9.2



Bối Cảnh Hội Thảo Cuộc Sống
Đô Thị Thành phố HCM C-40
Arup

9.2.1 Tổng Quan
Việc trao đổi với thành phố HCM bắt đầu từ tháng
12/2009 tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hiệp Quốc về
Khí Hậu COP 15 ở Copenhagen. Ở đó phó chủ tịch
Hứa Ngọc Thuận đã chỉ định Sở TNMT (DONRE) đứng
đầu tổ chức Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị. Chương trình
chính thức bắt đầu từ đầu tháng ba năm 2010.
Chủ đề hội thảo được lựa chọn là khả năng ứng phó
khí hậu của quản lý nước và hạ tầng. Dựa vào nghiên
cứu thực địa và qua trao đổi với nhiều cán bộ cũng như
các sở ban ngành chính quyền, các mối quan tâm của
các sở ban ngành về vấn đề biến đổi khí hậu và khả
khả năng ứng phó của nước là
• Ngập lụt đô thị, kể cả việc quản lý dòng chảy sông
Sài gòn và song Đồng Nai

• Sự suy thoái nước ngầm
Hình 9.1.1 Bản đồ các thành phố C40 (các thành phố tổ chức hội thảo)

• Sự nhiễm mặn nguồn nước
Vì vậy kế hoạch của Arup là:
• Rà soát các dự án của thành phố

9.1


Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị
C-40 Arup

Tháng 5/2009 Công ty TNHH Ove Arup & Partners
(Arup) đã ký một thỏa thuận hợp tác với nhóm C40 của
các thị trưởng của các thành phố lớn và Clinton Climate
Initiative (CCI). Theo các điều khoản của thỏa thuận
này, Arup thống nhất tổ chức các Hội Thảo ‘Cuộc Sống
Đô Thị C-40’ ở các thành phố C40 trong thời gian hai
năm.
Các hội thảo nhằm mục đích sử dụng chuyên môn kỹ
thuật của Arup để hổ trợ các thành phố vượt qua các
trở ngại để thực hiện các chương trình biến đổi khí hậu.
Mục đích là để cho các thành phố tận dụng chuyên môn
kỹ thuật của Arup để thúc đẩy một bước thay đổi trong
việc giải quyết vấn đề đặt ra bởi lãnh đạo thành phố
như là một trong những điều khó khăn hoặc quan trọng
liên quan đến các mục tiêu biến đổi khí hậu toàn diện.
Công việc này được thực hiện bằng cách cùng làm việc
với thành phố để am hiểu các điểm chủ yếu trong vấn

đề hoặc lãnh vực chính sách cụ thể được chọn, cùng

với thành phố tìm kiếm các giải pháp trong hội thảo
và cung cấp báo cáo cuối cùng. Mục đích lâu dài hơn
là mỗi thành phố Cuộc Sống Đô Thị C-40 phải tự xây
dựng mình như là đầu tàu trong lãnh vực chính sách đã
được xác định trong hội thảo và từ đó xây dựng một mô
hình cho các thành phố C40 khác noi theo.
Cuộc hội thảo đầu tiên ở Toronto nghiên cứu làm thế
nào chuyển tải chiến lược năng lượng bền vững toàn
diện của thị trưởng vào trong một kế hoạch hành động
ở cấp khu vực. Melbourne tập trung vào lãnh vực công
nghệ thông tin trong việc đưa cộng đồng tham gia, giám
sát và thực hiện giảm phát tán. Chủ đề của Sao Paolo
là quản lý chất thải cấp thành phố và khu vực và nghiên
cứu làm thế nào để thu gom chất thải hữu cơ ở khu ổ
chuột trong thành phố để sản xuất điện và bi-ô-ga bằng
công nghệ phân hủy kỵkhí.
Thành phố HCM là thành phố thứ tư tổ chức hội thảo
và là thành phố duy nhất ở châu Á có Hội thảo Cuộc
Sống Đô Thị C-40. Hai hội thảo cuối cùng sẽ được tổ
chức ở Addis Ababa và một thành phố châu Âu. Chi tiết
của các hội thảo trước đây trình bày trong bảng 9.1.1.

Bảng 9.1.1 Các Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị C40 Trước Đây

35

Vị Trí
Hội Thảo


Ngày

Lãnh Đạo và Ban Ngành Chủ
Chốt

Chủ Đề Thảo Luận

Toronto, Canada

16&17/9/2009

Thị Trưởng David Miller

Chiến Lược Năng Lượng Khu
Vực

Melbourne, Australia

30&31/3/2010

Thống Đốc Robert Doyle

Công Nghệ Thông Tin
SMART

Sao Paulo, Brazil

4&5/5/2010


Hợp Tác Với World Bank

Công Nghệ Năng Lượng Từ
Chất Thải

Phụ Lục

• Nêu ra các tác động biến đổi khí hậu chủ yếu ảnh
hưởng đến nguồn nước thành phố và phòng chống
ngập lụt.
• Nghiên cứu và đưa ra các trường hợp nghiên cứu
và giải pháp từ các hoạt động quốc tế tốt nhất có thể
áp dụng.






Cung cấp các đề xuất về nguồn nước và phòng
chống ngập lụt có thể cải thiện khả năng ứng phó
biến đổi khí hậu của thành phố và có thể đóng góp
một phần trong Quy Hoạch Tổng Thể Quản lý Nước
mà thành phố đang xây dựng.

Workshop

Quá trình và hoạt động cũng sẽ nâng cao nhận thức và
Ho Chi Minh City
khả năng của địa phương trong việc ứng phó với tác

động biến đổi khí hậu có liên quan đến nước.

9.2.2 Đoàn Arup
Đoàn Arup gồm có những thành viên từ trụ sở toàn cầu
chính ở Luân Đôn, văn phòng Đông Á ở Hồng Kông và
văn phòng thành phố HCM. Tuy nhiên đoàn cũng huy
động các văn phòng khác của Arup để bảo đảm có đầy
đủ kỹ năng và chuyên môn quốc tế tốt nhất. Một ban
kiểm tra quốc tế cũng đã được thành lập để bảo đảm
tính khả thi, tính kỹ thuật mạnh mẽ và sự đổi mới. Đoàn
công tác hợp nhất là một bộ phận đa ngành và bao
gồm các chuyên gia về quản lý tài nguyên nước, biến
đổi khí hậu, chính sách và lũ lụt.

9.2.3 Chương Trình Dự Án
Chương trình bốn tháng bắt đầu từ tháng 3 năm 2010
gồm ba giai đoạn chính:
• Thu Thập Thông Tin Và Khảo Sát
Đoàn kỹ thuật từ Hồng Kông thực hiện nghiên cứu thực
tế trong khoảng hai tuần đầu tháng ba để xác định các
vấn đề chủ chốt có liên quan ảnh hưởng đến thành phố
HCM và chuẩn bị cho chuyến khảo sát. Trong chuyến
khảo sát từ 22/3 đến 25/3/2010, đoàn Hồng Kông đến
thành phố HCM và cùng với văn phòng thành phố HCM
gặp gỡ với nhiều sở ban ngành chính quyền khác nhau
và các đối tác khác để thu thập thông tin và dữ liệu
thành phố. Chuyến khảo sát ban đầu rất có giá trị trong
việc gặp gỡ các đối tác ở thành phố và sự am hiểu các
điều kiện và các vấn đề chủ yếu của địa phương.
• Phân Tích Kỹ Thuật và Rà Soát Giữa Kỳ

Đoàn đã tiếp tục chương trình với thời gian 6 tuần cho
nghiên cứu chuyên sâu và phân tích kỹ thuật. Đoàn
cũng đã thực hiện việc rà soát giữa kỳ và tiến hành
khảo sát từ 19 đến 22 tháng tư. Cuộc họp giữa kỳ đã

Bảng 9.2.2 Chương Trình Hội Thảo

Thời gian

Hoạt động

Diễn giả

8:00 - 8:15 am

Đăng ký

Tất Cả

8:15 - 8:25 am

Chào mừng của thành phố HCM

Ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc sở TNMT

8:25 - 8:35 am

Chào mừng của Arup

Wilfred Lau, Chủ Tịch Điều Hành

Arup Việt Nam

8:35 - 8:45 am

Tổng quan về Hội thảo Cuộc sống Đô thị
Arup-C40

Mark Watts, Giám Đốc - Các TP C40 Arup

8:45 - 10:00 am

Quản lý Tài nguyên nước và Biến đổi khí hậu
(Bao gồm Câu hỏi và Thảo luận)

Roger Alley, Quản lý Cao cấp, Arup

10:00 - 10:15 am

Break

Tất Cả

10:15 - 11:30 am

Phòng chống ngập lụt và Biến đổi khí hậu
(Bao gồm Câu hỏi và Thảo luận)

Kenneth Kwok, Quản lý Cao cấp, Arup

11:30 - 11:45 am


Ý kiến kết luận

Ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc sở TNMT

11:45 - 12:00 am

Cám ơn

toàn cầu, Arup

Phụ Lục

36


Sự Ứng Phó về Nước và Khí Hậu cho Arup
Thành phố
C40Hồ Chí Minh

UrbanLife

Có hơn 80 thành viên tham dự từ cơ quan ban ngành
thành phố, kể cả các thành viên cao cấp của Ban Chỉ
Đạo Biến Đổi Khí Hậu thành phố; các trường đại học,
thành viên xã hội và báo đài.
Hai báo cáo về kỹ thuật đã mở màn cho cuộc thảo luận
chất lượng trong phần đặt câu hỏi và trả lời sau đó. Đối
với vấn đề nhạy cảm về ngôn ngữ, người tham dự đã
nêu câu hỏi trên giấy. Các biểu phản hồi thu được rất

tích cực.
Thêm vào đó, một đoạn phim minh họa sinh động về
phòng chống ngập lụt đã được trình bày trong phần
đầu của hội thảo. Nó miêu tả vấn đề ngập lụt mà thành
phố HCM sẽ đối mặt khi thực hiện dự án đê bao và làm
thế nào quy hoạch của thành phố có thể ứng phó với
những thay đổi do biến đổi khí hậu.
Vì là một hội thảo biến đổi khí hậu, tất cả nỗ lực đã
được thực hiện để giảm các phát tán liên quan đến cácbon và tuân thủ các hoạt động bền vững. Đáng chú ý
là tất cả việc đi lại bằng máy bay đã được bù đắp bằng
một khoản kinh phí cho khu bảo tồn Vĩnh Cửu ở Việt
Nam do WWF điều hành.

9.2.4 Các Cuộc Họp Với Các Đối Tác
2Trong suốt quá trình hội thảo, Đoàn Arup đã gặp gỡ
với các đối tác chủ yếu của thành phố trong bộ máy
chính quyền, trường đại học và các thành phần xã hội.
Điều này vô cùng quan trọng để am hiểu bối cảnh Việt
Nam và các vấn đề chủ chốt về biến đổi khí hậu và
nước đối với thành phố ngày nay và trong tương lai.
Điền này cũng để bảo đảm rằng các chiến lược thích
hợp và khả thi đối với các điều kiện địa phương. Tổng
cộng đoàn đã trao đổi với khoảng 20 đối tác khác nhau:

Thông tin Arup
Arup là một công ty toàn cầu của các kỹ sư, nhà thiết
kế, chuyên gia quy hoạch, kỹ thuật và tư vấn chuyên
cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp vào mọi giai đoạn
của dự án, từ lúc bắt đầu đến khi hoàn thành và cả sau
đó, trong ba lĩnh vực kinh doanh toàn cầu – xây dựng

công trình, tư vấn và hạ tầng cơ sở.
Thành lập vào năm 1946 ở London, Arup hiện có trên
10.000 nhân viên hoạt động tại hơn 90 trụ sở đặt tại
hơn 35 quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, Đông
Á, Châu Âu và Trung Đông.
Arup là một tổ chức hoàn toàn độc lập, được sở hữu
bằng cách tín thác cho lợi ích của các nhân viên và
những người phụ thụôc của họ. Không có cổ đông và
những nhà đầu tư bên ngoài, công ty có thể tự quyết
định hướng đi riêng của mình, tự đề ra các ưu tiên –
một cách độc lập.
Arup đã bắt đầu làm việc tại Việt Nam từ thập niên
1980. Năm 2000, Arup thiết lập một văn phòng tại
Thành phố Hồ Chí Minh để các nhóm chuyên gia Arup
làm việc ở đất nước này. Vào tháng 1/2008, công ty
TNHH Arup Việt Nam được chính thức thành lập. Nhân

Workshop

Ho Chi Minh City
viên của Arup có trình độ chuyên môn hàng đầu trong
nhiều ngành kỹ thuật và khoa học ứng dụng, cũng như
các kỹ năng quản lý. Nhiều nhân viên của chúng tôi là
chuyên gia trong lĩnh vực của họ.
Chúng tôi được cấp đầy đủ giấy phép để hành nghề tại
Việt Nam. Sự hiểu biết của chúng tôi về các quy định
và luật lệ trong nước đơn giản hóa quy trình đầu tư cho
khách hàng – cả trong khu vực lẫn quốc tế.
Chúng tôi cung ứng các dịch vụ Thiết Kế Tổng Thể
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các dự

án theo tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng cao cho nền
kinh tế đang phát triển của Việt Nam. Đồng thời, chúng
tôi còn hợp tác với các đơn vị tư vấn được chọn lọc
trong nước, cung cấp nhiều kỹ năng đa ngành để thực
hiện các yêu cầu của dự án.
Chúng tôi tóm tắt phương thức hoạt động của chúng
tôi trong một câu duy nhất: Chúng tôi đang kiến tạo một
thế giới tốt đẹp hơn!

• Sở Quy Hoạch và Kiến Trúc (DPA)
• Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư (DPI)
• Sở Tài Nguyên Và Môi Trường (DONRE)
• Sở Công Thương (DIT)
làm rõ nhiều giải pháp kỹ thuật và tổ chức cụ thể để
tăng cường khả năng ứng phó của nước đối với biến
đổi khí hậu của thành phố HCM. Các chiến lược này đã
kết hợp với các điều kiện hiện hữu và địa hình và dựa
vào các hoạt động quốc tế tốt nhất. Cụ thể là chúng tôi
đã nghiên cứu dữ liệu chuyên môn đầu vào của thành
phố trong tính khả thi của chiến lược
• Liệu chiến lược này có áp dụng được cho thành phố
HCM?
• Làm thế nào để thực hiện được?

• Tổng Công Ty Cấp Nước Sài Gòn (SAWACO)
• Công Ty Thoát Nước Thành Phố HCM
• Phân Viện Khí Tượng Thủy Văn & Môi Trường Phía
Nam
• Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống Ngập
Nước

• Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thành Phố HCM
• Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường Thành Phố HCM
(HEPA)

Các báo cáo giữa kỳ tạo điều kiện để thành phố có ý
kiến về công việc đã thực hiện và lộ trình đến khi hoàn
thành. Đoàn cũng đã thảo luận chi tiết hơn về hậu cần
và công tác chuẩn bị cho hội thảo.

• Sở Nông Nghiệp Và Phát triển Nông Thôn (DARD)

• Hội Thảo Cuộc Sống Đô Thị Thành phố HCM C-40
Và Báo Cáo

• Trường Cao Đẳng Tài Nguyên Và Môi Trường
Thành Phố HCM

Buổi hội thảo nửa ngày tổ chức vào buổi sáng ngày 12
tháng năm năm 2010 tại khách sạn Rex. Hội thảo được
dịch song song cả tiếng Anh và tiếng Việt.

• Sustainable MegaCities of Tomorrow – Thành Phố
HCM

• Sở Xây Dựng Thành Phố HCM
• Khu Công Nghiệp Tân Bình

• Clinton Climate Initiative ở Việt Nam
• Enda Việt Nam


37

Phụ Lục

38


Arup tại Thành phố Hồ Chí Minh
Lầu 8, Cao ốc Star Building
33 ter - 33 bis Mạc Đĩnh Chi
Quận 1
Thành phố Hồ Chí Minh
Việt Nam
t : +848 6291 4062
f : +848 6291 4072



×