Lời mở đầu
Nước ta là một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tỷ
trọng cơ cấu nông nghiệp chiếm 21.5%, công nghiệp chiếm 40,7% (ước tính năm 2012) thế nên phân bón
là một phần không thể thiếu trong việc nâng cao năng suất cây trồng, tài nguyên khoáng sản và hóa chất
là điều quan trọng để phát triển công nghiệp. Nhưng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức, việc
lạm dụng phân bón hóa học nhằm nâng cao năng suất để lại một lượng tàn dư lớn trong đất và việc sử
dụng hóa chất để khai thác khoáng sản mà không có các biện pháp bảo vệ làm ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Vì thế hiện trạng và việc quản lý tài nguyên khoáng sản, hóa chất và phân bón đang là vấn
đề làm nhiều người quan tâm.
Nội dung
1. Tài nguyên khoáng sản.
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nên việc khai thác, quản lý và sử dụng
tài nguyên khoáng sản là một điều vô cùng cấp thiết. Trước hết ta cần hiểu khoáng sản là gì? Khoáng sản
là các tạo thành hóa lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ chúng
kim loại và khoáng vật dùng cho các ngành công nghiệp. Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn lỏng
hoặc khi. Khả năng khai thác và sử dụng khoáng sản phụ thuộc vào trình độ kĩ thuật công nghệ và nhu
cầu của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong năm mươi năm qua nhu cầu về tài
nguyên khoáng sản càng ngày càng lớn dẫn đến tình trạng khai thác và cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng
sản để lại nhiều hậu quả về môi trường và xã hội tại các vùng khai thác khoáng sản. Trước tình hình đó,
nhà nước ta đã có nhiều chính sách và hoạt động nhằm quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả
nguồn tài nguyên khoáng sản đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai như luật khoáng sản sửa
đổi (2010), điều 44 luật bảo vệ môi trường (2005), thông tư 37/2010/TT-BTMNT,… . Từ trước đến nay,
Việt Nam vẫn luôn được đánh giá là Quốc gia có nhiều tiềm năng về khoáng sản với trên 5000 điểm mỏ
của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau nhưng phần lớn là các loại mỏ vừa và nhỏ, phân bố rải rác.
Tài nguyên khoáng sản ở nước ta có thể được chia ra làm 3 nhóm:
•
•
•
Nhóm khoáng sản năng lượng (dầu, khí, than,…): Việt Nam có tiềm năng trung bình, nhưng do
đặc điểm khai thác đã nhiều năm qua nên có nguy cơ cạn kiệt trong thời gian tới.
Nhóm khoáng sản phi kim loại và vật liệu xây dựng (khoáng sản hóa chất và phân bón, vật liệu
gốm sứ, thủy tinh,vật liệu xây dựng,…): có nhiều và có thể đáp ứng phần lớn chỉ để đáp ứng nhu
cầu xây dựng và phát triển đất nước.
Nhóm khoáng sản kim loại quý hiếm (vàng, bạc, đồng, chì,…): nhu cầu thế giới là rất lớn nhưng
trữ lượng ở Việt Nam là ít.
Một số loại khoáng sản khác có trữ lượng đáng kể như bô xít, đất hiếm,… nhưng nhu cầu tiêu dùng
trên thế giới với loại này là không cao và đã gần bão hòa.
Đánh giá chung với khoáng sản Việt Nam là đa dạng về chủng loại nhưng hạn chế về tiềm năng. Các
loại khoáng sản thế giới cần hoặc có giá trị cao thì nước ta không có nhiều hoặc sắp cạn kiệt còn các loại
khoáng sản nước ta có nhiều thì thế giới cũng có nhiều nhưng nhu cầu tiêu thụ lại không cao. Khoáng
sản là một nguồn tài nguyên không tái tạo vì vậy nên việc đánh giá, nhận định đúng tiềm năng, trữ lượng
là việc hết sức quan trọng trong việc lên kế hoạch khai thác và sử dụng hợp lý có hiệu quả là điều hết sức
cần thiết, phục vụ cho việc phát triển kinh tế bền vững của đất nước cho hiện tại và tương lai.
Ngoại trừ hạn chế tiềm năng khoáng sản thì việc sử dụng công nghệ khai thác khoáng còn nhiều bất
cập và hạn chế. Nhiều loại công nghệ đưa vào sản xuất là công nghệ lạc hậu không phù hợp với loại
khoáng sản khai thác, chưa quan tâm áp dụng công nghệ tiên tiến nên mức độ thu hồi thấp, không thu
hồi được các loại khoáng sản đi kèm. Việc chế biến khoáng sản với các công nghệ lạc hậu làm năng suất
và hệ số thu hồi thấp, chấp lượng sản phẩm chưa cao, phần lớn sản phẩm chỉ có thể đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu ở các nước trung bình. Việc xây dựng các cơ sở chế biến còn chạy theo phong trào, bệnh thành tích
khiến việc phát triển không cân đối tiêu tốn nhiều tiền bạc, khiến sản phẩm chất lượng không cao sản
phẩm lưu kho nhiều khiến chi phí bảo tồn và chế biến lại tăng cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao.
Do công nghệ khai thác chưa được quan tâm đúng mực do phần lớn là các mỏ có quy mô nhỏ việc
chế biến và khai thác còn manh mún, nhỏ lẻ nên không thu hồi các sản phẩm khoáng sản đi kèm khiến
thất thoát lượng lớn tài nguyên khoáng sản. Do năng lực có hạn nên chỉ có thể khai thác được mỏ giàu
bỏ đi toàn bộ phần quặng nghèo và các sản phẩm đi kèm không chỉ gây tổn thất mà còn gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Ngoài ra việc khai thác tự phát không có sự đồng ý của chính quyền khiến việc đầu
tư công nghệ vào khai thác và chế biến không được quan tâm gây ra nhiều hậu quả cho con người và
môi trường khó thể khắc phục.
Việc khai thác khoáng sản có tác động nhiều đến môi trường không khí: hoạt động khai thác khoáng
sản tạo ra bụi chủ yếu trong các quá trình nổ mìn, đào xúc, bốc xúc đất, vận chuyển khoáng sản; hoạt
động khai thác tạo ra các chất khí độc hại từ các khối khoáng sản đang khai thác, từ các vụ nổ mìn. Tác
động đến môi trường nước: do đào và khai thác làm suy thái cạn kiệt dòng nước ngầm, hạ thấp mực
nước ngầm gây ô nhiễm các tầng chứa nước ngọt, các dòng bùn thải mang theo các chất độc hại như các
loại muối hòa tan, các kim loại nặng, dầu mỡ và các hóa chất sử dụng trong quá trình khai thác. Tác động
đến môi trường đất, sinh thái và cảnh quan: hiện tượng mất đất mất rừng do khai thác lộ thiên, thay đổi
địa hình nguyên thủy, đất đai khu vực khai thác thường bị bóc đi lớp đất màu dễ bị xói mòn nên không
thuận lợi cho việc tái phủ xanh rừng. Tác động đến con người: khu vực khai thác gây ra nhiều tiếng ồn
hơn mức cho phép do các thiết bị khai thác và nổ mìn có tác động xấu đến sức khỏe của nhân dân địa
phương.
2. Hóa chất.
Hóa chất có rất nhiều tác dụng trong công nghiệp cũng như nông nghiệp, nó dung để khai thác tài
nguyên khoáng sản hay sản xuất phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vất,… . Trước hết cần hiểu hóa
chất là gì? Hóa chất là một dạng của vật chất mà có hợp chất và đặc tính hóa học không đổi. không thể
tách nó ra thành những thành phần nhỏ hơn bằng các phương tách vật lý mà không làm bẻ gẫy các lien
kết hóa học. Hóa chất có các trạng thái rắn, lỏng, khí, plasma. Các hóa chất thường được gọi là tinh khiết
để phân biệt với hỗn hợp chứa nhiều hóa chất khác nhau. Tuy vậy, trong tự nhiên ít khi gặp các hóa chất
tinh khiết mà chúng thường ở dạng hỗn hợp nhiều hóa chất. Hóa chất tồn tại dưới dạng rắn, lỏng, khí,
plasma và có thể thay đổi trạng thái dưới tác động của nhiệt độ hay áp suất. Các phản ứng hóa học biến
một chất hóa học thành chất hóa học khác.
Hóa chất được sử dụng rất nhiều trong khai thác khoáng sản, nông nghiệp, y tế,… . Nhưng việc xử lý
chất thải hóa chất sau khi sử dụng hay việc sử dụng hóa chất đúng liều lượng lại không được chú ý một
cách đúng đắn khiến việc chất thải hóa học sau khi sử dụng bị đổ thẳng ra ngoài môi trường (nhất là các
dòng sông) gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng:
•
•
•
Trong công nghiệp: Việc sử dụng axit trong quá trình phân tách cation kim loại rồi đổ chất thải
xuống sông hay việc sản xuất chế biến đồ ăn, nước uống nhà máy vì giảm lượng tiền để chi vào
việc xử lý hóa chất sau khi sử dụng mà đổ thẳng xuống sông gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường sống của các loài thủy sinh gây chết hàng loạt, làm thay đổi độ PH của đất làm chết
các loại nông sản khiến bà con nông dân thiệt hại nặng nề.
Trong nông nghiệp: Mặc dù cho đến nay còn nhiều quan điểm khác nhau vè việc sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, nhưng phải công nhận thuốc bảo vệ thực vật đã góp
phần không nhỏ vào việc bảo vệ và tăng năng suất cây trồng. Do vậy người nông dân vẫn sử
dụng nó một cách tràn lan và không theo đúng liều lượng mà quên mất đi mặt trái của chúng.
Theo thống kê trong những tháng đầu năm 2015, cả nước hiện vẫn còn tồn tại 1562 điểm tồn
lưu do hóa chất bảo vệ thực vật, nằm rải rác trên địa bàn 46 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương. Hiện nay, phần lớn các khu vực bị ô nhiễm lại đang nằm lẫn trong khu vực dân cư hay các
khu vực ruộng đồng đang được canh tác. Do tính chất khó phân hủy có thể tồn tại trong hàng
chục thậm chí hàng trăm năm. Ô nhiễm môi trường do thuốc bảo vệ thực vật là một vấn đề hết
sức nghiêm trọng, những hóa chất này có thể theo nước mưa và ngấm vào nguồn nước ngầm
sinh hoạt hoặc tiềm ẩn trong không khí, thức ăn. Đây được coi là một trong những tác nhân gây
ra nhiều loại bệnh ung thư điển hình như hiện nay. Vấn đề nan giải nhất tại các điểm tồn lưu
thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam là các hóa chất này đã bị chôn lấp, rò rỉ, rơi vãi trong quá trình
vận chuyển... Do đó công việc chủ yếu hiện nay là xử lý, cải tạo triệt để nhằm khôi phục các khu
vực bị ô nhiễm nhưng khó khăn là việc xử lý tồn dư thuốc bảo vệ thực vật yêu cầu về mặt kỹ
thuật là rất cao và đòi hỏi có nguồn khinh phí rất lớn. Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có 1 báo
cáo đánh giá nào liên quan đến những hậu quả do tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật gây ra đối với
sức khỏe con người và động, thực vật. Vì vậy người dân và chính quyền vẫn không nhận thức
được hết mối nguy hại lâu dài của nó.
Trong ngành y tế: Chất thải hóa học rất đa dạng bao gồm cả chất thải nguy hại và chất thải không
gây nguy hại. Chất thải không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, muối,… . Chất thải
nguy hại như dược phẩm quá hạn, Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, các hóa chất
dung để diệt khuẩn trong không khí, làm sạnh, khử khuẩn, tẩy uế, thanh trùng, chất thải có chứa
kim loại nặng (thủy ngân trong nhiệt kế, cadimi trong pin và ắc quy, chì,…),… . Tác hại của chất
thải y tế đối với môi trường đất là nếu không được xử lý đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh,
hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm sâu vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi
trường sinh thái, ngấm vào các tầng sâu trong đất,… làm việc khắc phục hậu quả gặp nhiều khó
khăn. Đối với môi trường không khí, chất thải khi phân loại tại nguồn và lúc thu gom vận chuyển
phát tán vào không khí bào tử sinh vật, hơi dung môi, hóa chất vào không khí. Việc đốt gây phát
sinh các khí độc hại HX, NOx, đioxin,… từ lò đốt và các chất khí CH4, NH3, H2S,… từ bãi chon lấp.
Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng
dân cư xung quanh. Đối với môi trường nước, khi chôn lấp không đúng kỹ thuật và không hợp vệ
sinh, dặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm
nguồn nước ngầm.
…
Đánh giá chung: Người dân Việt Nam ta vẫn chưa đánh giá hết mối nguy hiểm gây ô nhiễm nặng nề
của chất thải hóa chất hay tham lợi khiến việc đầu tư vào công đoạn xử lý chất thải hóa chất không được
quan tâm và đầu tư đúng mực, chỉ khi nào hậu quả xảy ra người ta mới bắt đầu quan tâm đến việc xử lý
chất thải hóa chất là muộn vì muốn xử lý hậu quả phải mất nhiều chi phí hơn nhiều chi phí bỏ ra để đầu
tư công nghệ xử lý cái mà đúng ra họ nên bỏ ra từ đầu. Mặt khác phần lớn các nhà máy, bệnh viện được
xây dựng trong giai đoạn đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề chưa cao nên các nhà máy,
bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật. Bên cạnh đó, công
tác kiểm tra quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để.
3. Phân bón.
Trong 20 năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt từ nền nông nghiệp tự
cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa. Cùng với việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) sự cạnh tranh khốc liệt đồi hỏi nông sản phải đạt năng suất, chất lượng cao nhằm tăng giá trị
đồng thời hạ giá thành sản phẩm. Việc tăng sản lượng nông sản phụ thuộc vào 2 yếu tố đó là tăng diện
tích gieo trồng và tăng năng suất. Trong khi tăng diện tích gieo trồng bị hạn chế thì tăng năng suất là biện
pháp chính để gia tăng sản lượng nông sản. Ngoài các biện pháp kỹ thuật thì việc bảo đảm độ phì của
đất góp phần bảo đảm việc tăng năng suất thông qua việc bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết từ phân
bón.
Trước hết cần hiểu phân bón là gì? Phân bón là chất dinh dưỡng do con người bổ sung cho cây
trồng. Trong phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây. Các chất dinh dưỡng chính trong
phân là: đạm(N), lân(P), và kali(K). Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi lượng... . Phân bón
được chia ra làm 3 nhóm chính:
•
•
Phân vô cơ: gồm phân khoáng thiên nhiên hoặc phân hoá học, trong thành phần có chứa một
hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ. Nhưng việc sử dụng phân bón vô cơ không thể thay thế
các vi chất khoáng trong đất, vốn dần bị cạn kiệt theo mùa màng.Tuy nhiên việc sử dụng này lại
gây sức ép môi trương đất: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp, bón phân
không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm, chất lượng phân bón không đảm bảo chất lượng
khiến đất bị cứng và chua.
Phân hữu cơ: Các phân bón hữu cơ gồm các chất hữu cơ tự nhiên, (ví dụ phân, chất giun
đùn, phân ủ, tảo biển), hay các trầm lắng khoáng chất tự nhiên (ví dụ saltpeter, phân chim).
Ngoài tác dụng làm gia tăng sản lượng và cung cấp dưỡng chất trực tiếp cho cây, các loại phân
bón hữu cơ có thể cải thiện sự đa dạng sinh học (tuổi thọ đất) và khả năng sản xuất lâu dài của
đất, và có thể là nơi lưu giữ phần lớn lượng carbon dioxide thừa.
•
Phân vi sinh: là loại phân bón trong thành phần có chứa một hoặc nhiều loại vi sinh vật sống có
ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối
kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác có mật độ và hoạt tính
đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hiện nay nước ta có khoảng 300 cơ sở sản xuất phân bón, trong đó có một số doanh nghiệp có năng
lực sản xuất tương đối lớn. Từ chỗ phải nhập khẩu gần 60% phân bón, đến nay nước ta đã chủ động
được nguồn cung phân đạm. Do năng lực sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu đối với các loại
phân bón lân, ka-li cho nên cả nước vẫn phải nhập khẩu khoảng 2,3 triệu tấn phân bón, chủ yếu là các
loại nêu trên để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do phân bón chưa được quy định là mặt hàng
sản xuất kinh doanh có điều kiện, có giấy chứng nhận hoặc giấy phép, do vậy nhiều cơ sở nhỏ lẻ chưa có
đủ các điều kiện cần thiết, chất lượng sản phẩm kém vẫn có thể tham gia sản xuất kinh doanh. Dẫn đến
tình trạng sản xuất kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng, làm hàng nhái đang trở thành
vấn đề nhức nhối, gây thiệt hại cho bà con nông dân, nhất là ở những địa bàn trọng điểm về sản xuất
nông nghiệp. Còn các công ty sản xuất phân bón lớn thì chưa quan tâm đén việc đầu tư dây chuyền sản
xuất khiến không tận dụng hết được các nguồn tài nguyên sản xuất dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao
và gây ô nhiễm môi trường nước và không khí xung quanh khu vực sản xuất.
Đánh giá chung: Việt Nam là một nước nông nghiệp nên việc bón phân khoa học, kiên trì kết hợp sử
dụng phân vô cơ và phân hữu cơ, kết hợp việc sử dụng đất và bồi dưỡng đất, mặt khác thường xuyên đề
xuất giải pháp tối ưu về cơ cấu phân bón và cải tiến phương pháp bón phân. . Không chỉ tăng sử dụng có
hiệu quả phân đa lượng (đạm, lân và kali) mà còn phải chú ý bón nguyên tố trung và vi lượng; không
những tăng đúng mức (cân đối) lượng phân vô cơ mà còn phải tích cực khai thác và sử dụng các loại
phân hữu cơ (phân hữu cơ truyền thống và phân hữu cơ chế biến). Đồng thời với việc nâng cao năng lực
sản xuất (nhập khẩu công nghệ mới nhất trong sản xuất phân bón) và nhập khẩu phân bón (cả phân vô
cơ và phân hữu cơ chế biến) thì tiến bộ kỹ thuật về phân bón ở nước ta phải góp phần nâng cao hiệu
suất sử dụng phân bón trên cơ sở: coi trọng việc sử dụng phân hữu cơ; đa dạng hoá cơ cấu chủng loại
phân vô cơ, trong đó có loại phân chứa các chất điều tiết,ức chế giải phóng dinh dưỡng để tiết kiệm
phân do ít bị bốc hơi, rửa trôi theo nguồn nước, cũng như giảm chi phí lưu thông để nhằm mục đích
tăng hiệu quả kinh tế sử dụng phân bón và bảo vệ môi trường. Việc kết hợp bón phân vô cơ, hữu cơ kết
hợp phân vi sinh tạo độ xốp cho đất, duy trì và nâng cao độ phì nhiêu thực tế của đất.
Kết luận
Nước ta vẫn còn là nước nghèo nên việc đầu tư vào công nghệ khai thác cũng như sản xuất và việc
xử lý chất thải chưa được quan tâm một cách đúng mức khiến việc khai thác, sản xuất có hiệu quả chưa
cao gây những hậu quả nghiêm trọng về môi trường cũng như con người. Ngoài ra việc tham lợi của chủ
doanh nghiệp khiến việc đầu tư vào công nghệ khai thác, sản xuất và xử lý chất thải không được chú
trọng, việc thiếu hiểu biết của con người dẫn đến người dân không ý thức được việc bảo vệ môi trường,
đấu tranh cho việc bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra khiến
sự việc diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Trong khi việc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường rất tốn
kém và mất nhiều thời gian.