Lời cảm ơn
4 năm qua đi là 4 năm tôi đợc dìu dắt, trởng thành dới mái trờng Học
viện Báo chí và Tuyên truyền. Khóa luận tốt nghiệp Khai thác và lựa chọn đề
tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam là
kết quả của những năm tháng nỗ lực phấn đấu, cùng với sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô giáo trong khoa Phát thanh - truyền hình và các cô chú, anh
chị đang công tác tại Phòng kinh tế 2 - Đài truyền hình Việt Nam
Qua khóa luận này, tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới các thầy cô khoa Phát thanh - Truyền hình, đặc biệt là cô giáo Đinh
Thị Xuân Hoà, ngời đã trực tiếp hớng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình
xây dựng và hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các nhà báo Lê Bình - trởng phòng
kinh tế 2 và phóng viên Trần Kiên - Phó phòng kinh tế 2 - Ban Thời sự - Đài
truyền hình Việt Nam đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này. Cuối cùng, tôi xin
gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè, ngời thân - những ngời đã luôn sát cánh động
viên, ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua.
Một lần nữa, xin cho tôi đợc gửi đến tất cả mọi ngời lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất!
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên: Vũ Thuý Hà
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thông tin của công chúng ngày
càng đa dạng, phong phú. Công chúng không chỉ cần có nhiều thông tin mà
lại còn muốn có nhiều thông tin chuyên sâu về một lĩnh vực. Nắm bắt được
nhu cầu thiết thực đó, trong thời gian qua Đài truyền hình Việt Nam đã cho ra
đời rất nhiều bản tin chuyên sâu. Ví dụ: Về lĩnh vực kinh tế có “Bản tin tài
chính”, bản tin “Việt Nam và các chỉ số”; về lĩnh vực văn hóa có “bản tin văn
hóa”; về y tế có “Bản tin O2TV”…
Nhiều bản tin trong số đó đã định hình được phong cách, khẳng định
chất lượng, thu hút được sự quan tâm, mến mộ của đông đảo công chúng.
Cùng với phát triển này là sự trưởng thành của đội ngũ phóng viên của các
bản tin. Nhiều phóng viên đã khẳng định được phong cách tác nghiệp chuyên
nghiệp. Họ có nhiều kinh nghiêm trong tổ chức sản xuất đặc biệt khai thác,
lựa chọn, xử lý thông tin. Song bên cạnh đó cũng có không ít phóng viên còn
tỏ ra lúng túng, thiếu chuyên nghiệp trong công việc đặc biệt là trong khâu
khai thác, lựa chọn đề tài. Chính điều này đã ảnh hưởng không tốt tới những
công đoạn tác nghiệp sau cũng như chất lượng chương trình. Vậy nên việc tìm
ra thực trạng, nguyên nhân từ đó đưa ra những kiến nghị hợp lý cho quá trình
tác nghiệp đặc biệt là khâu khai thác, lựa chọn đề tài rất quan trọng. Chính vì
vậy, tôi đã chọn đề tài “Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu
về kinh tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát “Bản tin tài chính”
và “Bản tin Việt Nam và các chỉ số” trên kênh VTV1 từ tháng 2 đến tháng 5
năm 2010). làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình..
2. Tình hình nghiên cứu
So với báo in và phát thanh, truyền hình Việt Nam ra đời, phát triển rất
muộn. Nhưng với hình ảnh và âm thanh sinh động, truyền hình đã nhanh
chóng trở thành loại hình hấp dẫn thu hút được sự quan tâm của đông đảo
công chúng và nhiều nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về
loại hình này, có thể chia làm ba nhóm. Thứ nhất, nghiên cứu về góc độ kỹ
2
thuật. Thứ hai, nghiên cứu về góc độ sản xuất tác nghiệp. Thứ ba: nghiên cứu
về các thể loại truyền hình, chương trình truyền hình.
Nghiên cứu về bản tin, tổ chức sản xuất bản tin truyền hình chuyên sâu
có một công trình tiêu biểu: “Quy trình tổ chức và lên sóng chương trình
“bản tin O2 – kênh O2TV ban biên tập truyền hình cáp Đài truyền hình Việt
Nam.” Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương, khoa Phát
thanh – Truyền hình, H, 2009
Mặc dù đề tài này có đề cập đến bản tin chuyên sâu nhưng lại về lĩnh
vực khác cụ thể là lĩnh vực y tế.; chưa có đề tài nào để cập tới bản tin chuyên
sâu về kinh tế. Mặt khác, việc nghiên cứu này ở tầm khái quát đó là nghiên
cứu về cả quy trình sản xuất ra bản tin, chứ chưa đi vào một công đoạn cụ thể.
Chẳng hạn như khai thác lựa chọn đề tài… Vậy nên có thể nói rằng, góc độ
“Khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin chuyên sâu về kinh tế” vẫn còn là
một khoảng trống cần nghiên cứu, bổ sung.
3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận:
3.1. Mục đích:
Khóa luận tập trung chỉ ra thực trạng việc khai thác, lựa chọn đề tài cho
bản tin chuyên sâu về kinh tế trên Đài truyền hình Việt Nam, ưu và nhược
trong quá trình khai thác, lựa chọn đề tài; nguyên nhân của những hạn chế, từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của công việc này.
3.2. Nhiệm vụ:
Để hoàn thành khóa luận này, cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu và đưa ra những lí luận chung về đặc trưng của bản tin
truyền hình chuyên sâu; những tương đồng và khác biệt trong khai thác đề tài
của bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế với các bản tin khác.
- Khảo sát một số “Bản tin Tài chính” và bản tin “Việt nam và các chỉ
số” đã phát sóng trên VTV1.
- Gặp gỡ trao đổi với lãnh đạo, phóng viên của 2 bản tin khảo sát để
hiểu về công việc tác nghiệp, quá trình khai thác lựa chọn đề tài.
3
- Phân tích, chỉ ra thực trạng, ưu, nhược điểm của quá trình khai thác,
lựa chọn đề tài của phóng viên 2 bản tin.
- Chỉ ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng việc khai thác,
lựa chọn đề tài cho các bản tin chuyên sâu…..
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng
- Các bản tin chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài Truyền hình Việt
Nam, cụ thể hai bản tin: “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các chỉ số”.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian 3 tháng từ tháng 2/2010 đến tháng 5/2010
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lí luận
Dựa trên những vấn đề lí luận chung về báo chí, báo chí truyền hình;
những vấn đề chung về kinh tế- xã hội; cơ sở lí luận biện chứng, tư duy khách
quan,....
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra xã hội học để phân loại đối tượng của các chương trình, nắm
bắt nhu cầu, sở thích của từng đối tượng.
- Phỏng vấn sâu để thấy rõ quan điểm của khán giả về chương trình
bản tin chuyên sâu đó, ý kiến của họ.
- Phỏng vấn anket cho thấy sự khách quan trong ý kiến của khán giả và
tìm ra xu hướng.
- Phân tích, so sánh những thông tin đã có trên cơ sở thực tế, khoa học
một cách cụ thể, chi tiết và tìm ra nguyên nhân, hướng đến giải pháp nâng cao
chất lượng.
- Tổng hợp, thống kê kết quả của các phương pháp trên để rút ra kết
luận.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4
- Xác định được nguồn đề tài phục vụ cho các bản tin chuyên sâu
- Tìm ra phương pháp để tiếp cận đề tài, khai thác, lựa chọn và sử dụng
như thế nào cho hợp lí, hiệu quả.
- Thấy được sự khác biệt trong cách khai thác, lựa chọn đề tài cho các
bản tin chuyên sâu về kinh tế với các chương trình bản tin khác. Trên cơ sở đó
rút kinh nghiệm cho bản thân trong việc phải khai thác, lựa chọn đề tài thế
nào?
- Góp tiếng nói cải tiến, nâng cao chất lượng việc khai thác, lựa chọn
đề tài cho các chương trình truyền hình nói chung, bản tin chuyên sâu nói
riêng
- Đây là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương:
Chương 1: Những lí luận chung về khai thác và lựa chọn đề tài cho các
chương trình truyền hình.
Chương 2: Thực trạng việc khai thác và lựa chọn đề tài cho các bản tin
chuyên sâu về kinh tế trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay.(Khảo
sát : “Bản tin tài chính” và “ Việt Nam và các chỉ số”).
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng việc khai thác và lựa chọn đề
tài cho bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế.
5
Chương I
NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHAI THÁC VÀ LỰA CHỌN
ĐỀ TÀI CHO CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
1. Một số khái niệm:
Để có một sản phẩm báo chí: có thể là một tác phẩm,1 tờ báo,1 chương
trình truyền hình đưa đến công chúng, cần rất nhiều nguyên liệu cũng như
một quá trình tác nghiệp nghiêm túc với nhiều quy trình của đội ngũ phóng
viên. Nguyên liệu đầu tiên rất quan trọng phải kể tới đó là đề tài. Đề tài là
nguồn sống của tác phẩm báo chí. Đề tài quyết định nhiều tới chất lượng tác
phẩm, sản phẩm báo chí. Vậy đề tài là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đề tài là đối tượng để nghiên cứu hoặc miêu
tả, thể hiện trong tác phẩm khoa học hoặc văn học nghệ thuật” [1, “Từ điển
Tiếng Việt” - trang 314],. Vì là “đối tượng nghiên cứu” nên không có đề tài
thì không có tác phẩm, dù đó là lĩnh vực nào, văn học nghệ thuật hay báo chí.
Tuy nhiên, tùy từng lĩnh vực mà đối tượng nghiên cứu hay nói cách khác đề
tài phản ánh sẽ khác nhau..
Đề tài báo chí là lĩnh vực các sự kiện, hiện tượng, vấn đề trong đời
sống xã hội được lựa chọn để phản ánh trên báo chí. Trong dòng cuộc sống xã
hội không ngừng vận động và biến đổi đó, hàng ngày, hàng giờ có biết bao đề
tài, lĩnh vực cần tuyên truyền, phản ánh. Có những đề tài có thể dễ dàng nhận
biết nhưng có những đề tài lại khuất lấp rất khó cho việc phát hiện, lựa chọn.
Vậy nên, để có đề tài hay, hấp dẫn đáp ứng được nhu cầu cầu thông tin,
thưởng thức của công chúng, luôn cần tới công việc khai thác và lựa chọn của
phóng viên.
- Khai thác: là “phát hiện và sử dụng những cái có ích còn ẩn giấu hoặc
chưa được tận dụng”. [1, “Từ điển Tiếng Việt”- trang 488].
6
- Lựa chọn: là “chọn lấy những cái đáp ứng yêu cầu trong nhiều cái
cùng loại, là chọn chiều, hướng, lối sao cho việc làm đạt kết quả tốt nhất”.
[1, “Từ điển Tiếng Việt”- trang 593]
Khai thác và lựa chọn đó là hai công đoạn của một quá trình làm nên
một sản phẩm báo chí. Có khai thác thì mới có cái để lựa chọn. Khai thác
càng nhiều thì sự lựa chọn càng phong phú. Có sự lựa chọn thì mới có những
nguyên liệu - đề tài hay, hấp dẫn phục vụ cho công việc sáng tạo tác phẩm
hoặc bản tin, chương trình truyền hình. Sẽ không có đề tài hay đồng nghĩa
với việc không có bản tin, chương trình hay nếu quá trình khai thác và lựa
chọn diễn ra cẩu thả, thiếu nghiêm túc.
Vậy có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Khai thác và lựa chọn đề
tài (cho báo chí, cho truyền hình): là quá trình tìm kiếm, phát hiện sau đó gạn
lọc chọn ra sự kiện, hiện tượng,vấn đề có ý nghĩa nhất nảy sinh trong đời
sống xã hội mà mọi người còn ít biết đến để phản ánh trên báo chí (tác phẩm,
bản tin, chương trình) sao cho đạt hiệu quả tốt nhất”.
2. Vị trí, vai trò của việc khai thác và lựa chọn đề tài.
2.1. Vị trí
Để có một chương trình truyền hình phát sóng dù với thời lượng là 5
phút hay một chương trình dài 50 phút hoặc hơn thế nữa thì những người thực
hiện chương trình đó đều phải trải qua hai công đoạn sáng tạo tiền kì và hậu
kì. Tiền kì có vai trò quyết định rất lớn tới chất lượng khâu hậu kì và tới cả
chương trình truyền hình.
Khâu tiền kì có rất nhiều công việc cần phải thực hiện trong đó việc xác
định đề tài là bước đầu tiên và là công đoạn không thể thiếu trong dây chuyền
sản xuất các chương trình truyền hình. Phải có đề tài thì mới có những công
đoạn tiếp theo. Có đề tài mới có chương trình truyền hình. Nhưng để có được
đề tài cần phải trải qua hai bước quan trọng, không ít khó khăn đối với những
người thực hiện chương trình. Đó là khai thác và lựa chọn đề tài. Tìm đề tài ở
7
đâu? Chọn đề tài như thế nào để phản ánh trong vô số những đề tài khai thác
được? Đây là những câu hỏi rất hóc búa, trăn trở không chỉ của những phóng
viên mới bước vào nghề mà còn đối với cả những phóng viên lâu năm trong
nghề.
Một nhà báo lão thành Cách mạng Pháp đã đúc kết: “Viết lời cho một
tác phẩm, một chương trình không khó. Cái khó là khai thác và lựa chọn đề
tài để thực hiện tác phẩm đó.”
2.2. Vai trò
Cuộc sống luôn vận động, biến đổi không ngừng tạo nên hiện thực sôi
động, nóng bỏng làm chất chứa, nảy sinh vô vàn sự kiện, vấn đề phong phú
nhưng cũng vô cùng phức tạp về cuộc sống, về mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội, chính trị,…Đó chính là môi trường sinh động sản sinh ra đề tài cho
các chương trình truyền hình. Trong hoạt động sáng tạo của nhà báo, việc xác
định đề tài mà cụ thể là khai thác và lựa chọn đề tài chính là quá trình “ gạn
đục, khơi trong”, đặc tả hiện thực cuộc sống.
Việc khai thác và lựa chọn đề tài cụ thể, rõ ràng sẽ giúp phóng viên xác
định được tư tưởng, chủ đề của chương trình. Mặt khác, việc xác định đề tài
còn giúp cho nhà báo khoanh vùng được đối tượng, giúp cho việc thu thập
thông tin, thu thập những tài liệu liên quan thuận lợi, phù hợp. Đồng thời xác
định đề tài còn giúp cho khán giả có cái nhìn cận cảnh, nhận thức rõ ràng nhất
những gì đang diễn ra xung quanh cuộc sống của họ. Khai thác, lựa chọn đề
tài tốt đồng nghĩa với việc chọn được một món ăn ngon, phù hợp với nhu cầu,
khẩu vị của người thưởng thức. Và ngược lại, việc khai thác, lựa chọn đề tài
cho chương trình truyền hình không tốt đồng nghĩa với việc sẽ có một sản
phẩm tồi, thiếu hấp dẫn, không thu hút được sự quan tâm của công chúng.
Việc khai thác và lựa chọn đề tài như thế nào còn quyết định hình thức
của chương trình đó. Vì vậy giải thích tại sao với đề tài này phóng viên chỉ
8
dừng lại ở mức độ đưa thông tin còn với đề tài kia phóng viên có thể sử dụng
những hình thức khác như bình luận, phân tích, phóng sự,….
Cũng từ đề tài sẽ quyết định nội dung của chương trình. Phản ánh vấn
đề gì, phương pháp phản ánh, bố cục, cấu trúc văn phong, chi tiết , sự kiện,
sắp xếp các chi tiết để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.
Việc khai thác, lựa chọn đề tài như thế nào còn góp phần quyết định sự
phong phú , đa dạng, hấp dẫn của các chương trình truyền hình. Đề tài nào thu
hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng thì đề tài đó sẽ có sức thuyết
phục người xem ngồi lại trước máy thu hình.
Bên cạnh đó, việc khai thác đề tài còn quyết định nét riêng, dấu ấn của
chương trình. Ngoài ra, qua việc khai thác và lựa chọn đề tài ta còn thấy được
tính chuyên nghiệp của phóng viên, của ê kíp làm chương trình trong quá
trình tác nghiệp.
Tóm lại, việc khai thác và lựa chọn đề tài là một nhiệm vụ cấp bách,
quan trọng, không thể thiếu trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình.
3. Khai thác và lựa chọn đề tài cho các bản tin truyền hình chuyên sâu
3.1. Chương trình thời sự - Bản tin thời sự - Bản tin chuyên sâu.
Chương trình thời sự - Bản tin thời sự?
Hệ thống truyền hình Việt Nam hiện nay đang tồn tại song song hai
thuật ngữ: “Chương trình thời sự” và “Bản tin thời sự”. Dù ở thuật ngữ nào
thì “Chương trình thời sự hay “Bản tin thời sự” đều có nhiệm vụ phát những
tin tức thời sự cập nhật nóng hổi mới xảy ra trong ngày. Nhưng cần hiểu thuật
ngữ này như thế nào?
Ngay cả những người không được học về lý luận truyền hình cũng dễ
dàng nhận ra, về hình thức chương trình thời sự có quy mô lớn hơn, thời
lượng dài hơn, sử dụng nhiều thể loại hơn trong bản tin thời sự. Họ cho rằng
chương trình thời sự là chính, còn các bản tin chỉ mang tính chất bổ trợ. Vậy
nên nếu nhìn nhận chương trình thời sự là chính, là quan trọng, bản tin thời sự
9
là phụ là kém quan trọng thì rõ ràng khó thuyết phục đối với những người có
hiểu biết chuyên ngành truyền hình đặc biệt là những người đang tham gia
sản xuất chương trình thời sự và bản tin thời sự. Nói vậy bởi việc thực hiện
chương trình thời sự hay bản tin thời sự quy trình đều như nhau. Vậy cần nhìn
nhận lại vấn đề này như thế nào?
Trước tiên, nên nhìn nhận chương trình thời sự là một hình thức phát
sóng, chứ không phải là một đơn vị phát sóng. Mỗi thời điểm phát sóng của
chương trình thời sự sẽ là một bản tin. Hay nói cách khác, bản tin thời sự là
đơn vị phát sóng của chương trình thời sự. Nhiều bản tin sẽ hình thành tổng
thể chương trình thời sự. Có thể hình dung chương trình thời sự giống như
một thư mục trong thư viện. Nó không trực tiếp chứa đựng thông tin mà chứa
những quyển sách mang thông tin. Những quyển sách mang thông tin ấy
chính là các bản tin.
Nếu quan niệm như vậy thì chương trình thời sự 19h như hiện nay sẽ
không gọi là “chương trình thời sự” nữa mà thay vào đó là “bản tin 19h”. Như
vậy thì sẽ tạo nên một mặt bằng với những bản tin phát trong ngày: bản tin
chào buổi sáng, bản tin 9h, bản tin 12h, bản tin 16h, bản tin 19h, bản tin tài
chính, bản tin Việt Nam và các chỉ số…. Khi đó những người tham gia sản
xuất chương trình sẽ có trách nhiệm như nhau trong quá trình tác nghiệp. Dù
là bản tin nào đi nữa, về bản chất chúng chỉ khác nhau về thời điểm phát sóng
và nội dung tin tức mà thôi.
Trong số những bản tin đang phát sóng hiện nay, có những bản tin ở đó
tin tức chuyên phản ánh về một lĩnh vực ví dụ “Bản tin Tài chính”, “Bản tin
Việt Nam và các chỉ số” là những bản tin chuyên về kinh tế; hay “Bản tin văn
hóa” - tin tức trong bản tin đó chuyên về lĩnh vực văn hóa….vì vậy để tiện
cho quá trình nghiên cứu chúng tôi gọi những bản tin như thế là bản tin
chuyên sâu. Và xin đưa một khái niệm như sau:
10
“Bản tin truyền hình chuyên sâu: là bản tin mà tất cả các tin, bài trong
đó đều tập trung thông tin, phản ánh về 1 lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã
hội”.
Bên cạnh những bản tin chuyên sâu còn có những bản tin mà ở đó tin
tức rất phong phú về nhiều khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị,
kinh tế, văn hóa, thể thao…). Ví dụ, bản tin chào buổi sáng, bản tin12h, hay
bản tin 16h, bản tin 19 h….Vậy nên, về hình thức có thể gọi đó là bản tin tổng
hợp để dễ so sánh với bản tin chuyên sâu.
Trên thế giới, việc sản xuất các bản tin chuyên sâu đã xuất hiện từ rất
sớm - những năm 70 của thế kỉ 20 trên các kênh truyền hình lớn như CNN,
BBC, NHK,… Với thế mạnh tin tức thời sự kết hợp với thông tin chuyên sâu
về 1 lĩnh vực, những kênh truyền hình đó đã nhanh chóng thu hút được sự
quan tâm của công chúng. Hiện nay không chỉ có những kênh truyền hình này
có kênh tin tức chuyên sâu mà nhiều nước khác trên thế giới cũng bắt tay sản
xuất những kênh chuyên về tin tức với đa dạng những bản tin chuyên sâu về
các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, bản tin chuyên sâu đầu tiên về lĩnh vực kinh tế mới được
ra đời từ năm 2006 trên sóng của Đài truyền hình Việt Nam. Mặc dù muộn,
nhưng bản tin đó cũng đã tạo ra những hiệu ứng tốt, những con mắt nhìn thiện
cảm của khán giả dành cho chương trình.
Sở dĩ, có sự ra đời của những bản tin chuyên sâu là do nhu cầu thông
tin của công chúng. Trình độ dân trí ngày càng cao, nhu cầu của khán giả
cũng ngày càng khắt khe hơn. Khán giả cần thông tin không chỉ đủ mà còn
phải sâu sắc, toàn diện. Những yêu cầu đó khó có thể đáp ứng trong một bản
tin tổng hợp.
3.2.
Đặc trưng của bản tin truyền hình chuyên sâu.
Tin tức là một thể loại vô cùng quan trọng trong mỗi loại hình báo chí.
Tin tức là thể loại có sớm nhất, được sử dụng nhiều nhất nhằm thông tin
nhanh nhất về những sự kiện quan trọng trong đời sống xã hội. Với sự phát
triển vượt bậc của khoa học- kĩ thuật, tin tức ngày càng phát triển mạnh mẽ,
11
phong phú. Ở hầu hết các tòa soạn báo, tạp chí hay các đài phát thanh - truyền
hình, thể loại tin luôn chiếm vị trí hàng đầu. Tin là chất liệu chủ yếu làm nên
bản tin. Bản tin truyền hình có vị trí đặc biệt không thể thiếu trong các
chương trình truyền hình. Có rất nhiều loại bản tin đã xuất hiện. Ví dụ bản tin
tổng hợp, bản tin chuyên sâu….
Bản tin chuyên sâu và bản tin tổng hợp có những điểm tương đồng, đều
mang đầy đủ những đặc trưng của một bản tin nói chung. Đó là:
+ Nơi tập hợp của một chuỗi những thông tin nóng hổi nhất, được
nhiều người quan tâm
+ Trong bản tin có thể có nhiều thể loại nhưng trong đó tin là thể loại
chiếm đa số.
+ Ngôn ngữ ngắn gọn, trực tiếp, dễ hiểu….
Bên cạnh những điểm chung đó, điểm chính làm nên sự khác biệt giữa
bản tin truyền hình chuyên sâu với những bản tin tổng hợp chính là ở mục
đích thông tin. Cả một chương trình bản tin chỉ tập trung vào 1 lĩnh vực , đi
sâu phân tích, lí giải chi tiết những sự kiện, vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực đó
để đem lại cho người xem cái nhìn toàn diện, cụ thể, thuyết phục về những gì
đang xảy ra. Chính điểm khác biệt cơ bản này đã dẫn tới một loạt những khác
biệt tác động tới quá trình tác nghiệp của phóng viên hai bản tin. Đó là sự
khác biệt về phạm vi đề tài, tính chất thông tin và đối tượng tiếp nhận.
- Về phạm vi đề tài: Nếu như trong các bản tin tổng hợp đề tài được
khai thác và lựa chọn từ mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh
tế, chính trị, văn hóa- tư tưởng, giáo dục, y tế, an ninh- quốc phòng từ đó cho
thấy diện mạo chung của xã hội thì trong một bản tin chuyên sâu đề tài chỉ
được khai thác và lựa chọn từ một lĩnh vực chuyên biệt nhằm làm cho khán
giả hình dung rõ diện mạo của lĩnh vực đó.
- Về tính chất thông tin: Đối với các bản tin tổng hợp, do trong một
chương trình có nhiều đề tài được khai thác từ nhiều lĩnh vực của cuộc sống
song thời lượng chương trình có hạn nên thông tin thường chỉ dừng lại ở mức
12
độ thông báo những tin tức nổi bật nhất xảy ra trong 1 lĩnh vực nào đó mà ít
đi sâu phân tích, bình luận cụ thể nguyên nhân, tính chất, diễn biến, kết quả
của sự kiện.
Trong khi đó bản tin chuyên sâu thì ngoài việc thông tin tương đối đầy
đủ về sự kiện, vấn đề trong lĩnh vực, bản tin còn đi sâu phân tích, lí giải chi
tiết, một số vấn đề quan trọng có tác động lớn đến đời sống xã hội từ nhiều
góc cạnh, giúp cho người xem có cái nhìn thấu đáo, thỏa đáng về lĩnh vực đó.
- Về đối tượng tiếp nhận: Đối tượng bản tin tổng hợp mang tính đại
chúng: đa dạng lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ. Đối tượng khán giả bản tin
chuyên sâu mang tính khu biệt hơn : đó là những người có trình độ hiểu biết
về lĩnh vực, cụ thể, sâu sắc hơn.
- Về ngôn ngữ: Do đặc điểm của bản tin chuyên sâu là tập trung đi sâu,
chi tiết vào 1 lĩnh vực cụ thể nên ngôn ngữ cũng mang đặc thù của lĩnh vực
đó với nhiều thuật ngữ chuyên môn. Trong khi đó mục đích, đối tượng của
bản tin tổng hợp đa dạng vì vậy ngôn ngữ mang tính đại chúng, thông dụng,
để tất cả mọi tầng lớp, vùng miền đều hiểu tiếp nhận thông tin dễ dàng.
3.3. Sự khác biệt trong khai thác và lựa chọn đề tài cho bản tin
truyền hình chuyên sâu với bản tin tổng hợp
Những đặc trưng của bản tin truyền hình chuyên sâu đã qui định cách
thức khai thác, lựa chọn đề tài riêng.
3.3.1. Nguồn tin ít
Nguồn tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình khai thác và lựa
chọn đề tài của phóng viên. Nguồn tin là nơi dung chứa các đề tài. Tuy nhiên,
do mục đích của bản tin truyền hình chuyên sâu chỉ phản ánh trong một lĩnh
vực, vì vậy đề tài trong các bản tin chuyên sâu cũng chỉ bó hẹp, giới hạn trong
một lĩnh vực nhất định mà không toàn diện trên mọi lĩnh vực như trong các
bản tin tổng hợp hay trong các chương trình truyền hình khác.
3.3.2. Cách khai thác, lựa chọn khó, mang tính chuyên môn cao
Bản tin tổng hợp có nhiệm vụ thông tin phản ánh mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội nên nguồn tin phong phú, dồi dào, đó là điều kiện thuận lợi để
13
phóng viên lựa chọn những đề tài đặc sắc, hấp dẫn cho bản tin của mình.
Trong khi đó bản tin chuyên sâu, nguồn cung cấp đề tài bị ràng buộc hạn chế
hơn do mục đích chỉ thông tin phản ánh trên một lĩnh vực vì vậy nguồn ít dẫn
tới việc khai thác, lựa chọn đề tài gặp khó khăn hơn.
Bản tin chuyên sâu cần một khối lượng lớn thông tin mà nguồn cung
cấp kém phong phú nên việc khai thác và lựa chọn thông tin, hình thành ý
tưởng, đề tài sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều. Điều này cũng trở thành sức ép
lớn đối với phóng viên tác nghiệp trong các chương trình bản tin chuyên sâu
nếu phóng viên đó không có kĩ năng khai thác cũng như hiểu biết về chuyên
ngành không tốt.
3.3.3. Nội dung đề tài có thể khai thác ở nhiều góc độ.
Nếu như bản tin tổng hợp, đề tài thường được khai thác ở góc độ chung
nhất, dễ hiểu nhất bằng hình thức thông báo hoặc phóng sự ngắn để người
xem có thể hình dung sơ lược nhất về sự kiện, sự việc thì đối với các bản tin
chuyên sâu, một đề tài có thể được “mổ xẻ”, phân tích dưới nhiều khía cạnh,
nhiều góc độ, nhiều đối tượng khác nhau. Từ đó giúp cho khán giả có thể thấy
bản chất của vấn đề. Ngoài ra, đối với các bản tin chuyên sâu thông tin về vấn
đề đó sẽ được liên tục cập nhật hàng ngày, hàng giờ theo diễn biến của vấn
đề cung cấp cho người xem cái nhìn cụ thể, toàn diện, đầy đủ về sự kiện nổi
bật trong lĩnh vực đó.
Ví dụ: Vấn đề tăng giá xăng dầu. Nếu bản tin thời sự 19 h chỉ thông báo
cho người xem ngày/tháng/năm sẽ tăng giá xăng, mức tăng là bao nhiêu, ý
kiến của người dân về việc tăng giá thì “Bản tin tài chính” lại có thể đưa tin ở
nhiều góc độ khác nhau: phân tích nguyên nhân của việc tăng giá từ đâu, giá
dầu thô là như thế nào, thực trạng của việc tăng giá, nhận định của chuyên gia
về tình hình xăng dầu, ý kiến của họ về vấn đề tăng giá và giải pháp; tăng giá
xăng dầu ảnh hưởng đến giá cả các mặt hàng, sinh hoạt như thế nào? Ảnh
hưởng giá vàng? Giá đôla?....
14
3.3.4. Sử dụng tổng hợp các phương thức để khai thác đề tài:
Cách thức khai thác đề tài có thể hiểu là các phương pháp, hình thức
được vận dụng để tìm kiếm, phát hiện những sự kiện, đề tài nảy sinh trong đời
sống xã hội để biến nó trở thành đề tài hấp dẫn cho các tác phẩm báo chí. Có
rất nhiều cách khai thác đề tài. Ví dụ: quan sát, đọc tài liệu, phân tích, so sánh,
tổng hợp, phỏng vấn…Mỗi phóng viên, tùy hoàn cảnh có cách khai thác đề tài
phù hợp.
Đối với các bản tin tổng hợp, do nguồn đề tài phong phú nên việc khai
thác không quá khó. Nhiều khi phóng viên chỉ cần sử dụng một hoặc vài
phương pháp là có thể dễ dàng khai thác, lựa chọn đề tài. Nhưng đối với bản
tin chuyên sâu, do có sự đòi hỏi tỉ mỉ, chi tiết về thông tin, mặt khác các
nguồn cung cấp thông tin lại hạn hẹp nên phóng viên cần linh hoạt trong các
phương pháp, nhiều khi phải vận dụng tổng hợp các kĩ năng trong cách thức
khai thác đề thì mới có thể có được đề tài hấp dẫn.
3.3.5 Mức độ khai thác tìm kiếm cần đặc biệt chủ động
Đối với các bản tin tổng hợp, do nguồn tin khá dồi dào, phong phú nên
việc khai thác lựa chọn không quá khó, không có đề tài lĩnh vực này có thể
tăng đề tài ở lĩnh vực khác cho bản tin. Trong khi đó bản tin chuyên sâu
nguồn đề tài ít, chuyên gia ít vì vậy đòi hỏi một sự chủ động đặc biệt trong
khai thác, lựa chọn đề tài. Bởi xét cho cùng, trong một ngày chỉ trên một lĩnh
vực, không phải lúc nào cũng đa dạng thông tin và những thông tin đó cũng
có sức thuyết phục người xem. Điều này đòi hỏi phóng viên phải hết sức chủ
động, linh hoạt trong các thức khai thác nguồn thông tin làm đề tài. Phóng
viên cần “lăn lộn” vào lĩnh vực đó, phải có cách nhìn vấn đề dưới các góc độ
mới, có như vậy mới có những đề tài cập nhật, hấp dẫn.
3.3.6. Quá trình lựa chọn đề tài phụ thuộc vào nhiều đối tượng khán
giả hẹp, chuyên môn sâu
Do mục đích của bản tin chuyên sâu là đi sâu vào một đối tượng công
chúng nhất định, để mang đến cho họ những thông tin phong phú, đa dạng về
15
lĩnh vực đó trên mọi góc cạnh, cung cấp cái nhìn tổng quan về những gì đang
diễn ra trên một lĩnh vực nhằm giúp người xem có những động thái nhất định.
Chính mục đích như vậy nên đối tượng khán giả khu biệt hơn so với khán giả
của bản tin tổng hợp: họ có thể là chuyên gia, những người am hiểu, yêu thích
có mối quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực đó….
Chính đối tượng khu biệt như vậy nên quá trình xác định đề tài phóng
viên phải có căn cứ nhất định vào đối tượng tiếp nhận của mình mà lựa chọn
đề tài cho phù hợp. Vì đối tượng đã được khu biệt và họ là những người am
hiểu sâu sắc về lĩnh vực của mình nên quá trình khai thác, lựa chọn đề tài như
thế nào cũng là một thách thức lớn đối với phóng viên. Nếu lựa chọn đề tài
không tốt, không sâu, không phản ánh được đúng tầm của vấn đề thì sẽ không
thu hút được sựu quan tâm của nhóm khán giả đặc biệt này. Để khai thác, lựa
chọn đề tài phù hợp đối tượng phóng viên cần nghiên cứu kĩ về nhu cầu, lứa
tuổi, nghề nghiệp, trình độ cũng như môi trường sống của đối tượng…
3.3.7 Việc khai thác đề tài luôn đặt trong mối quan hệ ràng buộc
giữa các góc độ của các thông tin trong bản tin.
Thành tố làm nên một bản tin truyền hình là sự kết nối của nhiều thể
loại với nhiều thông tin thời sự nóng hổi. Vậy để có một bản tin truyền hình
chuyên sâu, sẽ là sự tổng hợp của nhiều tin bài về một lĩnh vực. Từng tin bài
đó là sự tác nghiệp riêng lẻ của từng phóng viên. Nhưng để làm sáng tỏ lĩnh
vực đó hoặc sâu hơn là một vấn đề trong lĩnh vực đó thì vấn đề đặt ra là trong
quá trình tác nghiệp mỗi phóng viên luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ với
đồng nghiệp trong bản tin để có sự trao đổi, lựa chọn đề tài sao cho sau khi
trở về từ hiện trường sẽ khâu nối thành một bức tranh hoàn chỉnh, sinh động
giúp cho người xem thấy rõ được sự vận động, diện mạo của lĩnh vực mà họ
quan tâm.
Ví dụ: Giá vàng thường tỉ lệ nghịch với giá dầu. Khi giá dầu tăng thì
giá vàng giảm và ngược lại. Trong một bản tin kinh tế khi đã đưa thông tin về
giá vàng thì thường sẽ có thêm thông tin về giá USD.
16
Hoặc sự biến động của giá dầu thô ảnh hưởng tới giá cả của nhiều loại
hàng hóa, dịch vụ khác….
Tóm lại, sự khác biệt trong cách thức khai thác và lựa chọn đề tài giữa
bản tin chuyên sâu với các bản tin tổng hợp và các chương trình khác xuất
phát từ sự khác biệt về mục đích thông tin, tính chất thông tin và đối tượng
tiếp nhận thông tin. Những điều này không chỉ làm nên sự khác biệt trong
cách khai thác và lựa chọn đề tài mà còn làm nên sự khác biệt trong cách thể
hiện tác phẩm, chương trình truyền hình.
4. Một số nét về bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế trên Đài
truyền hình Việt Nam.
4.1. Sự hình thành và phát triển của các bản tin chuyên sâu về kinh
tế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam hiện nay.
Với thế mạnh là thông tin được truyền tải bằng hình ảnh và âm thanh
chân thực, sinh động, truyền hình đã trở thành một phương tiện có rất nhiều
ưu thế so với các phương tiện thông tin đại chúng khác. Hàng ngày, hàng giờ
thu hút sự quan tâm theo dõi thông tin của hàng triệu, hàng tỉ người. Truyền
hình thực sự là một công cụ, một vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa tư
tưởng.
Nắm được tầm quan trọng của kinh tế đối với đời sống xã hội, truyền
hình luôn là ngọn cờ tiên phong trong công tác tư tưởng, phổ biến thông tin,
giải đáp chính sách kinh tế.
Từ trước đến nay, Đài truyền hình Việt Nam có rất nhiều chương trình
đề cập, phản ánh về lĩnh vực kinh tế.
VTV1 có các chương trình: “Hội nhập”, “Tạp chí kinh tế cuối tuần”,
“Thị trường 24h”, “Lựa chọn cuối tuần”… Các chương trình này do Ban biên
tập Thời sự phụ trách sản xuất. Ngoài ra trên kênh này còn có chương trình
“Làm giàu không khó” của ban biên tập chuyên đề cũ. Nay đổi tên là “Chìa
khóa thành công” do Ban thư ký biên tập phụ trách….
17
VTV2 có chương trình : “ Cùng nhau bàn cách làm giàu”
VTV3 vốn từ trước đến nay được biết đến là một kênh thể thao- giải
trí- thông tin kinh tế. Nhưng các mảng kinh tế chưa được khai thác triệt để ,
mới chỉ có một vài vấn đề kinh tế được lồng ghép vào các chương trình trò
chơi như: Chắp cánh thương hiệu, Hãy chọn giá đúng….
Tuy nhiên, những thông tin kinh tế trong các chương trình, bản tin đó
mang tính tổng hợp. Một chương trình bao gồm rất nhiều tin tức liên quan đến
vấn đề kinh tế như tài chính- ngân hàng, chứng khoán, giá cả thị trường,…
nhưng vẫn thiếu đi sự phân tích tập trung, chuyên sâu vào vấn đề, cung cấp
cho người xem thông tin nóng hổi, cập nhật, thường xuyên, chính xác. Đặt
trong hoàn cảnh nền kinh tế mở cửa, người dân có nhu cầu hiểu biết cụ thể,
sâu sắc về những vấn đề của lĩnh vực kinh tế đang diễn ra hàng ngày, hàng
giờ…Trước nhu cầu thiết thực đó, một số bản tin chuyên sâu về kinh tế đã ra
đời được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam. Chương trình đầu tiên là
Bản tin tài chính ra đời năm 2006, tiếp sau là Bản tin Việt Nam và các chỉ số
xuất hiện năm 2008.
Cùng với các bản tin trên kênh quảng bá, trên sóng truyền hình cáp của
Đài truyền hình Việt Nam cũng cho ra đời một kênh với tên Info TV- kênh
thông tin kinh tế- tài chính chuyên biệt đầu tiên của cả nước. Những bản tin
chuyên sâu về kinh tế đã bước đầu thu hút được khán giả nhờ sự chuyên sâu
về thông tin cùng sự chuyên nghiệp trong khai thác thông tin, tổ chức sản
xuất.
Bản tin chuyên sâu cùng với các bản tin các chương trình khác trên các
kênh đã làm cho nội dung cũng như kết cấu của chương trình của Đài thêm
phong phú, hấp dẫn.
4.2 Sơ lược hai bản tin khảo sát: “Bản tin tài chính” và “Bản tin
Việt Nam và các chỉ số”
- Bản tin tài chính:
Ngày 26-7-2006, Đài truyền hình Việt Nam chính thức thông báo ra
mắt chương trình: “Bản tin tài chính” hàng ngày trên VTV1. Đây là chương
18
trình do Đài truyền hình Viêt Nam phối hợp cùng công ty FPT, báo điện tử
Vnexpress và báo Lao Động thực hiện.
“Bản tin tài chính” là chương trình đầu tiên tại Việt Nam về tài chính,
tiền tệ được phát sóng hàng ngày và được cập nhật liên tục 24/24 giờ từ thứ 2
đến thứ 7 hàng tuần. Chương trình cung cấp cho người xem những thông tin
mới nhất, tổng hợp tỷ giá vàng, đô la, lãi suất ngân hàng, bảo hiểm, sự biến
động của thị trường chứng khoán Việt Nam và thế giới qua những nhận định
và phân tích của các chuyên gia tài chính hàng đầu tại VN.
Chương trình đầu tiên được phát sóng vào 21giờ ngày 1-8-2006 trên kênh
VTV1 và được phát sóng liên tục từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần vào lúc 7h20ph
và 21giờ với thời lượng 15 phút. “Bản tin Tài chính” ra đời nhằm giúp cho
người xem nắm bắt được những thông tin mới nhất, kịp thời nhất về tình hình
tài chính, tiền tệ diễn ra trong ngày và có bước chuẩn bị tốt nhất cho việc đầu
tư trong ngày hôm sau.
Quan trọng hơn, qua những tổng hợp, phân tích tình hình diễn ra trong tuần
và qua những đánh giá của các chuyên gia về tài chính, tiền tệ trong chương
trình tổng hợp diễn ra vào 9h15ph sáng thứ 7 hàng tuần, chương trình đã giúp
người xem, đặc biệt là các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có được cái nhìn
đúng đắn nhất về diễn biến của thị trường từ đó giúp họ đưa ra những quyết
định hiệu quả hơn trong đầu tư.
Chương trình có kết cấu gồm 2 phần : thông tin trong nước và thông tin
quốc tế. Thời lượng dành cho thông tin tài chính trong nước chiếm khoảng
2/3 thời lượng, còn lại là thông tin tài chính quốc tế.
- Bản tin “Việt Nam và các chỉ số”
Ngày 15/1/2008, tiếp nối thành công của chương trình “Bản tin tài
chính”, phòng Kinh tế 2, tách từ phòng Kinh tế trước đây đã cho ra đời thêm
một bản tin nữa, đó là bản tin “Việt Nam và các chỉ số”. Đây là chương trình
chuyên cập nhật và phân tích những thông tin về thị trường chứng khoán
19
trong và ngoài nước. Chương trình đã thu hút được đông đảo sự chú ý của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Nếu trước đây nội dung của “Bản tin tài chính” bao gồm tất cả các lĩnh
vực tiền tệ, chứng khoán, nhà đất... thì nay chương trình mới ra đời nhằm đi
sâu, chuyên trách về lĩnh vực chứng khoán. Có thể nói sự ra đời của “Việt
Nam và các chỉ số” là một bước tiến mới của phòng Kinh tế 2, nhằm chuyên
nghiệp hóa các bản tin của mình, để khán giả quan tâm có thể dễ dàng theo
dõi.
Bản tin “Việt Nam và các chỉ số” có kết cấu gồm 2 phần: đó là thông
tin chứng khoán trong nước và thông tin chứng khoán quốc tế. Về thông tin
trong nước, bản tin kết nối trực tiếp thông tin tại 2 sàn chứng khoán là sàn Hà
Nội và sàn Thành phố HCM, phát sóng trực tiếp từ thứ 2 đến thứ 6, vào lúc
12h20ph và 20h hàng ngày.
20
Chương II
THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC VÀ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
CHO CÁC BẢN TIN CHUYÊN SÂU VỀ KINH TẾ
TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát “Bản tin tài chính” và “Việt Nam và các chỉ số” - VTV1)
1. Thực trạng việc khai thác và lựa chọn đề tài
1.1. Đối tượng tham gia khai thác và lựa chọn đề tài
Để có một bản tin truyền hình đó là công sức của cả một tập thể. Mỗi
thành viên là một mắt xích trong dây chuyền sản xuất đó. Nhưng để vận hành
và duy trì sự hoạt động dây chuyền này thì điều đầu tiên rất quan trọng đó là
phải có nguyên liệu. Nguyên liệu là đề tài. Vậy ai là người trong êkip đó lăn
lộn, tìm kiếm đề tài – mang nguyên liệu về?
Thực tế hiện nay đề tài đề duy trì nguồn sống của hai bản tin khảo sát
do bốn đối tượng tham gia khai thác và lựa chọn.
Đối tượng thứ nhất: đó là các phóng viên của phòng Kinh tế chịu trách
nhiệm. Số lượng phóng viên của phòng này là 17 người, được chia làm 2
nhóm. 7 người thuộc nhóm “Bản tin tài chính”, 7 người thuộc nhóm bản tin
“Việt Nam và các chỉ số”. Số lượng đề tài do nhóm đối tượng này khai thác
và lựa chọn chiếm chủ yếu.
Tuy phân mảng cụ thể như vậy nhưng cũng có thể có trường hợp “phá
rào” nghĩa là trong quá trình tác nghiệp trong phạm vi của mảng mình được
phân công nếu phát hiện có đề tài gì “hấp dẫn” phù hợp với tiêu chí của bản
tin thì phóng viên chủ động đề xuất với lãnh đạo phòng để có chỉ đạo. Việc
“chéo giò” này cũng không phải hiếm trong quá trình tác nghiệp kiếm tìm đề
tài của hai nhóm thuộc phòng kinh tế.
Đối tượng thứ hai: phóng viên lĩnh vực khác thực hiện việc phát hiện,
khai thác đề tài. Cũng gần giống như việc “phá rào” của nhóm trên nhưng
21
điểm khác là nhóm phóng viên này khác hoàn toàn lĩnh vực. Ví dụ: phóng
viên phòng chính trị, trong quá trình tác nghiệp ở cơ sở họ đã phát hiện ra đề
tài “nông dân tỉnh A góp tiền chơi chứng khoán”…Sự “đóng góp” đề tài này
rất hãn hữu nhưng nó cũng góp phần làm cho bản tin thêm những đề tài với
góc nhìn sinh động.
Đối tượng thứ ba: lãnh đạo phòng, ban, Đài. Công việc chính yếu của
lãnh đạo ban biên tập đó là lựa chọn và quyết định. Khai thác, tìm kiếm, mở
mang là công việc của phóng viên. Tuy nhiên, phóng viên sau bao ngày bôn
ba tìm kiếm, canh tác, mảnh đất màu mỡ trở nên bạc màu, cũ kỹ nhưng dưới
góc nhìn của một người có vị thế, tầm quan hệ rộng có thể mảnh đất đó lại trở
thành màu mỡ. Thực tế cũng có những lúc phóng viên 2 phòng kinh tế 1 và
kinh tế 2 của Ban thời sự đã rơi vào thế “bí” song lãnh đạo phòng đã “bắt tay”
cùng chủ động kiếm tìm với phóng viên. Họ vận dụng mối quan hệ với các
Bộ ban ngành liên quan để săn lùng thông tin. Vậy nên có thể nói đây cũng
chính là đối tượng quan trọng góp phần vào việc khai thác, tìm kiếm, lựa chọn
đề tài rất tích cực.
Đối tượng thứ tư: những người ngoài lĩnh vực, ngoài cơ quan. Hiện
nay, Đài truyền hình Việt Nam đang thử nghiệm việc thực hiện liên kết trong
việc sản xuất chương trình truyền hình. Nghĩa là tham gia sản xuất những sản
phẩm truyền hình không chỉ có phóng viên của Đài mà còn có sự tham gia
của các cá nhân, tập thể ngoài Đài. Họ có thể tham gia dưới nhiều hình thức
như tham gia sản xuất toàn bộ chương trình, hoặc tham gia một phần, một
công đoạn nào đó sau đó “bán” sản phẩm hoặc “linh kiện” cho Đài. Để bán
được rõ ràng họ phải hiểu tiêu chí, tôn chỉ mục đích của chương trình và khi
đó họ mới có chiến lược cũng như đầu tư công sức “săn lùng” đề tài “đắt”.
Hiện nay, đối với hai bản tin “Bản tin tài chính” và bản tin “Việt Nam và các
chỉ số” cũng có sử dụng một số đề tài do nguồn này khai thác, tìm kiếm và
cung cấp. Tuy nhiên số lượng rất nhỏ.
22
1.2. Nội dung, phạm vi đề tài khai thác và lựa chọn:
Qua phân tích ở trên có thể thấy có rất nhiều đối tượng hiện nay đang
tham gia khai thác, lựa chọn đề tài cho “Bản tin tài chính” và “Bản tin Việt
nam và các chỉ số”. Tuy nhiên, khi đã xác định, phân định được được trách
nhiệm thì công việc quan trọng tiếp theo cần giải quyết đó là khai thác và lựa
chọn đề tài nào cho bản tin? (Hay nói một cách khác là khai thác và lựa chọn
cái gì)?
Cuộc sống luôn vận động và biến đổi không ngừng. Hàng ngày xoay
quanh nó là sự sống với hàng triệu sự kiện, vấn đề nảy sinh. Đó là nguồn đề
tài vô tận - nguồn sống của phóng viên. Nhưng trong biển mênh mông đó
chọn sự kiện nào, đề tài nào? Tại sao lại khai thác, lựa chọn chúng, đó quả là
một điều vất vả đối với phóng viên. Để làm được điều này phóng viên phải
xác định đối tượng, phạm vi đề tài khai thác. Khoanh vùng cũng như định
hướng đối tượng trúng, đúng phóng viên sẽ không mất thời gian trong quá
trình tìm kiếm.
` Đối tượng, phạm vi đề tài của bản tin “Việt Nam và các chỉ số” đề cập
bao gồm các nội dung liên quan đến chứng khoán: số lượng cổ phiếu giao
dịch tại các sàn giao dịch; biên độ giá; tính thanh khoản hợp đồng…..
So với bản tin “Việt Nam và các chỉ số”, đối tượng, phạm vi đề tài mà
“Bản tin tài chính” khai thác và lựa chọn rộng hơn bao gồm các nội dung liên
quan đến sự vận động của các đồng tiền (Việt Nam và nước ngoài), giá vàng,
tỷ giá, lãi suất ngân hàng, thuế và bảo hiểm…Giá cả, tỷ giá đồng tiền luôn có
tác động lớn tới thị trường chứng khoán vì vậy đề tài trong “Bản tin tài
chính” cũng có thể đề cập tới một phần thị trường chứng khoán.
Mặc dù nội dung, phạm vi khai thác, lựa chọn đề tài của hai bản tin
khác nhau nhưng các đề tài của hai bản tin khảo sát được khai thác và lựa
chọn chia thành 4 nhóm vấn đề:
23
Thứ nhất: Những chính sách, văn bản pháp luật, qui định mới về lĩnh
vực tài chính- kinh tế.
Kinh tế và tài chính là những nhân tố quan trọng quyết định sự sống
còn của một đất nước. Để phát triển nền kinh tế thì việc đưa kiến thức đến
từng người dân đặc biệt là các chính sách, văn bản pháp luật, quy định mới về
lĩnh vực tài chính – kinh tế là một việc làm cần thiết. Qua đó, rút ngắn được
khoảng cách giữa người dân và những văn bản quy phạm, tránh sự thiếu đồng
bộ và không nhất quán trong thực hiện.
Ví dụ: “Thông tin về việc Chính phủ ban hành luật sử dụng đất phi
nông nghiệp” (Bản tin tài chính- 31/5/2010); “Ngân hàng phát hành giấy tờ có
giá để huy động vốn” (Việt Nam và các chỉ số- 31/5/2010); “Bộ tài chính
quyết định thu thuế xe ô tô nhập khẩu nhãn hiệu Kia Morning và Matiz” (Bản
tin tài chính- 30/5/2010); “Chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
những tháng đầu năm 2010” (Bản tin tài chính - 24/05/2010)…
Dạng đề tài này chiếm khoảng 20% số lượng thông tin trên Bản tin tài
chính và khoảng 5% với Việt Nam và các chỉ số.
Thứ hai: Đề tài về diễn biến thị trường tài chính, chứng khoán trong
nước, thế giới
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế đang vận động và phát triển không
ngừng, thay đổi liên tục hàng ngày, hàng giờ. Vì vậy, việc cập nhật những
thông tin đó trên những phương tiện thông tin đại chúng giúp cho người dân
hiểu và nắm rõ những vấn đề then chốt, mới nảy sinh là một việc vô cùng cấp
thiết.
“Bản tin tài chính” và “Việt Nam và các chỉ số” đã cung cấp cho mọi
người dân những thông tin, số liệu cập nhật, đa chiều về sự phát triển của thị
trường tài chính, chứng khoán trong nước và trên thế giới. Sự phong phú về
24
thông tin như vậy giúp công chúng có cái nhìn tổng quan từ đó đưa ra những
quyết định cần thiết để có hướng đầu tư, phát triển phù hợp.
Bản tin “Việt Nam và các chỉ” số luôn thông tin chi tiết về tình hình giá
cổ phiếu của 1 số công ty, chỉ số chứng khoán trong ngày ở 2 sàn giao dịch
lớn trong nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và một số sàn giao dịch
lớn trên thế giới như NewYork, HongKong. Hay “Bản tin tài chính” với rất
nhiều góc độ liên quan, tác động đến thị trường tài chính Việt Nam cũng như
thế giới như: “Vấn đề rào cản lãi suất khi cho vay tiêu dùng” (Bản tin tài
chính - 28/05/2010); “Khơi dòng vốn để đầu tư cho phát triển (Bản tin tài
chính - 03/04/2010); “Trung Quốc dẹp nạn đầu cơ nông sản (Bản tin tài chính
- 31/05/2010)…
Dạng đề tài về diễn biến thị trường tài chính, chứng khoán trong nước,
thế giới chiếm số lượng thông tin lớn trong 2 bản tin khảo sát. Cụ thể, trung
bình 1 bản tin có khoảng 8/15 tin trong “Việt Nam và các chỉ số” chiếm 70%
thời lượng và 5/12 tin trong “Bản tin tài chính” chiếm khoảng 50% có thông
tin liên quan đến nhóm đề tài này.
- Ngoài ra, thị trường tiêu dùng, thị trường ngân hàng, thị trường lao
động… cũng là những đề tài mà hai bản tin tập trung khai thác.
Ví dụ: vấn đề “Xuất khẩu thủy hải sản gặp khó khăn (Bản tin tài chính 3/4/2010); “Sự khó khăn trong bình ổn giá thép (Bản tin tài chính 28/05/2010); “Thực trạng thất ngiệp ở Mĩ” (Bản tin tài chính- 23/4/2010); “Tỉ
lệ thất nghiệp gia tăng ở Châu Âu đặc biệt là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Cộng Hòa Ship (Bản tin tài chính- 31/ 05/2010)….
Thứ ba: Đề tài liên quan đến xu hướng thị trường
Các xu hướng được đề cập tới trong hai bản tin đó là: xu hướng thị
trường tài chính, đầu tư chứng khoán, bất động sản, xu hướng lãi suất tiết
kiệm ngân hàng….
25