Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Bài tập học kì môn THƯƠNG mại 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.14 KB, 20 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………..……………………………………………1
NỘI DUNG……………………………...…………………………………………1
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ VÀ
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC
XÃ…………………..…1
1.1. Khái quát về thành viên hợp tác xã……………………….….…………1
1.1.1 Khái niệm ………………………………………….…….……………1
1.1.2 Đặc điểm……………………………………………………..………..1
1.1.3 Vai trò của thành viên hợp tác xã…………………………………...…2
1.2. Khái quát về quy chế pháp lý về thành viên hợp tác xã……………….2

II.

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ THEO QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH……………………………………....3
2.1 Xác lập tư cách thành viên hợp tác xã……………………………..……3
2.2Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã………………………..…6
2.3Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã……………………………....12

III.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH…………………………………….14

KẾT LUẬN……………………...……………………………………...15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………….16

1




LỜI MỞ ĐẦU
HTX là một hình thức để phát triển lực lượng sản xuất, sự ra đời của hợp tác
xã có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội to lớn. Theo Lê nin hợp tác xã là “ bước quá
độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu
nhất đối với nông dân”. Các thành viên của hợp tác xã chủ yếu là nông dân, công
nhân nên việc quy định cụ thể, rõ ràng về quy chế thành viên hợp tác xã có ý nghĩa
quan trọng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, góp phần thực hiện
đúng bản chất xã hội của nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó em đã lựa
chọn tìm hiểu và khai thác đề tài: “Quy chế thành viên hợp tác xã theo quy định
pháp luật hiện hành.” làm bài học kỳ của mình.

NỘI DUNG
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ VÀ
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ.
1.1. Khái quát về thành viên HTX
1.1.1 Khái niệm:
Thành viên hợp tác xã là những cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân đủ điều kiện

gia nhập hợp tác xã theo quy định của Luật HTX và điều lệ HTX, tự nguyện viết
đơn xin gia nhập HTX, được sự chấp thuận của Đại hội thành viên trở thành đồng
chủ sở hữu, quản lý HTX theo nguyên tắc dân chủ.
1.1.2 Đặc điểm
Cá nhân, tổ chức muốn tham gia vào HTX phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy
định tại Điều 13 Luật Hợp tác xã năm 2012. Các thành viên của HTX vừa là người
chủ, vừa là khách hàng của HTX. Các thành viên tham gia vào HTX cùng hợp tác,
tương trợ, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và


2


nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần thúc đẩy sự phát triển của hợp tác
xã.
1.1.3 Vai trò của thành viên hợp tác xã.
Với vai trò là chủ HTX., thành viên hợp tác xã là người góp vốn để thành
lập, xây dựng HTX. Đây chính là nguồn tài chính cơ bản, tạo điều kiện cho HTX
hoạt động được thông suốt. Ngoài ra, các thành viên hợp tác xã có vai trò điều
hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của HXT, giúp hợp tác xã tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của HTX.
Bên cạnh vai trò là chủ HTX, các thành viên còn là khách hàng thường
xuyên, ổn định của HTX. Thành viên HTX sẽ trực tiếp sử dụng sản phẩm, dịch vụ
của HXT, họ được coi là mối khách hàng , đối tượng tiêu thụ sản phẩm của HXT.
Qua việc sử dụng này, các thành viên sẽ có những trải nghiệm về các sản phẩm do
chính mình, HTX của mình sản xuất ra, từ đó sẽ có những đóng góp cho sự cải tiến
các sản phẩm ngày càng hợp lý, hữu hiệu, hiện đại hơn.
1.2. Khái quát về quy chế pháp lý về thành viên HTX
Quy chế pháp lý thành viên HTX là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của
thành viên trong HTX được quy định trong các văn bản pháp luật và điều lệ HTX
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Đại hội thành viên HTX ban hành,
được đảm bảo thực hiện và tuân thủ thực tế.
Quy chế pháp lý thành viên HTX có đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể ban hành quy chế pháp lý thành viên HTX bao gồm: cơ
quan nhà nước và HTX. Cơ quan nhà nước là quốc hội, chính phủ, các bộ trưởng,
thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp. Theo
đó, Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã để điều chỉnh quy chế về thành viên HTX.
Chính phủ, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân các cấp ban hành nghị định, thông tư, chỉ thị để hướng dẫn, chỉ đạo

3


cụ thể. Hợp tác xã ban hành điều lệ quy định cụ thể, những điều khoản riêng cho
HTX của mình.
Thứ hai, nguyên tắc điều chỉnh: Nguyên tắc chung của HTX là tự nguyện,
dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Do đó, nguyên tắc điều chỉnh của quy định về
thành viên hợp tác xã phải cũng đảm bảo nguyên tắc này. Các thành viên hợp tác
xã có quyền ngang nhau, được hợp tác xã bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình.
Thứ ba, nội dung quy chế pháp lý về thành viên HTX là tổng thể các quyền
và nghĩa vụ được quy định cho thành viên HTX trong Luật Hợp tác xã năm 2012,
các văn bản hướng dẫn thi hành và điều lệ cả hợp tác xã.
II.

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ THEO QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Nội dung của quy chế pháp lý về thành viên hợp tác xã bao gồm:
2.1 Xác lập tư cách thành viên hợp tác xã
Để trở thành thành viên của hợp tác xã, mỗi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
phải đáp ứng được điều kiện quy định tại Điều 13 Luật Hợp tác xã năm 2012. Cụ
thể là:
Thứ nhất, về tư cách chủ thể quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Hợp
tác xã năm 2012 quy định: “Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài
cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan,
tổ chức là pháp nhân Việt Nam. Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ
là cá nhân.”
Đối với cá nhân, để trở thành thành viên của HTX, cá nhân phải đáp ứng điều
kiện là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam,

từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo BLDS, người từ đủ
4


18 tuổi trở lên là người thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được tham
gia vào tất cả các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thành viên hợp tác xã là người đại diện cho hợp tác xã tham gia vào các giao dịch
dân sự. Do đó, luật yêu cầu thành viên của hợp tác xã phải là người đã thành niên,
có năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, về tư cách chủ thể, luật HTX 2012 đã mở
rộng thêm đối tượng thành viên HTX là người nước ngoài. Do là nhóm đối tượng
đặc biệt nên theo nghị định 193/2013/NĐ-CP đặt ra thêm điều kiện để trở thành
thành viên HTX Việt Nam, người nước ngoài phải đang cư trú hợp pháp tại Việt
Nam. Đây là một quy định phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, nhằm tạo điều kiện cho cá nhân nước ngoài cư trú ở Việt Nam nếu có nhu cầu
có thể tham gia vào hợp tác xã, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội phát triển HTX.
Đối với hộ gia đình phải có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp
luật. Theo Điều 107 BLDS thì người đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch
dân sự vì lợi ích chung của hộ là chủ hộ. Chủ hộ có thể là Cha, mẹ hoặc một thành
viên khác đã thành niên. Người đại diện của hộ gia đình phải có đủ các điều kiện
như đối với cá nhân theo điểm a khoản 1 Điều 13 và điều lệ HTX. Chủ hộ có thể
uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân
sự.
Đối với pháp nhân. Theo Luật HTX để trở thành thành viên của HTX thì cơ
quan, tổ chức phải là pháp nhân Việt Nam. Pháp nhân phải có người đại diện.
Người đại diện của pháp nhân tại hợp tác xã là người đại diện hợp pháp (đại diện
theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) của pháp nhân đó. ( Khoản 3 Điều 3
Nghị định 193/2013/NĐ-CP)
Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân mà không thể là
hộ gia đình hay pháp nhân. Bởi xuất phát từ yêu cầu của mô hình HTX này, chỉ có
cá nhân mới trực tiếp tham gia lao động, làm việc cho HTX mà các hộ gia đình, cơ

5


quan, tổ chức không thể làm việc hay cử người đại diện làm việc được. Theo
khoản 2 Điều 4 Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định thêm điều kiện trong trường
hợp đối với cá nhân là người nước ngoài khi tham gia hợp tác xã tạo việc làm thì
phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam đối với lao động là
người nước ngoài.
Thứ hai, Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm,
dịch vụ của hợp tác xã. Xuất phát từ vai trò của thành viên HTX vừa là đồng sở
hữu, vừa là khách hàng sử dụng dịch vụ, sản phẩm của HTX. Đối tượng phục vụ
chính của HTX cũng là các thành viên. Cho nên khi có mong muốn tham gia vào
HTX, các thành viên phải xuất phát từ nhu cầu hợp tác, nhu cầu sử dụng sản phẩm,
dịch vụ của HTX. Khi tham gia vào HTX, các thành viên cùng hợp tác làm việc,
cùng chịu trách nhiệm, có quyền và nghĩa vụ, có quyền biểu quyết ngang nhau nên
việc yêu cầu hợp tác giữa các thành viên là hoàn toàn cần thiết, góp phần đảm bảo
cho sự tồn tại, phát triển của HTX.
Thứ ba, thành viên muốn tham gia HTX phải có đơn tự nguyện gia nhập và
tán thành điều lệ của hợp tác xã. Đơn tự nguyện gia nhập thể hiện ý chí tự nguyện
của thành viên, không bị áp đặt, cưỡng ép, đe dọa từ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Trong đơn phải có sự cam kết về vốn góp và chữ ký của người có yêu cầu tham
gia. Đối với trường hợp pháp nhân có đơn tự nguyện gia nhập thì người ký đơn
phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó. Mục đích của yêu cầu này
nhằm khẳng định lại một lần nữa sự cam kết, lòng quyết tâm, tự nguyện của các
thành viên hợp tác xã. Chính sự tự nguyện ra nhập này sẽ quyết định đến sự thành
công trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tổ chức quản lý của
HTX.
Thứ tư, muốn tham gia HTX các thành viên phải góp vốn theo quy định của
luật HTX năm 2012 và điều lệ hợp tác xã. Nếu như trước đây, Luật không quy
6



định rõ ràng dẫn đến thực trạng có thành viên chỉ góp vốn, có thành viên chỉ góp
sức thì theo Luật HTX năm 2013, các thành viên tham gia vào hợp tác xã bắt buộc
phải góp vốn và góp sức vào HTX. Luật cũng quy định mức vốn góp vào hợp tác
xã không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã.( khoản 1 Điều 17 Luật HTX năm
2012), mức góp vốn này hiện nay đã được giảm xuống ( Luật HTX năm 2003 là
30%, Luật HTX năm 2012 là 20%).
Trong trường hợp người nước ngoài góp vốn vào HTX đối với những ngành
nghề kinh doanh hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn của người nước ngoài thì việc tham
gia của người nước ngoài vào hợp tác xã phải tuân thủ các quy định của pháp luật
đầu tư liên quan tới ngành nghề đó.( Điều 4 Nghị định 193/2013/NĐ-CP).
Ngoài ra, còn có các điều kiện khác do điều lệ HTX quy định.
Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên, cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân sẽ được
Hội đồng quản trị xét kết nạp và Đại hội thành viên thông qua để trở thành thành
viên của HTX. Thành viên HTX không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, dân tộc, tôn
giáo. Mọi cá nhân tham gia đều được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, địa vị pháp
lý. Ngoài ra, nhà nước cũng tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có
thể là thành viên của nhiều hợp tác xã trừ trường hợp điều lệ hợp tác xã có quy
định khác.( Khoản 3 Điều 13 Luật HTX 2012). Đối với pháp nhân Việt Nam và cá
nhân là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, Quốc Hội đã giao cho
Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục trở thành thành viên HTX nhằm trách nguy
cơ người nước ngoài, các pháp nhân tận dụng các ưu thế gây thiệt hại với các chủ
thể trong nước, với các doanh nghiệp khác.
2.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã
Quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX là hai mặt không thể tách rời. Thành
viên được hưởng quyền đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ đối với HTX. Điều này
thể hiện mối liên hệ về trách nhiệm pháp lý giữa HTX với thành viên của HTX đó.
7



Quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX được quy định tại Điều 14, Điều 15 Luật
HTX năm 2012. Theo đó, các thành viên có các quyền và nghĩa vụ dựa trên các
tiêu chí như sau:
Về cung ứng, sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Tại khoản 1 Điều 14 quy định
thành viên có quyền được hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng
dịch vụ. Đồng thời tại khoản 1 Điều 15 thành viên phải có nghĩa vụ sử dụng sản
phẩm, dịch vụ của hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ.
Hợp đồng dịch vụ là thỏa thuận giữa hợp tác xã với thành viên về việc sử
dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã nhằm đáp ứng nhu cầu chung phát sinh
thường xuyên, ổn định từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống của thành viên.
Các sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã cung ứng cho thành viên thông qua một hoặc
một số hoạt động sau đây: Mua chung sản phẩm, dịch vụ từ thị trường để phục vụ
cho thành viên, hợp tác xã thành viên; Bán chung sản phẩm, dịch vụ của thành
viên, hợp tác xã thành viên ra thị trường; Mua sản phẩm, dịch vụ của thành viên,
hợp tác xã thành viên để bán ra thị trường; Mua sản phẩm, dịch vụ từ thị trường để
bán cho thành viên, hợp tác xã thành viên; Chế biến sản phẩm của thành viên, hợp
tác xã thành viên; Cung ứng phương tiện, kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ thành
viên, hợp tác xã thành viên; Tín dụng cho thành viên, hợp tác xã thành viên; Tạo
việc làm cho thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm;Các hoạt động khác theo
quy định của điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. ( Khoản 6 Điều 4).
Luật HTX năm 2012 đã lần đầu tiên khẳng định rõ ràng đây là một quyền
và nghĩa vụ của thành viên HTX. Xuất phát từ vai trò của thành viên HTX vừa là
người lao động, sản xuất vừa là đối tượng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của HTX nên
vấn đề được cung ứng và phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của là bắt buộc đối với
thành viên. Kể từ khi tham gia hợp tác xã, các thành viên phải cam kết sử dụng các
sản phẩm, dịch vụ của HTX, đây là điều kiện bắt buộc làm phát sinh tư cách thành
8



viên và khi thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục
theo quy định thì cũng sẽ chấm dứt tư cách thành viên. Quy định này cũng xuất
phát từ tính xã hội của HTX, HTX có nghĩa vụ chăm lo, quan tâm giúp các thành
viên cải thiện cuộc sống. Hơn nữa quy định này cũng góp phần bảo đảm cho sự
vận hành ổn định của HTX.
Về vấn đề vốn góp: Khoản 2 Điều 15 quy định thành viên có nghĩa vụ góp
đủ, đúng thời hạn vốn góp đã cam kết theo quy định của điều lệ. Đồng thời có
quyền được chia giá trị tài sản được chia còn lại của hợp tác xã theo quy định của
Luật HTX và điều lệ (khoản 11 Điều 14), được nhận lại vốn góp khi ra khỏi hợp
tác xã theo quy định của Luật HTX năm 2012 và điều lệ. (khoản 10 Điều 14),
Trong mọi trường hợp, khi ra khỏi HTX, thành viên đều được trả lại vốn góp nhằm
đảm bảo quyền lợi về mặt tài sản của các thành viên này. Tuy nhiên, thành viên chỉ
được trả lại vốn góp sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính của mình đối
với hợp tác xã. Việc trả lại vốn góp cho thành viên, hợp tác xã thành viên chỉ được
thực hiện sau khi hợp tác xã đã quyết toán thuế của năm tài chính và bảo đảm khả
năng thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã.
Về phân phối thu nhập và trách nhiệm tài sản: thành viên HTX có quyền
được hưởng phân phối thu nhập theo quy định của Luật HTX và điều lệ ( Khoản 2
Điều 14). Mức phân phối thu nhập được tính chủ yếu theo mức độ sử dụng sản
phẩm, dịch vụ; theo công sức lao động đóng góp của thành viên với HTX tạo việc
làm; phần còn lại được chia theo vốn góp; tỷ lệ cụ thể do điều lệ quy định. Để có
quyền được phân phối thu nhập, các thành viên phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính
theo quy định của pháp luật. Thu nhập đã phân phối cho thành viên là tài sản thuộc
sở hữu của thành viên, hợp tác xã thành viên. Thành viên có thể giao thu nhập đã
phân phối cho hợp tác xã quản lý, sử dụng theo thỏa thuận với hợp tác xã.

9


Khi tham gia vào HTX, các thành viên được hưởng lợi nhuận theo sự phân

phối thu nhập của HTX. Do đó, trong trường hợp HTX hoạt động gặp rủi ro, có
thiệt hại, có các khoản nợ, các thành viên phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã
( Khoản 3 Điều 15). Đây là nghĩa vụ tài chính của các thành viên đối với HTX.
Các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp vào HTX.
Về quản lý HTX: Thành viên có quyền được tham dự đại hội thành viên (
khoản 4 Điều 14), được biểu quyết các nội dung thuộc quyền của đại hội thành
viên theo quy định tại Điều 32 của Luật HTX ( khoản 5 Điều 14). Xuất phát từ vai
trò của đại hội thành viên luôn quyết định các nội dung quan trọng của HTX như:
phương án phân phối thu nhập và xử lý khoản lỗ, khoản nợ; lập, tỷ lệ trích các quỹ;
phương án tiền lương và các khoản thu nhập cho người lao động đối với hợp tác xã
tạo việc làm; Phương án sản xuất, kinh doanh; Đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị
bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần
nhất; Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;…. Do đó, để bảo vệ quyền
lợi cho các thành viên, pháp luật quy định tất cả các thành viên được tham gia vào
đại hội thành viên. Mỗi thành viên khi tham gia vào đại hội thành viên có một biểu
quyết có giá trị ngang nhau không phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của
thành viên. Các thành viên cùng tham gia quản lý HTX thông qua biểu quyết,
quyết định các vấn đề của HTX. Bên cạnh đó, các thành viên còn có quyền ứng cử,
đề cử thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức
danh khác được bầu của hợp tác xã. ( Khoản 6 Điều 14); khi phát hiện có sai
phạm, các thành viên có quyền kiến nghị, yêu cầu hội đồng quản trị, giám đốc
(tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên giải trình về hoạt động của hợp
tác xã; yêu cầu hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên triệu tập đại
10


hội thành viên bất thường theo quy định của Luật này và điều lệ. ( Khoản 7 Điều
14).

Đồng thời, các thành viên phải có nghĩa vụ tuân thủ điều lệ, quy chế của hợp
tác xã, nghị quyết đại hội thành viên và quyết định của hội đồng quản trị hợp tác
xã. ( khoản 5 Điều 15). Ngoài những quy định chung của pháp luật, mỗi HTX
cũng đặt ra những điều lệ, nghị quyết, quyết định riêng cho tổ chức của mình
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với thực trạng hoạt
động của HTX. Khi một chủ thể bắt đầu tham gia vào một HTX cũng đồng nghĩa
với việc họ đã tán thành điều lệ của HTX. Do đó, trong suốt quá trình tham gia
HTX, các thành viên cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh các điều lệ mà mình đã
tán thành trước đó cũng như các quyết định, nghị quyết mà mình đã biểu quyết tại
đại hội thành viên. Có thể nói, điều lệ, nghị quyết, quyết định của HTX phản ánh
một cách rõ nét quy mô hoạt động HTX, vậy nên khi các thành viên chấp hành
nghiêm chỉnh sẽ phản ánh được tính kỹ luật, quy mô hoạt động của HTX đó. Đây
được coi là một nghĩa vụ vừa mang tính tự giác, vừa mang tính bắt buộc đối với tất
cả các thành viên.
Ngoài ra, các thành viên HTX có quyền và nghĩa vụ khác:
Khi tham gia vào HTX các thành viên có quyền hưởng các phúc lợi của hợp
tác xã (khoản 3 Điều 14). Theo từ điển tiếng Việt, phúc lợi là lợi ích mà mọi
người có thể được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần xây dựng
quỹ phúc lợi các công trình phúc lợi bao gồm phụ cấp gia đình, chăm lo đời sống
tinh thần, vui chơi giải trí,….
Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật. ( khoản 12 Điều
14). Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là quyền của mỗi công dân, được ghi nhận trong
Hiến pháp và được bảo đảm thực hiện. Quy định này thể hiện quyền dân chủ của
các thành viên HTX. Qua đó cũng là nền tảng cho các thành viên HTX có thể giám
11


sát các hoạt động, cơ cấu tổ chức của HTX, góp phần giảm vi phạm, tham nhũng
trong hoạt động của HTX.
Các thành viên có quyền được cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến hoạt

động của hợp tác xã; được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp
vụ phục vụ hoạt động của hợp tác xã. ( khoản 8 Điều 14) Khi tham gia vào hợp tác
xã, các thành viên đều được tham gia đại hội thành viên, được biểu quyết ngang
nhau về những vấn đề quan trọng của hợp tác xã. Do đó, việc cung cấp thông tin
cho các thành viên là hoàn toàn hợp lý và cần thiết.
Có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định của điều lệ. ( khoản 9 Điều 14).
Nếu như tham gia vào hợp tác xã là quyền của cá nhân, tổ chức thì khi có nhu cầu
ra khỏi hợp tác xã thì họ cũng được phép thực hiện quyền của mình. Việc ra khỏi
hợp tác xã hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện của thành viên. Quy định này tạo điều
kiện cho thành viên khi họ không còn điều kiện, hoàn cảnh để tiếp tục tham gia
HTX thì họ có thể xin ra khỏi HTX.
Các thành viên hợp tác xã có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật.( Khoản 4 Điều 15).
Bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường
toàn bộ và kịp thời. Việc bồi thường này là sự bù đắp lại những thiệt hại mà họ đã
gây ra cho HTX, mức độ bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế và theo điều lệ của
HTX. Thực chất, nghĩa vụ này là hình thức xử lý đối với thành viên khi họ gây ra
thiệt hại, qua đó cũng là cơ sở để chấn chỉnh kỷ cương của HTX góp phần đảm bảo
cho sự vững mạnh của HTX.
Cùng các quyền và nghĩa vụ khác do điều lệ quy định.
Tóm lại, các quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX phát sinh khi họ được kết
nạp vào HTX và kết thúc khi tư cách thành viên hợp tác xã của họ chấm dứt. Để
đảm bảo các quyền, nghĩa vụ các thành viên HTX được thực hiện nghiêm chỉnh
12


trên thực tế, Luật HTX 2013 quy định cấm cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
của thành viên HTX nếu vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật và
điều lệ. Các HTX phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của thành
viên. ( khoản 2 Điều 9).

2.3 Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã
Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã là việc kết thúc mối quan hệ giữa xã
viên với HTX của mình, từ đó cũng chấm dứt luôn những quyền và nghĩa vụ của
hai bên. Hành vi chấm dứt này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của thành viên và từ
đó cũng có thể ảnh hưởng sâu sắc tới sự tồn tại, hoạt động của HTX. Bởi vậy, để
chấm dứt tư cách thành viên thì tùy vào trường hợp sẽ do hội đồng quản trị hoặc
đại hội thành viên quyết định khi xảy ra một trong các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 16 Luật Hợp tác xã năm 2012, cụ thể là:
Thứ nhất, khi thành viên là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất
tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị kết án phạt tù theo quy
định của pháp luật; thành viên là hộ gia đình không có người đại diện hợp pháp
theo quy định của pháp luật; thành viên là pháp nhân bị giải thể, phá sản. Chính sự
tồn tại hay không tồn tại, khả năng điều khiển hành vi hoặc không có khả năng, có
người đại diện hay không có đã là yếu tố quyết định việc còn hay chấm dứt tư cách
thành viên HTX của cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân. Vì chủ thể này không còn
khả năng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ đã thiết lập trước đó đối với
HTX. Việc chấm dứt tư cách thành viên HTX trong trường hợp này thực chất là để
bảo vệ quyền con người đối với thành viên cũng như bảo vệ lợi ích của HTX.
Thứ hai, khi hợp tác xã bị giải thể, phá sản thì đương nhiên tư cách thành
viên sẽ chấm dứt.

13


Thứ ba, thành viên tự nguyện ra khỏi hợp tác xã. Các thành viên hợp tác xã
tự nguyện tham gia vào HTX thì cũng được quyền tự nguyện ra khỏi HTX, chấm
dứt tư cách thành viên của mình. Quy định này tạo điều kiện cho thành viên khi họ
không còn điều kiện, hoàn cảnh để tiếp tục tham gia HTX thì họ có thể xin ra khỏi
HTX. Việc chấm dứt tư cách thành viên này nhằm tránh sự gò bó khi tham gia vào
HTX, đảm bảo tính linh hoạt, tôn trọng sự tự nguyện của công dân.

Thứ tư, thành viên hợp tác xã bị khai trừ theo quy định của điều lệ. Việc
khai trừ thành viên ra khỏi HTX là chấm dứt tư cách thành viên một cách bắt buộc.
Việc khai trừ ảnh hưởng lớn đến quyền và nghĩa vụ của thành viên và HTX nên
phải do đại hội thành viên quyết định sau khi có ý kiến của ban kiểm soát hoặc
kiểm soát viên. Đây là hình thức kỷ luật nặng được áp dụng trong trường hợp
thành viên đó vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật, điều lệ của HTX. Quy
định này thể hiện sự cương quyết, xử lý nghiêm minh đối với hành vi vi phạm,
ngoài ra, nó cũng nêu cao tinh thần chấp hành, củng cố lại đội ngũ thành viên trong
HTX.
Thứ năm, Thành viên hợp tác xã không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong
thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm. Đối với hợp
tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy
định của điều lệ nhưng không quá 02 năm. Đây là điều kiện chấm dứt tư cách
thành viên được quy định lần đầu tiên tại Luật HTX 2012. Do yêu cầu về điều kiện
tham gia, quyền và nghĩa của thành viên HTX là phải sử dụng, dịch vụ của HTX.
Các thành viên là đối tượng phục vụ chính của HTX, góp phần tăng thêm thu nhập
cho HTX. Do đó, việc một thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong một
thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của HTX. Khi tham gia HTX, thành
viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ do HTX cung ứng tức là đã vi phạm đến

14


điều lệ, không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với HTX và đương nhiên sẽ bị
chấm dứt tư cách thành viên.
Thứ sáu, tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên
không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ.
Mức vốn góp của thành viên HTX không vượt quá 20% vốn điều lệ của HTX, thời
hạn góp đủ vốn cam kết không quá 06 tháng kể từ ngày được kết nạp hoặc từ ngày
HTX được cấp giấy đăng ký kinh doanh. Nếu hết thời hạn này, thành viên HTx

không góp đủ vốn, không góp hoặc góp thấp hơn vốn góp tối thiểu sẽ không đủ
điều kiện làm thành viên HTX do đó bị chấm dứt tham gia vào HTX.
Ngoài ra, các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên khác sẽ do điều lệ quy
định.
III. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.
Kể từ ngày 01/7/2013 Luật HTX 2012 chính thức có hiệu lực đã giải quyết
được một số vướng mắc của Luật Hợp tác xã năm 2003. Một trong những điểm
mới của Luật hợp tác xã năm 2012 về quy chế thành viên hợp tác xã là sửa tên gọi
đối tượng tham gia hợp tác xã từ “xã viên hợp tác xã” trở thành “thành viên hợp
tác xã”. Việc quy định này làm tạo sự thống nhất tên gọi giữa thành viên hợp tác
xã, hợp tác xã thành viên, thành viên hợp tác xã. Ngoài ra, về vai trò của thành
cũng thay đổi. Nếu như ở luật hợp tác xã năm 2003, xã viên hợp tác xã có thể chỉ
cần góp vốn hoặc góp sức. Còn ở Luật Hợp tác xã năm 2012, thành viên hợp tác xã
vừa phải góp vốn, vừa góp sức vào hợp tác xã. Thành viên hợp tác xã sẽ đóng hai
cương vị: vừa là chủ hợp tác xã, vừa là khách hàng của hợp tác xã. Do đó, tư tưởng
của nhà làm luật đã có sự phân định rõ ràng của thành viên của hợp tác xã với
thành viên của doanh nghiệp.

15


Tuy nhiên, Luật Hợp tác xã cũng còn một số bấp cập về quy chế thành viên
sau đây: Về quyền khiếu nại của thành viên hợp tác xã. Theo khoản 12 ĐIều 14
Luật hợp tác xã năm 2012 quy định thành viên hợp tác xã có quyền khiếu nại, tố
cáo theo quy định của pháp luật. Quy định này còn mang tính hình thức, quy định
chung về quyền khiếu nại, tố cáo của thành viên hợp tác xã. Ở Việt Nam, số lượng
hợp tác xã nông nghiệp rất lớn, những người nông dân không am hiểu sâu về pháp
luật, khi quyền và nghĩa vụ của họ bị xâm phạm khó có thể biết về trình tự, thủ tục,
khiếu nại tố cáo tại cấp nào. Thiết nghĩ, nhà làm luật nên quy định cụ thể thành

viên có quyền khiếu nại tố cáo ở cấp nào hay quyền khiếu nại, tố cáo được thực
hiện theo quy định của luật khiếu nại, luật tố cáo và các văn bản pháp luật có liên
quan. Quy định cụ thể như vậy sẽ giúp cho thành viên hợp tác xã thuận lợi hơn
trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

KẾT LUẬN
Trên đây là những phân tích về điều kiện trở thành thành viên, về quyền và
nghĩa vụ, các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của hợp tác xã. Trong tiến
trình hội nhập kinh tế hiện nay, việc hiểu biết về quy chế thành viên hợp tác xã có
ý nghĩa quan trọng giúp cho các thành viên có cơ hội tham gia vào hợp tác xã, và
có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Qua đó, việc quy định này tạo
hành lang pháp lý cho quá trình tổ chức và hoạt động, phát triển của hợp tác xã
hiện nay.
Do kiến thức chưa sâu, nguồn tài liệu còn hạn chế nên trong bài viết không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình
của thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại (tập 1), Nxb. Công
an nhân dân, Hà Nội, 2014
2. Nguyễn Thị Dung (Chủ biên), Nguyễn Thị Yến, Vũ Phương Đông, Nguyễn
Như Chính, Lê Hương Giang, Nguyễn Ngọc Anh, Vũ Hòa Như, Hướng dẫn
môn học Luật thương mại Tập 1, NXB. Lao động, 2014.
3. Vũ Thị Hằng - Pháp luật về hợp tác xã thực trạng và sự cần thiết phải sửa
đổi luật hợp tác xã năm 2003 – khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật
Hà Nội, năm 2011.

4. Nguyễn Thị Ngọc Hà – Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã – những vấn đề lý
luận và thực tiễn – luận văn thạc sĩ luật học, trường đại học Luật Hà Nội,
năm 1997.
5. Nguyễn thị hồng anh- Quy chế pháp lý thành viên hợp tác xã năm 2012,
khóa luận tốt nghiệp, trường đại học Luật Hà Nội.
6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
7. Bộ luật dân sự năm 2005.
8. Luật hợp tác xã năm 2012.
9. Luật Hợp tác xã năm 2003.
10. Luật doanh nghiệp năm 2014.
11.Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác

12. Kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp phát triển:
/>
17


13. Xây dựng hợp tác xã gắn liền với lợi ích xã viên:
/>ail.aspx?ItemID=776
14. Liên minh hợp tác xã Việt Nam: />
18


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

ĐƠN XIN GIA NHẬP HỢP TÁC XÃ
Kính gởi: Hội đồng quản trị HTX ..........................................

Tôi tên là: ...............................................................................................

Sinh ngày: ...............................................................................................
CMND số: ..............................................................................................
Địa chỉ thường trú: ..................................................................................
................................................................................................................
Quê quán: ...............................................................................................
................................................................................................................
Nghề nghiệp: ...........................................................................................
Sau khi nghiên cứu điều lệ Hợp tác xã ……………..…………………….., tôi
tự xét thấy bản thân tôi có đủ điều kiện tham gia là thành viên của Hợp tác xã
…………….., ………………………… với mức vốn là……………….…… …
(Ghi bằng chữ)…………………………………..……………..………………….
Vì vậy, tôi làm đơn này kính đề nghị Hội đồng quản trị cho phép tôi được góp
vốn với số tiền nêu trên để trở thành thành viên của hợp tác xã.
19


Kính mong Hội đồng quản trị hợp tác xã chấp thuận./.

…………..,ngày …… tháng ….. năm
20......
NGƯỜI LÀM ĐƠN

……………………………….

20



×