* HĐND các cấp tỉnh / huyện / xã:
- Sơ đồ HĐND các cấp tỉnh / huyện / xã:
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
BAN KINH TẾ - NGÂN SÁCH
BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI
THƯỜNG TRỰC HĐND TỈNH
BAN PHÁP CHẾ
BAN DÂN TỘC
VP ĐOÀN ĐBQH VÀ HĐND
PHÒNG HCTCQT
PHÒNG CT HĐND
PHÒNG CT ĐBQH PHÒNG DÂN NGUYỆN
- Tổ chức:
Đại biểu Hội đồng nhân dân do nhân dân cấp đó bầu ra. Người đứng đầu Hội
đồng nhân dân là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu ra.
Ban Thường trực Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh, Thành phố:
+ Chủ tịch HĐND: 01 đồng chí là Phó Bí thư Tỉnh ủy (Thành ủy) hoặc Bí thư
Tỉnh ủy (Thành ủy) kiêm nhiệm
+ Phó Chủ tịch HĐND: 01 đồng chí là Tỉnh ủy viên (Thành ủy viên)
+ Ủy viên Thường trực HĐND: 01 đồng chí
- Chức năng:
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ củanhân dân, do nhân dân địa phương bầu
ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để
phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả
nước.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám
sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương".
- Nhiệm vụ và quyền hạn:
1. Phải gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trách
nhiệm tham gia vào việc quản lý nhà nước ở địa phương và tuyên truyền vận động
nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước;
2. Tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia
thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân
dân;
3. Liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình và chịu sự giám sát của cử
tri; có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị
của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và
ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng
nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri;
4. Có trách nhiệm báo cáo với cử tri kết quả của kỳ họp Hội đồng nhân dân,
phổ biến và giải thích các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng
nhân dân thực hiện các Nghị quyết đó;
5. Có trách nhiệm trả lời các yêu cầu, kiến nghị của cử tri; nghiên cứu các
khiếu nại, tố cáo của cử tri để kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết,
theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết;
6. Có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên
khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
7. Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà
nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;
8. Có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính
sách chung của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung;
9. Có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ
chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.
- Hoạt động:
+ Hội đồng nhân dân có nhiệm kỳ 5 năm, hoạt động thông qua kì họp Hội
đồng nhân dân, hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân, các ban thuộc Hội
đồng nhân dân và thông qua hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân
+ Kì họp Hội đồng nhân dân diễn ra 2 kì/năm, được triệu tập bởi thường trực
Hội đồng nhân dân. Kì họp là hoạt động quan trọng và thường xuyên nhất của Hội
đồng nhân dân, là nơi thể hiện tập trung nhất quyền lực Nhân dân và là nơi thảo
luận, quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân
dân. Kì họp làm việc tập thể và quyết định theo đa số (hơn 50%) trừ việc bãi nhiệm,
miễn nhiệm đại biểu giữ chức trách do Hội đồng bầu ra là cần 2/3 số người tán
thành
+ Thường trực Hội đồng nhân dân không phải là cơ quan thường trực của
Hội đồng nhân dân nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa, phối hợp hoạt
động giữa các ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân.
Thường trực Hội đồng nhân dân có cả ở 3 cấp là xã, huyện, tỉnh.
Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ triệu tập và chủ tọa các kì họp
của HĐND, giám sát việc thực hiện HIến pháp và luật tại địa phương, trình Hội đồng
nhân dân về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm với người giữ trọng trách do Hội đồng
nhân dân bầu ra, tổ chức tiếp dân, giữ mối quan hệ với Ban thường vụ Mặt trận tổ
quốc Việt Nam, điều hoa hoạt động của các ban thuộc Hội đồng nhân dân và tập
hợp các chất vấn của đại biểu trình Hội đồng nhân dân,...
+Các ban của Hội đồng nhân dân: được thành lập ở 2 cấp là tỉnh và huyện.
Còn ở cấp xã không có ban nào. Các ban bao gồm trưởng ban và các thành viên do
Hội đồng nhân dân bầu ra và phải là thành viên của Hội đồng nhân dân. Các ban có
nhiệm vụ giúp thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị kì họp, thẩm tra các báo
cáo do HĐND hay thường trực HĐND giao cho, giúp thường trực HĐND giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chức kinh tế, xã hội và các lực lượng vũ
trang Nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
+ Các đại biểu Hội đồng nhân dân là những người đại diện cho Nhân dân địa
phương thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí nguyện vọng của dân và chịu
trách nhiệm trước Nhân dân.
Đại biểu Hội đồng Nhân dân có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kì họp, liên hệ
chặt chẽ với Nhân dân để tập hợp, tiếp thu ý kiến, nguyện vọng của dân đồng thời
báo cáo trước dân về vấn đề dân bức xúc, tuyên truyền cho dân về Hiến pháp và
pháp luật.
Tác giả: Nguyễn Thị Sinh