Tải bản đầy đủ (.pdf) (136 trang)

Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.87 MB, 136 trang )

MỤC LỤC
Contents
Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay

Ngô Minh Oanh

3

Lê Thị Thanh Tâm

13

Nguyễn Thị Thu Vân
(dịch)

24

Nguyễn Thị Kim Ngân

30

Trần Hữu Khoa

33

The current situation of the primary teachers in Ho Chi
Minh City
Nguyễn Thị Kiêm – “Nhân vật mới, tình tứ mới,
văn chương mới”
Nguyen Thi Kiem – “The new figure, the new emotion, the


new literature”
Cái chết của tác giả
The death of the Author
Đọc ca dao tình yêu xứ Nghệ, nghĩ về người ứ Nghệ
Think of the Nghe people through reading Nghe folk songs
of love
Ứng dụng giải thuật di truyền để tối ưu các thông số
Tỉ lệ Vi – Tích phân điều khiển cho Quadrotor

Hồ Văn Cừu

Genetic algorithm optimization design PID controller for
Quadrotor attitude models
Web ứng dụng cho hệ thống giám sát sức khỏe
Web application for health care monitoring
Tác động việc điều chỉnh tỷ giá đến năng lực cạnh tranh
xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập

Lê Tiến Thường
Nguyễn Duy Thắng

39

Nguyễn Hoàng Giang

48

V Th y Linh

57


Impact of exchange rate adjusments to the export
competitiveness of Viet Nam during the integration
Cải thiện phát âm về âm nối và âm rút gọn của
sinh viên không chuyên tại Trường Đại học Sài Gòn
bằng các bài nhạc pop tiếng Anh
Improving liaisons and elisions through English pop songs
for non English majored students at Sai Gon University


Ảnh hưởng của hoạt động viết bài theo nhóm trên
kỹ năng viết của mỗi cá nhân

Phạm Vũ Phi Hổ 67

The effects of collaborative writing on individual writing
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
các dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Lê Phước Thành 83

Some measures to improve the efficiency of project
management using budget funds in the province of Vinh Long
Phong tục cúng chúng sinh nhìn nhận từ góc độ văn hóa
Quảng Văn Hoàng 97
địa phương
Nguyễn Thị Việt Hằng
Worship beings through the local cultural perspective
Hội tụ theo ác suất theo nghĩa Mosco cho Bùi Nguyên Trâm Ngọc 107

dãy biến ngẫu nhiên đa trị
Convergence in probability in the sense of Mosco for
random sets
Tư tư ng ph p uy n c a
n hi v rist t – i trị
v
i học ịch s đ i v i vi c ây
ng Nh nư c
ph p uy n
hội h ngh a
i t Nam hi n nay

Đỗ Thị Thùy Trang 115
V Văn Dũng

Han Fei and Aristotle’s rule of law thought – Values and
history lessons for the building of the socialist rule of law
state of Viet Nam today
Mối quan hệ giữa kiểu văn học và kiểu tính cách
văn hóa
Relations between literature type and cultural personality
type

Trần Duy Khương 125


TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Số 14 (39) - Tháng 3/2016


Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
The current situation of the primary teachers in Ho Chi Minh City
PGS.TS. Ngơ Minh Oanh
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Assoc. Prof., Ph.D. Ngơ Minh Oanh
HCMC University of Pedagogy
Tóm tắt
Bài báo cung cấp một bức tranh tổng thể về đội ngũ giáo viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh về độ
tuổi, trình độ đào tạo, thâm niên nghề nghiệp Đồng thời bài báo cũng làm r nh n thức c a giáo viên về
t m uan trọng c a nh ng ph m chất nhà giáo, các n ng l c nghề nghiệp th c trạng về n ng l c
chu ên m n, nghề nghiệp c a đội ngũ giáo viên tiểu học nh ng ưu điểm và hạn ch về i n thức
chu ên m n, n ng l c phư ng pháp,
n ng dạ học nh ng u tố nh hư ng đ n động l c làm việc
c a giáo viên và nh ng êu c u đ t ra trong việc bồi dư ng nâng cao trình độ cho giáo viên tiểu học
thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng êu c u đổi m i giáo d c
Từ khóa: giáo viên tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh, th c t n ph
pháp…

ch t v n n

c, các iải

Abstract
The paper presents the overview of the primary teacher staff in Ho Chi Minh City in terms of ages,
academic background, career years of experience. Meanwhile, it also clarifies the teachers’ cognition on
the importance of the teachers’ ualities, professional competences the current situation of academic
competences, teaching methods and s ills of the primar staff the factors affecting the teachers’
working motivation and the requirements given ordered for the development of the primary teacher staff
in Ho Chi Minh City aiming to meet the Vietnam education innovation.

Keywords: primary teacher staff in Ho Chi Minh City, the current situation of competences and
qualities, solutions…

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố
đ ng dân nhất nư c ta, vì th c ng tác
giáo d c – đào tạo cũng đứng trư c
nh ng đòi hỏi phát triển về số lượng và
chất lượng u c u hiện na về m c tiêu
phát triển “đối v i giáo d c phổ th ng là
t p trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình
thành ph m chất, n ng l c c ng dân, phát
hiện và bồ dư ng n ng hi u, định hư ng

nghề nghiệp cho học sinh ” “Chu ển từ
giáo d c ch
u trang bị tri thức sang
chú trọng phát triển n ng l c và ph m
chất người học ”(1) Để đạt được m c tiêu
nà , đội ngũ giáo viên có vai trò rất uan
trọng, nhất là đội ngũ giáo viên tiểu học,
một cấp học có nhiệm v “ hai tâm” cho
học sinh nga từ hi các em ch p ch ng
bư c vào nhà trường phổ th ng H n n a,
3


hiện na cấp tiểu học đang triển hai
nhiều đổi m i như áp d ng m hình
trường học m i (
), bàn ta n n bột,

đánh giá học sinh bằng nh n xét… thì
việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh lại
càng có ý nghĩa cấp bách Để có một bức
tranh toàn c nh về th c trạng đội ngũ giáo
viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh
nhằm có nh ng gi i pháp nâng cao ph m
chất và n ng l c cho giáo viên, đáp ứng
êu c u đổi m i giáo d c, chúng t i đ
ti n hành nghiên cứu và thu được nh ng
t u h uan.
Thành phố Hồ Chí Minh “hiện có 510
trường tiểu học, trong đó có 463 trường
c ng l p, 47 trường ngoài c ng l p, số
trường có u m l n h n 30 l p là 175
trường, chi m 34,3% Số lượng giáo viên
tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh hiện có
ho ng 180 922 người, gi ng dạ cho
555 975 học sinh” (2) Chúng t i ti n hành
điều tra th c t v i u m trên 9 u n,
hu ện tại thành phố Hồ Chí Minh v i số
lượng phát ra g n 1000 phi u hỏi Để có

một cái nhìn hách uan, toàn diện về đội
ngũ giáo viên tiểu học, các đối tượng h o
sát h ng ch có giáo viên mà còn có c
cán bộ u n lý cấp s , phòng và trường
tiểu học goài ra, để tìm hiểu sâu h n
ngu ên nhân nh ng ưu điểm, hạn ch c a
đội ngũ giáo viên tiểu học và đề xuất các

gi i pháp trong đào tạo, bồi dư ng giáo
viên, chúng t i còn ti n hành h o sát các
gi ng viên, cán bộ u n lý trường đại học,
hoa đào tạo giáo viên tiểu học và sinh
viên hoa tiểu học các trường đại học
thành phố Hồ Chí Minh Chúng t i có tất
c có 7 loại phi u hỏi, m i phi u hỏi có 10
câu, m i câu tìm hiểu về 10 th ng tin, tổng
cộng có 100 th ng tin về giáo viên trong
từng phi u hỏi C s để biên soạn câu hỏi
là d a vào các m t lĩnh v c hoạt động c a
giáo viên d a vào chu n nghề nghiệp c a
giáo viên tiểu học và êu c u nh ng th ng
tin c n tìm hiểu hác
t u thu được đ cho chúng ta có
bức tranh toàn c nh về số lượng và chất
lượng về đội ngũ giáo viên tiểu học Thành
phố Hồ Chí Minh như sau

1. Về độ tuổi, trình độ đào tạo và thâm niên nghề nghiệp
Bảng 1. Độ tuổi, trình độ đào tạo, thâm niên nghề nghiệp của giáo viên tiểu học
Thành phố Hồ Chí Minh (3)
Độ tuổi

Thâm niên giảng dạy
SL (%)

Trình độ đào tạo

SL (%)


SL (%)

Dư i 30 tuổi

124 (16,5%) Dư i 10 n m

191 (25,5%) Trung học SP

Từ 31 đ n 40 tuổi

239 (31,9%) Từ 10 đ n 20 n m

238 (31,8%) Cao đẳng Sp

167(22,3%)

Từ 41 đ n50 tuổi

288 (38,5%) Từ 21 đ n 30 n m

246 (32,8%) Đại học SP

524(69,9%)

Từ 51 tuổi tr lên

97 (12,9%) Trên 30 n m

64 (8,5%) Các ngành khác

Sau đại học

h ng tr lời
Tổng số

1(0,13%) h ng tr lời
749

Tổng số

15 (2,0%)
8 (1,1%)

10 (1,3%) h ng tr lời

8 (1,1%)

Tổng số

749

749

4

27 (3,6%)


Qua b ng điều tra trên đâ , chúng ta
thấ rằng số lượng giáo viên tiểu học có độ

tuổi từ 31 đ n 50 tuổi chi m một số lượng
l n (chi m 70,4%) L c lượng nà là đội
ngũ nh ng người có tuổi nghề từ trên 10
n m đ n 30 n m (chi m 73,1%), vừa có
inh nghiệm trong gi ng dạ , vừa có inh
nghiệm trong giáo d c học sinh, chín chắn
trong hoạt động giao ti p v i đồng nghiệp,
v i ph hu nh học sinh
Về t ình độ đ o t o, ph n l n giáo
viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh hiện
tại đều tốt nghiệp cao đẳng và đại học sư
phạm (chi m 92,2%), trong đó số giáo viên
tốt nghiệp đại học chi m số đ ng nhất
(chi m 69,9%), cá biệt một số trường tiểu
học đ có các giáo viên có trình độ sau đại
học (chi m 1,1%) hư v đội ngũ giáo
viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh được
đào tạo c b n, số giáo viên có trình độ
trung học sư phạm và tốt nghiệp các trường
hác chi m một tỷ lệ nhỏ (chi m 5,6%),
h u h t đều đạt trên chu n nghề nghiệp.
Về đời sốn c a đội ngũ giáo viên
tiểu học thành phố Hồ Chí Minh, mức thu
nh p từ 4 đ n 6 triệu đồng chi m số đ ng
(37%), thu nh p trên 6 triệu đồng cũng có
một tỷ lệ tư ng ứng (37%) Tu nhiên hi
hỏi về mức độ đáp ứng cuộc sống thì có
đ n 66,9% cho rằng thu nh p hiện tại
h ng đáp ứng nhu c u cuộc sống gia đình
Ch có 39% giáo viên có nhà riêng, còn

51,5% đang
nhờ nhà gia đình bố mẹ
95% giáo viên có xe má
hư v v i
mức thu nh p c a giáo viên tiểu học thành
phố Hồ Chí Minh như trên có thể cao so
v i các địa phư ng hác, nhưng do sống

một thành phố có giá c sinh hoạt cao, nhu
c u đời sống đa dạng nên giáo viên vẫn có
cuộc sống rất hó h n Có ho ng 23,3 %
giáo viên ít có điều iện đi tham uan du
lịch, ngh mát hàng n m để tái s n xuất sức
lao động Giáo viên ph i bư n ch i thêm
thêm để ổn định cuộc sống Có 53,8% giáo
viên ph i dạ thêm để t ng thu nh p, một
bộ ph n còn lại có làm thêm nhưng việc
làm thêm h ng gắn v i chu ên m n hư
v , do ph i làm thêm, giáo viên rất dễ bị
phân tâm trong hoạt động chu ên m n,
h ng thể toàn tâm, toàn ý lo cho hoạt
động dạ học
Tình yêu n hề n hiệp v độn
c
việc c a giáo viên hi được hỏi về
động c chọn nghề, ph n l n giáo viên
(66,8%) đều hẳng định là vì êu nghề dạ
học, uan niệm đó là một nghề cao uý,
đào tạo th hệ trẻ cho tư ng lai Các lý do
còn lại trong chọn nghề c a giáo viên

chi m một tỷ lệ thấp như vì trường sư
phạm miễn học phí (14,1%), l a chọn theo
định hư ng c a gia đình (13,1%) Đâ là
một con số đáng mừng, vì giáo viên đ đ n
v i nghề h ng ch là để i m một c ng
việc ổn định mà còn bằng một tình êu
th c s đối v i nghề nghiệp, điều nà sẽ
giúp các th , c có đam mê trong dạ học,
vượt ua nh ng hó h n trong cuộc sống
để hoàn thành c ng việc c a mình
Tu nhiên, m c dù tình êu nghề
nghiệp là có, ý thức hoàn thành nhiệm v
cao, nhưng hiện na có nhiều u tố đ nh
hư ng, tác động h ng nhỏ đ n tình êu
nghề nghiệp và động l c làm việc c a giáo
viên tiểu học.

5


Bảng 2. Những yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giáo viên tiểu học
Không
nh
hư ng
h ng có s phù hợp nghề

Ít nh
hư ng

Bình

thường

Ảnh
hư ng

Rất nh
hư ng

27.5%

12.9%

26.6%

24.3%

8.6%

Thu nh p từ lư ng h ng đ trang
tr i cho cuộc sống

5%

10.9%

10.0%

43.2%

35.4%


Ít c hội th ng ti n trong nghề nghiệp

15.0%

10.2%

44.1%

26.6%

4.0%

Điều iện làm việc h ng đáp ứng
cho c ng việc

13.6%

10.2%

31.0%

36.2%

9.1%

h ng có điều iện học t p nâng cao
trình độ chu ên m n, nghiệp v

12.6%


15.2%

33.8%

31.9%

6.5%

Trình độ học sinh uá thấp nên n
l c gi ng dạ h ng mang lại hiệu
u mong muốn

10.1%

16.1%

30.0%

28.5%

15.3%

C ng việc làm hồ s , sổ sách chi m
uá nhiều thời gian

.5%

4.0%


8.9%

33.6%

53.0%

Cách u n lý chưa phù hợp làm cho
h n ng su nghĩ độc l p, sáng tạo
bị hạn ch

11.5%

10.0%

35.1%

31.1%

12.3%

Bệnh thành tích, thi u trung th c làm
gi m niềm tin và lòng êu nghề

5.9%

10.2%

22.9%

27.4%


33.6%

Chưa có các chính sách hu n hích
đối v i các giáo viên có n ng l c,
tâm hu t

3.2%

7.8%

22.6%

34.0%

32.3%

C n cứ số liệu điều tra b ng trên,
chúng ta có thể thấ nh ng u tố nh
hư ng đ n hoạt động nghề nghiệp c a giáo
viên như sau Mức độ từ nh hư ng đ n rất
nh hư ng đ n hoạt động dạ học bao gồm
thứ t như sau Cao nhất là c ng việc sổ
sách, giấ tờ uá nhiều (86,6%), thu nh p
h ng đ trang tr i cho cuộc sống (78%),
chưa có chính sách hu n hích đối v i
giáo viên có n ng l c, tâm hu t (66,3%),
bệnh thành tích và s thi u trung th c làm
gi m sút lòng tin và êu nghề (61%), điều
iện làm việc h ng đáp ứng cho c ng việc


(45,3%), trình độ học sinh thấp nên n l c
gi ng dạ
h ng hiệu u 43,8%), cách
u n lý chưa phù hợp làm cho h n ng
độc l p, sáng tạo trong dạ học bị hạn ch
(43,4%), h ng có điều iện học t p, nâng
cao trình độ (38,4%), ít c hội th ng ti n
trong nghề nghiệp (30,6%)… hư v m c
dù đời sống còn hó h n nhưng ngu ên
nhân làm nh hư ng l n nhất là thuộc về
c ng tác tổ chức u n lý, sau đó m i đ n
các ngu ên nhân về đời sống và sau đó là
đ n các ngu ên nhân về c hội học t p,
nâng cao trình độ và c hội th ng ti n
6


các hoạt động xã hội, từ thiện (77,7%); có ý
thức t học để nâng cao trình độ, tay nghề
(47,8%)… (xem Biểu đồ số 1 dư i đâ ) So
v i nh ng u định về đạo đức nhà giáo thì
nh ng k t qu thu được là một điều rất đáng
mừng gười giáo viên tiểu học không ch
chấp hành tốt các u định c a ngành, có ý
thức trau dồi ph m chất, đạo đức nhà giáo,
làm một tấm gư ng cho học sinh noi theo.
Ý thức t học nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp v là một ph m chất cũng
không thể thi u, b i có trình độ chuyên môn

nghiệp v giỏi thì m i thể hiện và đóng góp
tâm huy t cho ngành, cho trường và cho học
sinh thân yêu. Sống trong một “thành phố
nghĩa tình” như thành phố Hồ Chí Minh,
các giáo viên tiểu học cũng thường xuyên
tích c c tham gia các hoạt động xã hội, từ
thiện, một hoạt động t nguyện xuất phát từ
cái tâm c a người th y giáo.

2.
mức độ đạt được c c phẩm chất
nhà giáo
Có thể nói h u h t đội ngũ giáo viên
tiểu học đ có ph m chất rất tốt so v i yêu
c u c a một người giáo viên Trong điều
kiện kinh t thị trường, v i nh ng tác động
không nhỏ c a nh ng tiêu c c mà m t trái
c a nền kinh t thị trường mang lại, đội ngũ
giáo viên tiểu học vẫn gi v ng nh ng
ph m chất c n có c a người giáo viên.
mức độ từ khá tốt đ n r t tốt, chúng ta có
một k t qu như sau Giáo viên lu n chấp
hành nghiêm túc các u định c a ngành
(95,7%); luôn nổ l c hoàn thành nhân cách,
là một tấm gư ng đạo đức cho học sinh noi
theo (95,6%); trung thành v i lý tư ng độc
l p dân tộc và Ch nghĩa X hội (91,8%);
có kh n ng hợp tác, làm việc nhóm v i
đồng nghiệp (91,0%); yêu nghề và cống
hi n v i nghề (88,3%); tham gia tích c c


Biểu đồ 1. Mức độ đạt được của các phẩm chất nghề nghiệp
70.00%
60.00%
50.00%

40.00%
30.00%

20.00%

h ng tốt
Chưa tốt

10.00%

Bình thường

0.00%

Có tác Lu n n
Yêu
phong l c hoàn nghề và
sư phạm thiện
cống
tốt
nhân hi n v i
cách, là nghề
tấm
gư ng

đạo đức
cho học
sinh

Trung
thành
v i lý
tư ng
độc l p
dân tộc
và Ch
nghĩa x
hội

Tham
h
Ý thức
gia tích n ng
chấp
c c các nắm bắt hành
hoạt và thấu nghiêm
động x hiểu tâm túc quy
hội, từ lý học định c a
thiện
sinh
ngành

7

Có ý Có h

thức t
n ng
học suốt hợp
đời để tác, làm
nâng
việc
cao tay nhóm
nghề

há tốt
Rất tốt


31,3% là khá; 93% giáo viên t đánh giá là
sử d ng thành c ng các phư ng pháp gi ng
dạy tích c c; 86,8% giáo viên sử d ng tốt
các thi t bị và công nghệ dạy học; 87,7%
giáo viên có kh n ng tổ chức các hoạt
động tr i nghiệm sáng tạo ngoài giờ lên
l p; 92,2 % giáo viên tiểu học có kh n ng
dạy học theo nhóm. Hạn ch nhất c a giáo
viên là kh n ng sử d ng ngoại ng ph c
v dạy học (60%), một số n ng l c khác
như sử d ng thi t bị dạy học, kh n ng t
học, t c p nh t th ng tin để nâng cao trình
độ, kh n ng sử d ng các phư ng pháp dạy
học tích c c… thì một bộ ph n giáo viên
còn bị hạn ch .

3. Trình độ v năng c chuyên môn

c a đội ngũ gi viên tiểu học Th nh ph
ồ hí Minh
S nghiệp đổi m i c n b n và toàn
diện giáo d c đ t ra yêu c u về trình độ và
n ng l c chuyên môn c a giáo viên tiểu
học ngày càng cao, nhất là giáo viên tiểu
học thành phố Hồ Chí Minh, một thành
phố n ng động và có nhiều đổi m i trong
giáo d c tiểu học. Về kh n ng nắm v ng
m c tiêu, nội dung và v n d ng chư ng
trình vào dạy học, sử d ng sách giáo khoa,
thì đa số giáo viên t đánh giá là v n d ng
khá tốt (95,1%); về ki n thức chuyên môn
và nghiệp v có 65,3% t đánh giá là tốt,

Bảng 3. Kiến thức chuyên môn và năng lực phương pháp, kỷ năng nghề nghiệp của
đội ngũ giáo viên tiểu học TP. Hồ Chí Minh
Yếu
kém

Chuyên môn và năng lực của GVTH

Trung
Còn yếu bình

Có i n thức và nghiệp v chu ên m n v ng
0,1%
vàng

Khá


Tốt

3,3%

31,3% 65,3%

0,1%

4,7%

34,9% 60,2%

0,1%

6,8%

46,5% 46,5%

Có h n ng dạ học theo nhóm m n

7,8%

53,6% 38,6%

Sử d ng tốt c ng nghệ và thi t bị dạ học để
nâng cao hiệu u gi ng dạ

13,2%


53,2% 33,6%

Nắm v ng m c tiêu, nội dung và có h
n ng phân tích chư ng trình, sử d ng SGK

0,1%

Sử d ng thành công PPGD tích c c tạo hứng
thú và phát hu h n ng tư du độc l p,
sáng tạo cho HS

Có h n ng đánh giá học sinh bằng nh n xét

0,4%

7,6%

33,6% 58,4%

Có h n ng t học, t c p nh t th ng tin để
nâng cao trình độ

0,3%

8,8%

45,2% 45,6%

Có h n ng tổ chức các hoạt động tr i
nghiệm ngoài giờ lên l p


0,3%

12,0%

56,4% 31,3%

Có i n thức phổ th ng về CT-XH, u ền trẻ
em, các chính sách c a Đ ng và N về Kinh
t - X hội

0,1%

11,3%

47,1% 41,6%

10,9%

38,2%

33,2% 15,9%

h n ng sử d ng một ngoại ng

1,9%

8



thú t học, v n d ng tổng hợp và linh hoạt
tri thức để gi i u t có hiệu u các vấn
đề trong học t p và trong cuộc sống ”(4)
Từ êu c u đó, việc đào tạo lại và bồi
dư ng cho giáo viên tiểu học, trư c h t, là
nh ng hiểu bi t về chư ng trình, uá trình
xâ d ng chư ng trình và v n d ng chư ng
trình vào dạ học, sử d ng sách giáo hoa
Đâ là một nội dung bồi dư ng rất uan
trọng vì t i đâ trên c s một chư ng
trình sẽ có nhiều bộ sách giáo hoa, n u
h ng có nh ng hiểu bi t về chư ng trình
chắc chắn việc l a chọn sách giáo hoa,
các tài liệu học t p và dạ học theo hư ng
phát triển n ng l c cho học sinh sẽ g p hó
h n và h ng mang lại hiệu u cao

4.
c yêu cầu v
ồi ưỡng v
nâng ca năng c ch đội ngũ gi viên
Từ th c t n ng l c c a đội ngũ giáo
viên tiểu học trên đâ , vấn đề bồi dư ng và
nâng cao n ng l c cho giáo viên tiểu học
thành phố Hồ Chí Minh cũng đang được
đ t ra Yêu c u đổi m i c n b n, toàn diện
giáo d c là ph i “chu ển từ coi trọng
tru ền th nội dung tri thức sang giáo d c
nhân cách c ng dân, phát hu tốt nhất tiềm
n ng c a m i người học” “ uá trình đổi

m i đòi hỏi nội dung dạ học ph i th t tinh
gi n, c b n và hiện đại coi trong việc dạ
cách học đồng thời coi trọng c hoạt động
dạ và hoạt động tr i nghiệm sáng tạo ua
đó hình thành và phát triển người học
n ng l c tư du độc l p, n ng l c và hứng

Bảng . Giáo viên đề uất những năng lực cần bồi dưỡng
Những năng lực GV cần được bồi
dưỡng
h ng hiểu bi t về chư ng trình, xâ
d ng chư ng trình và v n d ng chư ng
trình vào dạ học, sử d ng sách giáo hoa
h n ng dạ học theo nhóm m n, dạ
học tích hợp
h n ng dạ học theo hư ng phát triển
n ng l c cho học sinh
h n ng áp d ng các phư ng pháp dạ
học đa dạng (bàn ta n n bột,
…)
h n ng tổ chức các hoạt động x hội
h n ng tổ chức các hoạt động nhóm
h n ng sử d ng các phư ng tiện dạ
học, đ c biệt và C TT và tru ền th ng
vào uá trình dạ học
h n ng đánh giá bằng nh n xét học sinh
tiểu học
Phư ng pháp t học, t nghiên cứu,
n ng làm việc nhóm, ĩ n ng v n d ng
i n thức vào th c tiễn

h n ng giao ti p v i học sinh, v i ph
hu nh học sinh, v i đồng nghiệp…

Hoàn
toàn Không
không đồng ý
đồng ý

Bình
Đồng ý
thường

Hoàn
toàn
đồng ý

,8%

,9%

9,6%

46,2%

42,4%

,8%

,4%


7,9%

56,4%

34,5%

,8%

,3%

9,0%

49,5%

40,5%

,8%

2,0%

14,1%

56,5%

26,6%

,1%
,3%

,1%

,1%

21,0%
11,3%

61,5%
55,0%

17,2%
33,4%

,8%

,4%

11,0%

52,6%

35,2%

4,0%

5,0%

14,1%

44,0%

32,9%


,3%

,1%

14,5%

49,2%

35,9%

,3%

1,3%

7,0%

42,8%

48,6%

9


Không nhiều giáo viên đề nghị bồi
dư ng i n thức chu ên ngành, trong lúc
nhóm các phư ng pháp,
n ng dạ học,
nhất là các
thu t dạ học m i được giáo

viên đề nghị nhiều Có 90,9% giáo viên đề
nghị được bồi dư ng n ng l c dạ học theo
nhóm m n, dạ học tích hợp 90,0% giáo
viên đề nghị được bồi dư ng n ng l c dạ
học theo hư ng phát triển n ng l c cho học
sinh Các êu c u ph c v nhiệm v cấp
bách đổi m i dạ học như các phư ng

pháp dạ học đa dạng (bàn ta n n bột,
) (83,1%), tổ chức hoạt động nhóm
(88,4%), h n ng tổ chức các hoạt động
x hội (77,7%), bồi dư ng h n ng đánh
giá học sinh bằng nh n xét (76,9%)… hư
v giáo viên đ rất uan tâm và có nhu
c u được bồi dư ng nh ng n ng l c nhằm
đáp ứng êu c u c a c ng cuộc đổi m i
c n b n, toàn diện giáo d c
5. Các giải pháp nâng cao năng lực
đội ngũ giáo viên

Bảng 5. Các giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên tiểu học
Các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ
GVTH

Không
Ít
quan quan Bình Quan
trọng trọng thường trọng

Rất

quan
trọng

Đ m b o mức lư ng đ sống, ch m lo đời
sống giáo viên để giáo viên có thể sống được
v i nghề

,1%

3,6% 16,5% 79,7%

Bồi dư ng ph m chất chính trị, đạo đức nhà
giáo, h i d lòng êu nghề

,1%

3,8% 42,8% 53,4%

C i thiện điều iện làm việc c a giáo viên
(phòng ốc, trang thi t bị dạ học hiện đại…)

,1%

5,8% 41,6% 52,5%

Bồi dư ng, c p nh t thường xu ên về
chu ên m n một cách thi t th c để nâng cao
hiệu u dạ học

,1%


,5%

4,4% 50,0% 44,9%

Bồi dư ng i n thức về chư ng trình, xâ
d ng và v n d ng chư ng trình vào dạ học,
sử d ng sách giáo hoa

1,2%

6,4% 53,2% 39,1%

âng cao trình độ ngoại ng và tin học cho
giáo viên

1,1%

13,4% 62,0% 23,5%

C i ti n u n lý, giao u ền t ch cho GV
trong chuyên môn, G được tham gia xây
d ng chính sách và ra u t định c a trường

2,0%

17,6% 47,9% 32,6%

Bồi dư ng các phư ng pháp dạ học m i và
dạ học theo định hư ng phát triển n ng l c

học sinh

,3%

5,6% 53,2% 40,9%

,1%

2,6% 37,7% 59,5%

Thi đua, hen thư ng khách quan, công
bằng, ịp thời tạo c hội th ng ti n cho
giáo viên

10

,1%


trình độ đào tạo, đ đáp ứng về c b n
nh ng yêu c u về ph m chất và n ng l c
nhà giáo, đ m nh n vai trò ch chốt trong
s nghiệp giáo d c tiểu học c a Thành phố
Tu nhiên đội ngũ giáo viên tiểu học cũng
còn nhiều hạn ch c n được hắc ph c
Nh ng hạn ch c a đội ngũ giáo viên chính
là nh ng yêu c u c n được đào tạo lại và
bồi dư ng, đó là nh ng ph m chất và n ng
l c đáp ứng yêu c u đổi m i như nh ng
hiểu bi t về xây d ng chư ng trình cấp

học, môn học các phư ng pháp và thu t
dạ học hiện đại n ng l c dạy học tích
hợp đánh giá học sinh bằng nh n xét; trình
độ ngoại ng và tin học… goài ra, n u
các gi i pháp về nâng cao đời sống giáo
viên; tổ chức qu n lý có hiệu qu , khuy n
hích động l c làm việc t ng thêm tính
ch động, sáng tạo c a giáo viên… cũng
được ti n hành một cách đồng bộ, thì chắc
chắn đội ngũ giáo viên tiểu học sẽ phát
hu , đóng góp nhiều h n n a cho s
nghiệp giáo d c - đào tạo c a Thành phố
Hồ Chí Minh.

Nhìn vào B ng thống kê trên, trong
việc đề xuất các gi i pháp, chúng ta thấy:
Th nh t, giáo viên đề nghị nhiều nhất
là nhóm các gi i pháp nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp v (94,9%); nh ng
hiểu bi t về chư ng trình và v n d ng
chư ng trình vào uá trình dạy học
(91,3%); bồi dư ng các phư ng pháp và
thu t dạy học m i (94,1%); bồi dư ng
ngoại ng , tin học (85,5%)... Nh ng đề
xuất đối v i nhóm gi i pháp thứ nhất này
rất trùng v i ý ki n c a ông Lê Phan
ư ng Quốc, Nguyễn Ngọc Diệu, Võ
Hoàng Diễm Hằng là nh ng giáo viên tiểu
học tr c ti p đứng l p.(5).
Th hai, là nhóm các gi i pháp về đổi

m i công tác qu n lý như trao u ền t ch
cho giáo viên, cho giáo viên tham gia vào
quá trình xây d ng chính sách và các quy t
định về chuyên môn, qu n lý (80,5%);
tham gia đánh giá thi đua, hen thư ng
một cách khách quan và công bằng
(97,2%)...
Th ba, m c dù cuộc sống v t chất
chưa đ trang tr i cuộc sống, nhưng nhóm
các gi i pháp t ng cường c s v t chất,
t ng thêm thu nh p có tỷ lệ đề nghị thấp
h n các nhóm hác Điều này thể hiện các
th c đ rất uan tâm đ n việc nâng cao
n ng l c chuyên môn, nghề nghiệp. Tuy
nhiên các th c cũng đề nghị c n ph i
nâng cao thu nh p cho giáo viên thì giáo
viên m i toàn tâm, toàn ý ch m lo c ng tác
gi ng dạy (96,2%). Giáo viên cũng đề nghị
có các gi i pháp để h i d lòng êu
nghề, nâng cao ph m chất chính trị, đạo
đức nhà giáo (96,2%)
Kết luận: Từ t u nghiên cứu th c
tiễn trên cho thấ đội ngũ đ ng đ o giáo
viên tiểu học thành phố Hồ Chí Minh có
tuổi đời và tuổi nghề đang độ chín, được
đào tạo c n b n, ph n l n đ vượt chu n về

Ch thích
(1) ghị u t 29 c a Hội nghị TW l n thứ III,
hóa XI “ ề đổi m i c n b n, toàn diện Giáo

d c và Đào tạo, đáp ứng êu c u c ng nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều iện inh t thị
trường định hư ng x hội ch nghĩa và hội nh p
uốc t
(2) gu ễn Quang Vinh (2015), Một số iải pháp
nân cao n n
c đội n ũ iáo viên tiểu học
Th nh phố Hồ Chí Minh đáp n đổi ới c n
bản, to n diện iáo dục, ỷ u Hội th o iện
CGD, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, trang
92-93.
(3) Số liệu các B ng thống ê (từ B ng 1. đ n B ng
5. và Biểu đồ 1.) trong bài vi t là từ t u điều
tra x hội học c a tác gi
(4) gu ễn inh Hiển (2015), Đổi ới nhận th c
v h nh độn t on đổi ới c n bản v to n
diện iáo dục v đ o t o, Tạp chí Qu n lý Giáo
d c, Học viện Qu n lý Giáo d c, trang 3.

11


ượn đội n ũ iáo viên v đổi ới quản ý
iáo dục tiểu học, xb Giáo D c, Hà ội

(5) Xem bài vi t c a các tác gi nói trên trong ỷ
u Hội th o “Một số gi i pháp nâng cao n ng
l c đội ngũ giáo viên tiểu học Thành phố Hồ
Chí Minh đáp ứng đổi m i c n b n, toàn diện
giáo d c”, ỷ u Hội th o do iện CGD,

Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh tổ chức ngà
11/12/2015, trang 129-143.

3.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

4. Đ ng Huỳnh Mai (Ch biên), Một số v n đề
đổi ới quản ý iáo dục Tiểu học vì s
phát t iển bền vữn , xb Giáo D c, H

1. Bộ Giáo d c – Đào tạo, Chư ng trình đ m
b o chất lượng GD trường học (SAQAP),
(2011), Áp dụn chu n n hề n hiệp iáo
viên tiểu học thôn qua ho t độn đả bảo
ch t ượn iáo dục t on các t ườn d y
học cả n y (FDS), Tài liệu t p huấn, Hà
ội, tháng 12 2011

5.

iện CGD – hoa GDTH, Trường ĐHSP
TP.HCM (2002), Th c t n iáo dục tiểu
học v nhữn
iải pháp nân cao ch t
ượn iản d y bậc tiểu học, ỷ u Hội
th o, tháng 3 2002

6. Số liệu điều tra, h o sát c a hóm nghiên


2. Bộ Giáo d c – Đào tạo, D án phát triển
giáo viên Tiểu học (2006), Nân cao ch t

gà nh n bài 14/12/2015

gu ễn h i Hoàn – gu ễn Bá Đức
(Đồng ch biên, 2015), Đánh iá học sinh
tiểu học theo tiếp cận n n
c, xb Đại
học Thái gu ên

cứu iện
Chí Minh.

CGD, Trường ĐHSP Tp Hồ

Biên t p xong 15/03/2016

Du ệt đ ng 20/03/2016

12


TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Số 14 (39) - Tháng 3/2016

Nguyễn Thị Kiêm –
“Nhân vật mới, tình tứ mới, văn chương mới”
Nguyen Thi Kiem – “The new figure, the new emotion, the new literature”

TS. Lê Thị Thanh Tâm
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội
Ph.D. Le Thi Thanh Tam
University of Social Sciences and Humanities – National Univeristy Ha Noi
Tóm tắt
Nguyễn Thị Kiêm là một nhân vật rất đặc biệt của giai đoạn hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ
XX. Bà được xem là “nhân vật mới, tình tứ mới, văn chương mới”. Tác phẩm của bà nằm chính ở
những ý tưởng đột phá về nhận thức văn học, nhận thức nữ quyền, là sự xuất hiện vơ tiền khống hậu
trên diễn đàn thơ Cũ – thơ Mới và những bài báo rồi sẽ trở thành tư liệu q hiếm của văn học sử giai
đoạn trước 1945 ở Việt Nam.
Qua các bài diễn thuyết và các bài báo (gồm cả thể loại phóng sự ngắn, phê bình nghệ thuật) của nữ sĩ
Manh Manh, có thể thấy tư duy phân tích khoa học sắc bén, triệt để là phong cách căn cốt của bà. Đó là
“tài văn”, tài năng về văn chương nhìn từ góc độ nhận thức tiến trình văn chương trong quan hệ với nền
quốc học, tâm thế “duy tân” và khả năng đúc rút, nắm bắt tinh nhạy những bài học thực tế, gọn ghẽ về
cuộc “cách mạng” thơ ca.
Từ khóa: Nguyễn Thị Kiêm, diễn đàn thơ Mới – thơ Cũ, nữ quyền…
Abstract
Nguyen Thi Kiem is the special figure of the period of modernization of Vietnamese literature at the
beginning of 20th century. She was to be “the new figure, the new emotion, the new literature”. Her
works show breakthrough idea of literary appreciation, the understanding of feminism. And her pre war
articles (before 1945) are precious materials of Viet nam literary. She appeared as an orator at New –
Old poetry community.
Through her speeches and articles (including newspaper-reports and artistic criticals), we are able to
realize that the sharp and absolute scientific thinking is her essential style. It is talent of literature of her
from the point of view to be aware of the literary process in the relation with the national culture, state
of renovation and ability of consolidation as well as the capacity to quickly grasp many realistic lessons
of the revolution of poetry.
Keywords: Nguyen Thi Kiem, New – Old poetry community, feminism…

mà trở thành một cá tính độc nhất vơ nhị,

một chân dung dĩnh ngộ làm văn học
khơng lẫn vào đâu, đó là trường hợp
Nguyễn Thị Kiêm. Tác phẩm của bà nằm

1. Tiểu sử
Từ sau năm 1930, có một uy tín mới
khơng nằm trong danh sách những tên tuổi
làm quản lí, chủ bút hay viết sách, xuất bản
13


chính ở những ý tưởng đột phá về nhận
thức văn học, nhận thức nữ quyền, là sự
xuất hiện vô tiền khoáng hậu trên diễn đàn
thơ Cũ - thơ Mới và những bài báo rồi sẽ
trở thành tư liệu quý hiếm của văn học sử
giai đoạn trước 1945 ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Kiêm (có khi được ghi là
Nguyễn Thị Kim trên Phụ nữ Tân văn)
sinh ngày 3 tháng 1 năm 1914 tại Sài Gòn;
quê gốc của bà ở Gò Công, tỉnh Tiền
Giang. Thân phụ là ông Nguyễn Đình Trị
(tức Huyện Trị), ông Hội đồng nổi danh
đất Gò Công.
Bà là một trí thức trưởng thành từ môi
trường giáo dục và văn đàn Gia Định,
trung tâm xứ Nam Bộ. Bà từng là nữ sinh
của trường Nữ học Sài Gòn, sau đổi thành
trường Nữ Gia Long, hay còn gọi là trường
Nữ sinh Áo Tím (nay là trường THPT

Nguyễn Thị Minh Khai). Tốt nghiệp bằng
thành chung (Trung học Đệ Nhất cấp), bà
bắt đầu làm báo từ năm 1932 với nhiều bút
danh khác như: Nguyễn Thị Manh Manh,
Manh Manh, Mym, Nguyễn Văn Mym, Lệ
Thủy (hoặc kí tắt là L.T)… Bà tham gia
viết bài cho các báo: Công luận, Việt Nam,
Nữ lưu, Tuần lễ Nay, Sống… Đặc biệt, bà
là cây bút chủ lực của Phụ nữ Tân văn.
Ban biên tập Phụ nữ Tân văn từng viết
về “một thiếu niên nữ sĩ trong bộ biên tập
của bổn báo” như sau:
“Ngày nay trong Nam ngoài Bắc, ai
cũng biết tên nữ-sĩ Nguyễn Thị Kim.
Các độc giả yêu quý của Phụ-nữ Tânvăn chắc đều vui lòng thưởng những bài
thơ lối mới ký biệt-hiệu Nguyễn Thị Manh
Manh: nhân-vật mới, tình-tứ mới, vănchương mới!
E xúc-phạm đến lòng khiêm-nhượng
của người bạn đồng-sự thiếu-niên, chúng
tôi chỉ nói qua về công trước tác của nhà
văn sĩ tuổi trẻ mà nghề văn già” (Phụ nữ

Tân văn số 197 ngày 27-4-1933).
Thực tế, sự già dặn bất ngờ của bà
trong nhận thức về văn học, về giá trị
người phụ nữ cũng như về các vấn đề văn
hóa, xã hội Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ
XX cho thấy lời giới thiệu trân trọng và
quả quyết của Phụ nữ Tân văn về nhân vật
thiếu niên “kì lạ” trên (tuổi trẻ - văn già) là

có cơ sở và đúng đắn.
Năm 1932, sự kiện bà diễn thuyết để
bảo vệ Thơ mới đã gây chấn động văn đàn
thời đó, ảnh hưởng sâu sắc đến bước đi đầu
tiên của phong trào Thơ mới.
Năm 1936, bà tham gia phong trào
Đông Dương đại hội. Bà cũng là người rất
tích cực trong việc tuyên truyền, tổ chức
thực hiện hội Dục Anh và Nữ lưu học hội.
Năm 1937, bà kết hôn với ông Trương
Văn Em, bút hiệu Lư Khê, là nhà giáo, nhà báo
(lễ cưới được tổ chức vào ngày 11-11-1937 tức
ngày mồng 1 tháng 10 năm Đinh Sửu).
Vì hoàn cảnh riêng rất bi đát (bà mất
khả năng sinh nở, con gái Minou bị liệt và
qua đời sau đó), bà chấp nhận cho chồng đi
bước nữa.
Năm 1950, Nguyễn Thị Kiêm sang
Pháp định cư. Năm 2005, có thông tin bà
đã mất ở một trại dưỡng lão ở Paris, thọ 91
tuổi (?). Tuy nhiên, năm 2006, theo thông
tin chúng tôi tiếp cận được ở Đồng Tháp,
Kiên Giang (nhà ông Trương Minh Đạt,
em trai của chồng bà Kiêm - Lư Khê), bà
vẫn đang yếu bệnh trong một trại dưỡng
lão Pháp. Hiện chúng tôi chưa thể có bằng
chứng chính xác về thông tin bà sống như
thế nào từ năm 1956 cho đến thời điểm bà
ốm mất.
2. Sự nghiệp

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Thị
Kiêm tập trung ở 3 mảng: diễn thuyết, sáng
tác thơ văn, làm báo. Trong đó, mảng diễn
thuyết có thể xem là sự nghiệp ấn tượng và
14


không lặp lại ở bất kì ai trong dòng văn
chương nữ lưu Nam Bộ. Ảnh hưởng diễn
thuyết của bà không chỉ gói gọn ở vùng
Gia Định mà còn lan rộng ra Huế, Hà Nội,
nơi mà cử tọa đến nghe đông đến nỗi “chật
nứt khán phòng”, mỗi lần diễn thuyết có
đến 5,6 nghìn người. Sức hấp dẫn của nữ sĩ
Nguyễn Thị Manh Manh toát ra từ đề tài
nóng, cách nói táo bạo, phong thái trí thức
đĩnh đạc và sự thông tuệ, chắc chắn hiếm
có của một “thiếu niên” am hiểu văn hóa.
Sự có mặt của Nguyễn Thị Kiêm trong
văn học sử được đo đếm bằng khoảng chục
bài thơ được viết theo lối “thơ mới” từ giai
đoạn “trứng nước” và nhiều bài báo mà sự
thông minh về tư duy bằng chữ quốc ngữ
đáng cho người thời nay có cảm hứng
nghiên cứu, thẩm nhận và tôn vinh.
Dưới đây là phần thống kê chi tiết nhất
có thể về sự nghiệp trước tác và “lập
thuyết” của bà:
2.1. Diễn thuyết
- Bài diễn thuyết “Vấn đề nữ lưu và

văn học” đăng trên Phụ nữ Tân văn số 131
ngày 26-5-1932
- “Bài diễn thuyết của cô Nguyễn Thị
Kiêm về lối thơ mới” ở Hội Khuyến học
Sài Gòn ngày 26-71933, sau đăng lại trên
Phụ nữ tân văn số 131 ngày 26-5-1933
- Bài diễn thuyết “Dư luận nam giới
đối với phụ nữ tân tiến” tại hội trường
Quảng Trị, Huế, ngày 8-5-1934
- Bài diễn thuyết “Một ngày của một
người đàn bà tân tiến” tại Hội Khai trí tiến
đức, Hà Nội ngày 8-9-1933
- Bài diễn thuyết “Có nên tự do kết
hôn không?” tại Nam Định ngày 3-11-1934
- Bài diễn thuyết “Có nên bỏ chế độ đa
thê không?” tại Hải Phòng ngày 29-111934 (Theo Nguyễn Kim Anh (chủ biên),
Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh), 2002).

2.2. Bài báo
- “Hai ngày ở thánh thất Cao Đài”,
Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ Tân văn
số 176 ngày 10-11-1932, số 177 ngày 1711-1932, số 178 ngày 24-11-1932.
- “Hai ngày ở thánh thất Cao Đài”,
Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ Tân văn
số đặc biệt Xuân 1933, ra ngày 19-1-1933
- “Những cái dở của điệu hát cải lương
ta”, Phụ nữ Tân văn số 230 ngày 4-1-1933.
- “Các điệu hát Bắc kỳ”, Phụ nữ Tân văn
số đặc biệt Xuân 1933, ra ngày 19-1-1933.

- “Năm tết, Tết đến”, Nguyễn Thị
Manh Manh, Phụ nữ Tân văn số 208, ngày
20-3-1933.
- “Một cảnh vật, hai tâm hồn”, Phụ nữ
Tân văn số 196, ngày 20-4-1933.
- “Nhân vật buổi “kinh tế””, Nguyễn
V-Mym, Phụ nữ Tân văn số 197, ngày 274-1933.
- “Các điệu hát Bắc kỳ”, Phụ nữ Tân
văn số 205, ngày 22-6-1933.
- “Chuyện ngoài đường”, Mym, Phụ
nữ Tân văn số 208, ngày 20-7-1933.
- “Đấu xảo nữ công”, Nguyễn Thị
Manh Manh, Phụ nữ Tân văn số 208, ngày
20-7-1933.
- “Một giờ phỏng vấn đội trưởng hội
Phụ nữ Cái vồn”, Nguyễn Thị Kiêm, Phụ
nữ Tân văn số 210, 1933.
- “Mấy con số đáng ghê sợ”, Nguyễn
Thị Kim, Phụ nữ Tân văn số 215, ngày 79-1933.
- “Viếng một cái sầu thành: nhà thương
Bạc Hà”, Phụ nữ Tân văn số 212, ngày 178-1933.
- “Phê bình kịch “Bạn và vợ””,
Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ Tân văn
số 213, ngày 24-8-1933.
- “Phụ nữ với hôn nhơn”, Nguyễn Thị
Kiêm, Phụ nữ Tân văn số 221 ngày 19-101933.
15


- “Nói chuyện với ông Giáo-sư Leuret

Le Ferron”, Phụ nữ Tân văn số 250, ngày
12-7-1934.
- “Đi mót tư tưởng ngoài đồng ruộng”,
Phụ nữ Tân văn số 254, ngày 16-8-1934.
- “Niêm phong cái gói tam tùng lại”,
Phụ nữ Tân văn số 255, ngày 23-8-1934.
- “Điệu hát cải lương ta”, Nguyễn Thị
Kiêm, Phụ nữ Tân văn số 231 ngày 11-11934, số 232 ngày 18-1-1934.
- “Dưới chơn Đèo Cả”, Phụ nữ Tân
văn số 252 ngày 2 – 8 – 1934.
- “Bói dầu tuồng hội chợ”, Nguyễn Thị
Kiêm, Tuần lễ Nay, ngày 12-1-1948.
- “Miễn lễ”, Nguyễn Thị Kiêm, Tuần
lễ Nay, ngày 12-1-1940.
2.3. Thơ
- “Viếng phòng vắng”, Phụ nữ Tân văn
số đặc biệt Xuân 1933, ra ngày 19-1-1933.
- “Lá rụng”, Phụ nữ Tân văn số 193,
ngày 30-3-1933.
- “Sa đà…”, Phụ nữ Tân văn số 194,
ngày 6-4-1933.
- “Vịnh hội chợ đêm Pháp – Việt”,
Phụ nữ Tân văn số 195, ngày 13-4-1933.
- “Tặng “Văn học tuần san””, Phụ nữ
Tân văn số 195, ngày 13-4-1933.
- “Hai cô thiếu nữ”, Phụ nữ Tân văn số
204, ngày 15-6-1933.
- “Canh tàn”, Phụ nữ Tân văn số 213,
ngày 24-8-1933.
- “Bức thơ gửi cho tất cả ai ưa hay là

ghét lối thơ mới”, Phụ nữ Tân văn số 228,
ngày 14-12-1933.
- “Bà La Fugie nhà thám hiểm và họa
sĩ”, Phụ nữ Tân văn số 239, ngày 26-4-1934.
- “Đêm khuya qua Xuân Lộc”, Phụ nữ
Tân văn số 264, ngày 25-10-1934.
3. Những quan niệm cơ bản của
Nguyễn Thị Kiêm về văn chương, văn học
3.1. Quan niệm phụ nữ với văn chương
Quan niệm phụ nữ với văn chương của

Nguyễn Thị Kiêm nằm trong bối cảnh tác
động của toàn xã hội về các vấn đề: quốc
học, nữ quyền, báo chí quốc ngữ, sự nhạy
cảm với cái mới trên mọi lĩnh vực cũng
như bối cảnh hiện đại hóa nền văn học
nước nhà.
Trong “tuyên ngôn” đã được phát ra
với toàn thể quốc dân năm 1929, Phụ nữ
Tân văn viết:
“Ngày hôm nay, Phụ Nữ Tân Văn ra
đời, là non sông thêm một tay thợ điểm tô,
xã-hội thêm một người lo công việc, trên
trường văn trận bút, thêm một đội binh
đàn-bà, mà trong bạn buồng khuê cửa các
chúng ta, cũng có một cơ-quan để cùng
nhau phấn đấu với đời đây!(…)
Phải làm sao cho người đờn-bà cũng
có học-vấn rộng rãi, trí thức mở mang, có
thể hiểu biết được phận-sự mình là một bà

nội-tướng thì mới có ích lợi cho đời được.”
(Phụ nữ Tân văn số 1 năm 1929).
Với tinh thần đó, người thiếu niên chưa
đầy 20 tuổi Nguyễn Thị Kiêm đã hoạt động
nhiều hơn vai trò của một nhà báo. Trong
ba “công nghiệp” của Phụ nữ Tân văn:
- Tổ chức Hội Dục Anh
- Tổ chức một cuộc hội chợ Phụ nữ
- Tổ chức Nữ lưu học hội
thì Nguyễn Thị Kiêm đều đóng vai trò
quan trọng và ghi dấu ấn khá rõ. Bà tham
gia tổ chức Hội chợ Phụ nữ để gây quỹ cho
Hội Dục Anh, tổ chức kêu gọi thành lập
Nữ lưu học hội. Bà còn được cho là người
đã “tung truyền đơn” trong phong trào
Đông Dương đại hội tại nhà hát Tây để
truyền bá dân nguyện. Ban biên tập Phụ nữ
Tân văn hoàn toàn đặt niềm tin vào bà
trong “chiến dịch” đánh thức tinh thần phụ
nữ và làm dấy lên một trào lưu “nhận thức
nữ quyền” nhằm khắc sâu một tinh thần
mới, giá trị sống mới có ích cho quốc dân.
Với bài diễn thuyết “Nữ lưu với văn
16


học” (sau đăng trên Phụ nữ Tân văn số 131
ngày 26-5-1932), nữ sĩ Manh Manh trở
thành một trong số những người không chỉ
hoạt động văn học như một minh chứng về

việc “phụ nữ làm văn học” mà còn làm
phong phú thêm cho một nền lý luận văn
học giới ở buổi đầu vàng thau. Nguyên do
chính của việc nữ sĩ tuyên truyền về vai trò
của nữ lưu với văn học xuất phát từ việc
kêu gọi hình thành Nữ lưu Học hội với sứ
mệnh “đàn bà là có mật thiết quan hệ đến
văn chương nước nhà” (2).
Chuỗi lập luận của bà đi từ triết học
đến khoa học về giới rồi dẫn vào tâm lý
học nghệ thuật. Đó là lối suy nghĩ, tiếp cận
trước những vấn đề mang tính trừu tượng
rất khác biệt của nữ sĩ Manh Manh.
“Theo lẽ sinh lý, thì đàn bà thường
nặng về phần hồn mà nhẹ về phần trí, cảm
tình thì sâu mà tư tưởng thì hẹp nên trong
văn học thường sở trường về lối tả cảnh,
đạo tình mà ít hay về lối khách quan, triết
lý”. Từ nền tảng chung này, bà phân tích
rằng “đàn bà vốn nặng về chủ quan” nên
có đủ quan tâm vào cái thế giới nhân loại
bao la mà đàn ông vốn ưa khách quan có
phần bỏ quên. Nghĩa là, theo bà, năng lực
đi vào thế giới của cảm giác, “tâm giới
mênh mông” của phụ nữ là một thế mạnh,
một loại “biệt tài” được phát lộ trực tiếp và
gián tiếp dưới nhiều hình thức. Điều này
vẫn rất đúng.
Phát hiện quan trọng và thú vị của
Nguyễn Thị Kiêm là nhấn mạnh khả năng

“tạo cảm hứng viết cho đàn ông” như một
hình thái tham dự sáng tạo của phụ nữ thay
vì chỉ nói về cách mà phụ nữ tạo ra tác
phẩm. Bà cho rằng “văn học được phát đạt
vô cùng” là do cái phần thôi thúc của tâm
hồn nữ giới đối với các “văn nhân tao sĩ”
vốn là đàn ông kia. Điều này cũng rất đúng.
Bà lập luận: “về phương diện văn học

mà nói, thì cái phong trào nầy (tức phong
trào nam hóa, đàn bà “mưu lấy quyền lợi
bình đẳng ở xã hội” - L.T.T.T nhấn mạnh)
chính là một cái triệu chứng về sự tấn hóa
của nữ lưu ở trên đường văn học”. Như
vậy, bà cấp cho mối quan hệ giữa nữ giới
với văn học một nguồn gốc “sang trọng” từ
cuộc cách mạng về nữ quyền, xu thế tất
yếu trên thế giới. Bà giải thích một cách
ngộ nghĩnh, thú vị, phần nào “sâu cay” về
sự hiện diện của Nữ lưu Học hội ở xứ Nam
ta như sau:
“Đối với những cái thiên tài xuất
chúng, Nữ lưu Học hội có thể không là cần
thiết; đối với những kẻ dung tục chí ngu,
Nữ lưu Học hội có thể cho là đồ thừa.
Nhưng đối với những người như
chúng tôi đây: ngu mà muốn học cho khôn,
dốt mà muốn học cho giỏi, không biết mỹ
thuật mà muốn yêu mến mỹ thuật, không
biết văn chương mà muốn cảm mến văn

chương, thì Nữ lưu Học hội thiệt là cần ích
cho chúng tôi lắm”.
Rất khéo léo khi lập luận trong diễn
thuyết, bà không sa vào món lý luận trừu
tượng mặc dù cũng đủ lý luận để khiến
thính giả khỏi tranh cãi nhiều. Bà còn dẫn
cả kinh Phật rất đúng lúc: “Tự giác nhi
giác tha”; bà giải thích: “Người đàn bà
cũng có cái tinh thần cần phải tự giác để
chiếu sáng ra ở chung quanh mình, cho gia
đình mình được êm đềm phong phú, cho xã
hội được rực rỡ quang minh”. Vậy là đưa
cả triết học tôn giáo vào cuộc.
Tóm lại, cách hiểu của nữ sĩ Manh
Manh về nữ lưu và văn học là rất nhất quán
bao gồm các phương diện: triết học, giới
tính, tâm lý, văn học, bản năng làm văn
chương của phụ nữ và định mệnh lịch sử
của phụ nữ ở thời khắc mưu cầu cuộc cách
mạng về nữ quyền, tri thức và tiến hóa về
tinh thần.
17


sẽ: biến câu chuyện cũ - mới thành câu
chuyện Tây - Tàu, biến nhu cầu thiết tha
cách tân thơ thành câu chuyện “phá đám”
của loại thơ ngọng nghịu không đủ lệ luật,
đánh đổi câu chuyện nghiêm trọng về nền
thơ hiện đại bằng cách phê bình những bài

thơ mới thất bại.
Cách tư duy ngụy biện và “đánh lạc
hướng” của phe thủ cựu trước những biến
đổi quá lớn (nói như Hoài Thành, “cả nền
tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay”)
rất dễ trở thành hòn đá tảng ngăn lại dòng
thác canh tân đang cuồn cuộn đến. Bởi câu
chuyện cũ và mới là cuộc đối thoại vượt ra
khỏi rất nhiều khả năng nghĩ và tư duy của
người Việt lúc đó. Nếu biến nó thành
chuyện ảnh hưởng Tây hay Tàu thì đó lại là
một chủ đề tầm thường quanh quẩn và
không hề có gốc rễ. Nguyễn Thị Kiêm
hoàn toàn hiểu rõ điều này và dùng khoa
học để tranh luận. Với mỗi bài thơ mới
được dẫn chứng, bà đều khéo dùng cách
nói cũ để bàn về sự hình thành cái mới:
“Một khúc có 6 câu. Câu thứ 1 và 5, 6 thì
mỗi câu có 4 chữ. Câu 2, 3, 4, mỗi câu có 3
chữ. Vận thì câu 1, 2, 3, 6 ăn nhịp với
nhau; 4, 5 vần với nhau”. Cách nói này rất
cũ. Cũng có thể bà không cố tình nói cách
cũ mà cái tình thế tư duy và tình thế xã hội
lúc bấy giờ khiến người ta đương nhiên nói
thế. Ở góc độ nào đó, cách nói cũ mới lẫn
lộn này cũng là một “chỉ số” đo được phần
nào tâm thế và não trạng đối với cái mới
của con người đương thời.
Từ quan điểm mới mẻ và chắc chắn,
nữ sĩ còn nhấn mạnh phê bình thơ Hồ Văn

Hảo như một giá trị thơ mới (viết về cuộc
đời thật). Nhận xét về bài Con nhà thất
nghiệp của Hồ Văn Hảo (Phụ Nữ Tân Văn
số 208 ngày 20-7-1933), nữ sĩ cho rằng
“người ta cho là chẳng phải thơ, chỉ vì
chẳng phải than thân trách phận, tả cảnh

3.2. Quan niệm cách tân văn học lý do tất yếu Thơ mới sẽ sống
Vai trò hệ trọng của Nguyễn Thị Kiêm
đối với sự khai mở của Thơ mới năm 1932
là không thể bàn cãi.
Rất đáng chú ý là cách hiểu thơ mới
cũng như sự hùng hồn, quyết liệt của bà
trước sự hiện diện của thơ mới rõ ràng xuất
phát từ ý thức, tư tưởng nhất quán toàn
diện về một cái mới tất yếu mà thơ mới chỉ
là một ví dụ đặc sắc. Bà hoàn toàn nhuần
nhị về “chiến lược cái mới” cho mọi cắt
nghĩa về giới, về xã hội, văn chương và cụ
thể hơn nữa là thơ. Vì thế, những bài diễn
thuyết của bà đều hấp dẫn như nhau, vì
chúng thuộc cùng một hệ thống tư duy về
một cái mới đang hiện diện, cần có mặt,
cái mới có giá trị, mặc dù các chủ đề có thể
khác nhau. Đó mới thực sự là một đẳng cấp
tư duy – điều hiếm có ở một người phụ nữ
chưa tròn 20 tuổi.
Chuỗi lập luận lần này của bà như sau:
Thơ là gì? → Làm thơ là gì? → Không
gian thụ hưởng thơ truyền thống như thế

nào (bao gồm cái truyền thống thuộc về
dân tộc và cái truyền thống của chung
phương Đông, chủ yếu là Trung Quốc)? →
Không gian thơ truyền thống đó đã làm
chật hẹp điều gì? → Vậy người ta phải
vùng vẫy khỏi cái chật hẹp ấy như thế nào
(trường hợp Phan Khôi và Tình già, Lưu
Trọng Lư và Trên đường đời)?
Đoạn “chiếu nghỉ” trên nấc thang đến
cái mới của bà dừng lại ở câu cảm thán có
tính phản đề: “Đây là tôi bày một ý kiến
cho các thi sĩ (une proposition) chớ không
phải nói ông Lưu Trọng Lư bắt chước theo
thơ Pháp mà các ngài hòng la lên: Bỏ thơ
Tàu lại vớ thơ Tây!”
Đoạn phản đề này rất thâm thúy.
Nữ sĩ “chặn” được cả cách phản biện
(định kiến) của phe thơ cũ bởi khả năng họ
18


thứ rường cột lặng lẽ cho công cuộc đổi
mới thơ ca có lẽ là một quyết định rất cần
chú ý ở bà.
Với bài diễn thuyết lừng lẫy, nữ sĩ
Manh Manh gửi gắm hy vọng một cách
tỉnh táo rằng đổi mới thơ là tất yếu: “chỉ
mong rằng lối thơ mới được nhiều người để
ý đến và nó có thể trở nên một lối thơ thông
dụng để tả một cách thiết thực rõ ràng

những thi cảm của các nhà thi sĩ hiện thời”.
Lịch sử cho thấy niềm hy vọng ấy rất
đáng xem là sự tiên đoán ngoạn mục.
4. Sự nghiệp Nguyễn Thị Kiêm nhìn
từ hiện tại - một vài đánh giá
4.1. Thành tựu chung
1. Nguyễn Thị Kiêm là người đặt nền
móng xây dựng nghệ thuật diễn thuyết của
phụ nữ - điều chưa từng có trong lịch sử
văn học Việt Nam. Bà đã đi vào lịch sử
bằng hoạt động diễn thuyết và nội dung
diễn thuyết ở tuổi hoa niên với những chủ
đề làm thay đổi nhiều giá trị tinh thần của
xã hội.
2. Tư duy văn học của bà đi đôi với
khả năng hùng biện, phong cách nói và viết
chừng mực nhưng quyết liệt. Tư duy đó
mang tính nguyên hợp, gắn chặt với tư duy
khoa học thực sự. Bởi vậy, cái nhìn của bà
luôn là cái nhìn phản biện, phản tỉnh. Tính
chất hoạt ngôn không tách rời khả năng
phân tích lý trí.
3. Các bài viết về văn học, nghệ thuật
chạm đến những vấn đề lý luận văn học
một cách tự nhiên (bao gồm các điểm: văn
học khách quan, văn học chủ quan, “nam
hóa” làng văn nữ, văn học và khoa học,
văn học và mỹ thuật, sự tiến hóa của nữ
lưu trên đường văn học…). Nhiều khái
quát và so sánh hợp lý (đặt văn học vào

phông nền văn hóa văn minh châu Âu để
tranh luận); phối hợp tri thức Đông Tây,
công nghệ, tôn giáo… để thuyết phục

hoa tàn nguyệt xế, suối chảy chim ngâm,
mà là một cảnh thiết thật, một cảnh khổ có
thật trong đời: người thất nghiệp… Có lẽ
trong thơ văn, người cu li ở trần quần vắn
là một động vật không có gì lãng mạn
chăng? Có lẽ cái bi kịch của một người
nghèo khó phải đi ăn trộm “hụt”, chúng
hay được la 'ăn trộm' rồi anh chạy trốn, bi
kịch ấy không gì lạ đáng để ý chăng?". Ý
tưởng sắc sảo này của Nguyễn Thị Manh
Manh từ thời điểm nhạy cảm phôi thai
phong trào Thơ mới đã làm sáng thêm giá
trị của đời thơ Hồ Văn Hảo, người mà về
sau, ngoài Đông Hồ dường như không có
ai hiểu và trân trọng. Cái mới của nhà thơ
Hồ Văn Hảo nằm ở chỗ: tiên cảm về tính
chân thực và sự dấn thân của thơ ca hiện
đại, sự chủ động của cái tôi và sự dứt khoát
với quá khứ ngâm ngợi từ chương. Riêng ở
bài Con nhà thất nghiệp, tuy lời lẽ chưa
phải là một áng thơ tuyệt tác nhưng ý
tưởng và cách nói mới đó rất xứng đáng
được xem là một mẫu hình quan trọng của
thơ mới, nhất là ở chặng đầu phôi thai.
Dường như thơ mới trên bước đường “lưu
lạc” của nó đã bị xô hẳn về phía lãng mạn,

trôi hẳn về một “chân trời của cái tôi” do
nhiều lớp thi nhân (có hoặc không có tuyên
ngôn) đã “vô tình” làm nên chân dung
thuần túy của thơ mới; trong khi ở thời
trứng nước, nó đã ngấm ngầm làm một
cuộc chuyển hóa “mây gió trăng hoa tuyết
núi sông” thành một loại thơ dành cho
nhân quần, thơ hướng xuống một địa ngục
nhân sinh với những nỗi thương cảm chân
thành. Phải chăng, cái “thực” của thơ mới
ở những chặng đầu tiên đã từng là cái thực
của đời chứ không phải chỉ có thế giới của
tình - mộng - buồn như chúng ta hằng suy
nghĩ về bản chất thơ mới? Quan niệm của
nữ sĩ Manh Manh về trường hợp Hồ Văn
Hảo và chọn lựa tác phẩm của ông như một
19


người nghe, người đọc.
4. Những bài báo phê bình nghệ thuật,
phóng sự, phỏng vấn… của bà về cơ bản
đều tay, chắc chắn, giàu cảm xúc và vốn
sống (so với tuổi của bà). Các lĩnh vực
quan tâm rất đa dạng: từ những bài phóng
sự dạng du kí như “Hai ngày ở thánh thất
Cao Đài” (Phụ nữ Tân văn số 176 ngày 1011-1932, số 177 ngày 17-11-1932, số 178
ngày 24-11-1932, số đặc biệt Xuân 1933,
ra ngày 19-1-1933) cho đến những bình
luận nghệ thuật như “Những cái dở của

điệu hát cải lương ta” (Phụ nữ Tân văn số
230 ngày 4-1-1933); “Các điệu hát Bắc kỳ”
(Phụ nữ Tân văn số đặc biệt Xuân 1933, ra
ngày 19-1-1933; Phụ nữ Tân văn số 205,
ngày 22-6-1933); Phê bình kịch “Bạn và
vợ” (Phụ nữ Tân văn số 213, ngày 24-81933); “Điệu hát cải lương ta” (Phụ nữ Tân
văn số 231 ngày 11-1-1934, số 232 ngày
18-1-1934). Cách dẫn giải trong loạt bài
này hầu hết mang tính khoa học, luận điểm
rất mới mẻ và táo bạo (3). Mảng báo được
chăm sóc nhiều hơn cả lại nằm ở những bài
viết về đời sống, xã hội, cuộc sống lao khổ
của người dân, như các bài “Nhân vật buổi
“kinh tế”” (Phụ nữ Tân văn số 197, ngày
27-4-1933); “Mấy con số đáng ghê sợ”
(Phụ nữ Tân văn số 215, ngày 7-9-1933);
“Viếng một cái sầu thành: nhà thương Bạc
Hà” (Phụ nữ Tân văn số 212, ngày 17-81933); “Phụ nữ với hôn nhơn” (Phụ nữ Tân
văn số 221 ngày 19-10-1933)… Đặc biệt,
bài “Dưới chơn Đèo Cả” (Phụ nữ Tân văn
số 252 ngày 2-8-1934) gần với một phóng
sự giàu chất văn hơn là một bài báo phản
ánh đời sống “lao công” xây đường ray;
bài viết trộn lẫn cái nhìn sắc sảo về đời
sống với niềm đa cảm của một tấm lòng tử
tế. Mảng báo viết về xã hội, nhân sinh rất
nhất quán với quan niệm của bà về tinh
thần dấn thân không mỏi vào cuộc “nhân

quần”. Điều ấy cũng không khác là bao

việc bà chọn Hồ Văn Hảo, nhà thơ mới
Nam bộ với bài thơ về đời thất nghiệp để
làm điểm tựa cho cuộc cách tân thơ phải có
ở xứ Annam.
5. Giá trị lý luận từ những hoạt động
và nội dung diễn thuyết của bà có thể nói
là rất lớn: đóng góp cho sự hình thành và
phát triển thơ mới, góp phần đặt những
viên gạch đầu tiên cho việc tìm hiểu văn
chương nữ quyền ở Việt Nam; sớm nhận
ra và đặt ra vấn đề văn học và phụ nữ một
cách đích đáng, biết cách đặt văn học trong
các trào lưu tiến bộ về tư tưởng, mỹ thuật,
văn nghệ đương thời; đồng thời thấy rõ
tầm quan trọng của ảnh hưởng văn hóa văn
minh châu Âu đối với sự phát triển văn
học nước nhà.
4.2. Một vài hạn chế
Hầu hết các bài viết của nữ sĩ Manh
Manh đều ít chọn lọc ngôn ngữ viết thuần túy
mà thường chọn cách nói khá tự nhiên, dân
dã. Văn bản của bà thường xuất hiện tình
trạng khẩu ngữ xen lẫn thuật ngữ, cách nói tài
hoa, trí tuệ xen lẫn cách nói “rặt” địa phương
(miền Tây Nam Bộ), khiến cho tính chuyên
nghiệp trong văn phong bị ảnh hưởng.
Cách đặt vấn đề của bà thường khá lớn,
có dáng dấp những phác thảo lớn nhưng
việc chi tiết hóa lại không cân xứng. Văn
phong quốc ngữ của bà đôi lúc còn ở dạng

thô, ít trau chuốt, có khi bị “cứng”, “sượng”.
Ở tuổi hai mươi, bà đã làm quá nhiều
thứ vượt sức khi thử thách mình ở các vấn
đề đặc biệt hệ trọng đối với sự phát triển
đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam
giai đoạn thuộc Pháp. Một số kiến giải
trong bài viết của bà còn dừng ở mức tản
mạn, nồng nhiệt nhưng đơn giản.
Thơ của bà quá tỉnh táo, thông minh
nhưng thiếu tinh tế. Dùng nó để chứng
minh cho “lộ trình” đổi mới thơ thì được,
20


nhưng chứng minh cho giá trị của thơ mới
thì vẫn còn là điều băn khoăn.
5. Kết luận
Di sản của nữ sĩ Manh Manh để lại
chứng tỏ một ranh giới giữa “tài văn” và
“văn tài”. Qua các bài diễn thuyết và các
bài báo (gồm cả thể loại phóng sự ngắn,
phê bình nghệ thuật) của nữ sĩ Manh
Manh, có thể thấy tư duy phân tích khoa
học sắc bén, triệt để là phong cách căn cốt
của bà. Đó là “tài văn”, tài năng về văn
chương nhìn từ góc độ nhận thức tiến trình
văn chương trong quan hệ với nền quốc
học, tâm thế “duy tân” và khả năng đúc rút,
nắm bắt tinh nhạy những bài học thực tế,
gọn ghẽ về cuộc “cách mạng” thơ ca. Cách

phát hiện vấn đề rất thông minh của bà và
những lập luận không thể sáng rõ hơn cho
thấy những tính từ các nhà nghiên cứu
dành cho bà: “xuất chúng”, “có tài và có
gan” là đích đáng.
Tuy nhiên, “tài văn” của bà không
song trùng với “văn tài” - vốn là thứ được
chưng cất trong mỗi con chữ sáng tác tài
hoa. Trên thực tế, các bài thơ “làm chứng”
của bà trong các diễn thuyết về “thơ mới”
chưa thể có bất kì một vị trí nào trên văn
đàn đương thời (và cả về sau cũng thế).
Hoài Thanh đã đúng khi nhắc đến bà như
một “ngòi châm” cho cuộc đổi ngôi vĩ đại
trong lịch sử nghệ thuật ngôn từ thời hiện
đại (giai đoạn chuyển giao từ thơ cũ sang
thơ mới) mà không chọn lấy một câu thơ,
một bài thơ nào của bà để đặt vào “Hội Tao
đàn” huyền thoại năm xưa.
Nhìn chung, Nguyễn Thị Kiêm là một
nhân vật rất đặc biệt của giai đoạn hiện đại
hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Toàn
bộ đóng góp của bà thể hiện ở tài năng, tư
chất phản biện khoa học về văn chương
một cách rạch ròi, mạnh mẽ, không khoan
nhượng song cũng rất có tình, chừng mực,

hoàn toàn tránh được sự xốc nổi, không
tưởng. Di sản của bà giống như tiếng hót
con chim yêu đời, dấn thân, thần thái lớn

lao giữa trời cao rộng nhưng cũng sớm kết
thúc trong bi kịch riêng lặng lẽ.
* Chú thích
Bài viết nằm trong đề tài KH&CN cấp Đại Học Quốc
gia loại B năm 2013, mã số B2013-18b-05: Hoạt động
nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học quốc ngữ ở Nam
Bộ trước 1954 (Sưu tầm, tuyển chọn và nghiên cứu).

(1) Các trích đoạn phần này đều rút từ bài diễn
thuyết “Nữ lưu và văn học” (Phụ nữ Tân văn số
131, ngày 26-5-1932).
(2) Xin đọc nguyên văn một số nhận xét của bà:
“Tôi không hiểu tại làm sao có người thấy rõ cái
dở của điệu ca của mình mà không chịu nhận
như vậy. Bản nảo bản rí rít như than khóc, kể lể
tỏ ra cái tánh yếu ớt của dân mình, cái hồn bị đè
áp phục tùng từ mấy ngàn năm xưa… Nhưng họ
cho vậy là mơ mộng, vẩn vơ, khen có tài văn
chương trong lời hát. Mà văn chương của bài ca
ta là văn chương tầm phào, nói đi nói lại (…)
Âm nhạc của ta còn nghèo lắm vì chẳng có ai bổ
cứu sửa đổi các thứ đờn, chẳng có thầy đặt bài
ca (compositeur) có bấy nhiêu điệu thì xài bao
nhiêu đó” (trích “Điệu hát cải lương ta”, Phụ nữ
Tân văn số 231 ngày 11-1-1934, trang 6); “Hát
cải lương của ta còn ở dưới một trình độ thấp
thỏi lắm. Người ngoại quốc đến xem ắt cho
người Annam có cái tâm hồn thật trong sạch
(une caudeur d’âme), cái trẻ con thật thà, cái lạc
quan “dày cuôi” vì rạp hát là cái phản chiếu sự

văn minh của dân một xứ. Một số người trí thức
Annam không chịu xem cải lương vì họ chê là
dở lắm. Một số người không chịu nghe nói đến
cải lương vì họ cho là không thể sửa đổi được.
Không, nếu hát xướng của ta mà có thể làm
cho người ngoài lầm về cái trình độ trí thức
của ta thì chúng ta phải quan tâm mới được
(L.T.T.T nhấn mạnh). Thấy nó dở không nên
chê nó dở mãi, phải tìm cái dở tại đâu mà có,
làm sao mà bổ cứu cho nó được cao lên” (trích
“Những cái dở của điệu hát cải lương ta”, Phụ
nữ Tân văn số 230 ngày 4-1-1933).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

21

Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp (1999), Những danh
sĩ miền Nam, Nxb Tổng hợp Tiền Giang.


2.

3.

4.

Hoàng Anh (1998), “Nguyễn Thị Kiêm:
“Nữ vệ sĩ của phong trào “thơ mới” buổi

đầu””, Tạp chí Văn, Hội nhà văn
TP.HCM, số 83.

18. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1968),
Khuynh hướng thi ca tiền chiến, Sống mới
xuất bản.

Nguyễn Kim Anh (chủ biên) (2005), Văn
học Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia.
Phạm Xuân Độ (1970), Nữ thi hào Việt
Nam, Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn.

6.

Bằng Giang (1992), Văn học Quốc ngữ ở
Nam Kì 1865-1930, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh.

7.

Bằng Giang (1999), “Phụ nữ tân văn
(1929-1935) - Cái bệ phóng cho một tài
năng”, Văn nghệ, số 21 (bộ mới).

9.

17. Nguyễn Tấn Long (1968), Việt Nam thi
nhân tiền chiến, 3 quyển, Sống mới xuất
bản, Sài Gòn.


Hoàng Anh (1999), “Nữ sĩ Nguyễn Thị
Manh Manh”, Sài Gòn giải phóng, ngày
13-4-1999.

5.

8.

Manh Manh - Nguyễn Thị Kiêm đôi nét
đời thường”, Tạp chí Văn, số 86.

19. Tứ Ly (1935), “Một cuộc diễn thuyết ở
Sài Gòn: Vấn đề thơ mới và thơ cũ”,
Phong hóa, số 135, 8-2-1935.
20. Hoàng Như Mai (1993), “Người phụ nữ
chăm sóc thơ mới từ buổi ấu thơ”, Phụ nữ,
số ra ngày 6-1-1993.
21. Tố Mai (1935), “Cô Nguyễn Thị Kiêm trả
lời”, Sống, số 2, 29-1-1935.
22. Hương Nguyên (2001), “Các nhà văn nữ
Việt Nam thời Pháp thuộc”, Tạp chí Văn
học, số 10-2001.

Nguyễn Hữu Hiệp (1998), “Bước ngoặt
thơ mới ở Nam Kỳ”, Xưa và nay, số 52B6/1998.

23. Vũ Ngọc Phan (1944), Nhà văn hiện đại,
Tân Dân xuất bản, Hà Nội.


Mai Hương (biên soạn và tuyển chọn)
(1997), Nữ sĩ Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

24. Thế Phong (1974), Lược sử văn nghệ Việt
Nam - Nhà văn tiền chiến 1930-1945,
Vàng son xuất bản, Sài Gòn.

10. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988),
Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1900-1930, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội.

25. Kiều Thanh Quế (1968), Cuộc tiến hóa
văn học Việt Nam, Hoa Tiên xuất bản,
(Sài Gòn).

11. Ngộ Không (1935), “Tường thuật buổi
diễn thuyết tranh luận giữa Nguyễn Thị
Kiêm và Nguyễn Văn Hanh tại Hội
Khuyến học Sài Gòn, 16-1-1935”, Phong
hóa, 2-1935.

26. Bộ sưu tập Bùi Văn Quế (2001), “Nguyễn
Thị Manh - nữ tiên phong thơ mới ở Nam
Kỳ” (Lưu trữ tại thư viện Tổng hợp
TP.HCM, BH2001-CD room).

12. Lê Đình Kỵ (1989), Thơ mới - Những
bước thăng trầm, Nxb TP.HCM.


27. Nguyễn Hữu Tiến (1934), “Thơ mới thơ
cũ”, Nam Phong, số 193.

13. Thạch Lam (1935), “Thơ mới”, Phong
hóa, số 142, 25-3-1935.

28. Hoài Thanh, Hoài Chân (1942), Thi nhân
Việt Nam, Nguyễn Đức Phiên xuất bản.

14. Thanh Lãng (1973), Phê bình văn học thế hệ
1932, Phong trào văn hóa xuất bản, Sài Gòn.

29. Thanh Việt Thanh, Thiện Mộc Lan
(1999), Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh,
Nxb Văn nghệ TP. HCM.

15. Thanh Lãng (1995), 13 năm tranh luận
văn học, tập 2, Nxb Văn nghệ, Hội nghiên
cứu và giảng dạy văn học TP.HCM.

30. Nguyễn Q. Thắng (1990), Tiến trình văn
nghệ miền Nam, Nxb An Giang.
31. Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang, Trần

16. Nguyễn Phước Thị Liên (1998), “Nữ sĩ

22


Hữu Tá (2013), Nhìn lại Thơ mới và văn

xuôi Tự lực văn đoàn, Nxb Thanh niên,
TP. HCM.

35. Phạm Việt Tuyền (1965), Văn học miền
Nam, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn.
36. Ngô Lãng Vân (1972), Nữ thi sĩ Việt Nam,
Sống mới xuất bản, Sài Gòn.

32. Nguyễn Ngọc Thiện (2005), Một cái triệu
hay: Tranh luận văn nghệ ở nước ta nửa
đầu thế kỷ XX (tập 1, 2), Nxb Lao động,
Hà Nội.

37. Nguyễn Vỹ (1994), Văn thi sĩ tiền chiến,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
38. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2001), “Văn
học hiện đại Việt Nam, bước khởi đầu
quan trọng ở Sài Gòn, Nam Bộ”, Tạp chí
Văn học, số 3-2001.

33. Anh Thơ (2001), “Các nhà thơ nữ trước
Cách mạng tháng 8”, Tạp chí Văn học, số
7-2001.
34. Minh Trí (1998), “Nữ sĩ Manh Manh,
tiếng hót lạ trong làng báo Sài Gòn”, Phụ
nữ TP.HCM, số 6-1998.

Ngày nhận bài: 25/02/2016

Biên tập xong: 15/03/2016


23

Duyệt đăng: 20/03/2016


TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Số 14 (39) - Tháng 3/2016

Cái chết của tác giả
The death of the Author
rườ

Đại ọ

ài Gò

Ph.D. Nguyen Thi Thu Van (translate)
Sai Gon University
Tóm tắt
“Cái ết ủa tá iả” ủa Rola Bart es là một bài viết đá
ấ mố q a trọ
o p ê bì và lý
l ậ t ế kỷ XX ó p ả ứ
ố lại tr ề t ố sử ụ
á ế tố q a điểm, ậ t ứ và tiể
sử ủa tá iả tro việ i
iải vă bả , đồ t ời đưa ra một lý iải mới về vă bả
ư một t ự

t ể độ lập và tự tr
a ả đối với ủ t ể tạo ra ó Ở một t ời điểm k á sớm sủa tro l
sử p ê

bả tiế P áp đượ ơ bố ăm 1967 và bả
tiế A
ăm 1968 , “Cái ết ủa tá iả”
đã p á vỡ ữ
iới ạ ủa ấ trú l ậ và ự báo ữ k
ướ lý t ết ậ iệ đại ư
sự bất k ả ủa k ởi
ê , tí “trì ỗ và k á biệt” ủa
ĩa, ái ết ủa ượ đế…
Từ khóa: “Cái chết của tác giả”, phê bình, lý luận, cấu trúc luận…

Abstract
Rola Bart es’ essa “ e Deat of t e A t or” makes a promi e t la mark in 20th century literary
riti ism a
t eor Opposi
tra itio al pra ti e of literar i terpretatio wit i t e a t or’s
intentions, ideology, and biography, the essay develops an advanced view of text as an independent and
autonomous entity, even of t e s bje t t at reate it “ e Deat of t e A t or” breaks t e limits of
str t ralism a fore asts postmo er t eoreti al tre s of i abilit of ori i alit , t e “ iffere e” of
mea i , or t e eat of Go …
Keywords: “The death of the author”, criticism, theory, structuralism…

ro tá p ẩm Sarrasine, Bal a , k i
ói về một am a sĩ b t iế để iữ iọ
kim, ưới lốt một p ụ ữ, đã viết
sa

“Đ
í là p ụ ữ, với ữ
i sợ ãi
đột ột, với ữ ý t í bất ờ và p i
lý, ữ
i lo lắ bả ă , sự ạ ĩ”
ậ t ì ai đa
ói đấ ? Có p ải là
vật ủa

ất q ết k ơ
ấp
ậ ái ười am a sĩ bê tro
ười
p ụ ữ đó? Ha đó là
ười đà ơ
Bal a , đượ tra
b bởi ki
iệm

riê
ủa mì với một triết lý về P ụ ữ?
Có p ải là tá iả Bal a tự ê ra ữ ý
tưở ‘vă
ươ ’ ủa mì về ữ tí ?
Có p ải đó là trí t ệ p ổ q át? m lý ọ
lã mạ ? C ú ta sẽ k ơ bao iờ biết
đượ , là bởi vì lối viết ào ũ tự t
ó
í là ái iọ đặ biệt à , bao ồm

một số iọ k ơ p
biệt đượ , và vì
viết í là sự sá tạo ra iọ
à , mà
ú ta k ơ t ể q
o ó một k ởi
ồ ụ t ể vă ọ
í là ở sự tr
24


tí ấ , sự đa ợp ấ , sự
iê lệ ấ
mà m i ủ t ể trượt vào đó, sự m tính
ủa tất ả bả sắ , mà đầ tiê là í bả
sắ ủa ười đã viết ra tá p ẩm
Hẳ là lú ào ũ t ế ả một k i
một à độ đượ kể lại vì ữ mụ
đí
ội si
ứ k ô
ò với ý đ
à độ trự tiếp t eo t ự tế ĩa là,
rốt ụ là vẫ ằm oài bất kỳ ứ ă
ào trừ í
ứ ă
ủa sự à tá
ủa bả t
biể tượ ấ - k i ấ sự iá
đoạ à sẽ xả ra, iọ

ói sẽ mất đi
k ởi
ê ủa ó, tá iả ết đi, tá
p ẩm bắt đầ
iê , ý t ứ về iệ
tượ
à t ì m i lú một k á
a ; tro

xã ội
ê t ủ , trầ t ật
k ô bao iờ o một á
đảm trá
mà là một ười điề đì , một s ama
a một
ười kể
ệ , mà
a sự
‘t ự iệ ’ ủa ười à ó t ể đã đượ
kí p ụ rồi
ĩa là, sự điề k iể ủa
ô ta đối với mã trầ t ật , ứ k ô
p ải là ‘tài ă ’ ủa ô ta á iả là một
ì tượ
iệ đại, ẳ là đã đượ sả
si bởi í xã ội ủa ú ta, tới mứ
độ mà, đế
ối t ời tr
đại, với ủ
ĩa ki

iệm A , ủ
ĩa

Pháp và iềm ti tưở
á
vào p o
trào Cải á , ó đã k ám p á ra
t ế
ủa á
, a , ói một á
oa mỹ
ơ ,
t ế ủa “ o
ười á t ể” ì vậ
oà toà ó lý k i tro vă ọ
í

ĩa t ự
ứ - bó
á và đỉ
điểm ủa ý t ứ ệ tư bả - đã đặt tầm
q a trọ lớ
ất vào “ á
” tá iả
á iả vẫ t ố tr tro
á iáo trì
l
sử vă ọ , tro
ữ tiể sử ủa
á

à vă , tro
ữ bài p ỏ vấ
trê tạp í, ũ
ư tro
í ýt ứ
ủa iới ầm bút, ứ bă k oă về việ kết
ợp o
ười ủa mì và tá p ẩm ủa
mì bằ
ồi ký, ật ký Hì ả
ủa

vă ọ mà ười ta ầ tìm t ấ tro vă
óa đươ đại ất đ
p ải tập tr
vào
tá iả, o
ười ủa ô ta, ộ đời ủa
ô ta, ữ đam mê ủa ô ta; phê bình

ư vẫ ốt ế là ở việ ói rằ tá
p ẩm ủa Ba elaire là sự t ất bại ủa o
ười Ba erlaire, tá p ẩm ủa a Go
sự điê

ủa ô , tá p ẩm ủa
aikovsk sự trụ lạ ủa ô
sự i
iải tá p ẩm l ô l ô đượ tìm kiếm
tron o

ười đã sả si ra ó, ư t ể
là, t ô
q a p ú
ụ ư ấ ít
iề
sá rõ mà ối ù
ó sẽ t à ra iọ
ói ủa một và ỉ một o
ười, tá iả,
đã ửi đế ta lời “t m sự” vậ
Mặ ù đế ế ủa á iả vẫ ò rất
mạ
p ê bì


ầ đ
vẫ
t ườ
ỉ ủ
ố đế ế à mà t ôi ,
vẫ ó t ể t ấ rõ rằ s ốt một t ời ia
ài một số à vă đã
lự la

ó Ở P áp, Mallarme ắ là ười đầ
tiê
ì t ấ và tiê đoá đượ một á
đầ đủ sự ầ t iết ủa việ lấ
í bả
t

ô
ữt a t ế o o
ười mà
đế a
ười ta vẫ
o là sở ữ ó; với
Mallarme, ũ
ư với ú ta, í
ô
ữ ói lê tất ả ứ k ô p ải là
tá iả viết
ĩa là đạt đế , t ô q a
tí vô
xư tiê q ết - không nên
ầm với tí k á q a ủa tiể t
ết
ia iệ t ự - ái điểm mà ỉ ó ô
ữ à tá , “t ự iệ ,” ứ k ô p ải
“bả t ” oà t ể t i p áp Mallarme ốt
ế là ở việ iấ tá iả đi để tá p ẩm
ổi lê mà ư ú ta sẽ t ấ , để p ụ
ồi v t ế ủa độ iả
aler , b đè ặ
bởi t m lý ọ về Bả
ã, đã làm loã đi
rất iề lý t
ết ủa Mallarme, ư ,
sự ê t í
ủa ô đối với ủ
ĩa ổ

điể đã ẫ ô đế với ữ bài ọ t
từ, ô k ô
ừ tra vấ và ế ạo
á iả, ấ mạ bả
ất ô
ữ và
25


×