BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NCKH SINH VIÊN
THIẾT KẾ THI CÔNG BỘ TÍNH TIỀN XU
TỰ ĐỘNG CHO MÁY GIẶT
S
K
C
0
0
3
2
9
6
7
5
2
7
9
3
5
MÃ SỐ: SV2010 – 68
S KC 0 0 2 7 9 6
Tp. Hồ Chí Minh, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ( CẤP SINH VIÊN )
THIẾT KẾ THI CÔNG BỘ TÍNH TIỀN XU TỰ ĐỘNG
CHO MÁY GIẶT
MÃ SỐ : SV2010-68
THUỘC NHÓM NGÀNH : KHOA HỌC KỸ THUẬT
NGƯỜI CHỦ TRÌ
: VÕ LONG SĨ
NGƯỜI THAM GIA
: NGUYỄN DUY LUÂN
NGUYỄN TẤN NÓ
ĐƠN VỊ
: KHOA CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY
TP.HỒ CHÍ MINH – 10/2010
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
-
Tìm hiểu tình hình sử dụng máy giặt sử dụng tiền xu và máy bán hàng tự động ở nước
ta và trên thế giới.
-
Tiến hành khảo sát thực tế, phân tích đánh giá kết quả khảo sát.
-
Tìm hiểu và áp dụng các phương thức giao tiếp giữa người và máy gồm có : LCD, IC
thu phát tiến nói IDS2560, vi điều khiển PIC 16F887, chuẩn I2C giao tiếp giữa các
chip điện tử va một số các tính năng ứng dụng của vi điều khiển PIC.
-
Thiết kế, thi công và lắp ráp bộ tính tiền xu tự động cho máy giặt .
o Phần cơ khí.
o Phần điện tử công suất.
o Phần mềm điều khiển.
1
MỤC LỤC
Tóm tắt đề tài
1
Mục lục
2
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
3
1.1 Tổng quan về tình hình sử dụng máy giặt tiền xu ở nước ta và trên thế giới
3
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
4
1.3 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
4
1.4 Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
4
1.5 Đối tượng của đề tài nghiên cứu
4
1.6 Phương pháp nghiên cứu
4
1.7 Phạm vi áp dụng
5
PHẦN 2 : NỘI DUNG THỰC HIỆN
6
2.1 Tìm hiểu cơ sở lý thuyết
6
2.1.1 Tìm hiểu bộ nhận dạng tiền xu
6
2.1.2 Tìm hiểu IC thu phát âm thanh ISD2560
8
2.1.3 Giới thiệu IC nhớ thời gian DS1307
2.2 Thiết kế và thi công bộ tính tiền xu tự động cho máy giặt
19
23
2.2.1 Phần cơ khí
23
2.2.2 Phần Điện
24
2.2.3 Phần mềm điều khiển
27
2.2.4 Kết quả đạt được
30
Tài liệu tham khảo
31
Phụ lục A : Phiếu khảo sát
32
Phụ lục B : Chương trình điều khiển
37
2
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tổng quan về tình hình sử dụng máy giặt tiền xu ở nƣớc ta và trên thế giới
Máy giặt sử dụng tiền xu là một hình thức khác của máy bán hàng tự động, trên hình
thức bán hàng tự động là bán thời gian sử dụng máy giặt cho khách hàng.
Máy giặt sử dụng tiền xu rất phổ biến và thông dụng ở các nước tiên tiến như Mỹ,
Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Nhưng ở nước ta vẫn còn khá xa lạ. Vào những năm từ năm
2003 đến năm 2008, máy giặt sử dụng tiền xu đã từng được sử dụng ở Resort River Side
thuộc tập đoàn………… tạithành phố Hồ Chí minh nhập khẩu từ Mỹ, nhưng giá của mỗi bộ
khá cao khoảng 400USD / bộ.
Hình 1.1 Máy giặt sử dụng tiền xu của Trung Quốc
Hình 1.2 Máy giặt sử dụng tiền xu ở Đức
Hình 1.3 Bộ nhận dạng tiền xu cho máy giặt của Trung Quốc
Đối với các loại máy bàn hàng tự động ở nước ta hiện nay cũng khá phổ biến với
nhiều loại máy bán các loại thực phẩm khác nhau, đặc biệt là nước uống đóng chai. Và các
đơn vị trong nước như trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Đại Học SPKT TP.HCM cũng đã
tham gia sản xuất máy bàn hàng tự động, các máy bán hàng của Cocacola, Pepsi nhưng cho
đến nay vẫn chưa góp phần giải quyết đáng kể tâm lý “ít chuộn tiền xu” của người dân trong
nước.
3
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Ở đề tài này chúng tôi nghiên cứu và ứng dụng một hình thức khác của máy bán hàng
tự động đó là “ Thi công bộ tính tiền xu tự động cho máy giặt “. Đây là một đề tài tuy không
mới mẻ với các nước tiên tiến nhưng đối với nước ta vẫn còn khá xa lạ. Đặc biệt đối với một
hình thức bán hàng tự động khác đó bán thời gian sử dụng máy móc thiết bị, tức là cho thuê
các máy móc thiết bị mà người tiêu dùng không có đủ điều kiện về tài chính để sở hữu hoặc
thời gian để làm các công việc hằng ngày. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đặc biệt là các đối tượng có thu nhập thấp, giúp
mọi người tiết kiệm thời gian, góp phần cải thiện cảnh quan đô thị, xây dựng nếp sống văn
minh, sạch đẹp. Góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Thêm vào đó là chủ trương của nhà nước ta là sử dụng tiền xu thay thế tiền giấy mệnh
giá thấp, việc sử dụng rộng rãi máy bán hàng tự động ở nước ta là cần thiết.
1.3 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Xác định thực trạng nghiên cứu máy bán hàng tự động ở nước ta và nhu cầu sử dụng
máy giặt tiền xu của sinh viên ở các ký túc xá. Để từ đó đưa ra hướng giải quyết, chế tạo
“máy giặt sử dụng tiền xu” một cách hợp lý nhất.
1.4 Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
-
Tiến hành khảo sát thực tế. Tổng hợp, phân tích, đánh giá mức độ khả thi của đề tài,
khả năng ứng dụng của đề tài vào thực tiễn. Tìm hiểu và tổng hợp các hình thức bán
hàng tự động từ đó xác định hướng đi cho đề tài.
-
Tiến hành tìm hiểu các phương thức giao tiếp giữa máy và người từ đó chọn lọc
nghiên cứu các hình thức khả thi nhất, nhằm mục đích tạo điều kiện thuân lợi nhất cho
khách hàng khi sử dụng máy.
-
Thiết kế và thi công hoàn thiện máy trên hình thức bán hàng tự động là bán thời gian
sử dụng máy giặt cho khách hàng.
-
Hoàn thành sản phẩm, test sửa lỗi và đưa vào sử dụng.
1.5 Đối tƣợng của đề tài nghiên cứu
Những đối tượng có thu nhập thấp, những hộ dân ở các khu chung cư, kí túc xá là
khách thể của đề tài nghiên cứu.
Với đối tượng nghiên cứu là: “ Bộ tính tiền xu tự động cho máy giặt”.
1.6 Phƣơng pháp nghiên cứu
Đây là đề tài đánh giá thực trạng và đưa ra hình thức bán hàng tự động phù hợp với
thực tế khách quan. Do vậy, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm sử
dụng tính hợp lý và ưu việt của các phương pháp nghiên cứu đồng thời loại bỏ được hạn chế
mà nếu sử dụng một phương pháp nghiên cứu sẽ làm thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp sử dụng phiếu thăm dò được sử dụng để thu thập đầy đủ các thông tin,
cung cấp cho quá trình phân tích thực trạng một cơ sở dữ liệu phong phú bao hàm tất cả các
mặt liên quan đến quá trình sinh hoạt, hoạt động giặt giũ của sinh viên hằng ngày.( phiếu
khảo sát mẫu được đưa ra ở phần PHỤ LỤC A ).
4
Phương pháp phỏng vấn trò chuyện được sử dụng để thu thập các thông tin một cách
chính xác và thấy rõ nhất thực trạng sinh viên sinh hoạt như thế nào.
Bằng cách chọn ngẫu nhiên 100 sinh viên đang sống và học tập tại ký túc xá trường
Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM chúng tôi đã tiến hành khảo sát và từ đó đưa ra những
nhận định, hướng phát triển của đề tài.
1.7 Phạm vi áp dụng
Máy giặt sử dụng tiền xu có thể được dùng ở những nơi công cộng, giúp những người
có thu nhập thấp vẫn có thể sử dụng được máy giặt và tiết kiệm thời gian cho các đối tượng
như sinh viên, những hộ dân ở các khu chung cư, kí túc xá, phục vụ nhu cầu nhằm nâng cao
chấp lượng cuộc sống, đồng thời tạo nếp sống văn minh ở các khu đô thị. Trong đó việc nâng
cao chất lượng lượng cuộc sống cho những đối tượng có thu nhập thấp cũng là một trong
những chủ trương chính sách quan trọng của Đảng và nhà nước ta. Từng bước đưa nước ta
trở thành nước văn minh, hiện đại.
5
PHẦN 2
NỘI DUNG THỰC HIỆN
2.1 Tìm hiểu cơ sở lý thuyết
2.1.1 Tìm hiểu bộ nhận dạng tiền xu
Từ năm 2003 cùng với sự phát hành một số loại đồng tiền mới, đồng tiền xu Việt
Nam với các mệnh giá 200, 500, 1000, 2000, 5000 đã được đưa vào sử dụng. So với tiền
giấy để mua bán thông thường thì tiền xu không thực sự tiện lợi. Tuy nhiên để tạo ra sự phát
triển dịch vụ công cộng và bán lẻ hàng hóa thì tiền xu là một giải pháp tốt cho việc thiết kế
các máy bán hàng tự động. Một vấn đề quan trọng là phải xác định đúng giá trị của các loại
tiền xu trách các trường hợp nhầm lẫn giả mạo gây thiệt hại đến công ty bán hàng.
Hình 2.1 Một số modul nhận dạng tiền xu đƣợc sản xuất từ Đức
2.1.1.1 Cấu tạo
Bộ nhận dạng tiền xu gồm có các bộ phận.
•
Cơ cấu nhận tiền xu đồng thời đo kích thước tiền xu.
•
Bộ phận kẹp tiền xu mẫu với cuộn dây đồng nhằm xác định vật liệu làm tiền xu
băng hiện tượng cảm ứng điện từ.
•
Bộ nhận nhận biết tiền xu đúng hoặc không đúng. Nếu đúng sẽ chấp nhận tiền
xu, và không đúng sẽ trả lại cho khách hàng.
Hình 2.2 Cấu tạo modul nhận dạng tiền xu
6
2.1.1.2 Hoạt động của bộ nhận dạng tiền xu
a. Phương pháp xác định tiền xu theo đường kính
Trong modul nhận dạng tiền xu này nhà sản xuất chỉ cho phép nhận một số loại tiền
xu có kích thước nhất định bằng các cơ cấu cơ khí. Nếu đồng xu quá cỡ kích thước của
modul nhận tiền vào thì modul sẽ không thể hoạt động ở khâu chấp nhận tiền và sẽ trả tiền
lại cho khách hàng ở ngõ đồng tiền bị sai.
Đây không phải là phương pháp nhận dạng tiền xu chính của modul vì những đồng
tiền hay vật nào có kích thước nhỏ hơn lỗ nhận tiền đều có thể chui qua được, nhưng phần
nào cũng cho thấy được cấu tạo của cơ cấu chấp nhận tiền và trả tiền lại cho khách hàng.
Đây cũng chính là phương pháp xác định tiền xu theo đường kính nhưng phương pháp
này thường chỉ là phương pháp phụ, nếu sử dụng các leb hồng ngoại thu phát vẫn xác định
chính xác được kích thước của các lọai tiền bằng cách đặt ở các vị trí thích hợp, làm cơ sở
cho việc nhận dạng nhiều loại tiền xu. Nhưng vẫn không thể loại trừ khả năng làm giả dễ
dàng.
Hình 2.3 phƣơng pháp xác định tiền xu theo đƣờng kính
b. Phương pháp xác định tiền xu bằng hiện tượng cảm ứng điện từ
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các modul tiền xu của máy bán
hàng tự động hiện nay.
Phương pháp này sử dụng hiện tượng cảm ứng điện từ, khi kẹp mỗi đồng tiền mẫu
làm bằng vật liệu nhất định cùng với cuộn dây có sẵn sẽ sinh ra một suất điện động cảm ứng
khác nhau, từ đó xác định được điện áp cảm ứng của các loại tiền xu, tức là chuyển sang một
đại lượng điện dùng để so sánh trong các đồng tiền xu khác khi bỏ vào modul.
7
Hình 2.4 Cấu tạo bộ phận kẹp đồng xu mẫu
Hình 2.5 Bộ phận kẹp đồng xu mẫu đƣợc ghép lại
Bên trên là cơ cấu kẹp và xác định tiền xu mẫu, khi có một đồng tiền xu khác chạy
qua thì sẽ có cơ cấu tương tự đo lại và trả về một đại lượng điện của đồng tiền mới bỏ vào,
đại lượng điện này sẽ được so sánh có giống với đại lượng điện của đồng xu kẹp hay không,
từ đó đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đồng tiền mới.
Bộ phận làm nhiệm vụ thực hiện lệnh chấp nhận hay không chấp nhận đồng tiền xu
mới là một cơ cấu cơ khí có cần gạt thực hiện nhiệm vụ gạt đồng xu vào hay đẩy đồng xu ra
trả lại cho khách hàng.
Hình 2.6 Cơ cấu gạt tiền xu bên trong modul
2.1.2 Tìm hiểu IC thu phát âm thanh ISD2560
Cùng với ISD2560, các Ic ISD2575/2590/25120, là loạt các Ic chuyên dụng dùng để
thu (record) và phát lại(playback) âm thanh. Đây là các Ic chuyên dụng chất lượng cao, có
8
nhiều đường điều khiển cũng như nhiều mode chức năng hoạt động có thể đáp ứng được một
số yêu cầu nhất định trong lĩnh vực thu và phát lại tiếng nói.
2.1.2.1 Sơ đồ chân ISD2560
Hình 2.7 Sơ đồ chân IC ISD2560
2.1.2.2 Sơ đồ khối bên trong của ISD2560
Hình 2.8 Sơ dồ khối bên trong của ISD2560
9
2.1.2.3 Một số thông số cơ bản
Tên thông số
Giá trị
Điện áp nguồn cung cấp
4.5V – 6.5V
Nhiệt độ hoạt động
00C – 500C
Điện áp đất
0V
Tần số lấy mẫu
8 KHz
Lọc dãi thông
3.4 KHz
Ngõ ra loa
50mW đối với loa 16Ω
Điện áp cung cấp cực đại
7V
Bảng 2.1 Một số thông số cơ bản của ISD2560
2.1.2.4 Mô tả chức năng các chân
Tên chân
Số chân
Chức năng
Ax / M x
1-10/1-7
Address/Mode inputs : Các chân này có hai chức năng phụ thuộc
vào mức điện áp trên hai bit có trọn số cao nhất của các chân địa
chỉ (A8 và A9). Nếu một trong hai bit này ở mức thấp, tất cả các
ngõ vào được xem như các bit địa chỉ và được sử dụng như địa
chỉ bắt đầu cho chu kỳ ghi hoặc phát. Các chân địa chỉ này chỉ là
các ngo? Vào không xuất ra ba kỳ thông tin địa chỉ nào bên trong
trong suốt quá trình vận hành. Các ngõ vào địa chỉ này thì được
chốt bởi cạnh xuống của CE.
Nếu cả hai chân A8 và A9 ở mức cao, các ngõ vào Address/Mode
được xem như các bit chế độ. Có 6 mode chế độ vận hành từ M0
→ M6. Ta có thể sử dụng nhiều mode vận hành đồng thời. Các
mode vận hành cũng được chốt ở mỗi cạnh xuống của CE. Vì vậy
các chế độ vận hành (mode) và kiểu định địa chỉ trực tiếp loại trừ
lẫn nhau. Nói các khác ta không thể sử dụng cùng lúc kiểu định địa
chỉ trực tiếp và các mode.
AUX IN
11
Vssa,Vssd 13, 12
Auxiliary Input ( Ngõ vào bổ trợ ) : Chân này ghép ngõ ra của
mạch khuếch đại với chân ngõ ra loa khi CE = high, P/ R = High,
và playback hiện không được tích cực hoặc nếu thiết bị đang ở
trạng thái tràn trong playback. Khi ghép nhiều thiết bị ISD2560 với
nhau, chân AXU IN để nối tín hiệu phát lại từ thiết bị phía sau đến
ngõ ra của mạch thúc loa của thiết bị phía trước. Để tránh nhiễu,
chân này được yêu cầu không được lái khi mảng lưu trữ đang là
tích cực.
Ground ( đất ) : Các IC loạt ISD2500 dùng các bus đất số và bus
đất tương tự riêng. Các chân này nên được nối riêng lẻ bằng các
10
đường tổng trở thấp đến mass nguồn.
14/15
Speaker Outputs : loạt IC ISD2500 có thể lái một loa có trở kháng
là 16Ω , công suất 50mW. Các ngõ ra loa được giữ ở mức Vssa
trong suốt quá trình ghi. Không được nối song song nhiều ngõ ra
loa của các IC ISD2500 hoặc ngõ ra của các thiết bị lái loa khác.
Việc kết nối các ngõ ra loa song song có thể phá huỷ IC. Một ngõ
ra kết thúc đơn có thể được sử dụng ( bao gồm một tụ điện nối
giư?a chân SP và loa ). Các ngõ ra này có thể được sử dụng riêng
lẻ với ngõ ra tín hiệu của chân còn lại. Tuy nhiên, việc sử dụng ngõ
ra đơn sẽ làm cho công suất ngõ ra giảm đi 4 lần.
Vcca,Vssd 16, 18
Supply voltage : Để giảm nhiều các mạch điện số và tương tự
trong loạt IC ISD 2500 sử dụng các bus nguồn riêng. Các bus điện
áp này được đưa đến các chân riêng và nên được nối với nhau tại
điểm càng gần điểm nguồn càng tốt. Hơn nữa các nguồn cung cấp
này nên đặt gần chân linh kiện.
MIC
17
Microphone : Chân MIC truyền tín hiệu ngõ vào đến mạch tiền
khuếch đại trên chip. Một mạch AGC ( tự động điều chỉnh độ lợi )
điều chỉnh độ lợi của mạch tiền khuếch đại này khoảng -15 đến 24
dB.
MIC REF
18
Microphone Reference : là ngõ vào đảo của mạch tiền khuếch đại
microphone. Điều này cung cấp một sự triệt nhiều hoặc ngõ vào
đưa ra một mode chung đến thiết bị khi nối với một microphone
khác.
AGD
19
Automatic gain control : Điều chỉnh độ lợi của mạch tiền khuếch
đại để phù hợp điện áp ngõ vào của microphone. Mạch AGC cho
phép khoảng rộng đủ để âm thanh của một tiếng còi lớn được ghi
lại với sự méo dạng nhỏ nhất.
ANA IN
20
Analog input: Ngõ vào Analog truyền tín hiệu analog đến chip để
thực hiện việc ghi. Khi ngõ vào là microphone chân ANA OUT
nên được nối với tụ ngoài đến ANA IN. Giá trị của tụ cùng với 3
KΩ tổng trở ngõ vào của ANA IN sẽ qui định tần số cắt dưới và
băng thông của giọng nói. Nếu tín hiệu sử dụng từ nguồn khác
microphone nó có thể đưa trực tiếp đến chân ANA IN ( việc thêm
một tụ ở giữa có thể làm cho tín hiệu xấu đi ).
ANAOUT 21
Analog output : Chân này là chân ngõ ra của mạch tiền khếch đại
được thiết kế đưa ra cho người dùng. Độ lợi điện áp của mạch tiền
khuếch đại được xác định bởi mức độ điện áp trên chân AGC.
SP+/SP-
11
23
Overflow :Tín hiệu này tạo ra xung ở mức thấp tại điểm cuối của
mảng bộ nhớ, chỉ định rằng bộ nhớ IC đã đầy và thông tin đã bị
tràn. Ngõ ra chân OVF sau đó theo ngõ vào chân CE cho đến khi
xung PD reset lại thiết bị . Chân này có thể sử dụng để ghép
cascade nhiều thiết bị ISD 2500 lại với nhau để tăng thêm thời
gian ghi hoặc phát.
CE
23
Chip Enable : Ngõ vào CE xuống thấp để cho phép tất cả các sự
vận hành ghi và phát. Những chân địa chỉ và chân ghi / phát lại
được chốt bởi cạnh xuống của xung CE. Chân CE còn có thêm
chức năng khác trong chế độ hoạt động 6 ( mode 6 ).
PD
24
Power down ( nguồn giảm) : Khi không có ghi cũng như không có
phát lại chân PD nên được kéo lên mức cao để đưa IC vào chế độ
stanby. Khi OVF tạo ra xung LOW cho điều kiện tràn, PD nên
được nối lên HIGH để reset lại con trỏ địa chỉ tại địa chỉ bắt đầu
của mảng bộ nhớ. Chân PD còn có thêm chức năng trong mode 6
(push- button).
EOM
25
End Of Message : Điểm dấu không mất được tự động chèn vào tại
nơi cuối của mo?i thông tin ghi. No duy trì ở đó cho đến khi có
một thông tin khác ghi đè lên. Ngõ ra EOM tạo ra một xung thấp
cho giai đoạn kết thúc của một thông tin. Khi IC đang hoạt động
trong Mode 6, chân này cung cấp một tín hiệu tích cực ở mức cao
chỉ đ?nh rằng IC đang trong trạng thái ghi hoặc phát. Tín hiệu này
có thể thuận lợi để thúc một led cho thiết bị hiển thị trực quan
trạng thái IC đang ghi hoặc đang phát.
XCLK
26
External Clock : Thường thì tần số lấy mẫu ta sử dụng dao động
trên chip. Với loại ISD2560, tần số lấy mẫu là 8kHz thì xung clock
yêu cầu là 1024 KHz. Hệ số công tác của xung clock ngõ vào
không quan trọng lắm vì xung clock ngay lập tức được chia hai.
Nếu ta không sử dụng xung clock bên ngoài thì nên nối chân này
xuống mass để tránh nhiễu.
P/ R
27
Playback/Record: Ngõ vào P/ R được chốt bởi cạnh xuống của
xung trên chân CE . Một mức cao trên chân này sẽ chọn chế độ
phát lại còn mức thấp trên nó sẽ đặt IC vào chế độ thu. Để thực
hiện việc ghi, các chân địa chỉ cung cấp địa chỉ bắt đầu và quá
trình ghi được tiếp tục cho đến khi PD hoặc CE được kéo lên mức
cao hoặc có dấu hiệu tràn được phát hiện ( bộ nhớ b? Đầy ). Khi
việc ghi được tác động bởi việc kéo PD hoặc CE lên mức cao,
dấu kết thúc thông tin ( EOM ) được lưu trữ tại địa chỉ hiện hành
trong bộ nhớ. Để thực hiện việc phát lại tín hiệu, các ngõ vào địa
chỉ cung cấp địa chỉ bắt đầu và thiết bị sẽ phát lại cho đến khi gặp
dấu EOM. Thiết bịcó thể vượt qua dấu EOM nếu CE được giữ mức
thấp trong mode địa chỉ.
OVF
Bảng 2.2 Mô tả chức năng các chân của IC ISD2560
12
2.1.2.5 Mô tả chức năng
a. Mô tả chi tiết
•
Tốc độ / Chất lượng âm thanh:
Loạt IC ISD2500 bao gồm các thiết bị có tần số lấy mẫu tại: 4.0, 5.3, 6.4 và 8 KHz,
cho phép người dùng lựa chọn tốc độ chất lượng về tốc độ. Để tăng thời gian ghi / phát thì
buộc phải giảm tần số lấy mẫu và băng thông, và điều này lại ảnh hưởng đến chất lượng của
âm thanh.
Dữ liệu lấy mẫu được lưu trữ trực tiếp trên bộ nhớ “không bay hơi” của chip không có
bất kỳ sự số hoá và sự kết hợp nén dư? liệu như các giải pháp khác.Việc lưu trữ trực tiếp tín
hiệu analog cung cấp một âm thanh tự nhiên, trung thực của tiếng nói, nhạc, các tone và các
hiệu ứng âm thanh thì không đáp ứng với hầu hết các giải pháp số trạng thái “đặc”.
•
Thời gian :
Có nhiều hệ thống được yêu cầu, những sản phẩm ISD2560/75/90/120 cung cấp một
giải pháp chip đơn với thời gian lưu trữ là 60, 75, 90, 120 giây. Các IC này có thể ghép nối
với nhau để có thời gian dài hơn.
Bảng 2.3 Thời gian các loại IC loạt 2500
•
Bộ nhớ EEPROM :
Một trong những lợi của công nghệ Winbond’s ChipCorder là sử dụng bộ nhớ “không
bay hơi”, điện áp cung cấp cho việc lưu trữ là Zero. Thông tin có thể được lưu trữ trên 100
năm mà không cần nguồn cung cấp. Hơn nữa thiết bị có thể ghi lại trên 100,000 lần.
b. Các MODE vận hành
Loạt IC ISD2500 được thiết kế nhiều chế độ ( mode ) vận hành được xây dự ng bên
trong cung cấp tối đa các chức năng với các thành phần bên ngoài ít nhất. Các mode này
được mô tả chi tiết trong bảng bên dưới. Mode vận hành được truy cập bằng các đường địa
chỉ bên ngoài khi A8 và A9 ở mức cao. Kh i A8 và A9 ở mức cao thì các chân A0→ A7
được hiểu là những bit mode chứ không còn là những bit địa chỉ nữa.
Vì vậy chế độ mode và cách định địa chỉ trực tiếp không thể tương hợp hay nói cách
khác chúng không thể sử dụng đo ng thời. Có hai vấn đề quan trọng cần xem xét khi sử dụng
chế độ mode. Một là, tất cả các chế độ vận hành đều bắt đầu từ địa chỉ 0 của bộ nhớ. Sự vận
hành sau đó có thể bắt đầu từ một địa chỉ khác, điều này phụ thuộc vào mode vận hành đã
chọn. Thêm vào đó con trỏ địa chỉ sẽ reset về 0 khi thiết bị thay đổi từ ghi sang phát, từ phát
sang ghi ( ngoại trừ trường hợp sử dụng mode 6 ) hoặc khi chu kỳ nguồn giảm được thi hành
13
(power down). Hai là, các mode vận hành được thi hành khi CE xuống mức thấp. Mode vận
hành sẽ duy trì ảnh hưởng cho đến khi tín hiệu tại chân CE xuống mức thấp lần nữa.
Bảng các mode vận hành
Bảng 2.4 Các mode vân hành của ISD 2500
Mô tả các mode vận hành:
Các Mode vận hành có thể được sử dụng liên kết với một vi điều khiển, hoặc chúng
có thể kiểm soát bằng mạch điện tử để cung cấp một hệ thống như mong muốn.
•
M0 – Message Cueing:
Mode cho phép người dùng bỏ qua thông tin này để đến thông tin khác mà chúng ta
không cần biết địa chỉ vật lý thực sự của mỗi thông tin. Mỗi một xung CE ở mức thấp là
nguyên nhân khiến con trỏ địa chỉ bên trong bỏ qua thông tin hiện hành nhảy đến một thông
tin kế tiếp. Mode này chỉ sử dụng cho chế độ phát lại và nó thường được sử dụng kết hợp với
mode 4.
•
M1- Delete EOM Markers:
Mode M1 cho phép ghi một cách tuần tự thông tin để kết hợp thành một thông tin
riêng lẻ với chỉ một dấu kết EOM đặt tại vị trí cuối của thông tin sau cùng. Khi Mode này
được cấu thành thì những thông tin đã ghi một cách tuần tự sẽ được phát lại như một thông
tin liên tục.
•
M2- Unused
Khi vận hành các mode đã chọn chân 2 nên được nối xuống mức thấp.
•
M3- Message Looping:
Mode này cho phép tự động, tiếp tục lặp lại thông tin phát tại đ?a chỉ bắt đầu của
không gian địa chỉ. Một thông tin có thể hoàn toàn làm đầy ISD2560 và sẽ lặp lại từ đầu đến
cuối mà OVF không đi xuống mức thấp
14
•
M4 – Consecutive Addressing:
Trong suốt chế độ vận hành bình thường, con trỏ địa chỉ sẽ được reset khi một thông
tin đang chơi xuyên qua dấu kết EOM . Mode M4 ngăn cấm con trỏ địa chỉ reset khi gặp dấu
kết EOM , cho phép thông tin được phát lại liên tục.
•
M5 – CE - Level – Activated:
Mode mặc định của ISD2560 cho phép CE tác động cạnh khi phát lại và tác động mức khi
ghi. Chế độ M5 làm cho chân CE được hiểu là tác động mức thay vì tác động cạnh trong suốt
quá trình phát lại. Đây là một hữu ích đặc biệt để kết thúc việc phát lại sử dụng tín hiệu CE.
Trong mode này mức thấp chân CE bắt đầu cho một chu kỳ phát lại, tại vị trí bắt đầu của bộ
nhớ. Chu kỳ phát lại được tiếp tục miễn là chân CE được giữ ở mức thấp. Khi CE lên mức
cao thì việc phát lại sẽ được dừng ngay lập tức. Khi một mức thấp mới ở CE xuất hiện, nó sẽ
khởi động lại thông tin từ địa chỉ bắt đầu ( ngoại trừ M4 lúc này cũng ở mức cao ).
•
M6 – Chế độ Push – Button
Tất cả các IC loạt ISD2500 đều chứa chế độ vận hành Push -Button. Chế độ M6 chủ yếu
được sử dụng trong các ứng dụng giá rất thấp và được thiết kế với các mạch điện và thành
phần bên ngoài giảm đến mức tố i thiểu vì thế làm giảm giá thành của hệ thống. Để cấu
thành mode 6 thì hai chân A8 và A9 phải ở mức cao và chân đặt chế độ M6 cũng phải ở mức
cao. Một IC sử dụng mode này thì luôn luôn nguồn giảm tại vị trí cuối của mỗi chu kỳ
ghi/phát sau khi CE ở mức cao. Khi mode này vận hành ba chân của IC có chức năng điều
khiển được miêu tả trong bảng sau:
Bảng 2.5 Chế độ Push – Button các Ic loạt ISD2500
Chân CE (Start/Stop):
Trong mode vận hành Push-Button tín hiệu tác động xung LOW trên chân CE được
xem là tín hiệu Start/Stop. Nếu không có hệ thống hiện hành đang được xử lý, xung mức
thấp trên chân CE sẽ khởi động chu kỳ ghi hoặc phát lại tuỳ thuộc vào mức điện áp trên chân
P/ R. Một xung sau nữa của chân CE xuất hiện, trước khi gặp dấu kết EOM trong khi phát
lại hoặc trước khi dữ liệu bị tràn trong chế độ ghi, nó sẽ làm dừng sự vận hành, và bộ đếm
địa chỉ không bị reset. Một xung CE tiếp theo nữa sẽ làm cho thiết bị tiếp tục vận hành tại
nơi mà nó đã dừng.
Chân PD ( Stop/ Reset ):
Trong chế độ vận hành Push – Button, tín hiệu xung mức cao của chân PD được xem
là tín hiệu Stop/Reset. Khi một chu kỳ ghi hoặc phát lại đang được xử lý, một xung cao trên
chân PD, chu kỳ hiện hành sẽ được dừng và con trỏ địa chỉ sẽ được reset về 0, địa chỉ bắt
đầu của khoảng không thông tin.
15
EOM (RUN):
Trong chế độ vận hành Push-Button, tín hiệu EOM trở thành tín hiệu “tích cực chạy
mức cao” có thể được sử dụng để thúc một led hoặc một thiết bị bên ngoài khác. Chân này ở
mức cao bất cứ khi nào hệ thống ghi hoặc phát lại đang được xử lý.
Ghi trong chế độ Push-Button
-
Chân PD ở mức thấp, thường sử dụng một điện trở kéo xuống.
-
Chân P/ R ở mức thấp.
-
Chân CE là xung mức thấp. Bắt đầu ghi, EOM tự động lên mức cao chỉ định rằng hệ
thống vận hành đang được xử lý.
-
Khi CE có xung mức thấp tiếp theo, việc ghi bị dừng, EOM tự động xuống mức thấp.
Con trỏ địa chỉ bên trong không bị xoá, nhưng dấu EOM được lưu trữ lại trong bộ
nhớ chỉ định khi một thông tin kết thúc. Ch ân P/ R có thể lên mức cao trong thời
gian này và bất kỳ một xung CE nào tiếp theo sẽ làm cho hệ thống phát lại tại địa chỉ
0.
-
Khi chân CE là một xung thấp. Việc ghi lại tiếp tục tại địa chỉ tiếp theo sau dấu
EOM đặt ở phía trước. Chân EOM lại quay trở lại mức cao.
-
Khi việc ghi lần lượt được hoàn thành, xung thấp CE cuối sẽ kết thúc chu kỳ ghi sau
cùng, bằng việc đặt dấu EOM tại thông tin kết thúc. Việc ghi có thể kết thúc bằng
việc đặt chân PD lên mức cao, nơi mà nó sẽ để lại một dấu kết EOM .
Phát lại trong chế độ Push-Button
-
Xung PD ở mức thấp.
-
Chân P/ R đặt ở mức cao.
-
Tác động xung thấp lên chân CE. Quá trình phát lại bắt đầu, chân EOM tự động lên
mức cao cho biết hệ t hống đang xử lý.
-
Nếu CE có một xung mức thấp hoặc dấu EOM được phát hiện trong quá trình vận
hành, phần này sẽ bị dừng lại. Con trỏ địa chỉ bên trong không bị xóa và EOM
chuyển xuống mức thấp. Chúng ta có thể thay đổi trạng thái chân P/ R trong thời gian
này, khi đó một chu kỳ ghi sau đó sẽ không reset con trỏ dữ liệu và việc ghi sẽ bắt đầu
tại nơi phát vừa kết thúc.
-
Tác động một xung thấp trên chân CE một lần nữa, quá trình phát lại sẽ bắt đầu tại
nơi mà nó vừa rời khỏi, và EOM lại lên mức cao chỉ định hệ thống đang xử lý.
-
Việc phát lại tiếp tục như bước 4 và bước 5 cho đến khi PD được tác động bởi xung
mức cao, hoặc cờ tràn được phát hiện.
-
Nếu bị tràn, việc kéo CE xuống mức thấp sẽ reset con trỏ địa chỉ và bắt đầu phát lại từ
địa chỉ bắt đầu. Sau khi chúng ta tác động xung trên chân PD thị phần này được reset
về địa chỉ 0.
16
c. Giới thiệu mạch ứng dụng ISD2560
Mạch ứng dụng điển hình ( Dùng cách truy cập địa chỉ trực tiếp )
Hình 2.9 Sơ đồ mạch điện thu/phát tiếng nói dùng cách định địa chỉ trực tiếp
Bảng 2.6 Bảng mô tả chức năng điều khiển truy cập địa chỉ trực tiếp ISD2560
17
Mạch thu phát tiếng nói sử dụng chế độ Push – Button
Hình 2.10 Sơ đồ mạch điện thu/phát tiếng nói sử dụng chế độ Push -Button
Bảng mô tả chức năng các nút điều khiển:
Bảng 2.7 Bảng mô tả chức năng điều khiển sử dụng chế độ Push – Button
18
2.1.3 Giới thiệu IC nhớ thời gian DS1307
DS1307 là chip thời gian thực hay RTC (Read time clock). Đây là một IC tích hợp
cho thời gian bởi vì tính chính xác về thời gian tuyệt đối cho thời gian : Thứ, ngày,tháng,
năm, giờ, phút, giây. DS1307 là chế tạo bởi Dallas. Chip này có 7 thanh ghi 8 bit mỗi thanh
ghi này chứa : Thứ , ngày, tháng, năm, giờ , phút, giây. Ngoài ra DS1307 còn chứa 1 thanh
ghi điều khiển ngõ ra phụ và 56 thanh ghi trống các thanh ghi này có thể dùng như là RAM.
DS1307 được đọc thông qua chuẩn truyền thông I2C nên do đó để đọc được và ghi từ
DS1307 thông qua chuẩn truyền thông này. Do nó được giao tiếp chuẩn I2C nên cấu tạo bên
ngoài nó rất đơn giản. Ví dụ 1 dạng đóng vỏ của DS1307 như sau :
Hình 2.11 Hai dạng cấu tạo chân DS1307
Trên là hai dạng cấu tạo của DS1307. Chip này có 8 chân và chúng ta hay dùng là
dạng Dip
2.1.3.1 Các chân nó được mô tả như sau
•
X1 và X2 là đầu vào dao động cho DS1307. Cần dao động thạch anh 32.768Khz.
•
Vbat là nguồn nuôi cho chip. Nguồn này từ ( 2V- 3.5V) ta lấy pin có nguồn 3V. Đây
là nguồn cho chip hoạt động liên tục khi không có nguồn Vcc mà DS1307 vẫn hoạt
động theo thời gian
•
Vcc là nguồn cho giao tiếp I2C. Điện áp cung cấp là 5V chuẩn và được dùng chung
với vi xử lý. Nếu mà Vcc không có mà Vbat có thì DS1307 vẫn hoạt động bình
thường nhưng mà không ghi và đọc được dữ liệu.
•
GND là nguồn Mass chung cho cả Vcc và Vbat
•
SQW/OUT là một ngõ ra phụ tạo xung dao động (xung vuông). Chân này tôi nghĩ
không ảnh hưởng đến thời gian thực nên chúng ta không sử dụng chân này trong thời
gian thực và bỏ trống chân này!
•
SCL và SDA là hai bus dữ liệu của DS1307. Thông tin truyền và ghi đều được truyền
qua 2 đường truyền này theo chuẩn I2C
19
2.1.3.2 Ghép nối DS1307 với vi điều khiển
Do DS1307 giao tiếp chuẩn I2C nên việc ghép nối nó với vi điều khiển khá là đơn
giản và theo datasheet thì đưa ra sơ đồ sau :
Hình 2.12 Ghép nối IC DS1307 với vi điều khiển
Ds1307 nó chỉ giao tiếp với vi điều khiển với 2 đường truyền SCL và SDA nên do đó
trên vi xử lý cần phải xác định chân nào trên vi xử lý nó có SCL và SDA để nối với DS1307
cái này đối với dòng PIC, AVR còn với dòng Psoc nó có sự khác tùy theo kiều Fimware hay
hardware mà các chân SDA và SCL nó sẽ nằm ở chân nào cái được thiết lập trong phần
mềm.
2.1.3.3 Tổ chức thanh ghi trong DS1307
Cấu tạo bên trong của DS1307 bao gồm mạch nguồn, dao động, logic và con trỏ
,thanh ghi thực hiện việc ghi đọc. Do trong các bài toán chúng ta thường sử dụng DS1307
cho đồng hồ thời gian thực nên do đó chúng ta chỉ quan tâm đến việc ghi đọc các thanh ghi
cần thiết (sec, min, hour…) thông qua chuẩn truyền thông I2C còn các thanh ghi khác thì
chúng ta có thể tìm hiểu kỹ trong datasheet! Vì các thanh ghi đó được coi như là RAM lưu
trữ. Nên do đó chỉ giới thiệu các thanh ghi có chức năng thời gian thực phục vụ cho bài toán
thời gian.
Trong bộ nhớ của DS1307 có tất cả 64 thanh ghi địa chỉ từ 0 đến 63 và được bắt đầu
từ 0x00 đến 0x3F nhưng trong đó chỉ có 8 thanh ghi đầu là thanh ghi thời gian thực nên
chúng ta sẽ đi sâu vào 8 thanh ghi ( chức năng và địa chỉ thanh ghi thời gian thực này). Nhìn
vào bảng thanh ghi trong datasheet ta sẽ thấy như sau :
Hình 2.13 Tổ chức thanh ghi trong DS1307
20
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy các thanh ghi thời gian thực nó được sắp sếp theo
thứ tự : giây, phút, giờ, thứ, ngày , tháng, năm và bắt đầu từ thanh ghi Giây (0x00) và kết
thúc bằng thanh ghi năm (0x06). Riêng thanh ghi Control dùng để điều khiển ngõ ra của
chân SQW/OUT nên trong thực tế ít sử dụng thanh ghi này trong thời gian thực nên chúng ta
bỏ qua thanh ghi này.
Do 7 thanh ghi đầu tiên là khá quan trọng cho thời gian thực và là thanh ghi quan
trọng nhất trong DS1307 chúng ta phải hiểu được cách tổ chức thanh ghi này trong DS1307.
Tổ chức thanh ghi trong datasheet thời gian thực như sau :
Hình 2.14 Tổ chức thanh ghi DS1307
Nhìn bảng trên chúng ta thấy các thanh ghi được mã hóa theo bit. Mỗi bit trong thanh
ghi đều có chức năng riêng và trình bày chi tiết như sau :
•
Thanh ghi giây (0x00) : Đây là thanh ghi giây của DS1307. Nhìn trên bảng trên ta
thấy được từ bit 0 đến bit 3 là dùng để mã hóa số BCD hàng đơn vị của giây. Tiếp
theo từ bit 4 đến bit 6 dùng để mã hóa BCD hàng chục của giây. Tại sao nó chỉ sử
dụng có 3 bit này là do giây của chúng ta lớn nhất chỉ đến 59 nên hàng chục lớn nhất
là 5 nên chỉ cần 3 thanh ghi này là cũng đủ mã hóa. Còn bit thứ 7 có tên là “CH” nó
có nghĩa là “ Clock Halt – Treo đồng hồ” Do đó nếu mà bit 7 này mà được đưa lên 1
tức là khóa đồng hồ nên do đó nó vô hiệu hóa chip và chip không hoạt động. Nên do
vậy lúc nào cũng phải cho bit 7 này luôn xuống 0 từ lúc đầu ( cái này sử dụng lệnh
end với 0x7F)
•
Thanh ghi phút (0x01) : Đây là thanh ghi phút của DS1307. Cũng nhìn trên bảng
thanh ghi này được tổ chức như thanh ghi giây. Cũng là 3 bit thấp dùng để mã hóa
BCD chữ số hàng đơn vị và số hàng trục chỉ lớn nhất là 5 nên do đó chỉ cần dùng từ
bit 4 đến bit 6 để mã hóa BCD tiếp chữ số hàng chục. Nhưng thanh ghi này có sự
khác biệt với thanh ghi giây là bit 7 nó đã mặc định bằng 0 rồi nên do đó chúng ta
không phải làm gì với bit 7.
•
Thanh ghi giờ (0x02) : Đây là thanh ghi giờ của DS1307 và thanh ghi này được coi là
phức tạp, nhìn bảng thì thấy các tổ chức của nó cũng hợp lý. Trước tiên chúng ta thấy
từ bit 0 đến bit 3 nó dùng để mã hóa BCD của chữ số hàng đơn vị của giờ. Nhưng nó
21
còn có chế độ 24h và 12h nên do đó nó phức tạp ở các bit cao (bit 4 đến bit 7) và sự
chọn chế độ 12h và 24h nó lại nằm ở bit 6. Nếu bit 6 = 0 thì ở chế độ 24h thì do chữ
số hàng trục lớn nhất là 2 nên do đó nó chỉ dùng 2 bit ( bit 4 và bit 5 ) để mã hóa BCD
chữ số hàng trục của giờ. Nếu bit 6 =1 thì chế độ 12h được chọn nhưng do chữ số của
hàng trục của giờ trong chế độ này chỉ lớn nhất là 1 nên do đó bit thứ 4 là đủ để mã
hóa BCD chữ số hàng trục của giờ rồi nhưng mà bit thứ 5 nó lại dùng để chỉ buổi sáng
hay chiều, nếu mà bit 5 = 0 là AM và bit 5 =1 là PM. Trong cả 2 chế độ 12h và 24h
thì bit 7 = 0 nên ta ko cần chú ý đến thanh ghi này.
•
Thanh ghi thứ (0x03): Đây là thanh ghi thứ trong tuần của DS1307 và thanh ghi này
khá là đơn giản trong DS1307. Nó dùng số để chỉ thứ trong tuần nên do đó nó chỉ lấy
từ 1 đến 7 tương đương từ thứ hai đến chủ nhật. Nên do đó nó dùng 3 bit thấp (bit 0
đến bit 2) để mã hóa BCD ra thứ trong ngày. Còn các bit từ 3 đến 7 thì nó mặc định
bằng 0 và ta không làm gì với các bit này.
•
Thanh ghi ngày (0x04) : Đây là thanh ghi ngày trong tháng của DS1307. Do trong các
tháng có số ngày khác nhau nhưng mà nằm trong khoảng từ 1đến 31 ngày. Do đó
thanh ghi này các bit được tổ chức khá là đơn giản. Nó dùng 4 bit thấp (bit0 đến bit 3)
dùng để mã hóa BCD ra chữ số hàng đơn vị của ngày trong tháng. Nhưng do chữ số
hàng trục của ngày trong tháng chỉ lớn nhất là 3 nên chỉ dùng bit 4 và bit 5 là đủ mã
hóa BCD rồi. Còn bit 6 và bit 7 không làm gì và nó mặc định bằng 0.
•
Thanh ghi tháng (0x05) : Đây là thanh ghi tháng trong năm của DS1307. Tháng trong
năm chỉ có từ 1 đến 12 tháng nên việc tổ chức trong bit cũng tương tự như ngày trong
tháng nên do cũng 4 bit thấp (từ bit 0 đến bit 3) mã hóa BCD hàng đơn vị của tháng.
Nhưng do hàng chục chỉ lớn nhất là 1 nên chỉ dùng 1 bit thứ 4 để mã hóa BCD ra chữ
số hàng trục và các bit còn lại từ bit 5 đến bit 7 thì bỏ trống và nó mặc định cho xuống
mức 0.
•
Thanh ghi năm (0x06) : Đây là thanh ghi năm trong DS1307. DS1307 chỉ có 100 năm
tương đương với 00 đến 99 nên nó dùng tất cả các bit thấp và bit cao để mã hóa BCD
ra năm!
•
Thanh ghi điều khiển (0x07) : Đây là thanh ghi điều khiển quá trình ghi của DS1307
và Quá trình ghi phải được kết thúc bằng địa chỉ 0x93.
Như chúng ta đã biết DS1307 mã hóa ra số BCD do đó khi ghi vào các thanh ghi này
cũng phải là số BCD. Vì vậy việc đọc và ghi thì đều là giá trị BCD trong lập trình thì việc
đưa các giá trị BCD này vào khó khăn nên chúng ta thường dùng biến đổi qua lại giữa BCD
và thập lục phân để dễ dàng kiểm soát của các giá trị của thanh ghi.
Ví dụ : Thanh ghi giờ cho giá trị là 0x10 đây là mã BCD nhưng mà khi chuyển sang
mã thập lục phân thì giá trị nó là 16. Trong quá trình ghi dữ liệu cho các thanh ghi thời gian
thực chúng ta cũng phải chuyển đổi thành mã BCD tương ứng sau đó mới ghi vào cho
DS1307.
Việc đọc và ghi dữ liệu cho DS1307 phụ thuộc vào chương trình điều khiển.
22
2.2 Thiết kế và thi công bộ tính tiền xu tự động cho máy giặt
2.2.1 Phần cơ khí
Mục đích của đề tài là thiết kế và chế tạo bộ đếm thời gian cho máy giặt sử dụng tiền
xu, nên phần cơ khí được gia công chắc chắn với một hộp gắn các modul tiền xu, bo mạch
chủ, modul âm thanh, LCD, các chi tiết lấy tiền xu và khóa an toàn.
Hình dáng và kích thước bộ tiền xu.
Hình 2.15 Hình dáng và kích thƣớc bộ tiền xu
Kích thước bộ tiền xu được thiết kế phù hợp với các yêu cầu của đề tài, thép có độ
dày 1mm nhằm bảo đảm an toàn cũng như hoài hòa với kích thước của chiếc máy giặt.
23