Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

TCQT tìm hiểu khủng hoảng châu á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (490.89 KB, 27 trang )

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-----š›&š›-----

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÌM HIỀU VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á (1997)
Nhóm thực hiện: ABCXYZ
1: ĐỖ THÀNH CÔNG
2: NGÔ THỊ THỦY TIÊN
3: NGUYỄN TUẤN NGỌC
4: NGUYỄN THỊ TÚ ANH
5: HOÀNG THỊ TÚ ANH
6: NGÔ THỊ HUYÊN TRANG
7: ĐỖ THỊ NGA

Hà nội -2015


Khủng hoảng tài chính - tiền tệ có một lịch sử khá dài gắn liền với sự ra đời và
phát triển của hệ thống tài chính trong nền kinh tế thế giới. Mặc dù có những điểm
giống nhau, nhưng các cuộc khủng hoảng những năm vừa qua khác với các cuộc
khủng hoảng trước đây trên nhiều khía cạnh quan trọng, đặc biệt là ở tác động quá
mức và khả năng lây lan của khủng hoảng dường như rất lớn và vượt quá khả năng
kiểm soát.
I.

Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng tài chính Châu Á
1. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ là gì?
Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm trọng

có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Đặc trưng của mỗi quỹ cấu thành nên hệ thống tài


chính là các dòng tiền vào/ra nhận/ thanh toán , hình thành tài sản có /tài sản nợ.
Khi xảy ra hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải
thanh toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài
chính. Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung
cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với
nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một
thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đặc điểm của khủng
hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nền kinh tế thị
trường từ nhiều năm nay. Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù như: Khủng
hoảng ngân hàng (Banking Crisis); Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt
Crisis); Khủng hoảng tiền tệ (Money Crisis); Khủng hoảng thị trường chứng khoán
(Crisis of Security Market); Khủng hoảng cán cân thanh toán/ Cán cân vãng lai/
Cán cân vốn (Crisis of Balance of Payment/ Crisis of Current Account/ Crisis of
Capital Account); Khủng hoảng khả năng/ tính thanh khoản (Crisis of Liquidity);
Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis). Đây là những dạng khủng hoảng tài chính
cơ bản và trong tương lai có thể xuất hiện thêm nhiều dạng nữa cùng với sự phát
triển của thị trường tài chính trong tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế


2. Khủng hoảng Đông Á 1997 – 1998
a) Trước khủng hoảng
 Từ đầu thập niên 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ
từ ở Đông Á. Mặc dù vậy, chính phủ vẫn can thiệp trong phân bổ tín
dụng, dẫn tới tâm lý ỷ lại.
 Trong giai đoạn 1990- 1997, lượng vốn tư nhân chảy vào các nước đang
phát triển tăng 5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD. Đông Á là nơi thu
hút một lượng lớn dòng vốn này, chiếm tới 60% tổng vốn.
 Tỷ giá hối đoái được cố định.
Kết quả:
• Tín dụng tăng trưởng cao, tỷ lệ nợ/vốn sở hữu của khu vực doanh

nghiệp rất lớn, và bong bóng giá tài sản xuất hiện.
• Tăng trưởng GDP cao: Giai đoạn 1990- 1996 của Thái Lan, Hàn
Quốc, Indonesia và Malaysia đạt 8%.
b) Những mất cân đối vĩ mô 1997
 Từ năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Á bắt đầu
chững lại.
 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các nước Đông Á ở mức
19-21% trong năm 1995-95 giảm xuống 4% trong năm 1996.
Nguyên nhân:
• Tăng trưởng thương mại toàn cầu suy giảm;
• Đồng yên mất giá và tỷ giá hối đoái thực hiệu dụng của các nước
Đông Á lên giá
• lượng cầu và giá của các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là điện tử,
suy giảm.
• Thâm hụt vãng lại xuất hiện và được tài trợ chủ yếu bằng vay nợ
ngắn hạn nước ngoài.
• Những yếu kém trong hệ thống tài chính (nợ khó đòi ngày càng
lớn sau nhiều năm gia tăng tín dụng chỉ định).
c) Khủng hoảng nổ ra
 Những yếu kém trong hệ thống tài chính và mất cân đối vĩ mô khiến các
nhà đầu tư tính tới khả năng các đồng nội tệ ở Đông Á có thể bị phá giá.
 Những hoạt động đầu cơ tiền tệ trong từ giữa năm 1996 tại Thái Lan
khiến dự trữ ngoại tệ giảm một phần và lãi suất tăng lên. Lãi suất tăng


làm giảm giá bất động sản, dẫn tới sự sụp đổ của nhiều công ty tài
chính.
 Những người vay ngoại tệ trước đây tin rằng tỷ giá hối đoái được cố
định thì nay bắt đầu lo ngại và cũng mua đô la vào để đảm bảo có đô la
để trả nợ khi đáo hạn. Chính phủ Thái Lan ban đầu dùng dự trữ ngoại tệ

để bảo vệ tỷ giá nhưng cũng không có khả năng duy trì được lâu. Đồng
baht được thả nổi vào đầu tháng 7 năm 1997 và ngay lập tức mất giá
10%, rồi giá trị tiếp tục giảm xuống sau đó.
 Khủng hoảng nhanh chóng lan ra Hàn Quốc, Malaysia và Indonesia,…
d) Khủng hoảng kép
 Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao
trong thời gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và
các đối tượng vay vốn lâm vào tình thế khó khăn.
 Khi đồng nội tệ bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ
của các khoản nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều
doanh nghiệp và tổ chức tài chính.
 Cả các nhà đầu tư đều muốn chuyển vốn ra. Ngân hàng đòi lại vốn cho
vay, từ chối đảo nợ và ngưng cho vay mới; còn các nhà đầu tư chứng
khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và chuyển ra ngoài. Riêng
trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi 5 nước Đông Á
chịu khủng hoảng, trong khi trong năm 1996 vẫn còn nhận được gần 66
tỷ USD.

Sự giảm giá của 1 số đồng tiền so với USD


II. NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG
1) Tâm lý ỷ lại của các nước
Từ đẩu thập niên 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ từ
ở hầy hết các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á. Mặc dù vậy, việc chính phủ
can thiệp trong phân bố tín dụng vẫn tồn tại ở nhiều nước như Hàn QUốc,
Indonesia, Malaysia và Đài Loan. Khi tín dụng được chỉ định thù cơ chế giám
sát và các quy định về hoạt động thận trọng thường được coi nhẹ. Hơn thế nữa,
khi các ngân hàng cho vay theo chỉ đạo của chính phủ thì luôn tồn tại 1 giả
định ngầm rằng chính phủ sẽ bảo lãnh và cứu giúp nêu khoản vay đó không đòi

được. Thậm chí ngay cả một số nền kinh tế như Thái Lan, nơi chính phủ ít can
thiệp hơn vào phân bổ tín dụng thì những người cấp vốn cho các công ty tài
chính vẫn tin rằng mình sẽ được bảo đảm khi tính tới những mối quan hệ chính
trị mà chủ sở hữu là các tổ chức tài chính này có được.
Vì vậy, mặc dù không hề có sự tồn tại bảo lãnh của chính phủ, nhưng các
tốt chức tài chính Đông Á, đặc biệt là Ngân hàng nhà nước luôn coi mình là
”Không thể thất bại” nên đã theo đuổi các phương án rủi do dẫn tới những hệ
lụy sau này.
2) Dòng vốn nước ngoài
Những yếu tố dẫn đến khủng hoảng ở Đông Á không chỉ bó hẹp trong phạm
vi nội địa mà còn cả từ bên ngoài, Từ năm 1990 dến 1997, lượng vốn tư nhân
chảy vào các nước đang phát triển tăng 5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD.
Đông Á là nơi thu hút lượng lớn dòng vốn này, chiếm tới 60% trong nửa đầu
thập niên 90 (theo NHTG 1998)
Bảng: Vốn tư nhân nước ngoài chảy vào 5 nước Đông Á (Hàn Quốc, Thái Lan,
Malaysia, Indonesia và Philippines), 1991-1996 – Tỷ USD
1991

1992

1993

1994

1995

1996

Vốn tư nhân ròng


24,8

29,0

31,8

36,1

74,2

65,8

Đầu tư trựcc tiếp ròng

6,2

7,3

7,6

8,8

7,5

8,4

Đầu tư chứng khoán ròng

3,2


6,4

17,2

9,9

17,4

20,3

Vay thương mại và đầu
tư khác

15,4

15,3

7,0

17,4

49,2

37,1


Viện trợ chính thức ròng

4,4


2,0

0,6

0,3

0,7

-0,4

Nguồn: NHTG, “World Economic Outlook”, 5/1998 và 3/2000.

Vốn đầu tư nước ngoài chảy vào 5 nước Đông Á 1960 - 1966

Suất sinh lời thấp ở các nền kinh tế phát triển và sự thần kì trong tăng
trưởng của Đông Á là động lực thúc đẩy dòng vốn dịch chuyển từ Nhật Bản,
Hoa Kì, EU tới các nền kinh tế Đông Á. Chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh
tế Đông Á và các trung tâm tiền tệ quốc tế luôn ở mức dương (bình quân Thái
Lan 16.3%, Hoa Kì 7,6%) , Dòng vốn tư nhân càng được thúc đẩy vào giữa
thập niên 90 với chính sách tiền tệ mở rộng ở Hoa Kì, nới lỏng kiểm soát tài
chính ở Châu Âu và tình trạng bong bong đồng yên ở Nhật. Thêm vào đó, một
số chính phủ ở Châu Á( VD Hàn Quốc) đã tự do hóa tài khoản vốn theo hướng
khuyến khích dòng vốn nước ngoài ngắn hạn. Cụ thể, chính sách của Hàn Quốc
là hạn chế đầu tư nước ngoài dài hạn dưới dạng FDI hay đầu tư chứng khoán,
trong khi chỉ cho phép các ngân hàng được vay ngắn hạn nước ngoài. Tỷ giá
hối đoái cố định mà nhiều quốc gia Đông Á duy trì cũng là yếu tố khuyến
khích dòng vốn nước ngoài do rủi ro tỷ giá được loại bỏ. Lãi suất nước ngoài
thấp hơn lãi suất nội địa trong khi tỷ giá được cố định rõ ràng là khuyến khích
cho các tổ chức kinh doanh và tài chính nội địa đi vay vốn nước ngoài.
Tâm lý ỷ lại cũng xuất hiện trong dòng vốn nước ngoài . Các nhà đầu tư

nước ngoài khi cho các tổ chức tài chính vay cũng ngầm giả định rằng khoản
cho vay của mình sẽ được nước sở tại bảo lãnh khi nhìn thấy quan hệ gần gũi
giữa chính phủ với các ngân hàng nội địa. Khi kinh tế tăng trưởng khá, lượng


vốn nước ngoài chảy vào nhiều thì không ai nghĩ rằng lại có thể không đảo
được nợ hay vay mới khi các khoản vay trước đây đến kì đáo hạn.
Dòng vốn chảy vào đã tạo nên sự bùng nổ tín dụng trong khu vực . trong thập
niên 1990, tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân tăng lên nhanh chóng.
Tới cuối năm 1996, tổng giá trị nợ tài chính của khu vực tư nhân trên GDP lên
tới 140% ở Hàn Quốn và Thái Lan(bảng 20). Mức cung tiền M2 ở hàn Quốc,
Thái Lan, Philippines,Malaysia, Indonesia tăng gần 20%/năm trong những năm
1996,1997
Điểm đáng lưu ý nữa là hàng loạt các khoản vay ngắn hạn được đầu tư dài
hạn. Thái Lan vay nước ngoài chủ yếu thông qua các ngân hàng và tổ chức tài
chính. Ngân hàng Hàn Quốc cũng vay nước ngoài. Trong trường hợp của
Indonesia,các doanh nghiệp vay nước ngoài trực tiếp trên thị trường vốn “hải
ngoại” NHTG 1998. Bảng 3 trình bày tình hình nợ ngắn hạn nước ngoài so với
dự trữ ngoại tệ của các nước Đông Á vào thời diểm trước khi xảy ra khủng
hoảng. Chỉ có hai nước Malaysia và Philippines trong số năm nước chịu khủng
hoảng là có dự trữ ngoại tệ cao hơn nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn cao hơn dự trữ
ngoại tệ có nghĩa là trong thời gian ngắn nền kinh tế sẽ không có khả năng chi
trả. Một tỷ trọng lớn vốn cho vay của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi
ngân hàng được tập trung vào khu vực bất động sản. Ở Indonesia các khoản
vay khu vực bất động sản tăng 37%/năm trong gian đoạn 92-95( trong khi tổng
tín dụng ngân hàng chỉ tăng 22%/năm). Ở Thái Lan, các khoản vay bất động
sản của nhũng công ty tài chính tăng 41%/năm trong giai đoạn 90-95. Ở Hàn
Quốc các khoản cho vay của ngân hàng được tập trung chủ yếu ở các tập đoàn
lớn(chaebol). Hình 4 cho thấy tỷ lệ nợ/vốn cổ phần của các doanh nghiệp công
nghiệp của Hàn Quốc lên tới 317% vào cuối năm 1996( trong khi tỷ lệ này ở

Mỹ vào khoảng 100%).
3) Bong bóng giá tài sản
Một hệ quả của tâm lý ỷ lại và đầu tư rủi ro là tăng giá tài
sản.Tâm lý ỷ lại là khuyến khích các tổ chức tài chính gia tăng đầu tư cho dù
các dự án có suất sinh lời kỳ vọng thấp. Nếu đầu tư được tập trung vào các tài
sản có mức cung cố định(vd như bất động sản mà hầu hết các công ty tài chính
Thái Lan đầu tư vào) thì giá tài sản sẽ gia tăng. Một kì vọng theo kiểu xoay
vòng phát sinh. Mọi người đầu tư vào bất động sản vì ký vọng giá bất dộng sản
sẽ tăng lên. Khi lượng đầu tư tăng làm tăng cầu thì giá bất động sản đúng là đi
lên nhu kỳ vọng. Bong bong giá cả hình thành. Các tổ chức tài chính khi cho


vay để đầu tư vào bất động sản cũng sẵn sang tiếp tục cho vay vì thấy quá “an
toàn”
Bong bong giá phình ngày một lớn thì sẽ đến lúc vỡ tức là khi các nhà đầu
như nhận thấy có lẽ tình hình thực tế xả ra không đúng kỳ vọng. Một quá trình
ngược lại với quá trình trên diễn ra. Mọi người bán tài sản vì kỳ vọng giá tài
sản sẽ giảm. Tài sản được bán ra ồ ạt nên đúng giá tài sản giảm xuống. Các
ngân hàng nhận thấy giá trị các tài sản thế chấp giảm xuống nên không cho vay
nữa và đòi các khoản vay cũ. Các nhà đầu tư do phải trả các khoản nợ vay nên
càng đẩy mạnh việc bán tài sản. Giá tài sản vì vậy sụp đổ và thường xuyên
giảm xuống dưới cả mức cân bằng đầu tiên . Hình 5 cho thấy giá bất động sản
ở Thái Lan và Indonesia tăng lên nhanh chong vào cuối thập niên 80 và đến
năm 1997 thì thị trường bất động sản bắt đầu sụp đổ.

4) Mất cân đối vĩ mô
Từ năm 1996, tốc độ tăng trưởng của các nước Đông Á bắt đầu
chững lại . Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các nước Đông Á ở
mức 19-21% trong năm 1995 và giảm xuống 4% trong năm 1996. Nguyên
nhân bao gồm: tăng trưởng thương mại toàn cầu suy giảm, đồng yên mất giá, tỷ

giá hối đoái thực hiệu dụng ở các nước Đông Á lên giá lượng cầu và giá của
các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt là điện tử suy giảm.


Bảng tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%)

Dấu hiệu rõ nhất ở Thái Lan, việc đồng baht đươc gắn cố định với đồng đô
la Mỹ đã làm cho tỷ giá hối đoái thực lên giá. Thâm hụt tài khoản vãng lại của
Thái Lan năm 1996 lên tới 8% GDP trong khi các nước còn lại vào khoảng 3,44,8%. Mức thâm hụt này tiếp tục được tài trợ bởi dòng vốn vay ngắn hạn nước
ngoài chảy vào(NHTG 1998)
Bảng: Thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP)

5) Khủng hoảng kép
Xuất hiện đầu tiên ở Thái Lan, nơi có các yếu tố kinh tế vĩ mô căn bản xấu
đi rõ nhất. Sự sụt giá trên thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán
làm cho các nhà đầu tư lo ngại về tính bền vững của hệ thống tài chính Thái
Lan. Thâm hụt tài khoản vãng lai cao tạo sự kỳ vọng cho sự phá giá của đồng
baht. Từ giữa năm 1996 đồng baht đã được bán ra hàng loạt. Những người vay


ngoại tệ trước đây tin rằng tỷ giá hối đoái được cố định thì nay cũng bắt đầu lo
ngại và mua đô la để trả nợ khi đáo hạn. Chính phủ Thái Lan bắt đầu dùng dự
trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá nhưng cũng không duy trì được lâu. Đồng baht
được thả nổi vào đầu tháng 7 năm 1997 và ngay lập tức mất giá 10% rồi tiếp
tục giảm xuống sau đó.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa chính thức (Nội tệ/USD)

Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao
trong thời gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc các tổ chức tài chính và người vay
vốn lâm vào khó khăn. Hàng loạt các công ty tài chính của Thái Lan phá sản

trước khi phá giá đồng baht. Khi đồng baht phá giá, trách nhiệm nợ phải trả
tính ra đồng nội tệ của các khoản nợ nước ngoài tăng vọt kéo theo sự phá sản
của nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài chính.
Tăng trưởng GDP thực (%/năm)


Khủng hoảng nhanh chóng lan ra Hàn Quốc, Malaysia và Indonesia.Đồng
ringgit và Rupiah đều chịu sức ép và sau cùng đều bị phá giá. Đồng won Hàn
Quốc nhờ chế độ tỷ giá linh hoạt nên mất giá vào năm 1996. Dòng vốn ngăn
hạn chảy vào Hàn Quốc giờ ồ ạt chảy ra, một loạt các công ty lớn bị phá
sản( chaebol). Cũng giống như Thái thị trường bất động sản và cổ phiếu ở
Malaysia sụp đổ. Tỷ lệ nợ khó đòi trong hệ thống ngân hàng tăng lên một phần
do các khoản cho vay không sinh lời cấp cho các doanh nghiệp nội địa, một
phần do các khoản cho vay các cá nhân đầu tư chứng khoán giờ không thể
hoàn trả do giá chứng khoán giảm. Tuy vậy tình trạng Malaysia ít nghiêm trọng
hơn do nợ ngoại tệ ngắn hạn không nhiều. Indonesia chịu tác động mạnh nhất.
Hàng loạt tổ chức tài chính sụp đổ với các khoản cho vay dựa vào quan hệ cá
nhân và cho vay theo chỉ đạo của chính phủ trở thành nợ xấu. Đồng rupiah
trượt giá hầu như không thể hãm lại. Khủng hoảng tài chính chuyển sang một
cuộc khủng hoảng sâu sắc về chính trị.

6) Sự can thiệp của các nhà đầu cơ
Các nhà đầu tư lớn rút vốn có thể gây ảnh hưởng lớn đến nền
kinh tế mà họ đầu tư. Tương tự như vậy. họ có thể đầu cơ và đánh cược vào
tình hình tài chính của một nền kinh tế. Thực tế của nhiều cuộc khủng hoảng
tiền tệ trước cho thấy khi tỷ giá kỳ hạn được định dựa trên tỷ giá cố định thì các
nhà đầu cơ có thể kiếm lời bằng cách bán khống đồng nội tệ và rút ngoại tệ khi
đồng nội tệ sụt giá.
Tuy nhiên tại Đông Á không thấy có bằng chứng rõ ràng cho thấy có hoạt
động đầu cơ lớn . Một số quỹ đầu tư chênh lệch giá đúng là có bán khống đồng

baht vào thời điểm giữa năm 1997 thì nhiều nhà đầu tư trong nước cũng làm
như vậy . Chỉ có trường hợp của Hồng Kông là các nhà đầu cơ tần công mạnh
mẽ vào đồng đô la Hồng Kông. Hồng Kông là nơi thực hiện việc quản lý tiền tệ
theo cơ chế “Ban tiền tệ”. Từ năm 1983, tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la HK và
đô la Mỹ cố định ở mức 7,8 HKD bằng 1 USD. Ban tiền tệ lấy mức dự trữ
ngoại hối USD nhân với 7,8. Đây chính là lượng nội tệ được phép lưu hành.
Như vậy trong cơ chế này cung tiền nội tệ sẽ do lượng dự trữ ngoại tệ quyết
định. Nguyên tắc là tự động điều chỉnh, nếu dự trữ ngoại hối giảm thì cung nội
tệ cũng giảm theo, nếu dự trữ ngoại hối tăng thì cung đô la Hồng Kong cũng
tăng như vậy nếu cầu USD tăng quá mức thì cung nội tệ sẽ giảm đi. Điều này
kéo giá cả và nhập khẩu giảm xuống. Bằng cách duy trì cơ chế này chính phủ


có thể ổn định và bảo vệ tỷ giá hối đoái. Chiến lược của các nhà đầu cơ là vay
tiền HKD sau đó họ bán HKD và mua đô la. Các nhà đầu cơ hy vọng khi lượng
HKD được bán ra ồ ạt, cầu USD ở HK sẽ tăng chính quyền HK sẽ sử dụng dự
trữ để bảo vệ tỷ giá. Nếu không bảo vệ được và đồng HKD buộc phải bị phá
giá thì các nhà đầu cơ sẽ được hưởng lợi do bây giờ có thể bán đô la với giá
cao hơn tỷ giá mua vòa theo tỷ giá cố định. Tuy nhiên khoản lợi này phải cao
hơn tiền lãi phải trả khi vay HKD.
Trong lần tấn công vào thang 8 năm 1998 do dự đoán được việc tăng lãi
suất của chính quyền HKD các nhà đầu cơ thực hiện chiến lược tấn công “ trên
hai mặt trận”. Trong khi vừa thực hiện các giao dịch như trong năm 1994 các
nhà đầu cơ còn bán khống cổ phiếu trên thị trường chứng khoán HK. Lý do là
khi chính quyền HK tăng lãi suất để bảo vệ tỷ giá, giá cổ phiếu giảm. Do vậy
cho dù có không thu được lợi nhuận từ việc tấn công tiền tệ thì các nhà đầu cơ
vẫn thu được lợi nhuận từ việc bán khống cổ phiếu. Điều mà các nhà đầu cơ
không lường trước được là chính quyền HK trong chiến dịch chống lại sự
xuống giá đã dùng tiền dự trữ để mua cổ phiếu. Kết quả cuối cùng là giá cổ
phiếu không giảm các nhà đầu cơ thất bại cả trong hoạt động tấn công tỷ giá và

bán khống cổ phiếu.
7) Rút vốn ồ ạt
Trục tặc ở Đông Á nảy sinh do nhà đầu tư mất niềm tin và khủng hoảng xảy
ra là mộtcuộc khủng hoảng mất tính thanh khoản. Một ngân hàng đang hoạt
động tốt nhưng bị người gửi tiền đến rút tiền ồ ạt cũng lâm vào tình trạng khó
khăn. Mặc dù giá trị tài sản có lớn hơn giá trị tài sản nợ ( tức là xét về tiêu
chuẩn tài chính thì ngân hàng vẫn đứng vững) nhưng ngay tại thời điểm bị rút
tiền đồng loạt thì không có khả năng trả tiền cho tất cả những ai muốn rút tiền.
Như vậy ngân hàng rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán(hay mất
tính thanh khoản).
Đông Á rơi vào tình trạng các nhà đầu tư không còn tin rằng dự trữ ngoại
tệ đủ để trả nợ ngắn hạn. Các nhà đầu tư nước ngoài lẫn trong nước đều muốn
chuyển vốn ra. Ngân hàng đòi lại vốn cho vay từ chối đảo nợ và ngưng cho vay
mới, các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán đổi ra ngoại tệ và
chuyển ra ngoài. Riêng trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi
năm nước Đông Á chịu khủng hoảng, trong khi trong những năm 1996 vẫn còn
nhận được gần 66 tỷ USD
III. DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997


Khủng hoảng bắt đầu bùng phát từ Thái Lan và đất nước này đã phải gánh chịu
những tổn thất nặng nề khi bong bóng đầu tư bị vỡ vụn. Khủng hoảng mang tính lây
lan, hiệu ứng domino sang các nước trong khu vực như Indonesia, Philippines,
Malaysia, lan sang Hàn Quốc, Hong Kong, cả Nga và Brasil cũng chịu tác động, trong
đó thiệt hại nhiều nhất là Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc.
1) Thái Lan
Đất nước này bắt đầu thời kỳ công nghiệp hóa từ năm 1961, tốc độ tăng trưởng
trong thập niên 60 đạt mức 8%, 7% trong thập niên 70 và trong thập niên 80 là 8%;
tổng sản phẩm nội địa theo đầu người tăng từ mức 440 usd lên 3012 usd năm 1996;
nông nghiệp giảm tỷ trọng trong nền kinh tế từ mức 39% (1961) xuống còn 26.7%

(1976) và chỉ còn 10.4% ( 1996).
Mặc dù những dấu hiện về sự phát triển không bền vững của Thái Lan đã xuất
hiện từ những năm đầu thập niên 90. Tuy nhiên, do đạt được tốc độ phát triển cao như
trên nên Chính phủ Thái Lan chưa quan tâm đầy đủ đến sự phát triển ổn định, bền
vững của đất nước trong xu thế hội nhập. Đến cuối năm 1996, đầu năm 1997, nền
kinh tế Thái Lan đã tích tụ đầy đủ những nguy cơ khủng hoảng ở mức cao:
Đó là doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, ngân hàng và công ty tài chính
đứng trước nguy cơ phá sản, quốc gia đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan
tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm
1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị
trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi.
Khi có các nguy cơ khủng hoảng xuất hiện, những người nắm được thông tin về
các nguy cơ này lo sợ các công ty tài chính sẽ phá sản. Do đó, từ đầu năm 1997, người
dân Thái Lan đã đổ xô đến các ngân hàng rút tiền để mua USD Mỹ vì lo sợ tỷ giá hối
đoái sẽ tăng, đồng baht sẽ mất giá.
Việc tăng chi đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất bằng nguồn nợ vay
ngắn hạn từ các giới đầu tư quốc tế khiến cho cán cân thanh toán vãng lai của Thái
Lan thâm hụt, xuống 8% GDP năm 1996. Lo ngại đồng baht mất giá, nhiều nhà đầu tư
& người dân rút vốn hàng loạt ra khỏi các ngân hàng & các định chế tài chính, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến thị trường vốn của đất nước này. Ngày 03-03-1997, Chính
phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán trong ngày này. Đến ngày 04-03 và ngày
05-03-1997, 21.4 tỷ baht, tương đương với 820 tỷ usd bị rút ra khỏi các ngân hàng &


các công ty tài chính. Ngày 09-04, phải mất 26.8 baht mới đổi được 1 usd, mức cao
nhất kể từ năm 1991.
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ
quy mô lớn, TTCK ngập tràn lệnh bán đồng tiền này, chính phủ buộc phải chi ra 10 tỷ
usd trong 2 tuần để giữ giá baht, 25 baht ăn 1 usd. Ngày 25-06, 16 công ty tài chính

đóng cửa, nâng tổng số lên 91 công ty, chiếm 61% xuống còn 41,4 tỷ usd vào tháng
6/1997.
Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không
phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất
giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1
dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm
1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ
141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của
Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị
giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ
nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.

Hậu quả trực tiếp của khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan là:


Các ngân hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp phá sản hàng loạt, kinh
tế quốc gia suy thoái. Tăng trưởng kinh tế từ 6.7% năm 1996 giảm còn
-0.4% nă, 1997, -8.3% năm 1998 và 1% năm 1999.



Gần 2 triệu người lao động mất việc làm, mất thu nhập



Các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin, rút vốn ra khỏi đất nước, làm
xấu đi môi trường đầu tư. Năm 1995, 15,8 tỉ USD được rút ra khỏi quốc
gia, năm 1998, thêm 9,5 tỷ USD vốn chạy ra nước ngoài.




Sự rối loạn về kinh tế, mất niềm tin của dân chúng tất yếu làm rung
động hệ thống chính trị. Bốn tháng sau khi thả nổi đồng Baht, thủ tướng
Thái Lan từ chức.



Trong tiến trình khủng hoảng, sau khi thả nổi đồng Baht, tỉ giá hối đoái
đã không ngừng tăng lên, từ tháng 7/1997 tới tháng 1/1998 đã đạt mức
53 baht/USD, bằng 212% mức tháng 6/1997. Chỉ lúc này, 1/1998, khi
Chính phủ cam kết chính thức sẽ trả tất cả các khoản nợ của ngân hàng
thương mại, kể cả nước ngoài, thì tỉ giá hối đoái mới giảm.


2) Philippines
Với những khó khăn nội tại của nền kinh tế nhất là việc thâm hụt lớn trong cán
cân vãng lai ( 13% GDP) và tác động khủng hoảng từ Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân
hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ
đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên
24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38
vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng.
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới
các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm
2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn
khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc
đồng peso thêm mất giá.
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm
tổng thống.
3) Hong Kong


Cuộc khủng hoảng nổ ra sau 24h sau khi Vương quốc Anh trao trả Hong Kong lại
cho Trung Quốc. Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ. Đồng
tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm
phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ
có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700%
lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã
dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán
ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng
đã giảm 23%. Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm
từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%. Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ
Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để
giảm áp lực giảm giá cổ phiếu. Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ
trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công
khai tuyên chiến với giới đầu cơ. Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong
Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán. Sau này, vào năm 2001,
chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong
Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ).


Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán
của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt
hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự
sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga.
Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8: 1.
4) Hàn Quốc
Đầu năm 1996 tập đoàn Woosing phá sản. ngày 23/1/1997, tập đoàn thép Hanbo
phá sản, để lại món nợ 5,9 tỷ USD cho 61 ngân hàng và công ty tài chính. Ngày
19/3/1997, tập đoàn thép Sammi- Chaebeol đứng thứ 26 của Hàn Quốc phá sản, kéo
theo 27 công ty thành viên phá sản, để lại món nợ 2,2 tỷ USD. Từ 1/1997 đến 2/ 1998
có 8 Chaebol phá sản, trong đó có công ty ô tô KIA, đứng thứ 3 trong công nghiệp ô

tô. Năm 1998 Huyndai Motor mua lại Kia Motor. Qũy đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ
USD của Samsung cũng phải giải thể do tác động quá mạnh của khủng hoảng, tiếp đó
DaeWoo Motor phải bán lại cho General Motor. Từ 13/7/1997 hàng loạt các ngân
hàng được các công ty đánh giá cho xuống hạng “ không tin cậy”. Ngày 30/9 tỉ giá hối
đoái đạt 914,8 won/USD tăng 8% so với mức 833,2% ngày 31/12/1996. Ngày 28 và
29/10/1997 tỉ giá hối đoái đạt mức giao động cho phép không ai bán ngoại tệ cho ngân
hàng. Ngày 19/11/1997 giới hạn giao động tỉ giá được mở rộng tới 10%.
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ
nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước còn ngân hàng trong nước
nợ ngân hàng nước ngoài . Khi thị trường Châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà
đầu tư bắt đầu tư bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở qui mô lớn. Ngày 28/11/1997
tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3 sau
đó vào ngày 11/12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này làm giá chứng khoán của Hàn Quốc
thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7/11 thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% ngày
24/11 lại tụt 7.2%. Trong khi đó, động Won giảm giá xuống còn khoảng 1700
Won/USD từ mức 1000 Won/USD. Từ tháng 6 đến tháng 12/1997 cính phủ đã phải
bán ra 14 tỉ USD để kìm giữ tỉ giá song đã phải từ bỏ dự trữ ngoại tệ giảm từ 34,1 tỉ
USD xuống còn 20,4 tỉ USD. Ngày 14/12/1997. Đồng Won được thả nổi. Ngày 23/12
tỷ giá tăng vọt tới 2000 Won/USD bằng 237% so với 31/12/1996. VIệc đồng Won thả
nổi là do việc giảm sút nguồn vốn vay ngoại tệ từ nước ngoài và sự rút vốn đầu tư
nước ngoài ở Hàn Quốc ra khỏi quốc gia này năm 1997.
Ngày 2/12/1997 10 trong 14 ngân hàng thương mại bị đóng cửa. Hai ngân hàng
thương mại lớn bị chính phủ quản lý. Ngày 29/6/1997 chính phủ yêu cầu đóng cửa 5
ngân hàng thương mại nhỏ và 2 ngân hàng khacd được sáp nhập. Ngày 24/8/19982
ngân hàng lớn nhất Hàn Quốc là ngân hàng thương mại Hàn Quốc và ngân hàng Hanil
tuyên bố sẽ sáp nhập. Ngày 25/9/1998 chính phủ công bố một đợt tái cấu trúc các
ngân hàng. Tổng cộng chính phủ tài trợ 64000 tỷ Won cho các ngân hàng. Trong năm


1997 có 14.000 doanh nghiệp phá sản và năm 1998 có tơi 53.000 doanh nghiệp phá

sản.
Sự phá sản của hơn 70.000 doanh nghiệp và ngân hàng trong năm 1997 và 1998 đã
làm cho số người thất nghiệp tăng từ 426.000 năm 1996 lên 1.461.000 năm 1998. Thất
nghiệp, thu nhập thấp với quy mô lớn làm nảy sinh hàng loạt vấn đề xã hội. Số người
nghiện ma túy tăng từ 6.819 người năm 1996 lên 10.589 người năm 1998. Nhằm khắc
phục hậu quả thất nghiệp chính ohur mở rộng hệ thống bảo hiểm cho các doanh
nghiệp có từ 5 lao động trở lên so với trước khủng hoảng chỉ dành cho doanh nghiệp
có từ 30 doanh nghiệp trở lên. Thời gian tối đa hưởng bảo hiểm được tăng từ 1 thành
2 tháng và tiền lương được bảo hiểm trả tăng từ mức 50% lương trước khi thất nghiệp
lên mức 70%. Chương trình cho vay lãi suất thấp cho người thất nghiệp được triển
khai từ tháng 4 /1998 để đảm bảo cuộc sống, việc học hành, chuyển đổi nghề nghiệp
và thuê nhà. Chính phủ cũng triển khai chương trình đào tạo nghề để giúp người thất
nghiệp chuyển đổi nghề và người không có học được việc làm. Trong vòng 2 năm
1998-1999,tổng cộng chính phủ chi ra 10.000 tỉ Won để triển khai biện pháp chống
thất nghiệp.
Sự thất nghiệp gia tăng đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để tạo ra
sản phẩm có tính cạnh tranh cao hơn đã dẫn tới sự biến đổi có tính đột phá trong hệ
thống tuyển dụng và trả lương của Hàn Quốc.
5) Malaysia
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Bath (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng
Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm
giá mạnh. Chỉ trong 12 ngày đầu tháng 7/1997, ngân hàng nhà nước phải bán 700
triệu USD để kìm giữ tỉ giá. Ngày 14/8/1997, Indonesia tuyên bố thả nổi tỉ giá.
Ringgit đã giảm từ 3,75 Ringgit/USD xuống còn 4,20 Ringgit/USD. Phần lớn sức ép
giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước
ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở
trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sự giảm giá của đồng Ringgit trong
tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng
vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,5 tỷ Ringgit vào quý hai
và quý ba năm 1997.

Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5%. Malaysia là
quốc gia nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua việc
KLSE (sàn giao dịch chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn giao dịch
có hoạt động mạnh nhất trên thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí vượt qua cả
NYSE mặc dù có mức vốn thị trường hóa thấp hơn nhiều). Ở thời điểm đó, mọi người


đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và trở thành nước phát
triển vào năm 2020.
Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200,
đồng Ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5/1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7%. Lãi
suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt xuống và
xảy ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt.
Cuối năm 1997, mức đánh giá tín dụng tụt xuống dưới mức bình quân cho các
khoản đầu tư không đảm bảo, KLSE mất 50% điểm, tụt xuống dưới 600, đồng Ringgit
cũng mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng đổi 1 USD. Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng
Ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm. Khủng hoảng đã
làm cho tăng trưởng kinh tế giảm sút, từ mức 8,2% năm 1996 còn 7% năm 1997 và
-7,5% năm 1998. Tỉ lệ thất nghiệp tăng từ mức 2,5% năm 1997 lên 3,2% năm 1998.
Ngày 7/1/1998, Chính phủ Malaysia thành lập Ủy ban hành động kinh tế quốc gia
(NEAC) là cơ quan tư vấn để giải quyết các vấn đề khủng hoảng. Cuối tháng 7/1998,
Ủy ban này đã dưa ra kế hoạch phục hồi kinh tế gồm 6 giải pháp chính:
• Ổn định tỉ giá đồng Ringgit (kiến nghị tỉ giá hối đoái linh hoạt nhưng hạn chế
giao động mạnh, chính sách lãi suất trong nước hợp lý hơn).
• Khôi phục niềm tin vào cơ chế thị trường (công khai, minh bạch hơn, tăng
cường thông tin kinh tế cho công chúng).
• Duy trì ổn định thị trường tài chính (thành lập Công ty Quản lý nợ Ngân hàng
Danahata, công ty tái cấp vốn Danamodal và Ủy ban tái cấu trúc nợ doanh
nghiệp).
• Tăng cường nền tảng kinh tế quốc gia (nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy tăng

trưởng).
• Tiếp tục chương trình công bằng và kinh tế xã hội (xóa đói giảm nghèo, nâng
cao chất lượng cuộc sống, giảm tác hại do khủng hoảng đem lại cho nhân dân).
• Khôi phục 12 ngành kinh tế bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi khủng hoảng.
Từ tháng 2/1999, kinh tế Malaysia đã tăng trưởng 1,4%, quý 2 tăng trưởng 4,1% và
quý 3 là 8,8%.
6) Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Bath, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia
đã nới rộng biên độ dao động của tỉ giá hối đoái giữa Rupiah và USD từ 8% lên 12%
vào ngày 11/7/1997 song cuối cùng, khi dự trữ ngoại tệ ngày một giảm sút, ngày
14/8/1997, chính phủ Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah, thay thế cho chế độ tỷ
giá hối đoái thả nổi có quản lý. Tỷ giá hối đoái lập tức tăng lên 2,87 Pupial/USD so
với mức 2,431 Rupial/USD vào ngày 30/6. Ngày 12/12/1997 tỉ giá đạt 5,115


Rupial/USD, 22/1/1998 là 17 Rupial/USD. Dữ trữ ngoại tệ giảm từ 20,3 tỉ USD ngày
30/9/1997 xuống còn 15,8 tỉ USD ngày 31/3/1998.
Rupial mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài khoản tài sản của các công ty
Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên.
Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua USD vào (có nghĩa là bán Rupial ra)
khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỉ lệ lạm phát tăng vọt. Tháng 9/1997, 16 ngân hàng
mất khả năng thanh toán bị đóng cửa. Giữa tháng 12/1997, một nửa tài sản của hệ
thống Ngân hàng bị mất do người dân vào doanh nghiệp rút tiền gửi. Ngày
31/12/1997, Chính phủ tuyên bố sát nhập bốn ngân hàng lớn và tư nhân hóa các ngân
hàng thương mại nhà nước. Ngày 13/1/1998, 54 ngân hàng yếu kém được đặt dưới sự
điều khiển của Ủy ban tái cấu trúc các ngân hàng (IBRA). Đến giữa năm 1998, khoản
g 80% doanh nghiệp của Indonesia phải ngừng hoạt động hoặc phá sản do thiếu vốn
hoạt động, giá vật tư cao, giá thành sản phẩm cao không tiêu thụ được. Năm 1998,
công nghiệp suy giảm 39,7%.
Cuộc khủng hoảng tài chính- kinh tế Indonesia đã làm tỉ lệ thất nghiệp đô thị tăng

từ 5% năm 1997 lên 11% đầu năm 1998, và trong cả nước từ 5% lên 7%. Tỉ lệ đói
nghèo tăng từ 11% năm 1996 lên 18- 20% dân số năm 1998, bằng 40 triệu người. Để
giảm bớt khó khăn cho người dân, Chính phủ đã tiến hành một số giải pháp cấp bách,
tạm thời như bán gạo cho người nghèo với giá bù lỗ, khuyến khích thành lập các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, đảm bảo ngân sách cho đào tạo không bị cắt giảm, cung
ứng dịch vụ y tế miễn phí cho người nghèo ở các trung tâm y tế nhà nước, bổ sung
thức ăn cho trẻ em và phụ nữa có thai…

IV. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG:
1. Tiêu cực:
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá
tiền tệ, sụp đổ thị trường chững khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều
doanh nghiệp bị phá sản dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống duwois ngưỡng nghèo
trong các năm 1997 – 1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonexia,
Hàn Quốc và Thái Lan. Nó đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn tăng trưởng nhanh, kéo
dài và chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay nước ngoài của các nước trong khu vực, giờ
đấy sẽ chuyển sang giai đoạn ôn hòa, thận trọng, dựa vào sức mình là chính. Cuộc
khủng hoảng gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất 300 tỷ USD, bằng khoảng 20%
GDP của các nước bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế giới 500 tỷ
USD.
Khủng hoảng kinh tế làm giảm sức sống của người lao động (do lạm phát gia
tăng) còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto (vị tổng thống thứ 2) ở


Indonexia) và Chavalit Youngchaiyudh (thủ tướng) ở Thái Lan. Tâm lý chống phương
tây gia tăng cùng với dự phê phán gay gắt nhằm và George Soros và Quỹ tiền tệ quốc
tế IMF. Các phong trào hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonexia khi chính
quyền trung ương nước này suy yếu. Các nhà đầu tư nước ngoài giảm sút niềm tin,
vốn FDI đổ vào châu Á giảm dần họ đầu tư rụt rè và thận trọng hơn khi đầu tư ở nơi
khác. Sự phá giá bản tệ đã làm tăng chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh nặng nợ nần

của các công ty dẫn đến phá sản hàng loạt. Tình hình bong bóng bất động sản vỡ tung,
các ngân hàng rơi vào tình trạng gành chịu một đống nợ khó đòi phải giữ một lượng
tài sản lớn mất giá và khó bán.
Bảng: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%)
Nước
Thái Lan
Hàn Quốc
5 Malaysia
Indonesia
Philippines
Hồng Kông
Singapore
Đài Loan
Trung Quốc

1994
19
14
20
8
17
11
24
9
25

1995
20
23
21

12
24
13
18
17
19

1996
-1
4
6
9
14
4
5
4
2

1997
3
5
1
7
21
4
-1
4
21

Nguồn: NHTG, “East Asia – The Road to Recoverty”, 1998.

Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đó là GDP và GNP bình quân đầu người
tính bằng USD theo sức mua tương đương giảm đi.
Bảng: Tăng trưởng GDP thực (%/năm)
Nước
Hàn Quốc
Thái Lan
Malaysia
Indonesia
Philippines
Trung Quốc
Việt Nam

1995
8,92
9,31
9,83
8,40
4,68
10,53
9,54

1996
6,75
5,88
10,00
7,64
5,85
9,58
9,34


1997
5,01
-1,45
7,32
4,70
5,19
8,84
8,15

1998
-6,69
-10,77
-7,36
-13,13
-0,58
7,80
5,80

1999
10,89
4,22
6,08
0,85
3,40
7,05
4,80

2000
8,81
4,31

8,30
4,77
3,01
7,94
5,50

Nguồn: NHTG, “World Development Indicators”, 2002
Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World
Bank cho biết: thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ 8.800 USD
năm 1997 xuống còn 8.300 USD và năm 2005, của Indonexia giảm từ 4.600 USD còn
3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD còn 10.400 USD. Khủng hoảng không


chỉ làm gai tăng lượng người thất nghiệp trong khu vực (tăng gấp đôi ở Thái Lan, Hàn
Quốc và Indonexia năm 1998) mà còn ở các nước bạn hàng của họ do thu hẹp quy mô
nhập khẩu vì khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó còn góp phần dẫn
tới khủng hoảng tài chính Nga và Brazil. Một số nước không bị khủng hoảng nhưng
kinh tế cũng bị ảnh hưởng xấu do dòng vốn FDI giảm và xuất khẩu giảm.

2. Tích cực:
Cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 không chỉ hoàn toàn đem đến tác hại mà ở một
chừng mực nhất định nó là điểm dừng để mở đầu một giai đoạn mới đầy triển vọng.
Thứ nhất việc chuyển sang chính sách tỷ giả linh hoạt sẽ giúp các chính phủ gairm
thiểu được lượng ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ như thời gian trước đó, giúp tăng
dự trữ quốc gia về lâu dài, khuyến khích, tăng khả năng cạnh trang xuất khẩu, từ đó
cải thiện những cân đối tài chính của đất nước.
Thứ hai, nhiều nước như Thái Lan, Indonexia, Hàn Quốc, Philippin..sẽ nhận được
lượng tín dụng quốc tế chính thức với số lượng lớn để phục vụ các mục tiêu cải cách
và phát triển kinh tế. Cuộc khủng hoảng giúp các nước định hướng lại và cải thiện cơ

cấu đầu tư, lành mạnh hóa hơn nền tài chính quốc gia, tạo sức ép buộc các nhà đầu tư
kinh doanh phải thay đổi tích cực để thích ứng với tình hình mới, thúc đẩy sản xuất
những sản phẩm mới có sực cạnh tranh xuất khẩu cao hơn. Các khaonr chi kém hiệu
quả sẽ bị cắt giảm, khuyến khích các dự án các nhân, tư nhân hóa, giảm thiểu khu vực
Nhà nước, giảm bớt độc quyền về bao cấp của chính phủ được xúc tiến rộng rãi, tích
cực hơn.
Thứ 3, cuộc khủng hoảng còn là cơ hội để chính phủ, nhân dân, các tổ chức tài
chính tiền tệ bổ sung những thiếu sót, khuyết tật về chính sách, thể chế lẫn những yếu
tố về con người..từ đó tạo những xung lực tích cực mới cho sự phát triển kinh tế - xã
hội bền vững. Quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa được đẩy lên một mức mới một
phần nhờ vào những chương trình điều chỉnh kinh tế rộng rãi của IMF, phần vì sự
chuẩn bị chu đáo và thận trọng hơn từ bên trong mỗi nước, là kết quả của sự hợp tác
giữa các khu vực trong nỗ lực cùng vượt qua khủng hoảng.
Làm dịch chuyển vai trò và vị thế chính trị truyền thống của các cường quốc tại
khu vực như Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu cũng như bản thân các nước ASEAN với tư các
là một cộng đồng.
Nói tóm lại, ngoài những thiệt hãi đã gây ra cho nền kinh tế thế giới, cuộc khủng
hoảng đã giúp các nước nhận ra những yếu điểm, thiết sót, sai lệch trong nền kinh tế


các nước Đông Á bấy giờ, góp phần mở ra một bước phát triển kinh tế mới cho khu
vực và trên toàn thế giới.

V.

Bài Học cho các quốc gia và Việt Nam
1) Bài học cho các quốc gia
a) Bài học thứ nhất: Phải có công cụ điều tiết luồng vốn.
Không phải tình cờ khi hai nước châu Á ít bị ảnh hưởng nhất của cuộc khủng


hoảng tài chính, Trung Quốc và Ấn Độ, cũng chính là những nước không tự do hóa
thị trường vốn. Và trong số những nước đã tự do hóa thị trường vốn, cũng không phải
ngẫu nhiên mà nước khống chế tốt nhất những tác động của cuộc khủng hoảng,
Singapore, chính là nước có hệ thống luật pháp tốt nhất.
Do thiếu các biện pháp kiểm soát, nhiều nền kinh tế châu Á đã rơi vào tình trạng
quá phụ thuộc vào nguồn tài chính rất dễ biến động từ bên ngoài - đó là các khoản
vay ngắn hạn. Cuối năm 1996, các nước Đông Á đã nợ các ngân hàng châu Âu 318 tỷ
USD, ngân hàng Nhật Bản 260 tỷ USD và ngân hàng Mỹ 46 tỷ USD, đa số là dưới
hình thức vay ngắn hạn - dưới 1 năm.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết trong 3 năm trước thời điểm 1997, các khoản
nợ ngắn hạn của Thái Lan chiếm tới 7-10% GDP, trong khi tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 1% GDP.
Khi xảy ra khủng hoảng, các nguồn vốn ngắn hạn này biến mất cũng nhanh như
khi xuất hiện, vì không hề có các công cụ điều tiết.
b) Bài học thứ hai: Cần xây dựng hành lang pháp lý phù hợp.
Cũng giống như việc nối các thị trấn nhỏ với đường cao tốc mà trước đó không
trang bị cho chúng hệ thống đường xá và cảnh sát giao thông phù hợp để giám sát


việc tuân thủ luật lệ, sẽ thật liều lĩnh khi mở cửa nền kinh tế của các nước đang phát
triển với thị trường vốn quốc tế mà chưa xây dựng hệ thống luật pháp phù hợp và đào
tạo được đội ngũ cán bộ liêm khiết.
Hệ thống ngân hàng với sự giám sát lỏng lẻo vào những năm trước thời điểm
1997 đã dẫn đến sự phát triển quá mức của thị trường tín dụng ở nhiều nước châu Á,
như Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và Thái Lan, kéo theo việc đầu tư dư
thừa vào một số ngành kinh tế.
Việc dư thừa nguồn tín dụng còn dẫn đến tình trạng lãng phí, với cuộc chạy đua
sở hữu tòa nhà cao nhất thế giới ở các nước châu Á là một ví dụ. Tệ hơn, việc “thừa
tiền” còn châm ngòi cho sự phát triển bong bóng của thị trường bất động sản, từ đó
lại quay lại tình trạng dư thừa tín dụng, vì các ngân hàng cho vay nhiều hơn giá trị

thực của tài sản thế chấp. Kết quả là khi “bong bóng” vỡ, các ngân hàng phải hứng
chịu hậu quả.
Hệ thống ngân hàng với sự giám sát lỏng lẻo còn cho phép các ngân hàng có tỷ lệ
vốn lưu động không phù hợp. Theo số liệu năm 1997 của Ngân hàng Thanh toán
Quốc tế (BIS), ở Philippines (17%), Hồng Kông (18%) và Singapore (19%), tỷ lệ này
cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế.
c) Bài học thứ ba: Nguy cơ dư thừa vốn.
Chính phủ của các nền kinh tế mới nổi không thể làm gì nhiều để ngăn “lũ” vì
nguồn cơn của sự mất cân bằng trên thị trường tài chính quốc tế không nằm trong tầm
kiểm soát trực tiếp của họ.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á không phải chỉ do sự “tắc trách” của người
châu Á gây ra. Ngân khố của hầu hết các nền kinh tế châu Á đều ở mức cân bằng
hoặc thặng dư, và không hề có lạm phát. Cuộc khủng hoảng xảy ra phần nhiều là do
những thay đổi về mô hình của hoạt động trung gian tài chính quốc tế.
Thứ nhất, sự mở rộng đáng kể của khả năng thanh khoản quốc tế vào thập niên
90 đã làm gia tăng sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ tài chính trên toàn thế giới. Vì


thế, các giám đốc tài chính buộc phải tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn, thông
qua các dự án đầu tư mạo hiểm.
Thứ hai là chính sách kinh tế vĩ mô của các cường quốc kinh tế đóng vai trò quan
trọng trong sự mở rộng của khả năng thanh khoản quốc tế. Ví dụ như ở Mỹ, việc
thâm hụt ngân sách giảm xuống trong khi khả năng sản suất tăng lên đã dẫn đến tốc
độ lạm phạt giảm và do đó lãi suất giảm.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi luồng vốn đổ vào châu Á tăng lên, vì lãi suất ở
châu Á cao hơn, còn các nước châu Á nhận thấy việc vay mượn quy đổi bằng đồng
đôla Mỹ hoặc yên Nhật có lợi hơn là bằng đồng nội tệ.
Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối này không thể kéo dài. Việc tăng nguồn vốn đã
gia tăng sức ép đối với việc tăng tỷ giá hối đoái, từ đó làm trầm trọng thêm tình hình

thâm hụt thương mại. Và khi thị trường tạo sức ép giảm giá đồng tiền, tình hình càng
trở nên xấu đi do sự rút vốn đột ngột của các nhà đầu tư nước ngoài. Thị trường tài
chính châu Á chao đảo.
Liệu điều tương tự có thể xảy ra lần nữa? Câu trả lời là hoàn toàn có thể.
Trong suốt thời gian diễn ra khủng hoảng, đã có khá nhiều thảo luận về việc hình
thành một “kiến trúc tài chính toàn cầu”. Tuy nhiên từ đó đến nay, cái “kiến trúc” đó
hầu như không có gì thay đổi. Vẫn chưa có được những công cụ điều tiết luồng vốn
một cách hiệu quả.
Về hành lang pháp lý, đã có nhiều cải tiến kể từ năm 1997. Giờ đây nhiều ngân
hàng của châu Á hoạt động bền vững hơn, với tỷ lệ vốn lưu động tăng lên trong khi tỷ
lệ nợ xấu giảm xuống.
Tuy nhiên, trình độ quản lý vẫn chưa được cải thiện. Một cuộc điều tra gần đây
của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho thấy trên thực tế, chất lượng ở 4 trong 5
nước bị ảnh hưởng nặng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á - Indonesia,
Malaysia, Philippines và Thái Lan - thậm chí còn có chiều hướng kém đi so với năm


1997, ở 6 thước đo: trách nhiệm quản lý, sự ổn định chính trị, hiệu quả của chính phủ,
chất lượng của hệ thống luật pháp, sự tuân thủ pháp luật và tình hình kiểm soát tham
nhũng.
Luồng vốn chảy vào các thị trường châu Á mới nổi trung bình chiếm 6-7% GDP,
cùng mức với thời điểm trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-98. Tuy nhiên,
không như hồi thập kỷ 90, hiện nay luồng vốn phần lớn là đầu tư trực tiếp và gián
tiếp nước ngoài (FDI và FPI) chứ không phải là đầu tư ngắn hạn.

Dù vậy, giới lãnh đạo tài chính châu Á đã chỉ ra rằng tỷ lệ lãi suất thấp trong suốt
một thời gian dài đã dẫn đến sự phát triển bong bóng của thị trường chứng khoán, bất
động sản, thị trường hàng hóa và hoạt động đầu tư tư nhân. Và như Thủ tướng
Singapore Lý Hiển Long đã cảnh báo, nếu tình trạng mất cân đối trên thị trường tài
chính quốc tế không được giải quyết một cách nhịp nhàng thì nền kinh tế toàn cầu sẽ

bị ảnh hưởng.
Nói như nhà soạn kịch Eugene O'Neill, không có hiện tại hay tương lai, mà chỉ có
quá khứ cứ lặp đi lặp lại. Cách nói này có thể hơi cường điệu. Có lẽ sẽ chính xác hơn
khi nói rằng lịch sử luôn lặp lại, nhưng có một chút thay đối. Nếu khôn ngoan và thận
trọng, chính phủ các nước sẽ cố gắng tìm ra sự khác biệt đó để có các biện pháp đề
phòng
2) Bài học kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính cho Việt Nam
Bài học 1:
Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế quốc gia là
cơ sở quan trọng nhất đảm bảo cho phát triển bền vững và phải trở thành một
mục tiêu và chỉ tiêu của quản lý kinh tế đất nước, quản lý ngành, quản lý doanh
nghiệp. Để khắc phục sự thiếu chú ý đúng mức đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh và phát triển, cần đưa vào hệ thống chỉ tiêu kinh tế phải báo cáo hàng
năm của mỗi địa phương mỗi ngành và cả nước các chỉ tiêu như tỉ suất lợi
nhuận và tỉ suất giá trị gia tăng trên vốn riêng của doanh nghiệp theo các ngành


×