Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

Chắt lọc tinh túy ngữ văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (434.7 KB, 21 trang )

Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)
I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN (3 ĐIỂM)
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT (3 ĐIỂM)
I. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (3 ĐIỂM)
1. Phương pháp và những kĩ năng chung đối với bài nghị luận xã hội
2. Dạng 1: Nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí
2.1. Những đặc trưng cơ bản của dạng đề và định hướng cách làm
2.2. Một số đề chọn lọc
3. Dạng 2: Nghị luận xã hội về một hiện tượng xã hội
3.1. Những đặc trưng cơ bản của dạng đề và định hướng cách làm
3.2. Một số đề chọn lọc
4. Dạng 3: Nghị luận xã hội phối hợp (qua một hiện tượng xã hội, bàn về một tư tưởng đạo lí)
4.1. Những đặc trưng cơ bản của dạng đề và định hướng cách làm
4.2. Một số đề chọn lọc
II. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (4 ĐIỂM)
Dạng 1: Bình luận ý kiến đánh về hai tác phẩm
Dạng 2: Bình luận ý kiến ( nhiều ý kiến) đánh giá về một tác phẩm
Dạng 3: Phân tích/ cảm nhận một đoạn văn/ đoạn thơ trong một tác phẩm
Dạng 4: Cảm nhận về hai đoạn thơ/ hai đoạn văn
PHẦN THỨ BA
MỘT SỐ DẪN CHỨNG HAY CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

PHẦN THỨ NHẤT: ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)
Dạng đề đọc hiểu chiếm 3 điểm trong đề thi đại học, đề cập đến hai văn bản (thường không nằm
trong chương trình hiện hành của sách giáo khoa) để yêu cầu học sinh giải quyết các câu hỏi đặt ra nhằm


kiểm tra khả năng đọc hiểu văn bản của học sinh. Dạng đề này thường đặt ra hai loại văn bản: một văn bản
thông tin và một văn bản nghệ thuật. Đối với từng loại văn bản kể trên, học sinh cần áp dụng những cách
thức, chiến thuật khác nhau để làm bài, thể hiện khả năng linh hoạt của mình trong việc đọc hiểu văn bản.
Các câu hỏi đọc hiểu văn bản thường đa dạng và phong phú nhưng đều đảm bảo đánh giá được đầy đủ các
cấp độ nhận thức của học sinh đối với các loại văn bản đó (từ cấp độ nhận thức biết, đến hiểu và vận dụng
thấp, vận dụng cao) đồng thời kiểm tra được năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh.
Cấu trúc một câu hỏi đọc hiểu văn bản (3 điểm) theo mẫu của Bộ GD&ĐT (tính từ đề thi THPT
Quốc gia năm 2015) được chúng tôi hình thành như sau (lưu ý: đây chỉ là định hướng mà chúng tôi hình
thành cho học sinh dựa trên thực trạng đề thi hiện nay tại các trường THPT và các đề thi minh họa, thi chính
thức của Bộ GD&ĐT, không phải là mẫu chuẩn duy nhất và bắt buộc của đề thi, học sinh tiếp thu để nắm
được tinh thần những câu hỏi có thể được đặt ra ở đề bài):
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
Phần này trích dẫn một văn bản thông tin có dung lượng vừa phải, đảm bảo các yêu cầu sư phạm như
tinh lọc về nội dung và nghệ thuật, phù hợp với môi trường học đường cũng như nhận thức thường được
quy chuẩn dành cho học sinh THPT.
Câu 1: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “biết” của học sinh. Đó là việc học sinh có năng
lực nắm bắt nội dung chính của toàn bộ tác phẩm, thâu tóm ý chính hoặc đại ý của đoạn văn vừa được trích
dẫn. Câu hỏi có thể yêu cầu học sinh thể hiện năng lực trích dẫn các dẫn chứng từ văn bản một cách thuyết
phục và xuyên suốt để hỗ trợ cho việc phân tích ngụ ý của văn bản cũng như các suy luận/ kết luận được rút
ra từ văn bản, bao gồm việc xác định được phần văn bản có vấn đề. Bên cạnh đó câu hỏi có thể yêu cầu học
sinh xác định hai hay nhiều ý tưởng trung tâm của văn bản và phân tích sự phát triển của chúng xuyên suốt
văn bản, bao gồm việc chúng tương tác và được xây dựng/ phát triển dựa trên yếu tố khác như thế nào để
tạo nên một bản mô tả phức tạp; yêu cầu tóm tắt khách quan tác phẩm.
Câu 2: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “hiểu” của học sinh. Câu hỏi có thể yêu cầu học
sinh xác định nghĩa của các từ và cụm từ được dùng trong văn bản, bao gồm nghĩa bóng và nghĩa chuyên
môn/ chuyên ngành trong văn bản thông tin đó; phân tích xem tác giả sử dụng và trau chuốt nghĩa của một
hay nhiều thuật ngữ trong suốt tiến trình văn bản như thế nào; Phân tích và đánh giá hiệu quả của cấu trúc
mà tác giả sử dụng trong khi trình bày lập luận của mình, bao gồm cả việc cấu trúc đó có làm cho luận điểm
rõ ràng, thuyết phục và hấp dẫn không. Xác định quan điểm và mục đích của tác giả trong văn bản trong đó



Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

thuật hùng biện đặc biệt hiệu quả, phân tích phong cách và nội dung góp phần vào sức mạnh, sức thuyết
phục và vẻ đẹp của văn bản như thế nào.
Câu 3: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “vận dụng thấp” của học sinh. Câu hỏi này yêu
cầu học sinh tích hợp và đánh giá các nguồn thông tin cũng như trong từ ngữ để giải quyết vấn đề được đặt
ra trong văn bản thông tin đó.
Câu 4: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “vận dụng cao” của học sinh. Học sinh sẽ sử dụng
những kiến thức bên ngoài văn bản để giải quyết vấn đề, liên hệ với đời sống thực tế của mình để giải quyết
các vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Phần này trích dẫn một văn bản nghệ thuật có dung lượng vừa phải, đảm bảo các yêu cầu sư phạm
như tinh lọc về nội dung và nghệ thuật, phù hợp với môi trường học đường cũng như nhận thức thường
được quy chuẩn dành cho học sinh THPT.
Câu 1: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “biết” của học sinh. Câu hỏi có thể yêu cầu học
sinh nắm bắt nội dung chính của văn bản văn học đó, trích dẫn các dẫn chứng phù hợp từ văn bản một cách
thuyết phục và xuyên suốt để hỗ trợ cho việc phân tích ngụ ý của văn bản cũng như các suy luận/ kết luận
được rút ra từ văn bản; phân tích những lựa chọn của tác giả về cách thức phát triển và liên quan giữa các
yếu tố được tác giả đưa vào văn bản văn học đó.
Câu 2: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “hiểu” của học sinh. Câu hỏi có thể yêu cầu học
sinh xác định nghĩa của các từ, cụm từ được dùng trong văn bản, bao gồm nghĩa bóng, hàm ý, phân tích một
cách có chọn lọc từ ngữ qua ý nghĩa, giọng điệu, cách sử dụng từ lạ, hấp dẫn, hoa mĩ.
Câu 3: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “vận dụng thấp” của học sinh. Học sinh biết sử
dụng những tri thức bên trong văn bản để liên hệ đến những kiến thức khác mà học sinh đã từng được biết
trước đó.
Câu 4: Câu hỏi này hướng đến năng lực nhận thức “vận dụng cao” của học sinh. Câu hỏi yêu cầu học
sinh cần phải thể hiện năng lực đọc hiểu một cách độc lập và thành thạo, dựa trên việc thể hiện cách giải
quyết vấn đề đặt ra ở đề bài bằng kinh nghiệm sống, trải nghiệm bản thân và sự quan tâm của học sinh đến
các vấn đề xã hội có liên quan trực tiếp đến vấn đề được đặt ra.

Lưu ý: đây chỉ là định hướng mà chúng tôi hình thành cho học sinh dựa trên thực trạng đề thi hiện
nay tại các trường THPT và các đề thi minh họa, thi chính thức của Bộ GD&ĐT, không phải là mẫu chuẩn
duy nhất và bắt buộc của đề thi, học sinh chỉ cần tiếp thu để nắm được tinh thần những câu hỏi có thể được
đặt ra ở đề bài, không học lệch, học tủ.
Dưới đây là một đề bài minh họa theo mô hình cấu trúc ở trên để (đề bài được trích dẫn trong sách
Tuyển tập 90 đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn (tập 2, đồng tác giả):
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

(1) Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói
rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển
trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm,
tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì
lịch sử.
(2) Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó, thật sự có những đặc sắc của một thứ tiếng khá đẹp. Nhiều người
ngoại quốc sang thăm nước ta và có dịp nghe tiếng nói của quần chúng nhân dân ta, đã có thể nhận xét
rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc. Họ không hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng
của người “nghe” và chỉ nghe thôi. Tuy vậy lời bình phẩm của họ có phần chắc không phải chỉ là một lời
khen xã giao. Những nhân chứng có đủ thẩm quyền hơn về mặt này cũng không hiếm. Một giáo sĩ nước
ngoài (chúng ta biết rằng nhiều nhà truyền đạo Thiên Chúa nước ngoài cũng là người rất thạo tiếng Việt),
đã có thể nói đến tiếng Việt như là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển
trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc, trong Tuyển tập Đặng
Thai Mai, Tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1984).
Câu 1: Chọn ra câu chủ đề của đoạn trích trên? (0,25 điểm).
Câu 2: Đoạn trích trên được viết bằng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm).
Câu 3: Đoạn (2) có những phép liên kết nào? Nêu tác dụng của các phép liên kết đó trong việc thể
hiện nội dung chủ đạo của đoạn văn. (0,5 điểm).

Câu 4: Trong khoảng 5 - 7 dòng, hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về việc giữ gìn sự giàu đẹp của
tiếng Việt của bộ phận giới trẻ hiện nay. (0,25 điểm).
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Con mèo nằm thản nhiên
trong mảnh thảm nhung góc nhà
Nó bị xích như xích chó
Thức ăn được phục vụ tại chỗ
Thấy chuột, tôi thả con mèo ra
Mèo nhìn chuột dửng dưng, lạnh lùng
Rồi lại nằm khoèo trên mảnh thảm nhung,
gối đầu lên cái xích…
(Trần Nhuận Minh, Con mèo, Cửa Lục, 2.1999).
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên. (0.25 điểm).
Câu 6. Các từ “dửng dưng, lạnh lùng, nằm khoèo” thể hiện điều gì? (0.25 điểm).
Câu 7. Xác định nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong bài thơ. (0.5 điểm).


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

Câu 8. Có ý kiến cho rằng, bài thơ Con mèo của Trần Nhuận Minh đã lên tiếng cảnh báo về một thế
hệ thích sống hưởng thụ, ỷ nại, thụ động. Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng
(0.5 điểm).
Từ nội dung đề bài trên, học sinh cần có một cái nhìn cụ thể, chính xác hơn về những gì các em sẽ
được hỏi trong các đề thi đọc hiểu văn bản đồng thời biết các em cần thể hiện những năng lực đọc hiểu văn
bản như thế nào, đánh giá trên những bình diện nào.
Chúng tôi sẽ đi vào từng đề cụ thể đối với hai loại văn bản như trên (văn bản thông tin và văn bản
nghệ thuật) thông qua việc chọn lọc những đề thi thử hay và khó ở các trường THPT hiện nay.
I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN (3 ĐIỂM)
Đối với dạng đề này các em cần lưu ý thể hiện được năng lực đọc hiểu văn bản thông tin của mình,
điều này thể hiện qua các năng lực cụ thể như năng lực đọc độc lập và thành thạo (thông qua việc hiểu ngữ

liệu được đưa ra), năng lực hiểu ý chính và chi tiết của văn bản thông tin, năng lực phân tích, đánh giá vấn
đề, năng lực vận dụng những kiến thức ngoài văn bản để liên hệ, đối chiếu, so sánh với những vấn đề được
đặt ra trong văn bản. Dạng đề đọc hiểu văn bản thông tin yêu cầu các em không chỉ có vốn kiến thức tương
đối về các văn bản (nội dung, nghệ thuật) mà còn yêu cầu kĩ năng vận dụng của các em đối với mảng kiến
thức ngoài văn bản (đặc biệt là việc liên hệ với những văn bản thông tin khác ngoài chương trình hiện hành).


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

Dưới đây là một số đề cụ thể:
Đề số 1 (1,5 điểm)
Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:
19.5.1970
Được thư mẹ… mẹ của con ơi, mỗi dòng chữ, mỗi lời nói của mẹ thấm nặng yêu thương, như những
dòng máu chảy về trái tim khao khát nhớ thương của con. Ôi! Có ai hiểu lòng con ao ước được về sống
giữa gia đình, dù chỉ là giây lát đến mức nào không? Con vẫn hiểu điều đó từ lúc bước chân lên chiếc
ôtô đưa con vào con đường bom đạn. Nhưng con vẫn ra đi vì lí tưởng. Ba năm qua, trên từng chặng
đường con bước, trong muôn vàn âm thanh hỗn hợp của chiến trường, bao giờ cũng có một âm thanh
dịu dàng tha thiết mà sao có một âm lượng cao hơn tất cả mọi đạn bom sấm sét vang lên trong lòng con.
Đó là tiếng nói của miền Bắc yêu thương, của mẹ, của ba, của em, của tất cả. Từ hàng lim xào xạc trên
đường Đại La, từ tiếng sóng sông Hồng dào dạt vỗ đến cả âm thanh hỗn tạp của cuộc sống Thủ đô vẫn
vang vọng trong con không một phút nào nguôi cả.
(Trích Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005)
Câu 1: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Trong đoạn văn có những phương thức
biểu đạt nào? (0,5 điểm)
Câu 2: “Lí tưởng” mà liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm nhắc đến trong đoạn văn trên là gì? (0,25
điểm)
Câu 3: Đọc đoạn nhật kí trên, điều gì khiến anh (chị) xúc động nhất? (0,25 điểm)
Câu 4: Anh (chị) nghĩ gì về sự hi sinh của những người trẻ tuổi trong các cuộc kháng chiến chống
giặc ngoại xâm của dân tộc? (trình bày trong khoảng 7 dòng) (0,5 điểm)

(Trích đề thi thử THPT 2016 do cô Phạm Thị Thu Phương, giáo viên tại tuyensinh247.com biên soạn)
Hướng dẫn làm bài:
Câu 1:
Để làm bài đối với đoạn ngữ liệu này, học sinh cần lưu ý có 6 phong cách ngôn ngữ (sinh hoạt,
nghệ thuật, báo chí, hành chính – công vụ, chính luận, khoa học), tuy nhiên các em cần nắm được đặc
điểm của từng loại phong cách ngôn ngữ một cách rõ ràng khi làm dạng bài này. Câu hỏi chỉ yêu cầu các
em lựa chọn và trả lời phong cách ngôn ngữ trong đoạn ngữ liệu là gì, tuy nhiên các em cần tự đặt câu hỏi
rằng: “Đoạn ngữ liệu đó có thực sự được viết bằng phong cách ngôn ngữ đó hay không? Có những dấu
hiệu hay từ ngữ nào cụ thể thể hiện nó thuộc phong cách ngôn ngữ đó?”. Khi các em tìm được dấu hiệu


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

cụ thể, hãy chọn ra phong cách ngôn ngữ được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu nhất, đó sẽ là câu trả lời của
câu hỏi này.
Đối với ngữ liệu trên, các em thấy thể loại của văn bản (nhật kí) nên không nhầm lẫn là phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật mà phải là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, có sử dụng những từ ngữ cụ thể thể hiện
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Về phương thức biểu đạt, học sinh cần chú ý được hỏi là “những”, do đó cần liệt kê tất cả các
phương thức biểu đạt có trong đoạn trích trên. Ngoài ra đối với những câu hỏi yêu cầu ở mức độ biết, học
sinh chỉ cần nêu một cách ngắn gọn theo yêu cầu được hỏi, không cần trả lời lan man, dài dòng, dẫn dắt
một cách vòng vo rồi mới đi vào câu hỏi chính thức. Điều này không những tiết kiệm được thời gian làm
bài của các em mà còn giúp các em gây ấn tượng với người chấm về sự ngắn gọn, súc tích, trình bày dễ
nhìn.
Cụ thể các em trả lời ngắn gọn như sau:
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (0,25 điểm)
- Phương thức biểu đạt tự sự, biểu cảm, miêu tả (0,25 điểm)
Câu 2: Để trả lời được câu hỏi này, học sinh cần nắm được nội dung chính của toàn đoạn văn được
trích dẫn và hiểu bản chất của từ “lí tưởng” được nhắc đến ở câu hỏi. Các em đọc thật kĩ đoạn văn, gạch
chân những từ khóa thể hiện nội hàm của từ “lí tưởng” sau đó xâu chuỗi nó lại để xác định “lí tưởng” của

tác giả muốn gửi gắm trong đó là gì. Các em lưu ý không bao giờ được trả lời một cách cảm tính mà cần
biết câu trả lời của mình lấy cơ sở từ đâu, tại sao các em lại cho rằng đó là câu trả lời chính xác. Khi có
những cơ sở nhất định, câu trả lời sẽ gần với đáp án nhất và dễ kiếm điểm nhất. Đôi khi câu trả lời không
hề phức tạp như các em nghĩ, do đó không được trả lời một cách tùy tiện mà cần có cơ sở.
Cụ thể như sau:
“Lí tưởng” mà liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm nhắc đến trong đoạn văn trên là lí tưởng hi sinh tuổi
thanh xuân để lên đường chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (0,25 điểm)
Ngoài cách trả lời như trên, học sinh có thể có cách diễn đạt khác tuy nhiên cần gần gũi với nội
dung được hỏi, không lan man. Đáp án trên chỉ là mẫu cốt lõi được diễn đạt ngắn gọn, câu trả lời cần sâu
sắc hơn, ví dụ như em thấy lí tưởng đó được thể hiện qua những từ ngữ cụ thể như thế nào, các em có thể
trích dẫn ra để người chấm thấy được cơ sở của em.
Câu 3: Học sinh cần đưa ra ý kiến của riêng mình tuy nhiên cần gắn với nội dung của văn bản
thông tin đưa ra ở đề bài, tránh trường hợp lan man sang vấn đề khác. Nhiều học sinh nắm được vấn đề
nhưng trích dẫn không hợp lí, chưa phù hợp nên rất dễ mất điểm.
Điều quan trọng đối với những câu hỏi vận dụng thấp này đó là các em cần hiểu được bản chất của
vấn đề khi liên hệ tới bản thân mình. Câu hỏi kiểm tra năng lực thấu hiểu và liên hệ của bản thân em, cần
có những cơ sở và rung động thực sự.


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

Đối với đề bài trên học sinh có thể chỉ ra đó là nỗi nhớ mẹ, nhớ gia đình, nhớ Hà Nội, nhớ miền
Bắc nhưng tất cả đều phải dồn nén lại bằng lí trí của một cô gái trẻ. (0,25 điểm)
Câu 4:
Học sinh lưu ý đến yêu cầu về cả nội dung và hình thức của câu hỏi này. Câu trả lời cần đảm bảo
là một đoạn văn (với dung lượng yêu cầu) đồng thời hướng đến nội dung đã được đưa ra, tránh việc đưa
ra những nội dung lan man, nghĩ gì viết nấy (như rất nhiều trường hợp bài làm của học sinh chúng tôi đã
được tiếp xúc ở trường THPT). Khi làm bài các em phải luôn tự hỏi: “Mình viết đoạn văn này với mục
đích chính là gì? Nó đã đảm bảo mặt nội dung và hình thức hay chưa? Các ý tưởng đã lôgích, mạch lạc,
có cơ sở rõ ràng để người chấm có thể nắm được hay chưa?”

Câu trả lời có thể có những ý như sau:
- Họ đã hi sinh tuổi xanh, đời trẻ vì lí tưởng độc lập và thống nhất dân tộc (02,5 điểm)
- Thế hệ sau trân trọng và biết ơn với các thế hệ đã quên mình, hi sinh vì Tổ quốc, cuộc đời hôm
nay; từ đó có ý thức trách nhiệm xây dựng đất nước giàu đẹp vững mạnh (0,25 điểm)


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
…..
PHẦN THỨ HAI: LÀM VĂN (7 ĐIỂM)
I. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (3 ĐIỂM)
Đề 1: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn năm 2016 - trường THPT Chuyên Đại học Sư phạm Hà
Nội lần 1
Câu 1:
Khi nhận được câu hỏi quen thuộc “Tại sao bạn xứng đáng trở thành tân hoa hậu thế giới 2015?”,
người đẹp Indonesia đã tự tin trả lời rằng: “Vì chúng ta sinh ra không phải để tồn tại mà để tạo sự khác biệt”
(Theo nguồn Vietnamnet.vn)
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên.
Hướng dẫn làm bài
* Bước 1: Khi đọc đề, bước đầu tiên các em cần làm được là tìm ra từ khóa, chốt được vấn đề chính
trong nội dung câu nói.
Trong đề bài này, tình huống được đưa ra là câu hỏi dành cho Tân hoa hậu thế giới 2015 và câu trả
lời của cô. Câu hỏi thuộc “Tại sao bạn xứng đáng trở thành tân hoa hậu thế giới 2015?” thực chất là câu hỏi
nêu vấn đề: đâu là điều khiến bạn xứng đáng nhận được danh hiệu cao quý, còn nội dung của vấn đề được
thể hiện qua câu trả lời: “Vì chúng ta sinh ra không phải để tồn tại mà để tạo sự khác biệt”. Như anh chị đã
hướng dẫn các em ở phần trên, để xác định được trọng tâm của vấn đề, các em cần bám vào các từ, cụm từ
chính. Trong trường hợp này, có hai cụm từ cần được lưu tâm là “tồn tại” và “tạo sự khác biệt”, ngoài ra,
còn có cụm từ “sinh ra”.
Sau khi tìm được các từ, cụm từ khóa, các em đi vào giải mã các cụm từ đó. Nói “không phải để tồn

tại” nghĩa là thế nào? Nói “tạo ra sự khác biệt” nghĩa là thế nào? “Sự khác biệt” ở đây muốn ám chỉ điều
gì? Khi giải mã được các từ khóa, các em sẽ nắm được vấn đề trọng tâm của câu nói này.
* Bước 2: Khi xác định được vấn đề trọng tâm, các em đi vào phần lập dàn ý cho bài viết. Cụ thể, ở
đây, để giải quyết được những phần chính của bài, các em cần tập trung trả lời những câu hỏi sau:
Luận điểm 1: tồn tại là gì? Tạo sự khác biệt là gì? Nghĩa của cả câu nói ra sao?
Luận điểm 2:
+ Tại sao con người sinh ra trên đời cần phải tạo ra sự khác biệt? (Tạo ra sự khác biệt có vai trò, ý
nghĩa và mang lại giá trị gì cho cuộc sống con người? Nếu không tạo ra sự khác biệt thì cuộc đời con người
có tổn thất gì, trở nên như thế nào?)
+ Sự khác biệt của con người được thể hiện trên những phương diện nào?


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

+ Có những tấm gương nào về việc tạo ra sự khác biệt? Học sinh có thể lấy những câu chuyện trong
lịch sử và cũng có thể lấy những hiện tượng trong đời sống xã hội hiện nay, khi sự khác biệt của con người
đang bị kiểu tâm lý đám đông đè nén.
+ Tuy nhiên, có phải lúc nào tạo ra sự khác biệt cũng là tốt không? Sự khác biệt phải đi cùng với
những yêu cầu phẩm chất gì?
Luận điểm 3: Em đã tạo ra sự khác biệt trong cuộc đời của chính mình hay chưa? Sau câu nói này,
các em có thêm nhận thức
Để các em hiểu rõ hơn về ý tưởng làm bài, các em có thể tham khảo dàn ý chi tiết sau:
Mở bài: Trong bộ phim Mỹ “Lỗi của những vì sao” (Fault of the star) từng được đề cử cho giải
Oscar, nhân vật nam chính trong bộ phim đã mắc phải căn bệnh nan y, nhưng hơn cả nỗi sợ phải chiến đấu
với bệnh tật là nỗi sợ sau khi anh qua đời, không ai còn nhớ tới anh. Nỗi sợ ấy không phải là của riêng nhân
vật mà là nỗi sợ chung của nhiều người: sợ bị lãng quên, sợ mình không có giá trị gì trong lòng người khác.
Tuy nhiên, có người không đủ dũng cảm để xua tan đi nỗi sợ đó, có người không nhận thức được nó nhưng
cũng có người dám đối đầu và xua tan nó bằng những hành động khẳng định giá trị của bản thân vô cùng
thiết thực. Hành động ấy là gì? Bí quyết đó một lần nữa đã được tiết lộ qua câu chuyện của Tân hoa hậu thế
giới người Indonesia, khi nhận được câu hỏi quen thuộc “Tại sao bạn xứng đáng trở thành tân hoa hậu thế

giới 2015?”, người đẹp Indonesia đã tự tin trả lời rằng: “Vì chúng ta sinh ra không phải để tồn tại mà để tạo
sự khác biệt” (Theo nguồn Vietnamnet.vn).
b. Thân bài:
- Luận điểm 1:
+ Câu hỏi : “Tại sao bạn xứng đáng trở thành tân hoa hậu thế giới 2015?” là một câu hỏi quen thuộc
trong nhiều cuộc thi Hoa hậu. Câu hỏi muốn hướng tới tìm hiểu thông tin người nhận giải có phẩm chất gì,
yếu tố gì để nhận được giải thưởng này. Trước câu hỏi quen thuộc, các câu trả lời thường sẽ mang tính sáo
mòn. Tuy nhiên, người đẹp đất nước Indonesia đã khẳng định yếu tố khiến bản thân mình thành công và
bước lên đài vinh quang là: tạo ra sự khác biệt.
+ “Sinh ra” tức là được có mặt trên cõi đời, được trao cho quyền làm con người, dù cuộc đời mỗi
người dài ngắn khác nhau, nhưng được sinh ra là một đặc ân.
+ Câu trả lời có hai vế, vế thứ nhất là vế phủ định: “không phải để tồn tại”. “Tồn tại” là trạng thái
sống mang tính vật lý, chỉ đơn thuần là hiện hữu mà không có giá trị hay ý nghĩa gì. Sự “tồn tại” của một
con người trong đời sống thiên về phần “con”, chứ không phải phần “người”, thiên về phần bản năng sinh
học chứ không có phần ý thức. Một cuộc sống chỉ có ý nghĩa tồn tại tức là một cuộc sống chỉ có những sinh
hoạt về mặt vật chất thông thường như ăn, ngủ, nghỉ ngơi,…
+ Vế thứ hai là về khẳng định: “mà là để tạo sự khác biệt”. “Sự khác biệt” ở đây không chỉ được
hiểu là điểm riêng của người này so với người khác mà còn là những giá trị đặc biệt mà con người mang lại


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

cho cuộc đời chung. Mỗi con người là một cá tính riêng, một nhân cách riêng, có một phẩm chất, ý thức
riêng biệt. Với những cá tính, nhân cách, phẩm chất, ý thức riêng ấy, con người lại để lại cho cuộc đời một
dấu ấn không thể trộn lẫn. Đó mới thực sự là phần “người” cao quý.
Câu nói của tân hoa hậu người Indonesia đã khẳng định một lối sống có ý nghĩa nóng hổi trong đời
sống xã hội ngày nay: lối sống tạo nên sự riêng biệt, đem đến những giá trị khác biệt. Con người sống trên
đời phải khẳng định được cái “tôi” của chính mình và mang đến cho xã hội những đóng góp riêng mang
đậm dấu ấn của cá nhân đó. Đây là một câu nói hay không chỉ thể hiện tài năng ứng xử của Tân hoa hậu
Thế giới 2015 mà còn thể hiện một chiều sâu triết học.

- Luận điểm 2:
+ Bản thân mỗi người sinh ra là một cá thể độc đáo, không trộn lẫn. Không chỉ khác biệt nhau về
hình hài mà con người còn khác biệt nhau về khả năng tư duy, tính cách. Bản thân ngoại hình khác nhau
cũng thể tạo ra cho con người những ngã rẽ khác nhau trong định hướng công việc, ngành nghề, trong cách
trưng diện bên ngoài. Đi sâu hơn nữa, mỗi người lại có một khả năng riêng biệt. Không phải ngẫu nhiên mà
các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phân chia trí thông tin của con người thành nhiều loại: có trí thông minh
về hình ảnh (những người có khả năng quan sát tốt, phân tích, cảm nhận hình khối, màu sắc tốt, những
người này có thể làm những công việc liên quan đến hình ảnh như họa sĩ, thiết kế nội thất…), trí thông minh
về âm thanh (những người có khả năng thụ âm tốt, ghi nhớ âm thanh và hòa nhập vào âm thanh, những
người này có thể trở thành nhạc sĩ,…), lại cũng có trí thông minh vận động (những người có khả năng vận
động tốt, cơ thể dẻo dai, phù hợp để trở thành các vận động viên, nghệ sĩ múa) bên cạnh trí thông minh về
logic. Qua đây có thể thấy, trong cuộc sống mỗi con người có những thế mạnh riêng, khả năng riêng. Không
chỉ về khả năng, tâm hồn, tính cách của con người cũng không trùng lặp với ai. Khi đứng trước thiên nhiên
lộng lẫy, có người cảm thấy xúc động, có người nghĩ tới lợi ích kinh tế, có người lại cảm thấy nhàm chán…
Tuy nhiên, dù khác biệt, có những ưu – khuyết điểm riêng nhưng mỗi người là một cá thể hoàn chỉnh, độc
lập, đáng được trân trọng.
+ Cuộc đời con người hữu hạn, ngắn ngủi so với dòng chảy bất tận của thời gian. Không có loại
thuốc nào có thể đem đến cho con người sự trường sinh bất tử. Cách duy nhất để con người “kéo dài sự
sống của mình” đó là để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhiều người, đặc biệt người đời sau. Đến ngày nay,
tên tuổi của nhiều vĩ nhân vẫn còn được nhớ tới, thế giới vẫn tổ chức sinh nhật cho họ dù họ đã qua đời
cũng chính bởi những giá trị riêng mà họ mang đến cho đời sống và để lại trong lòng người.
+ Nếu sống một cuộc đời nhợt nhạt, không màu sắc riêng, luôn chạy theo đám đông thì con người
sẽ nhanh chóng bị lãng quên. Đó là lý do tại sao, trong những năm đất nước ta mới bước vào thời kì mở cửa
hội nhập, một khẩu hiệu chung được nhiều người nhắc tới là: hòa nhập chứ không hòa tan. Đánh mất bản
sắc riêng của mình, con người sẽ không thể khẳng định được vị thế riêng, chỗ đứng riêng trong lòng xã hội,
sẽ không ai nhớ tới một cá nhân mà không có dấu hiệu nhận biết nào riêng biệt. Đáng buồn thay, trong đời


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn


sống hiện nay, có ít người dám khẳng định bản sắc riêng, giá trị riêng của mình. Căn bệnh đám đông, chạy
theo thị hiếu, trào lưu đang trở thành con virus xâm chiếm mọi ngóc ngách, góc cạnh của cuộc sống. Không
chỉ có cùng chung một kiểu trang phục, nhiều người còn bị lây nhiễm cả tình yêu, sự căm ghét đối với một
đối tượng mà mình còn chưa hiểu rõ. Trong những cuộc tranh luận, có ít người dám nói lên suy nghĩ thật,
quan điểm thật của mình. Nhiều người trẻ bắt chước, học đòi theo những mốt thời thượng phản văn hóa, a
dua theo những trò giải trí vô bổ. Mỗi lần kì thi trung học phổ thông bắt đầu, thay vì chọn trường phù hợp
với sở thích riêng, năng lực riêng của bản thân, người ta lại lựa chọn những ngành nghề đang “hot”, đang
được xã hội yêu thích. Lối sống chạy theo đám đông ấy, không chỉ có tác động đến một cá nhân mà còn ảnh
hưởng đến cả cộng đồng. Không chỉ bản sắc của mỗi cá nhân bị phủ nhận mà sự đi lên, phát triển của xã
hội cũng dần bị triệt tiêu.
+ Để in dấu được trong cuộc đời cũng như trong lòng người khác, mỗi cá nhân phải có đem đến
một giá trị sống riêng. Những giá trị ở đây không chỉ là những thành tựu cụ thể nào đó mà có thể chỉ là
những hành động nhỏ, những đóng góp giản dị trong đời sống thể hiện cái “tôi” của mỗi cá nhân, những
dấn ấn riêng đẹp đẽ. Nếu ví cuộc đời là một cuộc đua, có người khẳng định sự khác biệt của mình bằng
những thành tích ấn tượng, bằng chiến thắng ngoạn mục, nhưng cũng có người khẳng định sự khác biệt của
bản thân qua tinh thần thi đấu đẹp, qua sự nỗ lực không ngừng, cách vượt qua chướng ngại vật một cách
thông minh hay cách thưởng thức những cảnh đẹp bên đường đua mà không phải ai cũng nhìn thấy… Tất
cả những điều đó là biểu hiện của lối sống khác biệt. Khi khẳng định được bản thân qua những dấu ấn riêng
đó, con người sẽ được lưu lại trong lòng người xem với những ấn tượng đẹp đẽ, khó phai mờ.
+ Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rõ thế nào là “khác biệt”. “Khác biệt” không phải là làm những gì
trái với số đông, trái với văn hóa chung của cộng đồng. Cái khác biệt phải được xây dựng trên cơ sở là bản
sắc riêng của mỗi người, thuần phong mỹ tục của cả cộng đồng. Trong xã hội hiện nay, có không ít kẻ muốn
khẳng định “sự khác biệt” của bản thân bằng những hành động lố bích, đi ngược lại với những tiêu chuẩn
văn hóa. Những phong cách ăn mặc hở hang, những trò tiêu khiển khác người… đó không phải là cách để
con người khẳng định mình. Có không ít người tự tạo dấu ấn cho bản thân bằng những vụ việc tai tiếng.
Báo chí không ít lần đưa tin một cô người mẫu với những phát ngôn gây sốc, hay chuyện một chàng trai ảo
tưởng về bản thân và coi thường người khác. “Sự khác biệt” khi ấy không phải là nâng tầm giá trị mỗi người
mà là hạ thấp giá trị, vị thế của con người trong mắt cộng đồng. Có vô vàn cách để chúng ta ghi dấu ấn lên
cuộc đời, nhưng quan trọng dấu ấn đó sẽ trở thành một ánh hào quang luôn rực sáng hay một vết nhơ đáng
xem thường.

+ Dẫn chứng:
++ Câu danh ngôn:
+++ “Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

Mỗi số phận rất riêng, dù rất nhỏ
Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu”
(Eptusenco)
+++ “Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra để lưu lại dấu
ấn trên mặt đất, trong trái tim người khác” (Xu khôm linxki)
+++ “Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
(Thanh Hải)
+++ “Nếu bạn không dám mạo hiểm với những điều không bình thường thì bạn sẽ mãi chôn chân
với những điều bình thường” (Jim Rohn)
+++ “Sáng tạo chính là sự phân biệt của người dẫn đầu và kẻ theo sau” (Steve Jobs)
+++ “Đừng để sự ồn ào từ tiếng nói của người khác nhấn chìm tiếng nói từ trong chính bản thân
bạn. Hãy dũng cảm đi theo những gì mà trái tim và lý trí của bạn. Bằng một cách nào đó, chúng luôn biết
được những gì bạn thực sự muốn” (Steave Jobs)
+++ Bước đầu tiên hướng tới sự thành công là từ chối bị giam cầm bởi hoàn cảnh” (Mark Caine)
+++ “Tôi có được thành công nhờ lắng nghe những lời khuyên tốt nhất sau đó làm ngược lại”
(G.K.Chesterton)
++ Danh nhân:
+++ Steve Jobs, một người có công rất lớn cho việc sáng tạo và phát triển ngành công nghệ điện tử.
Ông sinh ra và được nuôi nấng bởi một cặp cha mẹ nuôi làm luật sư, từng bỏ học Đại học vì hoàn cảnh gia

đình khó khăn, nhưng ông đã khiến hàng ngàn người trên thế giới phải bỏ ra một số tiền không nhỏ vì các
sản phẩm mang thương hiệu Apple. Các sản phẩm của Apple luôn đi ngược lại với thị hiếu đám đông, không
bị phụ thuộc vào những trào lưu hiện hành của người sử dụng. Bằng cách riêng của mình, Apple đã chinh
phục được người tiêu dùng bằng những sản phẩm sáng tạo cao cấp, đạt đến sự hoàn thiện và không lâu sau
đó, những sản phẩm của Apple thậm chí đã định hướng thị hiếu đám đông đi theo những tiêu chuẩn của
mình. Đó là điều mà không phải hãng sản xuất nào cũng làm được. Dù đã qua đời bởi căn bệnh ung thư,
Steve Jobs vẫn luôn được nhắc đến như một huyền thoại với những người yêu công nghệ.
+++ Nick Vujic sinh ra với những khuyết thiếu cơ thể, nhưng anh vẫn đạt được những thành tựu
riêng và để lại dấu ấn riêng trong lòng mọi người bởi nghị lực phấn đấu hiếm có, bằng ý chí nghị lực vô
cùng đặc biệt.
- Luận điểm 3:


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

++ Xã hội phát triển, nhịp sống con người ngày một gấp gáp. Nếu không bắt nhịp, bạn sẽ nhanh
chóng bị hất văng khỏi đường đua, để rồi tan biến đi như một hạt cát. Tạo hóa kì diệu sinh ra con người đều
có đặc điểm riêng khác nhau, bởi vậy hãy cố gắng để ghi lại dấu ấn cá nhân của riêng mình trên mặt đất và
trong trái tim người khác.
++ Có thể ta không có khả năng phát minh sáng tạo như những vĩ nhân nhưng ta có thể sống đầy đủ
ý nghĩa cuộc sống của một đời người, có thể trở thành một người hữu ích với cộng đồng. Với nhận thức
“Sinh ra không phải để tồn tại mà để khác biệt”, mỗi người có thể đánh thức tiềm năng của bản thân để có
thể làm nên những điều kì diệu.
c. Kết bài:
Câu nói của Tân hoa hậu Thế giới 2015 để lại cho chúng ta một thông điệp ý nghĩa. Nó thể hiện
niềm tin về giá trị và vị thế của con người. Tư tưởng đó buộc ta phải có cái nhìn đúng đắn về con người và
định hướng lại lối sống của bản thân.
* Bước 3: Sau khi đã lập dàn ý cho bài văn, các em tiến hành triển khai những ý chính đó thành
những đoạn văn hoàn chỉnh. Lưu ý, đối với bài văn này, trong suốt quá trình làm, các em luôn cần phải sử
dụng đan xen các từ và cụm từ khóa “không phải để tồn tại”, “tạo sự khác biệt”. Việc nhắc lại các từ khóa

trong suốt quá trình triển khai bài viết giúp bài văn của các em luôn bám sát với mệnh đề được cho, thể hiện
sự logic, nhất quán.
Ngoài ra, như anh chị đã trình bày ở phần trên, đối với một bài văn nghị luận xã hội, việc thể hiện
các quan điểm riêng, để lại dấn ấn riêng của mình trong bài viết là một yêu cầu quan trọng đối với những
em có mục tiêu đạt điểm cao. Cụ thể, đối với đề bài này, các em có thể để lại dấn ấn riêng của mình rõ nét
nhất qua phần luận điểm ba – bình luận, liên hệ bản thân. Những trải nghiệm thực tế của các em về lối sống
dám khẳng định mình, dám thể hiện bản sắc riêng của mình là điều mà người chấm mong đợi. Các em có
thể bày tỏ những suy nghĩ riêng của mình về sự khác biệt của cá nhân các em so với những người khác là
gì: sự chân thành, những nỗ lực phi thường, một tài năng đặc biệt hay phong cách sống mới mẻ?
Anh chị tin rằng, nếu các em “tạo được sự khác biệt” trong bài viết này, đó đã là một thành công!
…………………………….
II. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (4 ĐIỂM)
Lưu ý chung:
Về mặt hình thức, bài làm của các em cũng phải có cấu trúc hoàn chỉnh của một bài văn (gồm 3 phần:
mở bài, thân bài, kết bài).
Về nội dung, đề bài nghị luận văn học gồm các dạng bài rất phong phú như: phân tích, cảm nhận về
một tác phẩm, một đoạn trích, một hình tượng, một chi tiết trong tác phẩm; so sánh văn học; nghị luận về
hai ý kiến đối với một tác phẩm, một đoạn trích; nghị luận về một vấn đề văn học… Vì thế, yêu cầu đầu
tiên là các em cần đọc thật kĩ đề bài, xác định “trúng” vấn đề cần nghị luận. Sau đó, các em nên gạch ra một


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

vài ý là luận điểm của bài làm để triển khai bài viết. Lưu ý là, khi phân tích thơ, phải trích dẫn thơ; phân
tích văn xuôi phải đưa ra được dẫn chứng.
Khi làm bài, các em cần chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn
trích. Trong dạng bài nghị luận văn học, các em cần tránh một số lỗi như: trích dẫn chứng sai, diễn xuôi thơ,
kể lể văn xuôi, không bình giá nghệ thuật của tác phẩm/ đoạn trích, suy diễn hoặc bình tán lan man nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm.
Ngoài yêu cầu cụ thể của từng câu hỏi, tổng thể bài thi môn Ngữ văn của các em nên được trình bày

sáng rõ, tránh tình trạng tẩy xóa nhiều, chữ viết cẩu thả. Thứ nữa là các em cần chú ý đến việc diễn đạt trong
bài làm: diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc, có sự liên kết giữa các câu, đoạn; tránh mắc lỗi chính tả, dùng từ,
đặt câu…


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

DẠNG 1: BÌNH LUẬN Ý KIẾN ĐÁNH VỀ HAI TÁC PHẨM
Đề 1:
Phân tích sức mạnh của tình yêu thương con người khi Mị cứu A Phủ (Trong tác phẩm Vợ
chồng A Phủ của Tô Hoài), Tràng đối với cô vợ theo (Trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân).
Đối với dạng đề này các em cần lưu ý:
- Giải thích, phân tích chi tiết, cụ thể từng ý kiến đánh giá
- Phân tích tác phẩm, tìm dẫn chứng để minh họa, chứng minh cho các ý kiến
- Nhận ra được mối liên hệ của các ý kiến đánh giá với chỉnh thể tác phẩm
- Khẳng định được vị trí, tầm quan trọng của ý kiến đánh giá với tác phẩm (hai ý kiến có thể trái ngược
nhau, nhưng không triệt tiêu nhau ngược lại còn bổ sung và củng cố cho nhau,..). Ý này các em có thể linh
hoạt sắp xếp đặt trước hoặc sau các luận điểm, tùy thuộc vào ý đồ diễn đạt của người viết.
Dưới đây là một số đề cụ thể:
Đề số 1:
Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là một người
phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là một người phụ nữ tự trọng, có
ý thức về phẩm giá của mình.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng nhân vật người vợ nhặt, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
(Trích đề thi thử Trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội)
Hướng dẫn làm bài:
a. Yêu cầu về kĩ năng:
- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác
phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương để làm bài.
- Vận dụng tốt các thao tác lập luận.

- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.
b. Yêu cầu về kiến thức
- Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác
đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.
- Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau đây:
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm
Phần này các em nên đưa ra những ý khái quát nhất về tác giả, tác phẩm và trình bày qua chủ
đề bao trùm tác phẩm để tạo tiền đề cho giải quyết các ý kiến.


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

- Kim Lân là một trong những nhà truyện ngắn có khiếu viết cảm động về đề tài nông thôn và người
nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê – những thú vui, sinh hoạt
văn hóa cổ truyền của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Văn phong của ông giản dị mà thấm thía,
chân thực và đầy xúc động về cuộc sống của người nông dân Việt Nam dưới lũy tre làng dù nghèo khổ,
thiếu thốn nhưng vẫn yêu đời, thật thà, chất phác, thông minh, hóm hỉnh và tài hoa.
- Tiền thân của truyện ngắn Vợ nhặt là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết sau khi Cách mạng tháng Tám thành
công nhưng còn dang dở, sau đó bị lạc mất bản thảo. Sau hòa bình lập lại 1954, Kim Lân dựa một phần
cốt truyện cũ để viết truyện Vợ nhặt.
- Truyện Vợ nhặt lên án, tố cáo tội ác của xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy con người đến nạn đói
khủng khiếp, khiến mạng người rẻ như cỏ rác. Nhưng người nông dân tuy nghèo đói và cực khổ đến
đâu, ngay cả khi kề bên cái chết, họ vẫn giàu tình yêu thương đồng loại, khao khát hạnh phúc gia đình.
Và không có gì có thể cướp đi niềm tin vào cuộc sống và tương lai của họ.
2. Giải thích các ý kiến
Đề bài chia ra hai ý kiến rõ ràng, các em nên đánh giá từng ý kiến một. Khi phân tích các ý kiến
các em nên chọn những dẫn chứng phù hợp, trách trích dẫn thừa, lan man. Đặc biệt, các em nên chú ý
đến bối cảnh xã hội – lịch sử của tác phẩm và cách tác giả đặt nhân vật của mình vào những không –
thời gian khác nhau để làm nổi bật các nét tính cách. Kết thúc việc phân tích, chúng ta cần tổng kết lại

ý kiến và chỉ ra đóng góp của ý kiến với việc xây dựng hình tượng nhân vật.
Giới thiệu chung: Người vợ nhặt là một nhân vật đặc biệt. Nhà văn không đặt cho chị một cái tên, không
tuổi, không quê quán họ hàng, xuất hiện giữa tỉnh bởi kiểu người như chị trong nạn đói năm 1945 là phổ
biến. Thời bấy giờ, người đàn ông không mất tiền mối mai đưa đám, chỉ ra đường vô tình “nhặt” một
người như thị là có vợ. Điều đó cho thấy tình cảnh khốn cùng, sự rẻ rúng đến tột cùng của thân phận
con người.
– Ý kiến thứ nhất: cho rằng nhân vật người vợ nhặt là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự
trọng.
Ý kiến trên có lẽ đã căn cứ vào một thực tế của truyện:
+ Người vợ nhặt trong tác phẩm là hiện thân của sự “nghèo đói” đến cùng cực, là một số không tròn
trĩnh: không gia đình, không quê hương, không quá khứ, cái tên cũng không có (từ đầu đến cuối tác
phẩm được định danh là “cô ả”). Mọi chi tiết miêu tả về người phu nữ này chủ yếu hiện lên thông qua
cuộc sống cơ cực mưu sinh nơi phố huyện nghèo với những người bạn cùng trang lứa với hình dạng
“người đàn bà vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo rách như tổ đỉa” và những
lần chòng ghẹo với anh cu Tràng.


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

+ Nhưng trên hết, chị ta là một người đang đói. Đói đến mức lu mờ ý thức, quên đi sĩ diện cơ bản của
người phụ nữ, theo không nhân vật Tràng chỉ sau hai lần gặp, nghe ba câu nói đùa, ăn bốn bát bánh
đúc…
Cái đói đã hành hạ đẩy chị đến bước đường cùng . Sự thay đổi của thị rất nhanh sau hai lần gặp
gỡ, từ một người đàn bà nhanh nhẹn, tháo vát hôm sau chị ta giống như người ăn mày rách rưới, quần
áo tả tơi như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Bộ dạng cong cớn, đanh đá, ăn nói
chao chát,chỏng lỏn. Cái đói biến chị thành kẻ liều lĩnh, cùng đường. Hai con mắt của thị sáng lên trước
miếng ăn, thị quên mất cái e thẹn, nết na, kín đáo vốn có của người phụ nữ. Chị nói với Tràng một cách
thẳng thắn: “Ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”, rồi cong cớn trước mặt Tràng “Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì”.
Rồi sà xuống “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Ăn xong thị cầm dọc
đôi đũa quệt ngang miệng: “Hà ngon!”. Sau bữa ăn cứu đói đó, thị sẵn sàng theo Tràng về làm vợ. Kim

Lân miêu tả sự thê thảm của con người trong cảnh đói nhưng ông không đi sâu vào nỗi đau đó mà lướt
qua nhưng đủ cho người đọc thấy nhân cách của con người đã bị cái đói bào mòn đến mức độ như thế
nào. Miêu tả cảnh tượng được cho là hạ thấp phẩm giá của người phụ nữ đó nhưng tác giả vẫn dành cho
nhân vật của mình sự cảm thông đầy trân trọng.
– Ý kiến thứ hai: khẳng định nhân vật người vợ nhặt là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về
phẩm giá.
+ Ý kiến này đã nhìn nhận nhân vật như là một nạn nhân của nạn đói, cảm thông tình thế đặc biệt của
nhân vật và có cái nhìn yêu thương, trân trọng đối với những biểu hiện đáng quý của người vợ nhặt.
+ Mọi điệu bộ đanh đá, chỏng lỏn, chao chát của người phụ nữ dường như chỉ để chống chọi với cảnh
đời cơ cực. Còn bản chất thực sự của người vợ nhặt hiện lên rõ nét hơn khi đi với Tràng. Chị ta hiện lên
vẹn nguyên hình dáng của nàng dâu mới; e ấp, dịu dàng và cũng thật đằm thắm.
++ Không chịu chấp nhận lời nói đùa ăn trầu, nghiêng nón che mặt và tỏ vẻ ngượng nghịu khó chịu khi
bị nhìn soi mói trên đường về nhà Tràng.
Người đàn bà vẻ ngoài tưởng chừng bất cần đó khi theo anh cu Tràng về cũng thấy vừa tủi thẹn,
vừa tủi phận, ngượng ngùng. Trước cái vẻ “phởn phơ”, “tủm tỉm cười một mình và hai con mắt thì sáng
lên lấp lánh” của Tràng, vẻ e thẹn của thị càng rõ nét hơn “Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống,
cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Cái dáng vẻ đó không
giấu nổi những cặp mắt tò mò của người dân xóm ngụ cư, người ta thấy “thị thèn thẹn hay đáo để”. Khi
nhận thấy mọi ánh mắt của người xung quanh đổ dồn về phía mình “thị càng ngượng nghịu, chân nọ
bước díu vào cả chân kia. Ngay đến khi gặp bà cụ Tứ, thị vẫn còn e thẹn, khép nép. Qua những chi tiết
đó chúng ta nhận thấy cái vẻ ngoài vốn chao chát, trơ trẽn, cong cớn kia không phải là bản chất thực sự
bên trong con người này. Vì tận sâu thẳm trong tâm hồn, chị vẫn là một người con gái giàu lòng tự


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

trọng. Đó chính là điểm sáng của tác phẩm. Cái đói, cái khổ dù có tàn bạo, mãnh liệt đến đâu cũng thể
vùi lấp được bản chất, nhân phẩm tốt đẹp của con người.
++ Khi bước vào nhà Tràng người phụ nữ ấy “ngồi ở mép giường hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt
bần thần”. Một trạng thái rụt rè, lo âu và có phần hơi chông chênh cũng như tâm trạng ngổn ngang trăm

mối tơ lòng của thị vậy.
++ Nét đẹp của người phụ nữ đó càng biểu hiện rõ hơn sau khi gặp bà cụ Tứ và buổi sáng ngày hôm
sau.
++ Chi tiết, thị “điềm nhiên và vào miệng” bát chè cám mẹ chồng đưa trở thành điểm sáng của tác phẩm.
Chị đã không xua đi niềm vui tội nghiệp của bà mẹ già và như hòa vào với hoàn cảnh sống của gia đình
mới. Bóng dáng của thị mang đến sự ấm áp cho không gian vốn xám ngắt của ngôi nhà và mang đến
một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối cận kề bên bờ của cái chết.
Kim Lân đã miêu tả thật tinh tế và cảm động những bước chân ngập ngừng đầu tiên về nhà nhà
Tràng của thị. Cái dáng điệu khép nép trước mẹ chồng, rồi tiếng chào lúng túng và cả những lời đối đáp,
cái “phát đánh đét” vào lưng, cái củng vào trán Tràng kém theo một tiếng “dơ” đã đem đến cho người
đàn bà tội nghiệp cái hạnh phúc của một nàng dâu đích thực. Cái hạnh phúc ấy đã đem đến sự đổi thay
thật sự trong tính cách của chị. Chị dậy sớm cùng mẹ chồng nấu nướng, thu dọn, quét tước nhà cửa.
Ngồi nhà sạch quang ấm áp và chị cũng thành người phụ nữ hiền thục, chăm chỉ, đến nỗi lam cho Tràng
phải ngạc nhiên: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không
còn vẻ gì chao chát chỏm lỏm như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh”. Thật kỳ diệu, hạnh phúc, lòng nhân
ái đã làm cho người ta đổi thay, vui vẻ, tự tin vượt lên tăm tối của thực tại, vươn tới những ngày tương
sáng.
Người vợ nhặt của Tràng còn là một người phụ nữ thông minh, thức thời, là tác nhân quan
trọng để làm đổi thay tình cảm, nhận thức của Tràng. Chị không chỉ đem đến tình yêu, hạnh phúc cho
người đàn ông mà còn khai thong cho cái đầu ngờ nghệch của anh qua câu chuyện đóng thuế ở Thái
Nguyên. Trong cái đầu ngờ nghệch của anh qua câu chuyện đóng thuế ở Thái Nguyên. Trong đầu Tràng
hiện ra cảnh những người nghéo đói
Sự thay đổi to lớn nơi người vợ nhặt, khi nữ tính được thức tỉnh, thị cũng là người phụ nữ dịu dàng,
hiền hậu như bao người phụ nữ Việt Nam. Dù ban đầu, vì cái đói, thị theo không Tràng nhưng đó không
phải tất cả mà còn chứa đựng lòng khát khao, ham sống đến mãnh liệt. Cái nghèo, cái đói, cái khổ có
thể làm thị trở nên xấu xí về hình thức, có lúc “xem nhẹ” lòng tự trọng nhưng sâu thẳm trong tâm hồn
ấy vẫn có những vẻ đẹp đáng quý.
3. Cảm nhận về hình tượng người vợ nhặt
Thí sinh có thể có những cảm nhận khác nhau nhưng vẫn cần nhận ra những đặc điểm cơ bản gắn với
cảnh ngộ và phẩm chất của nhân vật được Kim Lân khắc họa đầy chân thực và cảm động:



Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

– Bị nạn đói dồn vào cảnh ngộ bi thảm nên trở nên liều lĩnh, táo bạo, chấp nhận theo không người đàn
ông.
– Trong bi thảm, người vợ nhặt vẫn có biểu hiện ý tứ, mực thước, có ý thức giữ gìn phẩm giá.
– Trong bi thảm, nhân vật người vợ nhặt vẫn âm thầm nuôi dưỡng niềm khát khao cuộc sống gia đình,
niềm mỏi mong chính đáng về cuộc sống ngày mai.
4. Bình luận về các ý kiến
Đây là bước để các em có cái nhìn toàn diện về vấn đề mình vừa mổ xẻ. Các đánh giá phải thể hiện
được tính khái quát cao và mở rộng vấn đề.
– Cả hai ý kiến đều có cơ sở dù cách đánh giá về nhân vật có sự trái ngược nhau.
– Ý kiến thứ nhất thiên về hiện tượng, về biểu hiện của nhân vật. Ý kiến thứ hai vẫn có cơ sở từ biểu
hiện và hành động nhân vật nhưng đã có sự lưu ý về bản chất nhân vật.
– Có thể đề xuất thêm ý kiến thứ ba: con người là một thực thể đa đoan, trong nhân vật người vợ nhặt
có cả hai điều được nêu trên nhưng điều thứ hai mới là bản chất.


Chắt lọc tinh túy trong chuỗi đề thi thử THPT quốc gia 2016- môn Ngữ Văn

PHẦN THỨ BA
MỘT SỐ DẪN CHỨNG HAY CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI



×