T ổng k ết nhanh ngh ệthu ật c ủa (Tây Ti ến, Đ
ất Nư
ớc ,
Sóng, Vi ệt B ắc)
8 Tháng 12 2014 lúc 21:57
Dù phân tích tác ph ẩ
m nào ta c ũ
ng luôn c ần chú ý đ
ế n Ngh ệthu ật c ủ
a tác ph ẩ
m đó, vì v ậy vi ệc nh ớnh ữ
ng ý
chính c ủ
a ngh ệthu ật s ẽgiúp ta có đ
ư
ợ c đi ểm s ốc ần thi ết :)) Hãy th ửtham kh ảo nhé :v
1.
Tây ti ến:
N ỗi nh ớđ
ư
ợ c bi ểu hi ện đ
ộ c đá o, tài hoa qua c ảm h ứ
ng lãng m ạn và bút pháp bi tráng
C ảm h ứng lãng m ạn : là c ả
mhứ
ng mãnh li ệt c ủa cái tôi đ
ầ y tình c ả
m, ưa thích di ễn t ảnh ữ
ng hình ảnh
tuy ệt m ĩphi th ư
ờng s ửd ụng các th ủpháp đ
ố i l ập, c ư
ờng đi ệu, giàu t ư
ởng t ư
ợng bay b ổ
ng. Trong Tây Ti ến, c ảm
h ứng lãng m ạn bao trùm bài th ơ, nh ư
ng đ
ậ m nh ất là kh ổ1, kh ổ2, miêu t ả1 Tây B ắc hùng v ĩ và th ơ
m ộng, v ừa d ữd ằn quy ết li ệt v ới “ đ
ố c th ăm th ẳm”, “ thác g ầm thét”, “ c ọp trêu ng ư
ờ i ”,…. v ừ
a d ịu
dàng th ơm ộng “ m ư
a xa kh ơi”, “ mùa em th ơm n ếp xôi”, “hoa đo ng đ
ư a ”….Qua đó ta c ũng th ấy tâm
h ồn lãng m ạn hào hoa c ủa ng ư
ờ i lính Tây Ti ến và c ảm h ứ
ng th ơbay b ổng c ủa Quang D ũng.
Bút pháp bi tráng: là dám nhìn th ẳng h ẳn vào cái bi, t ứ
c là cái ch ết chóc, bi th ư
ơng nh ư
ng không bi lu ỵmà
v ẫn đem đén cho nó 1 v ẻđ
ẹ p hào hùng , tráng l ệ. Trong Tây Ti ến, bút pháp bi tráng n ằm ở kh ổ1,3,4 đ
ậm
nh ất là kh ổ3 miêu t ảng ư
ờ i lính trong t ột cùng gian kh ổhi sinh : “ đoàn quân không m ọc tóc”, “áo
bào thay chi ếu anh v ềđ
ấ t ”….Song đó c ũng là nh ữ
ng chi ến binh đ
ầ y khí phách “m ắt tr ừ
ng g ử
i m ộng
qua biên gi ới”…. Ốm mà không y ếu, khí phách hiên ngang đ
ậ m ch ất lý t ư
ở n g và hình t ư
ợ n g b ất t ử
là b ức t ư
ợ n g đà i tuy ệt đ
ẹ p v ềng ư
ờ i lính c ụH ồ.
Bút pháp t ạo hình, t ạo âm đ
ặ c s ắc…
2.
Sóng:
Hình t ư
ợ n g sóng – em: tách r ời, hòa quy ện, soi chi ếu c ộng h ư
ở n g.
Nh ịp th ơ: vi ết theo th ểng ũngôn v ới nh ữ
ng câu th ơ5 ch ữli ền m ạch, h ầu nh ưkhông ng ắt
nh ịp, g ợi lên nh ịp đi ệu nh ữ
ng con sóng bi ển: lúc dào d ạt sôi n ổi, lúc sâu l ắng d ịu êm và c ứnh ịp
nhàng miên man nh ưth ếch ạy su ốt bài th ơ, tri ền miên không d ứ
t.
C ấu trúc ngôn ng ữ
: t ạo m ột âm đi ệu d ập d ờn chìm n ổi vô h ạn vô h ồi. Sóng m ư
ợ n hình t ư
ợn g
con sóng bi ển đ
ể di ễn đ
ạ t nh ữ
ng l ớ
p sóng lòng nhi ều cung b ậc, s ắc thái c ảm xúc v ớ
i âm đi ệu bài
th ơlà n ư
ớ c hòa tr ộn thanh âm, nh ịp đi ệu c ủa sóng v ớ
i nh ữ
ng tr ắc tr ở
, khát khao nh ớth ư
ơn g h ờ
n
gi ận đa n xen, ti ếp n ối trong cõi lòng ng ư
ờ i con gái đa ng yêu. Xuân Qu ỳnh đã tri ệt đ
ể t ận d ụng l ối t ổ
ch ức theo nguyên t ắc t ư
ơn g x ứ
ng, hô ứn g, trùng đi ệp . Nh ất là vi ệc t ạo ra các c ặp t ừ
, các v ếcâu,
các c ặp câu, th ậm chí ngay c ảcác kh ổth ơc ũng hình thành các c ặp đ
ối x ứ
ng, k ếti ếp luân phiên
đắp đổi nhau v ếB –T. Nh ờđó qua âm đi ệu , ng ười đọc d ễliên t ưởn g đến hình ản h nh ữ
ng con sóng
ch ập trùng vô t ận trên m ặt bi ển.
Th ủpháp ẩn d ụ, so sánh, trùng đi ệp , câu h ỏi tu t ừ…
Đất n ước
Hình th ức th ơchính lu ận - tr ữtình: v ừa ch ặt ch ẽv ừa phóng túng
+ S ựphóng túng c ủa c ảm xúc kh ến đo ạn th ơhi ện lên d ư
ớ i d ạng 1 l ờ
i trò chuy ện tâm tình.
(có lúc nói v ới “em”, có lúc nói v ới chính mình ). Ng ư
ời đ
ọ c d ễb ị cu ốn đi trong m ạch c ảm xúc sôi n ổi
đằm th ắm c ủa tác gi ả, nh ất là khi đo ạn th ơngân lên nh ữ
ng ti ếng th ủth ỉ đậm đà tính tâm s ựnày.Em
3.
-
là m ột đại t ừphi ếm ch ỉ 1 th ủpháp tr ữtình quen thu ộc để thi s ĩ d ễb ềb ộc b ạch c ảm xúc. Cách làm
này khi ến cho l ời địn h ngh ĩa “ Đấ
t N ướ
c ” thoát kh ỏi khung khái ni ệm khô khan d ểtr ởthành cu ộc trò
chuy ện thân m ật mà t ưdo bay b ổng.
+ D ướ
i l ớp sóng c ảm xúc phóng túng là m ạch ng ầm chính lu ận ch ặt ch ẽv ới m ột h ệth ống
l ập lu ận : Hình t ượ
n g l ớn Đất N ướ
c được Nguy ễn Khoa Đi ềm c ảm nh ận trên 3 ph ươ
n g di ện chính:
b ềdài th ời gian, b ềr ộng không gian,b ềsâu v ăn hoá. C ả3 ph ươ
n g di ện này đều hút vào đi ểm sáng
t ưt ưở
n g Đất N ướ
c c ủa Nguy ễn Khoa Đi ềm được th ơhoá, tr ữtình hoá nên giàu s ứ
c thuy ết ph ục.
Vi ệc s ửd ụng ch ất li ệu dân gian:
+ M ỗi s ợi d ọc s ợi ngang d ệt nên hình t ượ
n g th ơNK Đđều óng ánh s ắc màu đặc bi ệt c ủa v ăn
hóa dân gian_ đó l ại là 1 s ứ
c hút n ữc ủa “ Đấ
t N ướ
c ”. V ốn v ăn hoá dân gian phong phú đã h ỗtr ợđắc
l ực cho NK Đđưa vào đo ạn th ơở m ứ
c độ đậm đặc nh ữ
ng y ếu t ốc ủa truy ện c ổtích, truy ền thuy ết,
huy ền tho ại, ca dao, dân ca, phong t ục t ập quán,……….t ạo nên1 khí quy ển dân gian độc đá o đầy
quy ến r ũ. Th ơc ổth ườ
n g dùng th ườ
n g dùng nh ữ
ng hình ản h ước l ệcao xa, t ạo 1 kho ảng cánh
thiêng để di ễn t ảni ềm ng ưỡ
n g v ọng vô biên c ủa con ng đối v ớ
i giang s ơ
n T ổqu ốc. Lý Th ườ
n g Ki ệt
ph ải m ượ
n t ới “ đếc ư
”, “thiên th ư
”, Nguy ễn Đì nh Chi ểu c ũng hoà vào đất n ướ
c qua “1 m ối xa th ưđồ
s ộ”, “2 v ầng nh ật nguy ệt chói loà”….H ệth ống ngôn t ừm ớ
i m ẻc ủa NK Đl ại mang n ỗl ự
c xoá nhoà
kho ảng cách để bình d ị hoá đất n ướ
c , để đất n ướ
c hoà thân vào c ổtích, ca dao, dân ca, vào đời
s ống h ằng ngày. Nguy ễn Khoa Đi ềm đã có công đưa đất n ướ
c t ừtr ờ
i cao th ượ
n g đế, t ừngai vàng
vua chúa xu ống mi ếng tr ầu c ủa bà, búi tóc c ủa m ẹ, xu ống cái kèo c ột trong nhà ta ở, xu ống h ạt g ạo
1 n ắng 2 s ươ
n g ta ăn m ỗi ngày. Đất N ướ
c ở trên ta mà ở quanh ta, ở trong ta. Đấ
t N ướ
c là m ỗi
ng ườ
i , m ỗi ng ườ
i là Đất N ướ
c . Đấy là cái nhìn m ớ
i m ẻgây xúc độn g sâu s ắc cho ng đọc .
+ Khí quy ển dân gian còn m ởra 1 không gian ngh ệthu ật bay b ổng m ộng m ơk ết thành nh ữ
ng câu
th ơth ật đẹp : “ Đấ
t N ướ
c là n ơi em đá nh r ơi chi ếc kh ăn trong n ỗi nh ớth ầm”. 1 áng kh ăn t ươ
ng t ư
bay ngang qua n ỗi nh ớ, đậu vào l ời địn h ngh ĩa Đất N ướ
c , 1 n ỗi ni ềm kh ắc kho ải con ng ườ
i , có kh ả
n ăng đá nh th ứ
c ở ng ườ
i đọc các nh ạc đi ệu đầy mê ho ặc c ủa ca dao:
“ Kh ăn th ươ
n g nh ớai
Kh ăn r ơi xu ống đất
Kh ăn v ắt lên vai……”
Đất N ước m ộng m ơh ơn qua áng kh ăn tình t ứe ấp c ủa ca dao.
=> V ăn hóa dân gian là v ăn hóa c ủa nhân dân. Vi ệc s ửd ụng v ăn hóa dân gian không ch ỉ là m ột th ủ
pháp ngh ệthu ật, 1 cách v ận d ụng sáng t ạo truy ền th ống folklore (v ăn hóa dân gian) c ủa dân t ộc mà
còn là cách t ưduy th ấm nhu ần quan ni ệm “ Đấ
t N ướ
c c ủa Nhân dân”, là s ựth ểhi ện sâu s ắc c ốt lõi
ấy trong s ựsáng t ạo hình t ượn g th ơ.
4. Vi ệt B ắc.
- Bài th ơ“Vi ệt B ắc” có ngh ệthu ật đậm đà tính dân t ộc.
+
S ửd ụng thành công th ểth ơl ục bát quen thu ộc c ủa dân t ộc, d ễđi vào lòng ng ườ
i
+
Xây d ựng được k ết c ấu độc đá o, sáng t ạo
+
C ặp đại t ừnhân x ư
ng “ mình_ ta” bi ến hóa lình ho ạt
+
Nh ững bi ện pháp tu t ừquen thu ộc (so sánh, ẩn d ụ, t ượ
n g tr ư
ng…..) v ớ
i cách ngh ĩ c ủa qu ần
chúng được dùng nhu ần nhuy ễn.
+
Trùm lên t ất c ảlà m ột gi ọng th ơtâm tình, th ươ
n g m ến, b ộc l ộm ột phong cách th ơtr ữtình –
chính tr ị đậm đà b ản s ắc dân t ộc mà c ũng r ất hi ện đại c ủa T ốH ữ
u.
--> Nội dung chính trị được diễn tả bằng âm hưởng dân gian đậm đà. Bao trùm đoạn th ơ là n ỗi nh ớ
thương da diết được diễn tả bằng âm hưởng luyến láy của ca dao, tạo ra những cặp câu 6/8 nh ịp
nhàng, uyển chuyển như một khúc hát ru kỉ niệm, hát ru nghĩa tình kháng chiến. Tác giả còn s ử
dụng phép lặp, phép đối để tăng cường âm điệu của lời ru: từ “ nhớ” được lặp lại 5 lần trong 10 câu
thơ, các đại từ “ta – mình” sánh đôi nhau, cảnh và người cứ song song kề vai nhau... tạo nên cái
nhịp nhàng như vỗ về niềm thương nhớ khôn nguôi của con người trong cuộc chia li.
Cảnh chị em Việt Chiến khiêng bàn thờ má sang gửi chú Năm (Những đứa con trong gia đình
- Nguyễn Thi)
Đoạn văn vẫn được nhiều người cho là hay nhất truyện: đoạn tả chị em Chiến, Việt khiêng bàn th ờ
mẹ, sang nhà chú.
1 Vị trí: Ngày trước khi 2 chị em lên đường tòng quân, được Việt nhớ lại khi anh ta Ngất đi tỉnh lại ở
chiến trường.
2 Giá trị:
2.1. NỘI DUNG:
- Chiều sâu của Hiện thực:
Con đường quen thuộc bỗng thấy có thêm mùi hoa cam thoảng lại tự chân vườn. Những đứa con
trong một gia đình bây giờ mỗi người sẽ một nơi, không còn được chăm sóc cho bàn th ờ má, đó là
nỗi đau mà rất nhiều gia đình Việt phải chịu đựng, đó là hiện thực chiến tranh mà Nguyễn Thi không
né tránh. Nó biểu thị sâu sắc mối quan hệ giữa GIA ĐÌNH và ĐẤT NƯỚC.
- Tầm cao của Lý tưởng:
+ TRƯỞNG THÀNH: Không khí hết sức thiêng liêng. Với Việt, cái không khí ấy biến anh thành con
người khôn lớn. Lần đầu tiên Việt hiểu rõ lòng mình để thấy “thương chị lạ” và để thấy “mối thù
thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”.
--> So sánh: Việt của ngày hôm qua - trẻ con lộc ngộc vô tư (dẫn chứng)
Việt của ngày hôm nay - ý thức được trách nhiệm
+ TRUYỀN THỐNG: Kết hợp "bàn thờ má" - "mối thù thằng Mĩ đè nặng trên vai" : Thế hệ trước đã
hi sinh, nhưng "thác là thể phách còn là tinh anh" họ sẽ sống mãi trong những đứa con, s ẽ luôn là
lời nhắc nhở thế hệ sau phải tiếp nối truyền thống
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
--> Chị em Chiến, dáng vóc khỏe, to, giang cả thân người lên nhấc bổng bàn th ờ. Nghĩa là thế h ệ
sau đã cứng cáp, trưởng thành. Những đứa con trong gia đình đã đủ sức để bay xa, xa hơn cha mẹ. Để
họ đưa truyền thống ấy hòa vào biển lớn của dân tộc.
2.2. NGHỆ THUẬT:
-Hiện thực cách mạng gay gắt cho thấy vận mệnh dân tộc, giai cấp trở thành vấn đề của mỗi gia
đình, mỗi cuộc đời.
-Chất sử thi hiện lên ngay trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
- Ngôn ngữ giàu chất hiện thực, đậm màu sắc Nam Bộ, gọn gàng, giản dị, chắc nịch, thiên về mô tả
hành động, thể hiện tích cách phóng khoáng, mạnh mẽ.
- Hiện lên trong dòng hồi ức của Việt --> Chi tiết đáng nhớ nhất, ấn tượng sâu đậm trong Việ
Kh ổ 1 Đàn ghita c ủa Lorca
14 Tháng 6 2014 lúc 0:28
Khổ thơ 1
Câu 1,2,3: Không gian văn hóa, chính trị TBN
Câu 1: Những tiếng đàn bọt nước
Những tiếng đàn: Gợi nhạc cụ truyền thống đất nước Tây Ban Nha
+ Hình ảnh tiếng đàn, cây đàn xuất hiện nhiều trong bài thơ như nốt nhạc chủ đạo
+ Gợi đất nước TBN của tự do, âm nhạc, đồng cỏ mênh mông, con người phóng khoáng
Bọt nước:
+ Bọt nước hiện rồi tan: Như sự bất tử của Nghệ thuật, đặc biệt của văn hóa dân gian TBN
+ Mong manh, dễ vỡ: Như sinh mệnh của người nghệ sĩ. Đầy trớ trêu khi người sáng tạo ra cái bất
tử (nghệ thuật) lại thường chịu số phận oan khuất.
ð Bước đầu gợi ra số phận bi phẫn của Lorca
Câu 2: Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt.
Hình ảnh đấu trường bò tót, rất quen thuộc với đất nước Tây Ban Nha, gợi ra một dân tộc
với tinh thần thượng võ, khát vọng hòa bình.
Là những hình ảnh ám ảnh trong thơ Lorca: Con ngựa đen vầng trăng đỏ. Là “Con bò tót của
định mệnh” oai hùng – tuyệt đẹp.
Là cuộc chiến đầy cam go của người nghệ sĩ, chiến sĩ Lorca trong khát vọng cách tân ngh ệ
thuật và chống lại nền chính trị độc tài phát xít
Chúng là những tương phản kín đáo mà gay gắt : âm thanh hồn nhiên - sắc màu chói gắt,
tiếng đàn thảo dân - áo choàng đấu sĩ, vẻ khiêm nhường - sự ngạo nghễ, niềm hân hoan - nỗi kinh
hoàng, nghệ thuật - bạo lực, thân phận bọt bèo - thực tại tàn khốc...
Câu 3: Lila lila lila
Lorca tự nguyện dấn thân vào cuộc chiến không cân sức. Cuộc quyết đấu được đặt trên nền
âm thanh da diết của tình yêu và sứ mệnh cao cả.
Nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc
phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời trình diễn ca khúc. Nó t ựa những
tiếng đàn đệm cuối cùng nhằm tạo những dư âm sau khi lời hát đã ngừng.
Mà cũng có thể hình dung nó như tiếng huýt sáo ngẫu hứng của người ca sĩ trên nền nhạc
khi diễn tấu. Ngẫu hứng mà đầy xao xuyến.
Về nghĩa, lila lại chính là một loài hoa có màu tím ngát rất được người phương Tây ưa
chuộng : hoa lila - tức hoa tử đinh hương. Chuỗi âm thanh kế tiếp gợi hình ảnh nh ững tràng hoa
chuỗi hoa bật tím liên tiếp. Đó là những đoá hoa người đời, người thơ thầm kính vi ếng h ương hồn
Lorca hay chính là ngàn muôn đoá hoa của sự sống đang nảy nở từ cái ch ết đau thương của nhà
thi sĩ, thể hiện sức sống bất diệt của những giá trị chân chính trên cõi đời này.
Những âm thanh da diết đầy kiên nhẫn
Chốt: Hình ảnh đất nước TBN như bức phông nền văn hóa, chính trị độc đáo, sôi động, để hình ảnh người
nghệ sĩ, chiến sĩ Lorca hiện lên.
Câu 4,5,6. Lorca giữa âm thanh mênh mông, thời gian thăm thẳm
Câu 4: Đi lang thang về miền đơn độc:
Những thảo nguyên mênh mông, yên ngựa, kị sĩ và 1 nghệ sĩ cô đơn và tự do, 1 kị sĩ lang
thang trên nẻo đường, 1 ca sĩ dân gian ngêu ngao tiếng hát
Thanh bằng trong câu thơ, âm tiết mở, mở ra không gian thật mênh mông, là khao khát, ước
mơ, của một tâm hồn nghệ sĩ
“Sóng ơi, sóng về đâu? Tôi cười và trôi đi/ đến tận bờ biển cả/ Biển ơi biển về đâu? “
Đó là những mảnh đất không dấu chân người … là khát khao của những người nghệ sĩ tiên phong
Miền đơn độc, có thể là không gian hoang vắng, bi kịch và số phận của người nghệ sĩ – luôn
khai phá và cô đơn, đó không chỉ là số phận mà còn là phẩm chất của những ng ười tiên phong.
Câu 5: Vầng trăng chuếnh choáng
- Vầng trăng – cái đẹp, luôn ám ảnh trong thơ Lorca, nhưng biểu tượng, ẩn ức (con ng ựa đen vầng
đỏ)
- Chếnh choáng. Sắc thái tượng hình, nhập nhòa, xô lệch sau l ưng ng ựa của con người. Tâm thế
của người nghệ sĩ: xuất thần, thăng hoa, hay là nghệ sĩ mộng du, chơi vơi đi theo tiếng gọi huy ền
bí, về một nẻo đường chưa dấu chân người.
Câu 6. Yên ngựa mỏi mòn
Thời gian như không có điểm dừng, cảm nhận về cái tôi chưa biết, con đường khai phá, và
cuộc chiến của ông k cân sức, trên hành trình ấy đôi khi người nghệ sĩ yếu lòng, bất l ực, mệt mỏi.
Sự tri âm của Thanh Thảo với Lorca, Nhà thơ đất Quảng Ngãi đã hiểu được tấm lòng, cảm
xúc và vẻ đẹp của Lorca. Liên hệ : Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh Kí
Chốt: Hình ảnh Lorca chấp chới giữa cái đẹp đẽ, kì vĩ của một thiên tài với cảm xúc, tình yêu của một người
nghệ sĩ tiên phong.
Về cách nhận dạng đề thi
Về cách nhận dạng đề thi
Dạng 1: Phân tích, bình giảng:
Thông thường, chúng ta sẽ không khó khăn gì với loại câu hỏi đã được xác định rõ ràng trên câu
chữ, chẳng hạn:
- “Phân tích vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù”,
-“Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây thôn Vĩ Dạ…”,
- “Tại sao, trong Một người Hà Nội, Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà Hiền là “hạt bụi vàng”c ủa Hà
Nội?”,
- “Bình luận câu nói của Nam Cao trong tác phẩm Đời thừa: “Văn chương không cần đến những
người thợ khéo tay…”.
Trong bốn mẫu đề trên đây, thao tác cần phải lựa chọn đã được xác định rõ trong ba đề (phân tích,
bình luận, bình giảng). Chỉ duy nhất một câu, yêu cầu đề hỏi là Tại sao? Ta có thể hi ểu ở đó đề thi
yêu cầu học sinh sử dụng thao tác giải thích.
Dạng 2: Đề kẹp của 2 tác phẩm
Trong các dạng đề thi, có thể có trường hợp phức tạp hơn. Chẳng hạn, đề ra yêu cầu nối kết chủ đề
của hai hoặc nhiều tác phẩm khác nhau như:
-“Cùng viết về Tây Bắc, Quang Dũng trong bài Tây Tiến viết…Chế Lan Viên trong bài Tiếng hát con
tàu viết…”;
-“Cảm hứng quê hương đất nước trong hai bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu và Đất nước của Nguyễn
Khoa Điềm”,
- “Vẻ đẹp của hình ảnh thiên nhiên qua Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông (của
Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường)”;
-“Cảm nhận về hai đoạn thơ sau đây trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử và Tràng giang của
Huy Cận…”;
-“Nêu cảm nhận về hai đoạn thơ của Nguyễn Bính trong bài Tương tư và T ố Hữu trong bài Việt
Bắc”…
Với dạng câu hỏi này, thí sinh phải tìm được điểm giống và khác nhau của hai tác phẩm, phải l ựa
chọn cách xử lí đề sao cho hợp lí nhất: làm bài theo hướng khái quát chung và so sánh trên t ừng
vấn đề, hay tách riêng phân tích theo từng bài rồi sau đó mới đi đến khái quát để tìm ra đặc đi ểm
chung?
Dạng 3: Nêu cảm nhận
Cũng có những dạng đề, do câu chữ được rút gọn tối đa, nên thí sinh khi đặt bút làm bài ph ải suy
xét cẩn thận. Chẳng hạn, gần đây trong các kì thi đại học xuất hiện kiểu đề không ghi rõ yêu cầu cụ
thể của thể văn như phân tích, bình giảng, hay chứng minh mà chỉ nêu ngắn gọn: cảm nhận (anh/
chị cảm nhận như thế nào…).
Cảm nhận thuộc thể văn nào, giải thích, chứng minh, bình luận hay phân tích? Đây là câu h ỏi không
dễ trả lời một cách rạch ròi.. Với dạng câu hỏi đó, thực chất bài làm của học sinh là s ự t ổng hợp của
tất cả các phương pháp, chỗ nào cần giải thích thì giải thích, chỗ nào cần phân tích, ch ứng minh thì
phân tích chứng minh. Cũng không nên quá băn khoăn về câu chữ của đề. V ới học sinh, yêu cầu
trước mắt chỉ là một bài làm tốt.
Dạng 4: Lựa chọn, đánh giá
Gần đây đề thi còn có dạng đưa ra những lời bình luận, đánh giá, sau đó yêu cầu thí sinh phải lựa
chọn rồi đưa ra lý lẽ lập luận và đánh giá của mình. Ví như
*Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu, từng có ý
kiến cho rằng: đó là tiếng nói của cái tôi vị kỉ tiêu cực. Lại có ý kiến khẳng định: đó là tiếng nói của
cái tôi cá nhân tích cực.
Từ cảm nhận của mình về niềm khát khao đó, anh/chị hãy bình luận những ý ki ến trên.
*Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguy ễn Minh Châu, có ý ki ến cho
rằng : nét nổi bật ở người nghệ sỹ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp th ơ mộng của
cảnh vật. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là m ột tấm lòng đầy
trăn trở, lo âu về thân phận con người.
Từ cảm nhận của mình về nhân vật Phùng, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Với dạng câu hỏi này, thí sinh bắt buộc phải lựa chọn xem ý kiến nào đúng ý ki ến nào sai, r ồi nêu
nhận xét của mình, thông thường xảy ra 2 trường hợp. Một là có 1 ý kiến sai, 1 ý kiến đúng, ta sẽ
phải lựa chọn( đề 1). Nhưng cũng có trường hợp cả 2 ý kiến đều đúng ở những khía cạnh khác
nhau (Đề 2). Vậy vấn đề là phải làm bài sao cho cân đối, cũng nên tỉnh táo khi lựa ch ọn.
Cây Xà Nu
31 Tháng 5 2014 lúc 11:33
Hình tượng thiên nhiên chính là hình tượng cây xà nu.
1. Nhận xét chung:
Cây xà nu là 1 hình tượng nghệ thuật lớn, bao trùm tác phẩm. Nó có ý nghĩa đặc biệt trong việc khai
mở dòng sông của cảm hứng sáng tạo ở Nguyễn Trung Thành, ùa tràn trên đầu ngọn bút, cuốn tác
giả đi miên man trong những miền rừngthăm thẳm, mênh mông tới tít tận chân tr ời. Không phải
ngẫu nhiên mà NTT chọn xà nu làm nhan đề cho thiên truyện như một ám ảnh không dứt, như m ột
nốt láy giàu ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật, mang lại sức khái quát to l ớn cũng nh ư s ức sống hồn
nhiên cho tác phẩm, có ý nghĩa tả thực và biểu tượng: xà nu vừa là thiên nhiên Tây Nguyên, v ừa là
con người Tây Nguyên bất khuất kiên cường.
2. Cây xà nu trước hết là hình ảnh tả thực, gắn bó với cuộc sống con người Tây Nguyên, đem lại 1
không khí Tây Nguyên đặc biệt cho tác phẩm:
+ Xà Nu là loài cây to, khoẻ, thuộc họ thông, mọc rất nhiều ở Kon Tum( bắc Tây Nguyên) nh ựa và
gỗ đều rất quí. Hình ảnh cây xà nu tràn ngập trong tác phẩm, mở ra 1 bối cảnh thiên nhiên hùng vĩ
và hoang dã, tạo nên sức hấp dẫn độc đáo, đậm đà maudf sắ Tây Nguyên,
+ Xà nu gần gũi với đời sống dân làng Xôman, là chứng nhân của những sự kiện quan trọng xảy ra
với họ trong cuộc kháng chiến trường kì: xà nu cháy đỏ trong mỗi bếp, xà nu lập loàe ngọn đuốc soi
dêm trường, xà nu rực sáng đêm dân làng mài gươm cho đồng khởi, xà nu giần giật cháy trên 10
đầu ngón tay Tnú, ánh lửa xà nu vằng vặc soi xác 10 tên lính ngổn ngang chết gi ữa làng… Đúng là
xà nu luôn kề sát với con người, luôn có mặt trong đời sống con người. Xà nu, xà nu, xà nu,…tác
phẩm trùng trùng điệp điệp những xà nu. Xà nu không chỉ là cái phông n ền hoành tráng mà còn là
linh hồn của Tây Nguyên. Không thể hình dung nổi sự sống ở đây nếu tách xà nu ra khỏi Tây
Nguyên, ra khỏi con người.
3. Từ tả thực, hình ảnh xà nu còn được nâng thành biểu tượng cho phẩm chất và số phận con
người Tây Nguyên trong chiến tranh Cách Mạng.
+ Thương tích chiến tranh mà xà nu phải gánh chịu gợi nghĩ đến những đau thương vô b ờ của nhân
dân ta:
Xà nu mở đầu thiên truyện 1 cách lực lưỡng và bi hùng. Ngay câu văn thứ nhất của NTT đã lấp lánh
tài năng: “ Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc”. Câu văn căng như 1 đường đạn. Chỉ cần 9 ch ữ
NTT đã đưa ngay hình ảnh” làng” vào” tầm đại bác”, khắc tạc 1 tư thế của sự sống trong cuộc đối
đầu với cái chết, đặt xà nu vào tư thế hiểm của hoàn cảnh, dự báo 1 cuộc quyết đấu căng thẳng có
tầm vóc lịch sử, nhập ngay cảm xúc của người đọc vào cơn bão táp của thiên truyện, g ợi ra âm
hưởng chủ đạo bao trùm tác phẩm. Phải có tài năng mới tạo được chủ âm cho tác phẩm từ những
câu văn đầu tiên như thế.
Xà nu còn phải còng lưng gánh hàng ngàn trận đại bác của kẻ thù: “ Hầu hết đạn đại bác rơi vào đồi
xà nu cạnh con nước lớn. Hàng vạn cây không có cây nào không b ị th ương. Có nh ững cây b ị ch ặt
đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như 1 trận bão”. Thương tích của xà nu gợi ta nghĩ dến con
người : nhân dân Tây Nguyên, cũng như xà nu chịu bao cảnh đầu r ơi máu chảy. Khắp núi r ừng Tây
Nguyên đều in dấu vết tội ác kẻ thù: “ Chúng đi trong rừng như con beo”, với nh ững “ l ưỡi lê dính
máu”, chúng “ treo cổ anh Xút trên cây vả đầu làng”, chặt đầu bà Nhan “ cột tóc treo đầu súng”.
Không khí khủng bố trùm lên núi rừng, và bao trùm lên nuí rừng là tiếng c ười “ sằng sặc, gi ần gi ật”
của thằng Dục ác ôn, là tiếng gậy sắt nện xuống tấm thân nhỏ bé của m ẹ con Mai “ h ừ h ự”…
+ Nhưng tai ương không ngăn nổi sự tồn tại kì diệu của rừng xà nu:
Cây xà nu “ ham ánh sáng mặt trời” tượng trưng cho người dân TN khao khát tự do và v ững lòng tin
vào CM. Đặc điểm này của xà nu thể hiện ngay ở đoạn văn mở đầu. Nhà văn đã cung cấp cho bạn
đọc 1 thước phim thiên nhiên thật mơ mộng, lãng mạn nhưng đó là thứ lãng mạn kiêu hãnh vút lên
từ chết chóc: “ Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để ti ếp
lấy ánh sáng, thứ ánh sáng trong rừng rọi từ trên cao xuống t ừng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô
số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Quả là 1 bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, 1 th ế
giới xà nu tràn trề sức sống, khao khát nắng trời và khao khát tự do. Với đoạn văn ấy, NTT đã đóng
góp cho văn học Việt Nam 1 bức tranh sơn mài rực rỡ về thiên nhiên – không phải là thiên nhiên lãg
mạn trong bình yên mà là thiên nhiên thơ mộng giữa đau thương chết chóc. 1 b ức tranh r ất quí và
rất hiếm. Hình ảnh xà nu khao khát mặt trời cũng như dân làng Xô man khao khát tự do và tin yêu
Cách Mạng.
Kì diệu nhất là khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu dưới bom đạn quân thù. “ Cạnh 1 cây xà
nu mới ngã gục, đã có 4,5 cây con mọc lên, ngọn xanh rờn , hình nh ọn mũi tên lao thẳng lên bầu
trời”. Đây chính là hình ảnh tuyệt đẹp nói lên sức sống bất diệt và tinh thần bất khuất của con người
Tây Nguyên. Ý đồ tư tưởng này còn xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, nhất là đoạn k ết thiên
truyện, khi hình ảnh xà nu được nhiều lần trong tác phẩm, nhất là đoạn kết thiên truyện, khi hình
ảnh xà nu được láy lại lần cuối, câu chuyện về chiến tranh được khép lại trong 1 điệp khúc xanh
mênh mang từ tít tận chân trời. Thiên truyện còn khép lại bằng hình ảnh nh ững cây con m ới m ọc “
nhọn hoắt như những mũi lê”. Chỉ có 1 dân tộc đang ngày đêm chống trả quyết liệt với kẻ thù, đang
sống giữa giữa cái khốc liệt của chiến tranh mới có cách cảm thụ đặc biệt ấy. Mũi lê xà nu là bi ểu
tượng của sức sống, sức phát triển không gì cản nổi, gợi sự tiếp nối thế hệ của Tây Nguyên 9 cây
lớn đổ, cây con lại mọc), gợi hình tượng bất khuất và tranh đấu.Và cái chân lí chắc nịch: “ Từng lá
cây ngọn cỏ ở Tây Nguyên cũng vang lên âm hưởng chung của chủ đề tác phẩm.
Vì tình yêu tự do mà làm CM. Yêu cách mạng mà đấu tranh cho tự do. Cho nên mặc kẻ thù khủng
bố, người dân xôman vẫn nuôi giấu cán bộ, nghe lời cán bộ làm CM. Lời cụ Mết sắc như dao chém
đa làm rung chuyển lòng dân Xôman “ Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn.” Trong nh ững
ngày đen tối, lòng tin ấy là đuốc sáng dẫn lối cho nhân dân Tây Nguyên đi về phía tự do về phía
CM.
4. Hình tượng cây xà nu được miêu tả bằng bút pháp nghệ thuật đặc sắc.
+ Kết hợp miêu tả bao quát lẫn cụ thể bằng thủ pháp điện ảnh. Ống kính của NTT lúc quay xa 9 vi ễn
cảnh) để ghi lấy toàn cảnh rừng xà nu, lúc quay gần ( cận cảnh) để đặc tả vóc dáng vươn lên kiêu
hãnh của cây, giúp cho người đọc tổng hợp các giác quan để miêu tả, mang đến cho ng ười đọc 1 “
bữa tiệc giac quan” thú vị: khứu giác ( mùi nhựa thơm ứa ra), vị giác ( th ơm m ỡ màng), thị giác( gợi
thế giới xà nu xanh bạt ngàn vươn lên trong tầm đại bác)…
+ Miêu tả xà nu trong sự đối chiếu so sánh với con người: tả xà nu, tác giả ưa l ối nhân hoá khi ến xà
nu như không phải là xà nu: “ Cứ tghế 2, 3 năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che
chở cho làng”.4 chữ “ưỡn tấm ngực lớn” thật cường tráng, mạnh mẽ và kiêu dũng, xà nu b ỗng hoá
thành 1 trang hiệp sĩ hiên ngang đứng đầu sóng ngọn gió đẻ bảo vệ cuôc jsống. Đúng là xà nu có
đau thương, nhưng cũng có hào hùng, và hào hùng ngay trong đau thương. Khi tả con ng ười, NTT
lại say mê so sánh: “ Ngực cụ Mết căng như một cây xà nu lớn”
_ Cụ Mết chính là cây đại thụ của Tây Nguyên, gịt máu trên lưng Tnú được ví von “ tím thẫm nh ư
nhựa xà nu”….Các phép tu từ của NTT tạo 1 quan hệ đặc biệt giữa xà nu và con ng ười: xà nu hoà
vào con người, con người nhập vào xà nu và quan hệ ấy cứ ánh lên cái sắc thái cái mùi v ị đậm đàm
của Tây Nguyên khiến những trang văn của NTT cứ sóng sánh xà nu, sóng sánh chất Tây Nguyên
như thế. Do đặc điểm này, mỗi hình ảnh của nhà văn luôn lấp lánh nhiều tầng nghĩa, lấp lánh gi ữa
nghĩ đen và nghĩa bóng, giữa tả thực và biểu tượng, giữa thiên nhiên và con người. Xà nu v ừa là
dàn nhạc đẹp cho khúc tráng ca đấu tranh của Tn, vừa là cơ sở gợi từ cho những suy tư về con
người của NTT
+ Miêu tả cây xà nu, tác giả còn sử dụng 1 giọng văn thiết tha giàu sức biểu cảm, đầy sựh khâm
phục tự hào
Nghệ thuật trùng điệp được sử dụng rất thành công. Đoạn đầu và đoạn cuối tá phẩm lặp lại hình
ảnh những rừng xà nu tiếp nối tới chân trời gây liên tưởng tới 1 bài thơ trữ tình với kết cấu trùng
điệp đầy âm vang.
Từ những dòng miêu tả khách quan, nhiều lúc không nén được lòng mình, nhà văn bật th ốt tr ực ti ếp
cảm xúc của cái tôi tác giả với những nhận xét đâydf xúc động: “ Trong rừng ít có loại cây nào sinh
sôi nảy nở khoẻ như vậy”, hau “ cũng ít có loại cây nào ham ánh sáng mặt trời đến thế”…
5. Nguyễn Trung Thành đã khắc hoạ thành công hình tượng cây xà nu tiêu biểu cho vẻ đẹp hào
hùng đầy sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Trong nghệ thuật miêu tả cây xà nu,
chất thơ và chất sử thi hoà quyện thật nhuần nhuyễn, thể hiện rõ 1 phong cách văn xuôi v ừa say mê
vừa trầm tư, vừa giỏi tạo hình vừa giàu sức khái quát của NTT. 3 chữ “ Rừng xà nu” làm nhan đề
tác phẩm thật giàu ý nghĩa: đó là khu rừng của thiên nhiên, của lòng người – khu rừng đau thương
mà anh dũng của thời đại đánh Mĩ và thắng Mĩ.
Nước Mỹ tốn kém như thế nào trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam?
DỰ ÁN MỖI NGÀY MỘT NOTE 05
1. Đầu tư:
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động hơn 6 triệu lượt người Mỹ, trong đó
có 4.649.000lượt người dưới 20 tuổi, 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, 22.000 xí
nghiệp lớn với 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến.
Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Vi ệt Nam t ới 100 tri ệu USD,
gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ, và gấp 4 lần chi phí cho chương trình
nghiên cứu vũ trụ của Mỹ, bằng một nửa số tiền mà Mỹ đã viện trợ cho nước ngoài trong 20 năm
(1941-1960). Đặc biệt, suốt năm 1962 và qua năm 1963, đã có 18.000 “cố vấn” quân sự Mỹ vào
miền Nam Việt Nam.
Trong tổng số trên 6 triệu người phục vụ trong các quân chủng của th ời kỳ chi ến tranh, thì gần 3
triệu người được đưa sang Việt Nam và sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đã tr ở thành tù binh.
2. Hậu quả:
Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có t ổng số 57.259
người Mỹ đã mất mạng ở Việt Nam; trong số đó có 8.000 là da đen và 37.000 (chiếm 64%) không
quá 21 tuổi. Lầu Năm góc ước tính trên 10.300 người Mỹ chết ở Việt Nam vì những lý do g ọi là
không gắn liền với cố gắng chiến tranh, kể cả những người chết vì tai nạn máy bay và tai nạn xe c ộ,
những người bị các lính Mỹ khác giết hoặc tự sát...
Theo con số của chính phủ Mỹ, có 3.731 người Mỹ phục vụ ở Việt Nam đã chết vì đạn của những
người Mỹ khác. Những cái chết đó xảy ra khi máy bay Mỹ thả bom và bắn nhầm phải nh ững đơn vị
trên bộ của Mỹ, khi các tay bắn pháo lớn bắn nhầm những đội tuần tra Mỹ, khi nh ững người lính
gác nóng nảy hay hoảng sợ bắn vào đồng đội quanh nơi đóng quân. Nhiều năm sau chiến tranh,
hàng triệu quân nhân và cố vấn Mỹ cũ bị ung thư do đã tiếp xúc với chất độc da cam.
Chính sau này, Lầu Năm góc đã thừa nhận là có đến 20.000 người Mỹ chắc chắn đã sử dụng chất
độc da cam dioxin ở Việt Nam. Một số lớn cựu binh do đã trải qua chiến đấu nặng nề ở Việt Nam
mà đã mắc phải cái gọi là bệnh “Rối loạn thần kinh sau chấn thương”.
Theo tạp chí Lịch sử quân sự và tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương đã thông báo, thì
tháng 11-1982, chính quyền Mỹ đã khánh thành Đài tưởng niệm nh ững ng ười Mỹ đã ch ết ở Vi ệt
Nam, bản danh sách gồm 57.939 người (trong đó có 37 cấp tướng). Người lính Mỹ đầu tiên chết ở
chiến trường Việt Nam là James Thomas Davis, chết ngày 22-12-1961.
3. So sánh:
Nếu đem so sánh giá của chiến tranh Việt Nam với các chương trình có tính chất tiêu biểu mà chính
phủ nước Mỹ đã thực hiện, thì Việt Nam vẫn nổi lên một lần nữa là một trong những công cuộc đắt
tiền nhất trong lịch sử nước Mỹ. Toàn bộ hệ thống đường sá giữa các bang đã tiêu t ốn t ới 53 tỷ
USD (năm 1972).
Chương trình vũ trụ đưa người lên Mặt trăng của Mỹ cũng tốn 25 tỷ USD, chương trình xã h ội vĩ đại
cạnh tranh với chiến tranh ở Việt Nam sau năm 1964 tốn khoảng 200 tỷ USD. Nếu dùng theo cách
ước tính của nhà kinh tế Mỹ Steven, thì chi tiêu cho cuộc chiến tranh của Mỹ c ứ m ỗi phút ng ốn mất
32.000 USD.
Theo con số của Bộ Quốc phòng Mỹ thì chi tiêu trực tiếp của cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm tài
chính 1965 đến năm tài chính 1974 cũng lên tới 141 tỷ USD. Nhưng Steven lại ước tính chi tiêu tr ực
tiếp lên tới 171,5 tỷ USD và chi tiêu trực tiếp này chỉ mới là sự bắt đầu.
Một người Mỹ khác có tên là Tom Ryden lại ước tính chi tiêu cuối cùng sẽ lên t ới 676 t ỷ USD. Chi
tiêu này là do cộng chung tất cả các chi tiêu phụ cho chính phủ liên bang và cho n ền kinh t ế M ỹ,
trực tiếp và gián tiếp, kể cả phụ cấp của cựu binh, trả tiền lãi cho nợ quốc gia và ước tính s ố tiền thu
nhập của nền kinh tế Mỹ. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính chỉ tiêu cuối cùng bằng đôla của
cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD..
Tip chi tiết Chiều tối (Mộ)
DỰ ÁN MỖI NGÀY MỘT NOTE - 003
Mở bài: Thôi tự làm nhé :v
Thân bài: Dù là phân tích gì cũng có thể làm như sau:
Ý 1: Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên
- Tứ thơ: Cuối ngày mệt mỏi - Tứ thơ đến rất tự nhiên – Thi nhân dạo bước trốn sơn lâm
- Cánh chim: Mệt mỏi - Người tù sau 1 ngày chuyển lao
+ Cổ điển: Thơ cổ, ca dao : Báo hiệu Thời gian (chiều tối) + Không gian (Rộng, bao la)
+ Hiện đại: Gắn với tâm trạng thi nhân – phát hiện sự vận động bên trong tạo vật
- Chòm mây: Thân phận người tù nơi đất khách quên người
+ Bản dịch chưa dịch sát: cô vân – chòm mây cô độc
+ Cô độc mà vẫn ung dung tự tại
--> Hình ảnh rất cổ điển - Đường thi mà cũng rất đời thường (liên hệ Lý Bạch)
+ Cổ điển: Cái tôi tìm thấy sự đồng cảm của tạo vật à giữ được cốt cách
+ Hiện đại: Hình ảnh hiện thực, gần gũi, bộc lộ khát khao tự do, tình yêu thiên nhiên tha thiết
+> Tâm hồn người nghệ sĩ dù cô đơn nhưng giữ được khí phách hiên ngang…
Ý 2: Hai câu sau : Bức tranh đơì sống
- Chuyển ý: Sự vận động từ thiên nhiên sang con người, xa _> gần; buồn _> Vui (so sánh với Qua
đèo ngang của bà huỵên Thanh Quan)
- Tâm điểm của bức tranh:
+ Cô gái xóm núi: giản dị mộc mạc
+ Lao độ ng cần cù - nhịp liên hoàn cối xay
+ Hình ảnh gợi về quê hươ ng, khát khao tự do
_> Vượ t lên hoàn cảnh, yêu cuộc sống, gợi về quê hươ ng, đấ t nướ c
- Chữ Hồng: Nhãn tự của bài thơ
+ Vận độ ng từ cao à thấp ; Thời gian từ chiều -> Tối : Không cần tối mà vẫn bi ết th ời gian (Lấy ánh
sáng để tả bóng tối – liên hệ Hai Đứ a Trẻ)
+ Hồng: lạc quan yêu đờ i, hi vọng tươ ng lai, vẻ đẹ p tâm hồn HCM – Liên h ệ Tức cảnh PácBó
--> Phép thắng lợi tinh thần - Ngườ i chiến sĩ
Vần thơ của Bác, vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông, bát ngát tình
Nh ững đứ a con trong gia đình - Nguy ễn Thi
16 Tháng 6 2012 lúc 22:44
I. Phân tích tách riêng từng nhân vật Việt và Chiến
1. Nhân v ật Chi ến
M ột hình ảnh, m ột truy ền th ống nh ư th ế, tác gi ả mu ốn ph ải là b ất t ử, cho dù con ng ười c ụ th ể có
ph ải hi sinh. Ng ười m ẹ ngã xu ống, nh ưng trái đạn mà ch ị nh ặt vào r ổ b ưng v ề để ti ếp s ức cho cu ộc
đấu tranh thì v ẫn nóng nguyên. Ng ười m ẹ ngã xu ống, nh ưng dòng sông truy ền th ống kia v ẫn ch ảy.
Và hình ảnh chị l ại hi ện v ề tr ước h ết trong Chi ến, m ột trong nh ững đứa con c ủa gia đình.
a. Chiến – Hình ảnh của Mẹ
Ng ười con gái tr ẻ ấy mang vóc dáng c ủa m ẹ mình: “hai b ắp tay tròn vo s ạm đỏ màu cháy n ắng…,
thân ng ười to và ch ắc nịch”. V ẫn cái v ẻ đẹp ph ụ n ữ mà Nguy ễn Thi ưa thích đang t ồn t ại trong đứa
con mà ng ười m ẹ ấy đã sinh thành – v ẻ đẹp c ủa nh ững con ng ười sinh ra ở đời để gánh vác, để
ch ống ch ọi, để chịu đựng và để chi ến th ắng. Nh ưng nói đến gi ống m ẹ thì ch ưa bao gi ờ Chi ến gi ống
m ẹ h ơn cái đêm s ắp xa nhà đi b ộ đội. Ph ải đến đêm ấy, ng ười ta m ới th ấy m ột cô Chi ến bi ết lo li ệu,
toan tính vi ệc nhà th ật tr ọn v ẹn tr ước sau, t ừ em út, nhà c ửa, gi ường ván, ru ộng n ương đến n ơi g ửi
bàn th ờ má. Chi ến li ệu vi ệc y h ệt má, “nói nghe in nh ư má v ậy”. Hình ảnh ng ười m ẹ nh ư bao b ọc
l ấy Chi ến, t ừ cái l ối n ằm v ới th ằng Út em trên gi ường ở trong bu ồng nói v ới ra đến l ối h ứ m ột cái
“cóc” r ồi tr ở mình. Đế n n ỗi chỉ trong m ột kho ảng th ời gian ng ắn ng ủi trong đêm, Vi ệt đã không d ưới
ba l ần th ấy chị mình gi ống in ng ười m ẹ, có sai khác thì c ũng ch ỉ ở ch ỗ ch ị “không b ẻ tay r ồi đập vào
b ắp v ế chân m ỏi” mà thôi. Chính Chi ến c ũng th ấy mình trong đêm ấy đang hòa vào trong m ẹ: “Tao
c ũng l ựa ý n ếu má còn s ống ch ắc má tính v ậy, nên tao c ũng tính v ậy”. Nguy ễn Thi mu ốn cho ta
hi ểu: trong cái th ời đi ểm thiêng liêng ấy, ng ười m ẹ s ống h ơn bao gi ờ h ết trong nh ững đứa con. “C ả
chị c ả em cùng nh ớ đến má. Hình nh ư má c ũng đã v ề đâu đây. Má bi ến theo ánh đom đóm trên nóc
nhà hay đang ng ồi d ựa vào m ấy thúng lúa mà c ầm nón qu ạt? Đêm nay, d ễ gì má v ắng m ặt…”.
“Thác là th ể phách…”, ng ười m ẹ ấy chỉ thác trong th ể phách.
b.Chiến - Người con gái của thời đại mới.
Ta hãy tr ở v ề v ới Chi ến. H ơn em chỉ ch ừng h ơn m ột tu ổi nh ưng Chi ến ng ười l ớn h ơn h ẳn so v ới
Vi ệt. Mà c ũng g ắn bó v ới l ớp ng ười đi tr ước h ơn. Chi ến có th ể b ỏ ăn để gánh v ần cu ốn s ổ gia đình.
Chi ến không chỉ “nói in nh ư má” mà còn h ọc đượ c cách nói “tr ọng tr ọng” c ủa chú N ăm. Nh ưng so
v ới th ế h ệ m ẹ thì ng ười con gái ấy là khúc sông sau. Khúc sông sau bao gi ờ c ũng ch ảy đượ c xa
h ơn khúc sông tr ước đó. Cho nên c ũng d ễ tìm ra nh ững nét khi ến cho Chi ến khác m ẹ mình. Cái
khác ấy không chỉ ở chi ếc g ương trong túi mà Vi ệt t ưởng t ượng có th ể theo Chi ến ra t ận ngoài m ặt
trận, cũng không chỉ ở cái dáng trẻ trung “kẹp một nhúm tóc mai vào mi ệng” hay là tính hay c ười.
Ng ười m ẹ, tr ước n ỗi đau m ất ch ồng, đã không có dịp nào c ầm súng. Còn Chi ến, Chi ến đi b ộ đội để
tr ả thù nhà, v ới quy ết tâm nh ư dao chém đá: “Tao đã th ưa v ới chú N ăm r ồi. Đã làm thân con gái ra
đi thì tao chỉ có m ột câu: n ếu gi ặc còn thì tao m ất, v ậy à”. “ Đã làm thân con gái…”, ra ở đời này
không chỉ có “chí làm trai”.
c. Chiến - vẻ đẹp của thế hệ
Nhân v ật Chi ến là m ẫu nhân v ật tiêu bi ểu cho th ời kì kháng chi ến ch ống M ỹ. L ẽ ra, c ũng nh ư bao
thi ếu n ữ khác, cô ph ải đượ c h ọc hành, đượ c s ống trong tình th ương c ủa gia đình, ng ười thân.
Nh ưng th ế h ệ Chi ến mang n ặng m ối thù nhà, n ợ n ước, không th ể không tòng quân gi ết gi ặc. Tính
lịch s ử c ủa m ẫu nhân v ật c ần đượ c chú ý để th ấy h ết v ẻ đẹp tinh th ần c ũng nh ư nh ững hi sinh vao
c ả c ủa th ế h ệ ấy.
2.Nhân vật Việt
Ở trên, ta đã nhi ều l ần nh ắc đến nhân v ật Vi ệt, hình t ượng xu ất hi ện nhi ều nh ất trên nh ững trang
v ăn. D ường nh ư tác gi ả đã “trao ngòi bút” cho nhân v ật t ự vi ết v ề mình b ằng ngôn ng ữ, nh ịp đi ệu,
gi ọng đi ệu riêng. Và b ằng cách ấy, Vi ệt đã hi ện lên c ụ th ể sinh động tr ước m ắt ta, v ừa là c ậu con
trai m ới l ớn, v ừa là m ột chi ến s ĩ gan góc, d ũng c ảm kiên c ường.
a. Việt - một cấu con trai lộc ngộc, hồn nhiên
Vi ệt đượ c b ạn đọ c yêu thích tr ước nh ất là ở cái v ẻ l ộc ng ộc, vô t ư c ủa m ột câu con trai đang tu ổi ăn
tu ổi l ớn. Chi ến nh ường nhịn em bao nhiêu thì Vi ệt hay tranh giành v ới ch ị b ấy nhiêu. Đêm tr ước
ngày ra đi, Chi ến nói v ới em nh ững l ời nghiêm trang thì Vi ệt lúc “l ăn k ềnh ra ván c ười khì khì”, lúc l ại
rình “ch ụp m ột con đom đóm úp trong lòng tay”. Vào b ộ đội, Chi ến đem theo t ấm g ương soi – cái
v ật tùy thân c ủa m ột cô gái l ớn – còn Vi ệt, anh chàng đem đi… m ột chi ếc súng cao su! Tôi đã đọc đi
đọc l ại m ấy l ần đo ạn đối tho ại dài nh ất và xu ất s ắc nh ất trong toàn thiên truy ện, và càng đọc càng
th ấy chịu tài tác gi ả. Sao mà ông có th ể tái hi ện l ại s ống đến th ế l ời ăn ti ếng nói c ủa m ột anh chàng
t ồ t ồ, vô lo vô nghĩ. Nh ững l ời đối tho ại ấy không câu nào gi ống câu nào mà sao câu nào c ũng trúng
phóc cái th ần h ồn th ần tính c ủa anh chàng Vi ệt.
Xây d ựng nhân v ật Vi ệt h ồn nhiên và tr ẻ th ơ nh ư th ế, ph ải ch ăng Nguy ễn Thi mu ốn nói v ới ng ười
đọc v ề m ột th ế h ệ tu ổi tr ẻ Vi ệt Nam đã b ước vào cu ộc chi ến đấu r ất s ớm, nh ư th ẳng t ừ tu ổi th ơ mà
đến. Th ế h ệ ấy r ất h ồn nhiên, r ất tr ẻ con và vô t ư trong m ối quan h ệ gia đình, xã h ội, nh ưng l ại c ực
kì nghiêm túc trong nh ững suy ngh ĩ v ề k ẻ thù, v ề cu ộc chi ến, v ề trách nhi ệm c ủa b ản thân...
b. Việt - một chiến sĩ trẻ dũng cảm, kiên cường.
Nh ưng s ự vô t ư không ng ăn c ản Vi ệt tr ở nên m ột anh hùng. Ng ược l ại, nó cho cái ch ất anh hùng
c ủa Vi ệt thêm đẹp, thêm độc đáo. Đọc truy ện, ta c ảm th ấy hình nh ư ch ưa lúc nào Vi ệt h ết th ơ ngây
c ủa m ột con ng ười không bi ết th ế nào là khu ất ph ục. Nên t ừ lúc còn bé tí, Vi ệt đã dám xông vào đá
cái th ằng đã gi ết cha mình. Và v ẫn dòng máy đỏ ch ảy trong anh tân binh Vi ệt ch ỉ khi m ột mình, v ới
đôi m ắt không còn nhìn th ấy gì, v ới hai bàn tay đau đớn v ẫn quy ết tâm ăn thua s ống mái v ới quân
thù: “Trên tr ời có mày, d ưới đất có mày, khu r ừng này còn có mình tao. Mày có b ắn tao thì tao c ũng
b ắn đượ c mày”. C ứ v ậy, ng ười trai gi ản dị ấy th ấy vi ệc đi đánh gi ặc nó c ũng t ự nhiên nh ư đi b ắt ếch
hay b ắn ná thun, vi ệc đánh gi ặc cho k ỳ đến lúc tr ả xong thù nhà n ợ n ước nó là chuy ện d ĩ nhiên nh ư
th ế, có gì đâu để mà bàn, để mà nghĩ ng ợi…? Ấy th ế mà xem ra Vi ệt l ại là ng ười đi xa h ơn c ả trong
dòng sông truy ền th ống. Không chỉ vì Vi ệt là ng ười l ập chi ến công l ớn nh ất. Mà còn vì th ế h ệ cha
chú Vi ệt đánh gi ặc đấy, nh ưng v ẫn lo tránh gi ặc. Còn Vi ệt, ngay khi ch ỉ có m ột t ấm thân tr ơ tr ọi và
đầy th ương tích, Vi ệt v ẫn là ng ười đi tìm gi ặc. “Mày ch ỉ gi ỏi gi ết gia đình tao, còn đối v ới tao thì mày
là th ằng ch ạy”. H ồi b ấy gi ờ, ng ười ta th ường nói đến khí th ế ti ến công cách m ạng c ủa th ời đại. Vi ệt
chính là hi ện thân c ủa s ức tr ẻ ti ến công. Có th ể nói, hành động gi ết gi ặc để tr ả thù nhà, đền n ợ
n ước đã tr ở thành m ột trong nh ững th ước đo quan tr ọng nh ất v ề ph ẩm cách con ng ười c ủa nhân
v ật Nguy ễn Thi.
Tôi s ẽ không nói nhi ều v ề đo ạn v ăn v ẫn đượ c nhi ều ng ười cho là hay nh ất truy ện: đo ạn t ả ch ị em
Chi ến, Vi ệt khiêng bàn th ờ m ẹ, sang nhà chú. Ch ỗ hay nh ất c ủa đo ạn v ăn hay nh ất ấy có l ẽ là cái
không khí thiêng liêng nó hoán c ải c ả c ảnh v ật l ẫn con ng ười. Con đườ ng quen thu ộc b ỗng th ấy có
thêm mùi hoa cam tho ảng l ại t ự chân v ườn. Còn Vi ệt, cái không khí ấy bi ến anh thành con ng ười
khôn l ớn. L ần đầu tiên Vi ệt hi ểu rõ lòng mình để th ấy “th ương ch ị l ạ” và để th ấy “m ối thù th ằng M ĩ
thì có th ể r ờ th ấy đượ c, vì nó đang đè n ặng ở trên vai”. Nh ưng tôi mu ốn đượ c để ý thêm đến chi
ti ết: chị em Chi ến, dáng vóc kh ỏe, to, giang c ả thân ng ười lên nh ấc b ổng bàn th ờ. Ngh ĩa là th ế h ệ
sau đã cứng cáp, trưởng thành. Những đứa con trong gia đình đã đủ s ức để bay xa, xa h ơn cha m ẹ.
II. Phân tích nh ững đi ểm gi ống và khác nhau c ủa hai nhân v ật Chi ến và Vi ệt
1. Gi ống nhau
- Gi ống nhau v ề b ản ch ất. Đó là hai chị em ru ột, cùng đượ c nuôi d ưỡng trong m ột gia đình cách
m ạng, cùng l ớn lên trong c ảnh đau th ương, cùng m ột m ối thù không đội tr ời chung v ới gi ặc đã tàn
sát cha m ẹ… Cu ốn s ổ gia đình nh ư m ột th ứ gia ph ả đặc bi ệt, mà m ỗi dòng, m ỗi ch ữ đều th ấm đẫm
máu và n ước m ắt.
- H ọ cùng th ương cha m ẹ, c ăm thù gi ặc sâu s ắc, cùng m ột ước nguy ện đượ c c ầm súng đánh gi ặc
tr ả thù cho ba má. Tình c ảm này th ể hi ện sâu s ắc và c ảm động nh ất trong cái đêm ch ị em giành
nhau ghi tên tòng quân, và sáng hôm sau, trước khi lên đường nhập ngũ cùng khiêng bàn th ờ sang
để t ạm bên nhà chú N ăm…
- Hai chị em đều là nh ững chi ến s ĩ d ũng c ảm, gan góc và t ừng l ập đượ c nhi ều chi ến công: b ắn tàu
chi ến gi ặc trên sông Đị nh Thu ỷ, Chi ến là ti ểu đội tr ưởng c ủa b ộ đội n ữ địa ph ương qu ận B ến Tre,
Vi ệt thì phá đượ c xe t ăng đị ch trong m ột tr ận giáp lá cà… Cha m ẹ h ọ đều anh d ũng, kiên c ường và
h ọ đã sinh ra d ường nh ư là để c ầm súng đánh gi ặc.
- Hai chị em còn r ất tr ẻ. Khi ghi tên tòng quân m ới có 17, 18 tu ổi. Vì th ế c ả hai còn tính ngây th ơ tr ẻ
con, giành ph ần b ắt ếch nhi ều hay ít, gành nhau ghi tên tòng quân…
- Tuy nhiên trong cái dòng sông truy ền th ống c ủa gia đình, “m ỗi ng ười m ột khúc”, m ỗi ng ười có nét
tính cách riêng, không ai gi ống ai.
2. Khác nhau
- Là con gái nên Chi ến có cái gan góc riêng c ủa ph ụ n ữ. Vi ệt có th ể d ũng c ảm trong chi ến đấu
nh ưng không th ể có đượ c s ự kiên trì đánh v ần cu ốn s ổ gia đình.
- Là con trai nên Vi ệt hi ếu động, chỉ thích câu cá, b ắt ếch, lúc nào c ũng có chi ếc ná thu trong ng ười.
- Là chị nên tuy giành em mà Chi ến c ũng th ương em, v ẫn nh ường cho em, k ể c ả “v ết đạn b ắn
th ằng Mĩ trên sông Đị nh Thu ỷ chị c ũng nh ường”. Ấy v ậy mà có chuy ện Chi ến không nh ường : đi
tòng quân, mà ph ần nhi ều trong vi ệc không nh ường ấy là th ương em, ch ưa mu ốn em ph ải ch ịu
đựng đạn bom nguy hi ểm.
- Là em nên Vi ệt ngây th ơ, phó m ặc t ất c ả cho chị. Đêm tr ước khi tòng quân, Vi ệt m ặc k ệ ch ị lo toan
m ọi vi ệc, mình v ẫn tr ẻ con ừ ào cho qua. Tr ẻ con đến n ỗi đi b ộ đội v ẫn gi ữ chi ếc ná thun, yêu quý
chị mà c ố gi ữ kín không cho m ọi ng ười bi ết – vì s ợ m ất ch ị. Không s ợ ch ết nh ưng l ại s ợ ma, khi g ặp
đồng đội thì v ừa khóc v ừa c ười “gi ống h ệt nh ư th ằng Út em ở nhà...”
Thích · · Chia sẻ
9 năm đánh Pháp, 21 n ăm đánh M ỹ, bao nhiêu n ăm đánh Trung Qu ốc?
D Ự ÁN M ỖI NGÀY M ỘT NOTE 011
Hôm nay kỉ ni ệm 60 n ăm chi ến th ắng Đi ện Biên Ph ủ, v ề c ơ b ản là không có không khí l ắm, m ọi th ứ
khá bình th ường, ở tr ường không th ấy có phong trào tìm hi ểu v ề l ịch s ử, cu ộc thi hay b ất c ứ ho ạt
động gì v ề ngày này, gì thì gì, ng ười ta còn b ận thi c ử, b ận đủ th ứ, ch ứ h ọc s ử còn chán n ữa là đi
tìm hi ểu, có bôi ra r ồi c ũng l ại chép trong h ậm h ực. Ng ẫm l ại bác VNC, ngày nào có chuy ện c ủa
giáo d ục là bác ý nh ảy vô nói, mình đọc th ấy thú l ắm, tâm huy ết l ắm, lý l ắm, nh ưng tr ường bác ý
100% không thi t ốt nghi ệp s ử, vì ng ười ta còn b ận thi đại h ọc, yêu c ầu là đỗ đại h ọc đã, còn tính
sau. Ờ thì đó là quy ền l ựa ch ọn c ủa h ọc sinh mà, nh ưng cái xu h ướng ấy, không lòi ra t ừ chính
sách con gà ch ọi thì t ừ đâu, th ế mà bác ý có khi ch ỉ nói m ột câu, ch ương trình chán th ế thì ai mu ốn
h ọc. Xin l ỗi, cháu là th ế h ệ sau, nh ưng cháu bi ết 1 đi ều chán hay không là do th ầy d ạy, bác tuy ển
giáo viên s ử d ạy hay đi, mà nghe nói tr ường ấy còn k ết thúc ch ương trình s ớm 3 tháng c ơ mà,
quy ền l ực nh ư v ầy c ơ mà.
Nói vui vui v ậy thôi, dân ta v ẫn hay có ki ểu xu ề xòa, s ử thì h ọc lúc nào ch ả đượ c, c ần ph ải đi th ực
t ế, c ần ph ải đến đây đến đó, sang bên M ỹ kìa, ng ười ta đến các b ảo tàng :( Ôi thôi xin các b ố, t ổ
ch ức cho con đi th ăm quan, đi dã ngo ại, ng ười thì s ợ đóng ti ền, ng ười thì s ợ an toàn, ng ười thì s ợ
m ất th ời gian, nó còn h ọc để thi đại h ọc, th ế là toi, ở nhà cho lành. Trong đi ều ki ện đất n ước còn
khó kh ăn, có ngó sang các n ước tiên ti ến mà so v ới mình c ũng là để tham kh ảo ch ứ không th ể là lá
ch ắn cho s ự l ười nhác, cho ki ểu mùa v ụ. Tôi ch ưa t ừng đi th ực t ế ở đâu, nh ưng đọc sách v ở, tôi
bi ết nhi ều v ề s ử n ước mình, ok th ế đã, có d ịp tôi đi, tr ải nghi ệm sau ch ưa mu ộn.
Chúng ta đang b ước vào nghịch lý sâu s ắc, khi tôi h ỏi vì sao quay cop, vì sao ng ại h ọc bài, ph ần l ớn
h ọc sinh, và nhi ều ng ười xu ề xòa n ữa, s ẽ nói r ằng ch ương trình h ọc quá n ặng, nào thê này nào th ế
kia, nh ưng tôi v ẫn th ấy quá nhi ều ng ười ch ơi b ời đấy ch ứ, v ẫn có nhi ều ng ười nói r ằng "r ảnh quá
ask đi, like stt chúc ng ủ ngon", th ế là th ế nào? tôi ch ẳng c ần ph ải đi h ọc thu ộc, nh ưng đi tìm hi ểu v ề
v ăn hóa, lịch s ử n ước mình, để yêu n ước mình h ơn, t ự hào h ơn và bi ết mình ở đâu h ơn, nh ư v ậy
t ốt h ơn nhi ều. chúng ta đã coi nh ững th ứ có giá trị là vô b ổ và coi nh ững th ứ vô b ổ thành có giá tr ị,
và ai c ũng ch ấp nh ận đi ều đó.
Quay tr ở l ại v ới câu h ỏi. Chúng ta đã m ất 9 n ăm đánh Pháp, 21 n ăm đánh M ỹ, v ậy bao nhiêu n ăm
đánh Trung Qu ốc? Mãi mãi, nó là n ước l ớn, láng gi ềng, mà cái t ư th ế n ước l ớn thì lúc nào ch ả bành
ra, mu ốn nu ốt g ọn t ất c ả, đến Nh ật nó còn lao vào thì Vi ệt Nam sao thoát kh ỏi cái âm m ưu c ủa nó.
V ấn đề là Nh ật ng ười ta không s ợ, vì ng ười ta có th ực l ực, còn chúng ta, chúng ta c ũng ch ả s ợ gì,
nh ưng chúng ta có cái khác, "tinh th ần". Mãi mãi, chúng ta ch ỉ còn m ỗi cách là làm sao chúng ta yêu
th ương nhau h ơn, hi ểu v ề b ản thân chúng ta h ơn, t ự hào h ơn v ề nh ững gì c ủa quá kh ứ, mà nh ư
Bác nói đúng quá, dân giàu n ước m ạnh, là ở công h ọc t ập c ủa các cháu. B ản thân ông th ầy d ạy
v ăn, thì làm đượ c gì n ữa đâu, c ũng là gi ữ gìn ti ếng nói, v ăn hóa dân t ộc mình, m ột ph ần nh ỏ th ế
thôi c ũng là yêu n ước r ồi, c ũng là gi ữ cái v ũ khí báu v ật này r ồi.
Hoan hô chi ến sĩ Đi ện Biên
Chi ến sĩ anh hùng
Đầu nung l ửa s ắt
N ăm m ươi sáu ngày đêm khoét núi, ng ủ h ầm, m ưa d ầm, c ơm v ắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Nh ững đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt l ỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Nh ững đồng chí chèn l ưng c ứu pháo
Nát thân, nh ắm m ắt, còn ôm...
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nh ất đị nh m ở đườ ng cho xe ta lên chi ến tr ường ti ếp vi ện