Tải bản đầy đủ (.doc) (114 trang)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ - CHIẾN lược TOÀN cầu của mỹ và tác ĐỘNG của nó đến QUAN hệ QUỐC tế HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (422.91 KB, 114 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu, thế hai cực trên thế giới chấm dứt, trước những thay đổi sâu sắc
trong tình hình quốc tế và trong so sánh lực lượng giữa các nước trên người ngày nay,
chiến lược toàn cầu "ngăn chặn" và "vượt trên ngăn chặn" của Mỹ áp dụng trong hơn
bốn thập kỷ qua đã trở nên lỗi thời. chiến lược toàn cầu sau chiến tranh lạnh và "Sau
Liên Xô" được vạch trên những định hướng lớn và đang được hoàn chỉnh cho thấy
Hoa Kỳ tìm cách thực hiện tham vọng "lãnh đạo toàn cầu" trong tình hình mới, thiết
lập một trật tự thế giới mới do Mỹ điều khiển, áp đặt một PAX AMERICâN- một
nền hoà bình kiểu Mỹ lên đầu các dân tộc. Âm mưu đó đe doạ hoà bình độc lập, chủ
quyền quốc gia, an ninh và ổn định của nhân dân các nước trên thế giới.
Chiến lược toàn cầu mới của Mỹ- cường quốc lớn nhất thế giới ngày nay, có tác
động đến tất cả các khu vực, các quốc gia trên hành trình chúng ta, đến chiều hướng
phát triển của tình hình thế giới hiện nay và trong nhiều năm tới.
Tìm hiểu, nghiên cứu chiến lược toàn cầu của Mỹ, đặc biệt trong giai đoạn mới
hiện nay, làm rõ bản chất, mục tiêu cơ bản trong điểm chiến lược, chủ trương biện
pháp chủ yếu của chiến lược mới của Mỹ cũng như những mâu thuẫn, khó khăn, hạn
chế của nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, có tính thời sự nóng bỏng để có thể
vạch chủ trương, sách lược thích hợp trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Chính sách vừa được điều chỉnh của Hoa Kỳ đối với Việt Nam - một bộ phận trong
chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, mở đầu bằng việc xoá bỏ lệnh cấm vận ngày 3-21994 đất nước Việt Nam ta trước những cơ hội mới và những thách thức mới to lớn.


Những tình hình đó cho thấy tính chất quan trọng và cấp bách của việc nghiên cứu
chiến lược toàn cầu mới của Mỹ và chính sách mới của họ đối với Việt Nam, nhằm
nhận rõ nội dung rất bức thiết của cuộc đấu tranh của chúng ta trong giai đoạn mới, từ
đó có chủ trương chính sách đối nội đối ngoại cần thiết, tranh thủ cơ hội mới, đối
phó có hiệu quả các thách thức mới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" cùng
mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập tự do, xây dựng Tổ quốc ta to


đẹp hơn, đàng hoàng hơn như Bác Hồ kính yêu hàng mong ước.
Những điều trên đây nói lên sự cần thiết và tính cấp bách của đề tài luận án, thôi
thúc tác giả lựa chọn đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những thập kỷ qua, trên thế giới đã có nhiều nhà hoạt động chính trị, nhà
nghiên cứu khoa học viết nhiều tác phẩm về chiến lược toàn cầu "ngăn chặn" và
"vượt trên ngăn chặn" của Mỹ, từ luận điểm của Giooc-Giơ-Ken-nân, nhà lý thuyêt
của chiến lược "ngăn chặn", đến các tác phẩm, bài nghiên cứu của các tác giả ở Liên
Xô (cũ), Trung Quốc và phương Tây.
Từ khi Liên Xô sụp đổ, các bài diễn văn của tổng thống Bu-Sơ, bản chiến lược an
ninh quốc gia của Mỹ do tổng thống Bu Sơ ký ban hành 8-1991, đặc biệt các diễn văn
quan trọng của Tổng thống mới ở Mỹ Bin Clin-tơn, các kế hoạch chiến lược về kinh
tế, quốc phòng, ngoại giao của Mỹ đưa ra trước Quốc hội từ năm 1993 tới nay cùng
ý kiến của những nhà lãnh đạo chủ chốt khác và nhiều nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ
đã vạch ra những định hướng lớn của chiến lược toàn cầu mới, đề cập các quan điểm,
mục tiêu, nội dung, biện pháp cơ bản của chiến lược mới này của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, giữa các nhà nghiên cứu ở Mỹ và các nước còn có nhiều quan điểm
khác nhau. Thế giới hôm nay là thế giới một cực, một siêu cường duy nhất lãnh đạo,
hay thế giới nhiều cực, nhiều trung tâm? Trật tự thế giới cũ sụp đổ, trật tự thế giới


mới sẽ hình thành như thế nào? Các mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh phải
chăng sẽ do Mỹ chi phối là chính hay sẽ chịu tác động của nhiều lực khác nhau, mâu
thuẫn nhau quyết định? Đang diễn ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt về quan điểm, về
chính sách đối ngoại của Mỹ trong một thế giới đang chuyển động nhanh chóng và
cực kỳ phức tạp hiện nay. Đây là những vấn đề lý luận, quan điểm còn tồn tại, còn
mâu thuẫn trong quá trình nghiên cứu chiến lược toàn cầu mới của Mỹ ở các nước
trên thế giới.
Ở Việt Nam trong những năm qua cũng có một số tác giả nghiên cứu và viết về
chiến lược "ngăn chặn" và "vượt trên ngăn chặn" của Mỹ, đi vào một số vấn đề chủ

yếu của chiến lược này. Từ ngày chính quyền Oa-sinh-tơn vạch ra những định hướng
lớn của chiến lược toàn cầu mới, đã có nhiều bài báo, luận văn nghiên cứu, phân tích
mục tiêu, nội dung, trọng điểm, biện pháp lớn của chiến lược mới này. Tuy nhiên
chưa có tác giả nào có công trình nghiên cứu toàn diện về chiến lược mới, và cụ thể
với đề tài luận án này cũng chưa thấy có. Căn cứ vào tình hình đó, tôi chọn đề tài
luận án: "Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động của nó trong quan hệ quốc tế
hiện nay"., trong đó nghiên cứu một cách tổng quát chiến lược toàn cầu của Mỹ và
bản chất của nó qua hai giai đoạn, chú trọng nghiên cứu chiến lược toàn cầu của Mỹ
trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh và "sau Liên Xô", cùng tác động của nó trong quan
hệ quốc tế, đặc biệt trong quan hệ Mỹ- Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trước đây, nhất là các báo cáo
chính trị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt Nghị quyết Đại hội 7, Báo cáo chính trị ở hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm vụ của Đảng, và các nghị quyết hội nghị Trung
ương Đảng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài này dưới góc
độ khoa học lịch sử.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án


- Phân tích chiến lược toàn cầu của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai qua hai
giai đoạn (chiến tranh lạnh, và sau chiến tranh lạnh "sau Liên Xô"), từ đó đánh giá
bản chất, mục tiêu, nội dung cơ bản của chiến lược toàn cầu của Mỹ.
- Đặc biệt tập trung nghiên cứu chiến lược toàn cầu mới điều chỉnh hiện nay, tác
động của nó đối với thế giới cũng như đối với nước ta. Phân tích những âm mưu, thủ
đoạn cũng như những mâu thuẫn, khó khăn, khả năng và triển vọng của nó. Từ đó đề
xuắt những vấn đề về chính sách đối nội và đối ngoại nhằm tranh thủ cơ hội, đối phó
với thách thức mới, nhằm thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng
ta.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng
thời căn chính sách vào thực tiễn của việc triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ qua

các giai đoạn- nhất là trong thời kỳ mới hiện nay để tiến hành nghiên cứu đề tài này.
Các phương pháp chính được vận dụngtrong quá trình nghiên cứu đề tài này là
phương pháp lô gíc và phương pháp lịch sử. Luận án chú trọng kế thừa có chọn lọc
những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở trong và ngoài nước, đặc biệt
dựa vào các báo cáo, nghị quyết của Đảng có liên quan đến nội dung đề tài làm cơ sở
nghiên cứu.
5. Cái mới về khoa học của luận án
- Trong lĩnh vực chính trị thực tiễn của quan hệ quốc tế, tác giả mạnh dạn lần đầu
tiên phân tích một cách tổng quát, toàn diện chiến lược toàn cầu của Mỹ trong suốt
quá trình lịch sử qua hai giai đạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, cung cấp
một cái nhìn tổng quan về chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ đó vạch rõ bản chất, mục
tiêu, nội dung cơ bản của chiến lược toàn cầu của Mỹ.


- Qua luận án, lần đầu tiên nghiên cứu chiến lược toàn cầu mới vừa được vạch ra
trên những định hướng lớn của Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh và "sau Liên
Xô", phân tích âm mưu nguy hiểm, mâu thuẫn khó khăn, khả năng và triển vọng của
chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, điều mà theo chỗ chúng tôi được biết cho đến nay
chưa có tác giả và tác phẩm nào đề cập một cách hoàn chỉnh.
- Phân tích tác động của chiến lược toàn cầu mới và chính sách mới được điều
chỉnh của Mỹ đối với nước ta trong mối quan hệ Mỹ- Việt Nam.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Thông qua kết quả nghiên cứu đạt được trong luận án, chúng tôi hy vọng góp phần
làm rõ bản chất của chiến lược toàn cầu của Mỹ, những âm mưu thủ đoạn, khả năng
cùng những mâu thuẫn, hạn chế của chiến lược mới, qua đó góp phần trong việc
nghiên cứu về Hoa Kỳ nói chung cũng như về các vấn đề quốc tế ngày nay trong mối
quan hệ với các chính sách và chiến lược toàn cầu của Mỹ. Cũng từ kết quả nghiên
cứu, góp phần đề xuất những chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm
tranh thủ cơ hội, đối phó với thách thức đó cuộc điều chỉnh chiến lược mới của Mỹ
đối với nước ta đặt ra, bảo vệ và xây dựng thành qua con người xã hội ở nước ta.

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử về
quan hệ quốc tế, nghiên cứu tìm hiểu về Hoa Kỳ.
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm ba chương, chín tiết, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
BẢN CHẤT CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA MỸ VÀQUÁ TRÌNH VẬN
ĐỘNG CỦA NÓ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH


Tiết 1: Cơ sở kinh tế và bản chất chính trị- xã hội của chiến lược toàn cầu của
Mỹ
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế quân sự chính trị hàng đầu trên thế giới. Từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai tới nay, quốc gia siêu cường này đề ra và nhiều lần điều
chỉnh chiến lược toàn cầu nhằm thực hiện những mục tiêu tham vọng đế quốc con
người của nó.
Từ ngày mới thành lập, thoát thai từ cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân
Anh, nhằm giành độc lập dân tộc, hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một nước dân chủ tư
sản. Bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ viết :"Mọi người sinh ra đều có quyền
bình đẳng và tạo hoá ban cho họ những quyền nhất định rất quan trọng. Trong số đó
có quyền được sống, được hưởng tự do và mưu cầu hạnh phúc"[40,141]. Tuy nhiên
các quyền này trên thực tế giành chủ yếu cho giai cấp tư bản thống trị. Vào lúc đó,
chủ nghĩa tư bản đã trở thành một hình thái kinh tế-xã hội mang ý nghĩa lịch sử phổ
biến, có tính toàn cầu. Nhưng chủ nghĩa tư bản Mỹ có tính đặc thù đậm nét. Ra đời
trên một vùng lãnh thổ rộng bao la, tài nguyên cực kỳ phong phú, tiếp thu và phát huy
những tiến bộ khoa học kỹ thuật xuất hiện trong cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu
Âu, giai cấp tư sản Mỹ khai thác lực lượng lao động đông đảo trong nước- bao gồm
nhiều cồng đồng dân tộc khác nhau đến từ nhiều lục địa, nhiều quốc gia trên thế giới,
tới đây làm ăn sinh sống với mộng làm giàu. Họ tỏ rõ tính năng động, xây dựng phát
triển kinh tế với tốc độ cao, đưa đất nước nhanh chóng trở thành một cường quốc

công nghiệp trên thế giới.
Vào cuối thế kỷ 19, khi các tổ chức tư bản độc quyền ra đời, chủ nghĩa tư bản bước
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa với những đặc điểm như V.I.Lênin đã từng phân
tích: "Chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển và sự kế tục trực tiếp của những đặc tính cơ
bản của chủ nghĩa tư bản nói chung. Nhưng chủ nghĩa tư bản chỉ trở thành chủ nghĩa
đế quốc tư bản, khi nó đặt tới một trình độ phát triển nhất định, rất cao, khi một số


những đặc tính cơ bản của chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu biến thành điều trái ngược với
những đặc tính đó" [1, 150].
Với nền kinh tế phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, từ khi chuyển dần sang chủ
nghĩa đế quốc, Hoa Kỳ trở thành một quốc gia giàu có, hùng mạnh, có vị trí quan
trọng trên thế giới. Những điều đó kích thích tham vọng đế quốc chủ nghĩa của Mỹ.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ- Cường quốc sinh sau đẻ muộn, không có
chút thuộc địa nào. Dưới tác động của quy luật phát triển không đồng đều của chủ
nghĩa tư bản, các nước vốn chiếm hữu hầu hết các thuộc địa trên thế giới như Anh,
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nhà trở nên tương đối suy yếu so với Hoa Kỳ.
Đúng như Lênin đã phân tích, "Khi toàn thế giới đã bị phân chia, thì tất nhiên kỷ
nguyên độc quyền thuộc địa đã đến, cũng bắt đầu kỷ nguyên đấu tranh đặc biệt gay
gắt để chia và chia lại thế giới" [1,215]. Điều này diễn ra hoàn toàn đúng với Hoa Kỳ
khi Oa -Sinh Tơn tiến hành cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898 và cướp một
loạt thuộc địa của Ma-Đrít bao gồm Cu Ba, Gu-Am, Pu-éc-tô ri-cô, Philíp pin… đây
là cái mốc đánh dấu việc chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần đầu tiên dùng chiến tranh để chia
lại thị trường. Chính sách đối ngoại đế quốc chủ nghĩa của Hoa Kỳ mang rõ rệt tính
chất bành trướng, hiếu chiến, xâm lược từ đây.
Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918, động cơ thúc đẩy Hoa
Kỳvà các thế lực đế quốc khác là giành giật, chia lại thị trường thế giới.
Châu Âu bị tàn phá trong chiến tranh thế giới thứ nhất, bị tụt lùi đáng kể. Hoa kỳ
nhờ chiến tranh mà phát triển kinh tế mạnh mẽ, làm giàu nhanh chong. Trước chiến
tranh, Mỹ còn là con nợ, sau chiến tranh họ đã trở thành nước chủ nợ cho các nước

khác vay gần 100 tỷ đô la.[56,207]. Hoa kỳ dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ
thuật. Thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh trong điều kiện độc
quyền của Mỹ được thúc đẩy rõ rệt. tuy nhiên những khó khăn mâu thuẫn thuộc bản


chất của chủ nghĩa tư bản xuất hiện ngày càng gay gắt. Cuộc đại khủng khoảng kinh
tế 1929 - 1933, lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, kéo theo cuộc khủng hoảng kinh tế
trên troàn thế giới. Cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất đó chứng tỏ thuyết "tự điều
hành" kinh tế của các trường phái cổ điển và mới đã trở nên lỗi thời, lý thuyết cân
bằng tổng quát của L. Vai-rát, và lý thuyết "bàn tay vô hình" của A-đam smít tỏ rõ ra
kém hiệu lực, không bảo đảm được cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển ổn
định [35, tr.91]. Chính vào lúc này xuất hiện đòi hỏi có sự can thiệp mạnh mẽ của
Nhà nước tư bản chủ nghĩa để bảo đảm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh
chống, ổn định hơn. Lý thuyết kinh tế tư bản chủ nghĩa có điều tiết của J.M.Kên-xơ
ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó. J.M.Ken-xơ chủ trương muốn thoát khỏi khủng
hoảng, thất nghiệp, Nhà nước tư bản chủ nghĩa phải can thiệp vào nền kinh tế với đầu
tư quy mô lớn, dựa vào đó Nhà nước thực hiện việc điều tiết kinh tế, can thiệp để
tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng và sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm
việc làm cho tăng thu nhập. Học thuyết J.M.Ken-xơ biểu hiện lợi ích của giai cấp tư
bản độc quyền. J.M.Ken-xơ trở thành công trình sư của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nhà nước [56]. Chính quyền F.Ru-dơ-ven với chính sách kinh tế mới (NewDeal) xây
dựng trên cơ sở học thuyết Ken-xơ đã thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển trong một
thời gian khá dài. Khác với thời kỳ W.Uyn-xơn và T.Ru-do-ven, dưới chính quyền
Fran-klin Ru-dơ-ven, chính phủ Liên bang Hoa Kỳ đã trở thành động lực của nền
kinh tế. [55, 131].
Vào thời điểm đó, quy luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản tác
động thêm sâu sắc. Đức, I-ta-lia, Nhật Bản phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh,
cả ba nước Phát-xít này đều không có thuộc địa. Vì vậy họ có yêu cầu phân chia lại
thị trường thế giới thông qua một cuộc chiến tranh mới mà họ hy vọng sẽ chiến
thắng. Quy luật cạnh tranh, quy luật bóc lột lợi nhuận tối đa- vốn thuộc bản chất của

chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, đã khoét sâu những mâu thuẫn gay gắt không


thể điều hoà được giữa hai tập đoàn đế quốc- tập đoàn Mỹ Anh Pháp và tập đoàn Đức
I-ta-li-a Nhật bản. Đó là nguyên nhân cơ bản làm bùng nổ chiến tranh thế giới thứ
hai.
Với smk kinh tế và quân sự của Mỹ, tập đoàn tư bản cầm quyền ở Oa-sinh-tơn cho
rằng chiến tranh thế giới thứ hai là cơ hội quý báu mà Hoa kỳ có thể lợi dụng để vươn
lên thực hiện tham vọng làm bá chủ thế giới. Trong quyền "Thế kỷ Mỹ" (American
Century) xuất bản năm 1941 ở Hoa Kỳ có đoạn viết: "Năm 1919 Mỹ đã bỏ lỡ khả
năng chưa từng có trong lịch sử là nắm lấy vai trò lãnh đạo thế giới, bây giờ không
nên bỏ lỡ khả năng đó. R.tu-dơ-ven phải đạt được điều mà W.Wilson đã không làm
được. Thế kỷ 20 là thế kỷ của chúng ta. Nó là của chúng ta không chỉ với cái nghĩa là
chúng ta đang sông trong thế kỷ này mà là thế kỷ đầu tiên Mỹ là lực lượng thống trị
thế giới" [6,43]. Ý đồ của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai là phát huy sức mạnh
kinh tế, quân sự, chính trị của họ nhằm không những cùng các nước đồng minh đánh
bại các thế lực phát xít Đức I-ta-li-a Nhật bản mà còn nhằm từng bước làm suy yếu
Liên Xô. Với những toan tính đó, ngày 24-6-1941, hai ngày sau khi Hít-le tiến công
Liên -Xô, Ha-ri Tru-man- lúc đó là một thượng nghị sĩ có tên tuổi, về sau làm tổng
thống Mỹ, tuyên bố rằng "nếu chúng ta (Mỹ) thấy Đức thắng, chúng ta phải giúp
Nga, Nếu Nga thắng chúng ta phải giúp Đức. Làm thế nào để họ tiêu diệt nhau càng
nhiều càng tốt" [41, 43] Thủ tướng Anh Uyn-xtơn Soc-sin cũng có quan điểm giống
Mỹ. Trong diễn văn đọc ngày 22-601941 khi hàng trăm sư đoàn của Hít le đang ồ ạt
tiến công Liên Xô; mở màn cuộc chiến tranh Đức- Xô, W.sơn-sin vẫn nhắc lại rằng
"không một ai có thể là địch thủ quyết liệt nhất chống chủ nghĩa cộng sản như tôi
trong vòng 25 năm qua.Tôi không rút lui bất kỳ một lời nào là tôi đã tuyên bố nó"
[49. 319]. Tuy nhiên biết rõ âm mưu của Hít-le tiến công Liên Xô nhằm một khi đánh
bạii "con gấu Nga", Phát xít Đức sẽ quay sang tiêu diệt nước Anh, vì vậy W.sơn-sin
vẫn duy trì liên minh và ủng hộ Liên Xô trong cuộc chiến đấu chống Hítle. Và không



bao lâu khi chiến tranh thứ hai kết thúc, W.Hít-le. Và không bao lâu sau khi chiến
tranh thứ hai thời kết thúc ,W.Sơn-sin đã kêu gọi tiến hành cuộc chiến tranh thập tư
chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản.
Căn cứ những tình hình trên đây, chúng tôi thấy có thể rút ra mấy nhận xét.
1) Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước Mỹ với những tham vọng to lớn và
những thủ đoạn thâm độc mang tính chất bành trướng hiếu chiến, xâm lược nhằm
thống trị thế giới, là cơ sở kinh tế- xã hội, phản ánh bản chất giai cấp, bản chất chính
trị phản động của các quan điểm, chủ trương chính sách cũng như của chiến lược toàn
cầu nói chung của Hoa Kỳ.
2. Tham vọng làm bá chủ thế giới- mục tiêu cơ bản của chiến lược toàn cầu sau
chiến tranh của Mỹ, đã xuất hiện ngay từ trước và trong lúc chiến tranh thứ hai đang
diễn ra. Một số chủ trương, biện pháp đã được triển khai thực hiện ngay trong chiến
tranh, mặc dù chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của Mỹ lúc đó chưa được nghiên
cứu và xây dựng một cách hoàn chỉnh.
3. Âm mưu làm suy yếu, đẩy lùi, chống Liên Xô, chống chủ nghĩa cộng sản của
Mỹ đã được tính đến với những chủ trương biện pháp cụ thể được tiến ahnhf ngay
trong chiến tranh, để sau khi chiến tranh kết thúc phát triển thành một chiến lược
hoàn chỉnh, chiến lược "ngăn chặn" chống Liên Xô, chông chủ nghĩa cộng sản.
Tiết 2: Nội dung và quá trình điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ
I. Bối cảnh quốc té và sự ra đời của chiến lược toàn cầu của Mỹ
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với thắng lợi lịch sử của Liên Xô, các nước
đồng minh phương Tây, Mỹ, Anh, Pháp đã đưa đến những thay đổi cực kỳ sâu sắc
trong so sánh lực lượng và trong các mối quan hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới.


Căn cứ tình hình thực tế trên thế giới vào thời điểm lịch sử đó. Chúng tôi thấy có thể
nêu lên bốn đặc diểm lớn ảnh hưởng đến chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của Mỹ.
- Đặc điểm quan trọng nhất của tình hình quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai,
đó là sự xuát hiện của hai phe, hai siêu cường, của thế hai cực trên thế giới. Liên Xô

chiến thắng trong chiến tranh, khôi phục và từng bước phát triển kinh tế trong hoà
bình, uy tín và ảnh hưởng tăng lên manhm mẽ ở Châu âu và thế giới. Các nước Đông
âu, được Hồng Quân Liên xô giải phóng, trở thành các nước dân chủ nhân dân, và từ
năm 1948 lần lượt trở thành các nước xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội vượt khỏi
phạm vi một nước, trở thành một hệ thống thế giới, làm chỗ dựa quan trọng cho
phong trào giải phóng và độc lập dân tộc cũng như cho phong trào giải phóng và độc
lập dân tộc cũng như cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ trong các nước tư bản chủ nghĩa. Đây
là một thách thức mới nghiêm trọng mà chủ nghĩa đế quốc Mỹ tìm mọi cách đối phó.
- Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng đã diễn ra những biến đổi sâu sắc trong so
sánh lực lượng giữa các nước tư bản chủ nghĩa theo hướng có lợi cho Hoa Kỳ. Ba đối
thủ hùng mạnh nhất của Mỹ trước đây là Đức, I-ta-li-a, Nhật bản đã bị đánh bại hoàn
toàn trong chiến tranh và bị kiệt quệ, Anh, Pháp- đồng minh của Mỹ, tuy thắng trận
nhưng cũng bị thiệt hại nặng nề, suy yếu nghiêm trọng, phụ thuộc vào Mỹ và phải
chịu sự lãnh đạo, khống chế của Oa-sinh-tơn, Hoa Kỳ ra khỏi chiến tranh, trở nên
giàu có hơn trước, trở thành quốc gia hùng mạnh nhất. Chủ nghĩa tư bản độc quyền
Mỹ chuyển nhanh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, tạo lợi thế cho các thế
lực tư bản tài phiệt phát triển thêm mạnh mẽ. Về kinh tế, vào lúc này Mỹ chiếm gần
một nửa sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản chủ nghĩa và 70% số lượng vàng
dự trữ trên toàn thế giới. Về quân sự, Mỹ nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử; các lực
lượng Hải quân, không quân mạnh hơn tất cả các nước khác, Lục quân tuy không
bằng Liên Xô nhưng cũng là một lực lượng to lớn, hiện đại. Về chính trị, Hoa Kỳ


nhanh chống thay chân các nước đế quốc khác đang bị suy yếu, mở rộng phạm vi ảnh
hưởng và sự thống trị thực dân kiểu mới ra nhiều khu vực, trở thành thế lực đế quốc
đầu sỏ hùng mạnh nhất trên thế giới. Những nhân tố này kích thích mạnh mẽ tham
vọng làm bá chủ toàn cầu của Mỹ.
- Phong trào giải phóng dân tộc xuất hiện ngay trong lòng chiến tranh thế giới thứ
hai, sau chiến tranh nhanh chóng phát triển thành cao trào giải phóng dân tộc, một

mũi tiến công lợi hại, một thách thức nghiêm trọng đối với chủ nghĩa thực dân, chủ
nghĩa đế quốc trong đó có Hoa Kỳ, kẻ đang có tham vọng làm bá chủ thế giới.
- Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật trên thế giới sau chiến tranh phát triển mạnh
mẽ, biến khoa học kỹ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy nền kinh tế
các nước công nghiệp phát triển phục hồi và tiến lên nhanh chóng, tác động sâu sắc
đến so sánh lực lượng giữa các nước tên thế giới.
Nhìn chung lại, những nhân tố mới xuất hiện trong tình hình quốc té sau chiến
tranh, đã tạo ra những xu thế mới, những khả năng và triển vọng mới có lợi cho hoà
bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội đồng thời đặt ra những vấn đề mới, thách
thức mới to lớn. Tất cả những tình hình đó tác động to lớn đến việc đế quốc Mỹ xem
xét, tính toán, xác định chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của họ.
II. Các mục tiêu cơ bản của chiến lược toàn cầu của Mỹ
Các chuyển động sâu sắc trong cục diện quốc tế, trong so sánh lực lượng trên thế
giới và các mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh khiến chủ nghĩa đế quốc Mỹ đứng
trước những cơ hội và thách thức mới, kích thích những tham vọng mới của họ.
Các thế lực tư bản độc quyền Mỹ cho rằng với sức mạnh hùng hầu về kinh tế, quân
sự và chính trị của Hoa Kỳ, trong lúc các đối thủ và đồng minh đều bị suy yếu, kiệt
quệ trong chiến tranh họ có khả năng khống chế các nước ta bản Phương Tây trong
quỹ đạo của Mỹ, giành giật thuộc địa của các nước đế quốc già cỗi nhằm áp đạt chủ


nghĩa thực dân mới, mở rộng sự khống chế của Hoa Kỳ trên thế giới. Mặt khác, ngăn
chặn đẩy lùi các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội,
thiết lập mọt Pã AMERICANA một nền hoà bình kiểu Mỹ, từng bước thực hiện giấc
mộng làm bá chủ thế giới.
Căn cứ vào những ý kiến của các nhà lãnh đạo Mỹ và các nhà nghiên cứu chiến
lược Hoa Kỳ trong đó có quan điểm của GKen-nan, người đề xướng chiến lược toàn
cầu "ngăn chặn", chúng tôi thấy Hoa Kỳ có bốn yêu cầu chiến lược trong giai đoạn
sau chiến tranh. Thứ nhất, lợi dụng cơ hội mới giải quyết các khó khăn nhằm bảo
đảm nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh mẽ mà không gặp khủng hoảng lớn. Xây dựng

nước Mỹ hùng mạnh về các mặt, bành trướng ảnh hưởng của họ trên thế giới, từng
bước thực hiện kế hoạch làm bá chủ toàn cầu. Thứ hai, ngăn chặn, đẩy lùi Liên xô và
phong trào cộng sản quốc tế. Thứ ba, đẩy lùi, làm thất bại phong trào giải phóng dân
tộc. Tranh chấp, giành giật thuộc địa của các nước đế quốc khác bị suy yếu để biến
thành chư hầu, thuộc địa thực dân kiểu mới của Mỹ. Thứ tư, viện trợ, giúp đỡ các
nước đồng minh phương Tây khôi phục kinh tế sau chiến tranh, củng cố chủ nghĩa tư
bản ở các nước này, xúc tiến viện trợ cho các nước khác trên thế giới nhằm mở rộng
ảnh hưởng và vai trò lãnh đạo của Mỹ ở các khu vực, tạo ra một thị trường mới quan
trọng cho Mỹ, mặt khác khống chế các nước đồng minh Tây Âu, các nước tư bản,
chủ nghĩa khác trong quỹ đạo của Mỹ.
Các nhà lãnh đạo và các nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ, xuất phát từ những yêu
cầu cơ bản nói trên đã xây dựng chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của Hoa Kỳ. Căn
cứ vào các tuyên bố của tổng thống Mỹ - Tru- nam, người đề ra "Học thuyết Trunam" cùng các nàh lãnh đạo khác và kji của G.Ken-nan, chúng tôi thấy chiến lược
toàn cầu sau chiến tranh của Hoa Kỳ có bốn mục tiêu cơ bản:
a) Phát triển nước Mỹ hùng mạnh về các mặt kinh tế, quân sự, chính trị, làm chỗ
dựa cho việc thực hiện tham vọng của họ làm bá chủ thế giới.


b) Thực hiện chính sách "đối đầu" và "ngăn chặn" chống Liên Xô, các nước dân
chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cộng sản quốc tế.
c) Khống chế các nước đồng minh phương Tây trong quỹ đạo của Mỹ. Tăng cường
vị trí khống chế, thống trị của Mỹ, đối với nền kinh tế và hệ thống tư bản chủ nghĩa
trên thế giới.
d) Ngăn chặn, đẩy lùi, chống phá phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, giành
giật thuộc địa của các nước đế quốc bị suy yếu.
Để thực hiện các mục tiêu đó, Hoa Kỳ đã phát động cuộc "chiến tranh lạnh" trên
thế giới. Đây là một kế hoạch chiến lược mang tầm vóc toàn cầu, có âm mưu tinh tón
sâu xa nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, quân sự và chính trị của các tập đoàn tư bản lũng
đoạn.
Các mục tiêu cơ bản của chiến lược toàn cầu của Mỹ phản ánh nét bản chất giai

cấp và cơ sở kinh tế- xã hội của nó, sau chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình chuyển
biến từ chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước- quá
trình này bắt đầu diễn ra ở Hoa Kỳ từ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đến lúc
đó diễn ra ngày càng nhanh chóng hơn. Nhà nước Hoa Kỳ, đại diện của các thế lực tư
bản độc quyền, của tổ hợp quân sự- công nghiệp hùng mạnh, tìm cách bành trướng
sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị ở các nước ngoài nhằm mục tiêu lãnh đạo thế
giới. Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước Mỹ trong giai đoạn này càng tạo điều
kiện cho sự tập trung và tích tu tư bản, thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang, dùng viện
trợ kinh tế và quân sự, thành lập các liên minh quân sự… làm công cụ để thực hiện
chiến lược toàn cầu của họ.
III. Quá trình vận động- điều chỉnh của chiến lược, toàn cầu của Mỹ
Không đầy mười tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Hoa Kỳ đã
triển khai thực hiện chiến lược toàn cầu "ngăn chặn Liên Xô, ngăn chặn chủ nghĩa


cộng sản" (gọi tắt là "chiến lược ngăn chặn"). Để dễ bề tập hợp lực lượng trên thế
giới nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu và che dấu âm mưu bành trướng xâm lược
của họ. Hoa Kỳ giơ cao con ngáo ộp "chủ nghĩa cộng sản" ra hù doạ, kêu gào tiến
hành cuộc "chiến tranh thập tư" chống Liên xô, chống cộng sản. Nhưng thực chất
chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của Mỹ không chỉ nhằm chống Liên Xô chống
cộng sản, mà nhằm thực hiện toàn bộ mục tiêu cơ bản nói trên, thực hiện quyền bá
chủ của Mỹ trên thế giới.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chiến lược toàn cầu này chịu sự tác động của
những chuyển động, thay đỏi trong bản thân nước Mỹ và trong so sánh lực lượng trên
thế giới, cũng như của sự vận động của các mâu thuẫn cơ bản của thời địa trong ừng
thời kỳ. Từ khi ra đời năm 1946 cho đến khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu sụp đổ năm 1990- 1991, chiến lược toàn cầu" ngăn chặn chủ nghĩa cộng
sản" của Mỹ dã nam lẫn được điều chỉnh mỗi khi trên thế giới xuất hiện những tình
hình mới, nhân tố mới, những thay đổi quan trọng tác động sâu sắc đến so sánh lực
lượng giữa Hoa Kỳ và các đối thủ của họ cũng như đối với các nước trên thế giới nói

chung, làm cho chiến lược toàn cầu của Mỹ đến lúc đó trở nên lỗi thời hoặc gây thất
bại. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược toàn cầu của Mỹ bao gồm các mặt
kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng văn hoá… nhưng mặt quân sự là nổi bật nhất.
1. Học thuyết Tru-man và chiến lược "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản "(19461952)
Khi chủ nghĩa phát xít Hít le vừa bị đánh bại, tháng 5-1945 tư lệnh không quân Mỹ
G.Ac-Nôn cùng với tư lệnh không quân Hoàng Gia Anh S.Póc-tan nhất trí rằng "kẻ
thù tiếp theo của chúng ta là nước Nga". Tướng Mỹ Mắc Ac-tơ tháng 11-1945 cùng
bàn với tướng Anh A-lan Buých :"Chúng ta phải chuẩn bị chiến tranh và tập trung ít
nhất một nghìn quả bom nguyên tử ở Anh và Mỹ", "Phải tiến công nước Nga từ Mỹ-


mà những căn cứ ở Ô-ki-na-oa (Nhật bản) là những nơi dừng chân lý tưởng để lấy
xăng dầu" [18, 7-8].
Chiến lược toàn cầu sau chiến tranh của Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở một
học thuyết dược giới tư bản độc quyền Mỹ đầy thế lực chấp nhập. Giooc-giơ Kennan, chủ tịch uỷ ban vạch chính sách của chính phủ, cứu đại sứ Mỹ ở Liên Xô đã đề
ra học thuyết đó. Tháng 7-1946. G.Ken-non viết trên tạp chí đối ngoại (Mỹ): "Chính
sách đối ngoại của Hoa Kỳ càn phải thực hiện sự ngăn chặn lâu dài, nhẫn nại, kiên
định, cảnh giác đối với xu thế bành trướng của Liên Xô "Cần" áp dụng chính sách
kiên quyết ngăn chặn ở bất kỳ nơi nào mà Liên Xô có khả năng làm tổn hại tới lợi ích
quốc gia phương Tây thì kiên quyết đối kháng với nó" [18. 8-9]. Vào thời điểm đó,
các nhà lãnh đạo, Mỹ, Anh cũng đã lên tiếng kêu gọi chống Liên Xô, chống chủ
nghĩa cộng sản. W.sơc-sin, thủ tướng Anh, trong diễn văn ở Phun-tơn (Mỹ) ngày 5-31946 đã hô hào các nước ta bản chủ nghĩa chống Liên Xô và các nước dân chủ nhân
dân, tiến công các lực lượng dân chủ ở các nước tư bản, tập hợp các thế lực đế quốc
chống phe xã hội chủ nghĩa [6, tr. 43]. Diễn Văn Phun-tơn của W.Sơc-sin được coi là
lời kêu gọi phát động cuộc "chiến tranh thập tư" chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng
sản, cùng với học thuyết Tru-man đã mở đầu cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới. Một
tuần sau bài diễn văn Phun-tơn của W.Sơc-sin, tổng thống H.Tru-man giử thư cho
Quốc hội Mỹ [46, 227]. Ông ta xuyên tạc Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản, nói rằng
các chế độ chuyên chế đang áp đặt lên các dân tộc tự do bằng hành động xâm lược
trực tiếp hoặc gián tiếp có tác dụng phá hoại những nền tảng của hoà bình thế giới và

do đó của cả nền an ninh nước Mỹ. Ông ta nêu rõ rằng chính sách của Mỹ nhất thiết
phải ủng hộcc dân tộc tự do dạng chống lại các nhóm vũ trang thiểu số hoặc áp lực từ
bên ngoài.


Học thuyết Tru-man ra đời ngày 12-3-1946 được xây dựng trên cơ sở sức mạnh
dựa vào độc quyền vũ khí nguyên tử và lực lượng hùng mạnh của Mỹ, nhằm các mục
đích chủ yếu.
a) Ngăn chặn, đẩy lùi Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản.
b) Tập hợp các nước Tây Âu trong một liên minh quân sự do Mỹ chi phối, cùng
với viện trợ kinh tế, củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa ở những nơi nó bị suy yếu,
khống chế các nước Tây Âu trong quỹ đạo của Hoa Kỳ, mở thị trường mối quan
trọng cho nền kinh tế Mỹ.
c) Ngăn chặn , đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc thông qua việc "ủng hộ các
dân tộc tự do đang chống lại các nhóm vũ trang thiểu số hoặc áp lực từ bên ngoài".
Chính quyền Oa-sinh-tơn sử dụng các công cụ kinh tế, chính trị, quân sự để triển
khai thực hiện học thuyết Tru-man, về kinh tế, họ đưa va kế hoạch Mác-san- mang
tên bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Tru-man. Kế hoạch này được công bố ngày
5-6-1947 nhằm viện trợ kinh tế, cung cấp cho các nước Tây Âu 12 tỷ đô la tín dụng
và trợ cấp từ 1948 đến 1951 vừa giúp các nước này khôi phục kinh tế sau chiến
tranh, củng cố chủ nghĩa tư bản ở nước họ, vừa tạo cho Mỹ thị trường rộng lớn thu
lợi nhuận béo bở, vừa thực hiện được sự khống ché nền kinh tế các nước đồng minh
Tây Âu, kế hoạch Mác-san chủ trương thành lập "uỷ ban điều khiển" do Mỹ nắm để
can thiệp vào công việc vào nội bộ các nước thành viên, xác lập và củng cố vị trí
thống trị của Mỹ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Hoa Kỳ sử dụng hệ thống tiền tệ
Brét-tơn Uts (thành lập ngày 22-7-1944) lấy đồng đô la Mỹ làm trụ cột, làm phương
tiện thanh toán quốc tế và hậu phương dự trữ quốc tế chủ yếu trên thế giới để buộc
chặt các đồng tiền và nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa khác vào hệ thống đồng
đô la Mỹ. Các quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng quốc tế
khôi phục và phát triển (BIRD) trong đó Mỹ đóng góp vốn lớn nhất, củng cố tổ chức



hợp tác buôn bán và thuế quan (GATT) được Mỹ khai thác, sử dụng nhằm thực hiện
chế độ tự do buôn bán có lợi cho Oa-sinh-tơn.
Chính quyền Hoa Kỳ làm thoe học thuyết Tru -man, thực hiện chính sách ngoại
giao trên sức mạnh, lôi kéo các đồng minh và chư hầu tham gia các liên minh đa
phương và song phương do Mỹ nắm vai trò chủ chốt. Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO) được Mỹ thúc đẩy tổ chức nhằm thao túng các nước Tây Âu, làm cho công
cụ bao vây ngăn chặn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Kế hoạch
Mác-san và Hiệp ước NATO đã tạo nên một khối kinh tế và một khối quân sự riêng
biệt ở Châu Âu do Mỹ điều khiển, xác định vị trí lãnh đạo của Mỹ trong thế giới tư
bản chủ nghĩa, làm công cụ chủ chốt trong việc khống chế các đồng minh ở Tây âu,
tiến hành cuộc thập tư chống Liên Xô, chống cộng sản.
Dựa trên học thuyết Tru- man, chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ sau chiến tranh
bắt đầu hình thành. Nội dung cơ bản của chiến lược quân sự này là dựa trên cơ sở độc
quyền về vũ khí nguyên tử, đe doạ, ngăn chặn, đẩy lùi Liên Xô và các dân tộc đứng
lên tự giải phóng. Phương tiện chính để thực hiện chiến lược quân sự toàn cầu đó là
bộ ba vũ khí chiến lược và phương tiện chiến tranh bao gồm vũ khí nguyên tử, máy
bay ném bom chiến lược (B52) và hệ thống các căn cứ quân sự khổng lồ.
Học thuyết Tru-man đánh dấu chuyển hướng bước ngoặt trong chính sách đối
ngoại của Mỹ có từ thời G. Oa-sinh-tơn lúc đó hợp chủng quốc Hoa Kỳ mới ra đời
chủ trương "không can dự" vào các vấn đề quốc tế. Học thuyết Tru-man đặt nền tảng
cho chiến lược "ngăn chặn Liên Xô, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản", đặt cơ sở cho
việc hình thành các cơ cấu tổ chức và các công cụ chủ yếu để tiến hành cuộc "chiến
tranh lạnh" trong hơn bốn thập kỷ qua.
2. Chủ nghĩa Ai-xen-hao và chiến lược "trả đũa ồ ạt" (1953-1960)


Những năm cuối nhiệm vụ tổng thống của Tru-man diễn ra bốn chuyển động quan
trọng trong tình hình quốc tế và so sánh lực lượng trên thế giới Hoa Kỳ lần đầu tiên

phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau chiến tranh.
- Hoạt động của Liên minh chống phát xít bao gồm Liên Xô cùng Mỹ, Anh, Pháp
và những đồng minh khác có từ trong chiến tranh thế giới thứ hai, bị Phương Tây phá
hoại, đi đến tê liệt hoàn toàn vào năm 1949. Xuất hiện rõ rệt hai phe đối lập và thế hai
cực trên thế giới.
- Chiến tranh lạnh do Mỹ tiến hành chống Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và
xã hội chủ nghĩa Đông Âu vẫn không cản trở được các nước này tiếp tục phát triển
lớn mạnh. Năm 1949, Liên Xô chế tạo bom nguyên tử, phá vỡ sự độc quyền của Mỹ
về vũ khí hạt nhân, tạo thách thức đối với chiến lược "Ngăn chặn" của Mỹ. Tuy nhiên
Oa-sinh-tơn vẫn còn nắm ưu thế về vũ khí nguyên tử.
- Chiến lược ngăn chặn và chiến tranh lạnh không ngăn cản được phong trào giải
phóng dân tộc phát triển thành cao trào mới. nhiều nước mới độc lập ra đời góp phần
làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới. Đông Nam Á và châu Á trở thành cái nôi của
phong trào giải phóng dân tộc. Hội nghị Á-phi với 10 nguyên tắc băng dung phản
ánh sự lớn mạnh và thúc đẩy phong trào giải phóng và độc lập dân tộc ở hai lục địa
này.
- Dưới tác động của quy luậtpt không đồng đều của chủ nghĩa tư bản, các nước Tây
âu, Nhật Bản khôi phục và phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh, rút ngắn khoảng cách
giữa họ và Hoa Kỳ. Ở Tây Âu bắt đầu xuất hiện khuynh hướng ly tâm khỏi Mỹ. Cuộc
cạnh tranh giữa Tây âu và Mỹ diễn ra vào lúc Oa-sinh-tơn đang triển khai chiến lược
toàn cầu rất tốn kém, lại vấp phải hai cuộc khủng hoảng kinh tế 1953- 1954 và 1957 1958, làm cho Hoa Kỳ càng thêm khó khăn.


Các thế lực tư bản độc quyền, đặc biệt các thế lực hiếu chiến ở Mỹ cho rằng việc
thực hiện chiến lược toàn cầu và cuộc chiến tranh lạnh không đạtkq như họ mong
muốn vì chưa đạt liều lượng cần thiết. Vì vậy ho chủ trương đẩy mạnh cuộc chiến
tranh lạnh lên một mức cao hơn, tiến hành cuộc điều chỉnh chiến lược toàn cầu,
chuyển sang thực hiện một chiến lược quân sự toàn cầu mới và một chính sách ngoại
giao mới hiếu chiến hơn, với những biện pháp quyết liệt hơn. đó là cơ sở khách quan
đưa đến sự ra đời của "chủ nghĩa Ai-xen-hao", chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt" và

chính sách ngoại giao "bên miệng hố chiến tranh".
Tổng thống Ai-xen-hao lên cầm quyền, phê phán chính sách "ngăn chặn"
(containment) của Tru-man và đưa ra chính sách "đẩy lùi" (Rollback) chủ nghĩa cộng
sản. Nội dung chiến lược toàn cầu được điều chỉnh và chính sách Rolllback của Aixen-hao đánh dấu đỉnh cao mới của chính sách bành trướng, hiếu chiến, xâm lược của
Hoa Kỳ. Đưa vào ưu thế của Mỹ về vũ khí nguyên tử, Ai-xen-hao chủ trương đẩy
cuộc đối đầu lên mức cao, hòng ép buộc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa phải
nhân nhượng, lùi bước, khuất phục trước sức mạnh của Mỹ. Với chủ nghĩa Ai-xenhao, chính quyền Oa-sinh-tơn tự cho mình quyền can thiệp bằng quân sự, tiến hành
chiến tranh ở bất cứ nơi nào mà họ cho rằng bị nguy cơ xâm lược do chủ nghĩa cộng
sản quốc tế kiểm soát. Tuy nhiên, trước khả năng bị hạn chế của Mỹ trong việc thực
hiện các mục tiêu chiến lược đó, Ai-xen-hao chủ trương thực hiện chính sách chia sẻ
trách nhiệm, buộc các nước đồng minh đóng góp tích cực hơn vào việc thực hiện
chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Chiến lược quân sự toàn cầu mới "trả đũa ồ ạt" của Ai-xen-hao chủ trương ba điều
quan trọng.
a/ Đẩy mạnh việc cải tiến kỹ thuật, xúc tiến sản xuất các vũ khí chiến lược (kể cả
máy bay chiến lược B52), giảm bớt lực lượng và vũ khí thông thường.


b/ Dùng vũ khí hạt nhân chiến lược đánh đòn phủ đầu bất ngờ vào đối phương
(Liên Xô), tiêu diệt sức mạnh quân sự, đặc biệt các phương tiện hạt nhân chiến lược,
để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng đánh trả bằng hạt nhân của đối phương, đè
bẹp ý chí đề kháng của đối phương, nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong
những giờ và những ngày đầu tiên của chiến tranh.
c/ Trường hợp nổ ra chiến tranh với một nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện "trả đũa
tức khắc" (Instant retaliation) và "trả đũa ồ ạt" (massive retaliation) không chỉ vào
nước xã hội chủ nghĩa đó, mà bao bất cứ nơi nào Mỹ thấy cần thiết, nghĩa là Oa-sinhtơn không chấp nhận nguyên tắc một cuộc chiến tranh hạn chế.
Về đối ngoại, chính quyền Ai-xen-hao thực hiện chính sách "bên miệng hố chiến
tranh", đem vũ khí nguyên tử ra hù doạ nhằm buộc đối phương lùi bước, đầu hàng
trước sức ép của Mỹ. Dưới chiêu bài chống "nguy cơ cộng sản", Hoa kỳ thúc ép các
nước đế quốc khác tham gia cuộc chạy đua vũ trang, giúp Nhật bản, CHLB Đứcnhững kẻ thù có vũ trang lại, thành lập các liên minh quân sự, xây dựng hệ thống căn

cứ quân sự toàn cầu. Lôi kéo Liên Xô và cuộc chạy đua vũ trang cực kỳ tốn kém
nhằm làm kiệt sức nước này. Viện trợ can thiệp vào các cuộc xung đột khu vực nhằm
hất cẳng bọn thực dân cũ, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.
Học thuyết Ai-xen-hao cùng chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt" và chính sách ngoại
giao" bên miệng hố chiến tranh" đã đẩy cuộc đối đầu trên thế giới lên đỉnh cao, làm
cho tình hình quốc tế cực kỳ căng thẳng.
3. chiến lược "phản ứng linh hoạt" và chính sách đối ngoại "vì hoà bình" của
Giôn Ken-nơ-đi (1961 - 1968).
Chỉ bốn năm sau khi triển khai chính sách "Đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản" chiến lược
"trả đũa ồ ạt" đã tỏ ra không có hiệu quả trong việc chống phá cách mạng thế giới,
trái lại làm cho Oa-sinh-tơn bị lúng túng trong việc đối phó với nhiều tình huống mới,


xung đột mới xảy ra. Có ba nhân tố khách quan buộc Hoa Kỳ phải tiến hành cuộc
điều chỉnh lần thứ hai chiến lược toàn cầu của họ:
- Việc Liên xô chế tạo thành công bom khinh khí (1953), phóng vệ tinh nhân tạo
đầu tiên của trái đất (1957) làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng quân sự giữa hai
nước và trên thế giới. Những thành quả quan trọng đó của Liên Xô không những
củng cố thế cân bằng hạt nhân giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, mà còn làm cho chiến lược
quân sự toàn cầu, "trả đũa ồ ạt" của Mỹ bị khủng hoảng trầm trọng, vì từ nay với việc
Liên Xô có tên lửa toàn cầu, lãnh thổ Mỹ không còn là đất thánh bất khả xâm phạm
nếu họ liều lĩnh phát động chiến tranh hạt nhân.
- Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục dâng cao trong lúc Hoa Kỳ với học thuyết
quân sự của Ai-xen-hao không xác định được chiến lược đối phó thích hợp. Trong
thời kỳ này, chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp của Việt Nam mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.
Phong trào các nước không liên kết ra đời, tập hợp đông đảo các nước độc lập non
trẻ. chiến lược "trả đũa ồ ạt" bằng vũ khí hạt nhân của Mỹ tỏ ra bị động, không ngăn
chặn được cao trào giải phóng dân tộc.
- Nhật Bản, Tây Âu hoàn thành việc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, đi vào thời

kỳ phát triển mạnh mẽ, rút ngắn dần khoảng cách giữa họ và Hoa Kỳ. Mâu thuẫn
giữa các nước tư bản phát triển diễn ra phức tạp, đạt ra thách thức mới đố với Hoa
Kỳ.
Cuộc chạy dua vũ trang hạt nhân cực kỳ tốn kém, sự lỗi thời của chiến lược "trả
đũa ồ ạt", cuộc khủng hoảng trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, đặc biệt
trong so sánh lực lượng quân sự giữa Mỹ và Liên Xô khiến cho các nhà chiến lược
Hoa Kỳ phải tính đến hai điều. Một là phải chuyển hướng trong chiến lược toàn cầu
từ đối đầu quyết liệt sang hoà hoãn với Liên Xô nhằm tập trung đối phó với phong


trào giải phóng dân tộc đang ngày càng phát triển trở thành mối nguy cơ trực tiếp đe
doạ đế quốc Mỹ, mặt khác đi vào hoà hoãn với Liên Xô sẽ có cơ hội khoét sâu mâu
thuẫn giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, điều chỉnh chiến lược quân
sự "trả đũa ồ ạt" bằng vũ khí hạt nhân sang một chiến lược quân sự mới linh hoạt
hơn, nhằm đối phó được với cả ba tình huống: - các cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc: các cuộc xung đột khu vực; cuộc chiến tranh toàn cầu bằng vũ khí hạt nhân.
Cuộc điều chỉnh lần thứ hai chiến lược toàn cầu của Mỹ do tổng thống G.Ken-nơđi tiến hành là nhằm giải quyết những yêu cầu và đối phó với những thách thức nói
trên. Chiến lược mới được điều chỉnh của G.Ken-nơi-di gồm ba bộ phạn cấu thành
quan trọng. Đó là kế hoạch "xây dựng một xã hội vĩ đại" ở Mỹ nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế ở trong nước; chính sách đối ngoại "vì hoà bình" thực hiện hoà hoãn
với Liên Xô nhằm tập trung lực lượng chống phong trào giải phóng dân tộc; và chiến
lược quân sự toàn cầu mới "phản ứng linh hoạt" với ba loại hình chiến tranh xây dựng
trên cơ sở học thuyết của tướng Mắc-xoen Tay-lơ.
Trong thời kỳ chuyển từ đối đầu sang hoà hoãn này, đã diễn ra nhiều cuộc họp cấp
cao Xô-Mỹ thoả thuận giữ nguyên hiện trạng hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản
chủ nghĩa trên thế giới. Việc tổng thống G.Ken-nơ-di chấp nhận đi vào hoà hoãn với
Liên Xô là nhằm hai mục đích: - vừa tranh thủ thời gian và điều kiện hoà hãn để củng
cố sức mạnh bên trong của nước Mỹ, vừa tạo điều kiện thuận lợi thực hiện chính sách
diễn biến hoà bình ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Xuất phát từ nhận định phe
xã hội chủ nghĩa không còn là một khối thống nhất, ràng có làm cho quan hệ Xô- Mỹ

hoà dịu mới có thể làm cho quan hệ Mỹ và các nước Đông Âu được cải thiện, tạo cơ
hội cho Oa-sinh-tơn thực hiện chính sách diễn biến hoà bình ở các nước này.
Mặt khác G.Ken-nơ-di tiến hành điều chỉnh chiến lược quân sự toàn cầu, chấm dứt
chiến lược "trả dũa ồ ạt" bằng vũ khí hạt nhân, chuyển sang áp dụng chiến lược "phản
ứng linh hoạt" với ba loại hình chiến tranh tiến hành thí điểm áp dụng chiến lược


quân sự mới này trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam với hy vọng đối phó
có hiệu quả với các cuộc xung đột vũ trang ở khu vực giải phóng dân tộc. Chiến lược
toàn cầu mới được điều chỉnh và chiến lược quân sự "phản ứng linh hoạt" của G.Kennơ-đi vẫn mang đậm tính chất bành trướng, hiếu chiến, xâm lược Tổng thống G.Kennơi-di tuyên bố: "Chúng ta hãy làm cho mọi người biết rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá
nào, gánh vác bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ sự gian khổ nào, ủng hộ
bất cứ bạn bè nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào để đảm bảo sự sống còn và thắng lợi
của thế giới tự do. [18, 38].
Tổng thống G.Ken-nơi-di bị ám sát năm 1963, Tổng thống L.Giôn-xơn lên thay, áp
dụng chiến lược "phản ứng linh hoạt" ở Việt Nam với mức cao hơn, tiến hành chiến
tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên
thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam đã góp phần quyết định
đưa đến sự phá sản của chiến lược "phản ứng linh hoạt" của Hoa Kỳ.
4. Học thuyết Ních -xơn và chiến lược "ngăn đe thực tế" (1969 - 1986)
Có năm nhân tố buộc Hoa Kỳ phải tiến hành cuộc điều chỉnh chiến lược toàn cầu
lần thứ ba.
- Yếu tố quan trọng nhất, đó là sự thất bại có ý nghĩa chiến lược của Mỹ trong cuộc
chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam, làm phá sản chiến lược quân
sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" ngay trong cuộc ra quân đầu tiên của nó. Thất bại
này đẩy chiến lược toàn cầu của Mỹ rơi vào một cuộc khủng hoảng rất nghiêm trọng.
- Phong trào giải phóng và độc lập dân tộc trên thế giới- được cổ vũ bởi những
thắng lợi của Việt Nam, có bước phát triển mới, buộc Oa-sinh-tơn phải bị động đối
phó.
- Trong lúc Hoa kỳ đang sa lầy và chảy máu ở Việt Nam. Liên Xô - đối tượng tác
chiến chủ yếu của Mỹ- tiếp tục xây dựng lớn mạnh về quốc phòng, đặc biệt về vũ khí



chiến lược, tiến tới đạt thế cân bằng về chiến lược so với Mỹ, tạo thách thức mới đối
với Oa-sinh-tơn.
- Nhiều nước phương Tây, đặc biệt là Nhật Bản và CHLB Đức lợi dụng lúc Mỹ bị
vướng chân trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ra sức xây dựng kinh tế phát triển
nhanh chóng, trở thành đối thủ đáng gờm về kinh tế cạnh tranh với Hoa Kỳ. Khuynh
hướng ly tâm được thúc đẩy, đặt Oa-sinh-tơn trước những thách thức mới.
- Thất bại chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam đẩy nước Mỹ vào khủng
hoảng nội bộ sâu sắc. Kinh tế Mỹ rơi vào trì trệ. Khủng hoảng kinh tế kéo dài đi đôi
với lạm phát cao làm cho kinh tế Mỹ gặp nhiều biến động to lớn- phong trào chống
chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam ngày càng lên mạnh. Nước Mỹ bị chia rẽ trầm
trọng.
Tất cả những tình hình đó đòi hỏi Hoa Kỳ phải cấp bách tìm ra một chiến lược mới
để có thể kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam và nhìn rộng ra, đối phó với những
thách thức mới trên thế giới nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược toàn cầu "lãnh đạo
thế giới" của họ. Học thuyết Nich-xơn và chiến lược "ngăn đe thực tế" đã được xây
dựng trong bối cảnh nước Mỹ và quốc tế có những thay đổi mới không có lợi cho
Hoa Kỳ.
Theo học thuyết Ních-xơn, Hoa kỳ một mặt sử dụng lực lượng đồng minh và chư
hầu là bia đỡ đạn, thực hiện chủ trương "thay màu da của xác chết" theo công thức:
lính ngụy + vũ khí + tiền bạc của Mỹ nhằm tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược;
mặt khác hoà hoãn với Liên Xô, cấu kết với Trung Quốc nhằm làm suy yếu lực lượng
cách mạng thế giới, duy trì nguyên trạng theo hướng có lợi cho Mỹ, học thuyết Ních
xơn thể hiện về mặt quân sự trong "chiến lược ngăn đe thực tế" và về chính trị ngoại
giao trong chiến lược mới vì hoà bình. Học thuyết đó vận dụng vào chiến tranh của


×