Tải bản đầy đủ (.pptx) (28 trang)

Đề tài Phân tâm học Freud và yếu tố phân tâm học trong tác phẩm “ Kafka bên bờ biển” của Murakami

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (446.01 KB, 28 trang )

Đề tài
PHÂN TÂM HỌC FREUD
Phân tâm học Freud và yếu tố phân tâm học trong tác phẩm “ Kafk a bên
bờ biển” của Murakami


I. Chủ nghĩa Freud
Sigmund Freud (1886 – 1939): bác sĩ thần kinh học
người Áo, gốc Do Thái, là người đặt nền móng cho
Phân tâm học và phát triển lĩnh vực này.

Phân tâm học là một học thuyết nghiên cứu về thế giới bên trong con người, nhằm tìm ra lời giải cho
những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan thể hiện qua hành vi của con người, trên cơ sở đó
có thể tìm ra những giải pháp để điều chỉnh hành vi của con người, mà biểu hiện của hành vi đó là
hoạt động gây ảnh hưởng đến những giá trị đạo đức và xã hội




Từ những năm 80, chịu sự ảnh hưởng của trường phái Pháp về thôi miên, Freud tìm hiểu chứng rối
loạn thần kinh chứng năng (tâm thần)



Những năm 90 Freud tập trung xây dựng phân tâm học, tiêu chuẩn thực hành của phân tâm học dựa
trên kĩ thuật tự do liên tưởng, phân tích những hành vi lầm lẫn và những giấc mơ như phương thức
xâm nhập vào cõi vô thức.



Năm 1900, Freud đưa ra học thuyết về cơ cấu bộ máy tâm lý như một hệ thống năng lượng mà cơ sở


phát sinh của nó là xung đột giữa ý thức và những ham muốn vô thức.



Vào năm 1920, Freud công bố công trình “Bản ngã và Bĩ ngã”, đồng thời từng bước vận dụng phân tâm
học vào lĩnh vực tâm lý xã hội, văn hóa nghệ thuật,…


Nội dung thuyết phân tâm học


Thuyết phân tâm học được xây dựng trên khái niệm vô thức.

Freud quan niệm: “Tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện tượng vô
thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý của con người. Mọi hoạt động trong
tâm trí đều bắt nguồn từ trong vô thức và tùy theo tương quan của những lực lương thôi thúc
và ngăn cản được biểu hiện ra theo những quy luật khác hẳn với ý thức.”




Phần cống hiến quan trọng nhất trong học thuyết phân tâm học của Freud là quan điểm về cấu
trúc nhân cách con người. Theo đó, cấu trúc này gồm 3 tầng:



Tầng bản năng Ca (còn gọi là tầng phi ngã – cái ấy – id, thuật ngữ Ca được Freud lấy
lại từ Nietzsche): chứa đựng những cội nguồn cơ bản của tình cảm, những dục vọng, các trạng
thái tâm lý.




Tầng bản ngã ( cái tôi – ego ): là tầng mà ở đó, con người kiểm soát được hành vi tâm lí
xã hội của nó, là tầng hữu thức đối lập với tầng bản năng – phi ngã. Nó chính là các hoạt động
có ý thức của con người, là kết quả của sự tiến triển cửa một phần từ cái phi ngã, qua ảnh
hưởng, tương tác với thế giới bên ngoài.



Tầng siêu ngã ( siêu tôi – superego ): được hình thành từ sự bất lực của bản ngã trước
sự thúc ép của cái phi ngã, khi bản ngã bị đặt trong sức ép của bản năng và văn hóa, bản năng
và các thiết chế xã hội…., cái tôi phải chấp nhận các thiết chế thể hiện qua các quy định về văn
hóa, đạo đức, luật pháp, lối sống và thời đại. Nguyên tắc hoạt động của cái siêu tôi dựa trên
lương tâm và đạo lí.


Vô thức xuất hiện ở
tầng sâu nhất của đời
sống tinh thần, ý thức là
phần nhỏ, nổi lên trên.
Trung gian giữa vô thức
và ý thức là tiềm thức.


Các giai đoạn của libido


Giai đoạn lỗ miệng




Gia đoạn hậu môn



Giai đoạn âm dương vật



Giai đoạn tiềm tàng của sinh dục diễn ra trước tuổi vị thành niên., ở giai đoạn này đi liền với
hiện tượng thủ dâm



Giai đoạn sinh dục là giai đoạn phát triển mạnh của nhu cấu sinh dục trong lứa tuổi dậy thì


 Học thuyết Freud lần đầu tiên đã nếu ra nhiều vấn đề quan

trọng cần phải nghiên cứu một cách sâu sắc, như vai trò của
cái vô thức, của bản năng tính dục, của sự xung đột của bản
năng tính dục.


II. Phân tâm học trong tác phẩm Kafka bên bờ biển


Giới thiệu tác phẩm Kafka bên bờ biển




Kafka bên bờ biển ( 2002) là một tác phẩm rất thành công của Murakami, đã gây tiếng vang
lớn đối với văn học thế giới. Cùng một lúc nhận hai giải thưởng: một trong mười tác phẩm
văn học xuất sắc nhất năm 2005 do tạp chí The New York Time bình chọn và giải thưởng văn
học Franz Kafka năm 2006. Kafka bên bờ biển đã nhận được nhiều lời ngợi ca mà bất cứ một
người cầm bút nào cũng ao ước: “Một cuốn sách để- ngấu- nghiến thật sự, cũng thật là một ám ảnh
siêu dai dẳng” (John Updike),“Tiểu thuyết khác thường và mê hoặc nhất cho tới nay của thần tượng
văn chương Nhật Haruki Murakami” (Vintage), “Cuốn sách là một hỗn hợp chừng mực giữa giật
gân, kỳ ảo và văn chương, và nó thuyết phục một cách đặc biệt. Lại một lần nữa ông đã tạo ra một
câu chuyện khiến bạn lật qua nhanh chóng đến lạ, để rồi ghi nhớ và băn khoăn về nó lâu dài” (Hugo
Barnacle). Và “… chưa bao giờ tôi gặp một cuốn sách thuyết phục được mình đến thế bởi sự sáng tạo
trong trần thuật và sự yêu thích kể chuyện… hấp dẫn vô cùng” (Stuart Jeffries, Guardian).


Tóm tắt tác phẩm Kafka bên bờ biển


Kafka bên bờ biển là một câu chuyện đặc biệt. Có hai mạch chuyện song song diễn ra vào cùng một thời
gian và khác nhau về không gian: Những chương lẻkể về cuộc phiêu lưu của cậu bé mười lăm tuổi Kafka
Tamura, con trai nhà điêu khắc tiếng tăm Koichi Tamura, bỏ trốn khỏi nhà ở Tokyo để
thoát khỏi lời nguyền cay độc của người cha đã giáng xuống đầu mình: giết cha và cưỡng hiếp mẹ
và chị gái. Những chương chẵn kể về cuộc đời của Nakata, một ông già lẩm cẩm đã mất khả năng biết đọc
biết viết sau một tai nạn bí hiểm từ tuổi thơ, nhưng bù lại Nataka lại nghe được tiếng mèo.
Trên hành trình dài, Kafka đã gặp Sakura, người cậu luôn băn khoăn liệu có phải là chị gái của mình.


Kafka dừng chân ở Takamatsu, tìm đến một thư viện tư nhân của dòng họ Komura để đọc
sách hàng ngày. Một sự việc kỳ bí đã xảy ra: Cậu đột ngột ngất đi và khi tỉnh dậy, thấy áo
quần mình thấm đầy
máu . Kafka buộc phải nhờ tới sự trợ giúp của Sakura. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Oshima,

người làm tại thư viện, cậu được nhận việc tại đây và hàng ngày gặp gỡ người phụ nữ năm
mươi hai tuổi Miss Saeki. Một mặt, Kafka luôn trăn trở Miss Saeki có phải là mẹ mình, mặt
khác cậu đem lòng yêu thương linh - hồn - sống thuở mười lăm của Miss Saeki đêm đêm
tìm về phòng cậu.


. Đang chới với giữa hai bờ hiện thực và huyền ảo, quá khứ và thực tại, Kafka nhận tin
cha cậu đã bị giết chết vào đêm cậu ngất đi. Đó cũng là lúc câu hỏi đầy ám ảnh dấy lên
trong lòng cậu thiếu niên mười lăm tuổi:có phải lời nguyền đã ứng nghiệm,có phải
chính cậu đã giết cha mình? Về Nakata, trong khi tìm mèo lạc, một cách vô thức ông đã
phải giết Johnnie Walker, kẻ hủy diệt mèo hàng loạt. Từ đó ông bắt đầu dấn thân vào
một cuộc phiêu lưu huyền bí với những sự kiện không có lời giải thích: trận mưa
cá ngừ và mưa đỉa; cùng với chàng lái xe tải chất phác Hoshino đi tìm "phiến đá cửa
vào". Cuộc hành trình của Kafka và Nakata giao nhau tại hòn đảo Takamatsu.


Cuối cùng Nakata cũng chết, một cái chết thanh thản sau khi hoàn thành sứ
mạng tìm thấy phiến đá thần kỳ, Miss Seaki cũng ra đi đầy mãn nguyện sau khi
gặp Kafka trong giấc mơ ở khu rừng được gọi là "bên rìa thế giới", nơi trung gian
giữa cuộc sống thực tại và thế giới bên kia. Kafka trở về từ khu rừng đó và tiếp
tục cuộc sống ở tuổi mười lăm của mình, thực hiện ước nguyện của Miss Seaki là
ngắm bức tranh "Kafka bên bờ biển" và tưởng nhớ tới bà, trở lại cuộc sống của
một con người bình thường, bỏ qua thù hận và tha thứ cho cha của mình.


Các yếu tố phân tâm học trong " Kafka bên bờ biển" :


1. “Mặc cảm Oedipe”


Câu chuyện về cậu bé Kafka Tamura trốn khỏi nhà vào ngày sinh nhật thứ mười lăm của mình gây ra sự tò
mò với độc giả, mà theo như cậu bé thì cái động lực khiến cậu ra khỏi nhà chính là muốn thoát khỏi lời
nguyền của người cha giành cho mình: “Một ngày kia, mày sẽ giết cha mày và ngủ với mẹ mày…”.

Một khái niệm cơ bản của phân tâm học: “mặc cảm Oedipe” được Freud rút ra từ vở kịch “Oedipe “ dùng
để giải mã một hiện tượng: Người con trai có tình cảm đặc biệt (có thể gọi là tình yêu) đối với mẹ của
mình.


Nhân vật Kafka mà Murakami tạo lập cũng rơi vào “mặc cảm Oedipe”. Cậu bé lớn lên trong nỗi sợ hãi, lo âu một
ngày nào đó mình sẽ phạm tội “giết cha và loạn luân với mẹ”. Những chấn thương tinh thần đó khiến cậu tạo ra
Freud cho rằng, vì những liên hệ đầu tiên của đứa trẻ thường gắn với mẹ nó, hay với người nào làm vai trò của
một sự tự vệ chính đáng, cậu bỏ nhà ra đi vào ngày sinh nhật mười lăm tuổi của mình. Dưới góc nhìn phân tâm
mẹ nó về những sự chăm sóc đầu tiên và về giáo dục, nên người mẹ bao giờ cũng là tình yêu thương đầu tiên
học của Freud, cái “cơ chế” đó có thể lí giải như là một thuộc tính tâm lý của đứa trẻ. Từ khi mới sinh ra, đứa trẻ
của đứa trẻ”. “Nhưng ngay trong tuổi ấu thơ , sự say mê thầm kín của đứa trẻ đối với mẹ không thể được đứa
thông qua hành động bú mớm, sự tiếp xúc với bầu vú của người mẹ mà tạo ra một xúc cảm gọi là xúc cảm tính
trẻ coi là vô tội, cũng không được thỏa mãn dầy đủ. Sự say mê ấy không thể được thỏa mãn vì đứa trẻ không
dục (libido). Xúc cảm đó khiến cho đứa trẻ có ý muốn sở hữu mẹ của mình. Mặc cảm này xảy ra ở tâm lý trẻ từ 4
dành được mẹ về nó hoàn toàn; sự say mê ấy không thể là vô tội vì đứa trẻ gắn liền với thái độ rõ ràng không
đến 6 tuổi, đó là thời kì “sùng bái dương vật” (Freud), mà người mẹ của Kafka ra đi lúc cậu 4 tuổi, sự thiếu vắng
tán thành của bố mẹ đối với sự hưng phấn tính dục của nó với những tình cảm ghen tị và tranh chấp thầm kín
người mẹ đã trở thành một ẩn ức quan trọng trong đời sống tâm thần của nhân vật này
của nó đối với người bố. Theo trực giác, nó không thể không coi người bố là một đối thủ giành giật với nó về
tình cảm, sự quan tâm và tất cả những thứ khác mà nó muốn có từ mẹ, nhưng mẹ thì lại cũng dành cho bố
theo một lối nào đó”







Lời nguyền ám ảnh Kafka, khiến cho cậu, sau khi bất tỉnh và tỉnh lại trên đồi, nhìn thấy vết máu
trên áo mình và nhận được tin cha mình đã chết, thì Kafka, đinh ninh rằng mình đã giết cha, đã
thực hiện lời nguyền độc địa đó. Cái “cơ chế” đó đã trở thành cái vô thức trong Kafka mà ý thức
của Kafka đã không kiểm soát được nó. Ngay từ khi cậu chọn rời khỏi ngôi nhà, rời khỏi người
cha AND của mình thì cái “vô thức” đã trỗi dậy trong cậu. Và, chính là cái cơ chế đã “gá” sẵn trong
cậu, là động lực giúp cho cái “vô thức” đó được thực hiện. Việc gặp gỡ Sakura, Miss Saeki và ý
nghĩ hai người đó là chị, là mẹ mình chính là bước tiếp theo, cầu nối cho “mặc cảm Oedipe” tiếp
diễn trong Kafka. Việc Kafka quan hệ tình dục với Miss Saeki và Sakura trong giấc mơ chính là
điểm hoàn thành lời nguyền ấy.


2. Tip nhân vật chấn thương tinh thần – triệu chứng Hysterie



Nhân vật chấn thương tinh thần ( traumatisme psychique) là loại nhân vật luôn có, luôn mang
theo trong chúng những cảm giác trầm nhược được biểu hiện ra ngoài thành nỗi sợ hãi, sự lo
âu, xấu hổ hay đau đớn về thể xác… vốn là nguyên nhân khởi phát triệu chứng hysterie – triệu
chứng bệnh lí tâm thần xuất phát từ sự căng thẳng do các vết thương, nhất là vết thương tinh
thần gây ra mà chính S. Freud đã nhấn mạnh: “Chính những người hysterie khổ sở trước hết vì
những điều sực nhớ ra”. Loại nhân vật này luôn chịu tác động của một vết thương tinh thần đặc
biệt mà vết thương đó sẽ trở thành động lực dẫn dắt hành động của loại nhân vật này.




Kafka, trước hết thuộc loại nhân vật mang trong mình sự chấn thương tinh thần mà không
phải cái gì khác mà chính là lời nguyền của người bố đẻ: “Một ngày kia, mày sẽ giết cha mày và

ngủ với mẹ mày, cha em nói thế”, lời nguyền đó đã ám ảnh Kafka, cũng như cái cách nói và hình
ảnh người cha khi ông ta phát ra lời nguyền tai quái và độc địa ấy. Và Kafka sống với nỗi sợ hãi,
lo lắng rằng một ngày kia mình sẽ phạm vào cái lời nguyền của cha mình, cậu bé mười lăm tuổi
từ đó sinh ra ý định phòng vệ trước số phận, mà cái việc làm thể hiện điều ấy chính là quyết
định trốn khỏi nhà vào ngày sinh nhật của mình, cốt chỉ để tránh khỏi lời nguyền giành cho
mình và đi tìm câu trả lời cho số phận của mình. Lời nguyền đó, vô hình chung đã trở thành “
động lực dẫn dắt hành động” của Kafka, nó là một bộ phận của thế giới vô thức trong tâm lý
nhân vật này. Dù cho Kafka luôn có ý thức giữ chặt không cho nó lộ ra, nhưng lời nguyền ấy
cũng cứ thừa cơ hội mà thoát ra khỏi lí trí của Kafka, để rồi cuối cùng chú bé đã thực hiện lời
nguyền bằng việc làm đầu tiên là chạy trốn ra khỏi nhà – hành động rời xa mái ấm của




Satoru Nakata cũng mang trong mình chứng bệnh hysterie. Với vết thương tinh thần xảy ra tại
Đồi Bát Cơm năm 1944, khi nhặt được chiếc khăn dính đầy máu mà cô giáo Setsuki Okamochi đã
dùng khi hành kinh bất thường và bị cô giáo đánh thì nhân vật đã trở nên khác thường: vĩnh
viễn mất đi trí nhớ, khả năng duy nhất ngoài con người là hiểu và nói được tiếng của loài mèo.



Theo như Freud thì căn bệnh hysterie là những rối loạn nặng nề trong tâm lý dẫn đến chấn
thương vùng não, người bệnh trở nên điên loạn hoặc mất đi một phần trí nhớ, và nhân vật
Nakata rơi vào trường hợp đó.




Về phía cô giáo Setsuki, cũng là một kiểu nhân vật chấn thương tinh thần, bị ám ảnh bởi nhục
dục thể xác, do những ẩn ức dồn nén bấy lâu. Hành động của cô giáo khởi phát từ căn bệnh

hysterie, khi cô mơ về người chồng đang đi chiến trận ở Phillipine

“Cái đêm trước hôm đưa bọn trẻ đi chơi ngoại khóa trên đồi, tôi nằm mơ thấy chồng tôi ngay trước
lúc rạng sáng. Anh ấy đã bị động viên ra mặt trận. giấc mơ đầy nhục dục và rất cụ thể - một loại giấc
giấc mơ đầy dục tính (libido – S. Freud) kia chính là cơ hội để cái vô thức (cái ấy) vượt ra khỏi cái ý thức
mơ cực kỳ sinh động đến nỗi khó mà phân biệt được giữa mơ và thực”. “Trong giấc mơ, chúng tôi làm
(cái tôi), khiến cho căn bệnh hysterie được khởi phát khi thấy Nakata cầm chiếc khăn dính đầy máu.
tình trên một phiến đá rộng.” “… chúng tôi cưới nhau chưa được bao lâu, chiến tranh đã chia lìa mỗi
người mỗi ngả. Thân thể tôi bừng bừng thèm khát chồng tôi.”




Nhân vật Miss Saeki cũng mang theo những ẩn ức đau đớn kéo dài theo suốt cuộc đời và sẽ trở
thành những cơn phát kích hysterie khi mà cái vô thức vượt thoát ra ngoài vòng kiểm soát của
ý thức. Bà đã từng có một mối tình say đắm của tuổi mười bảy đôi mươi, để rồi sau đó vĩnh
viễn mất đi người mình yêu dấu và rút lui vào cuộc sống trầm tư trong khuôn viên một thư
viện gia đình, để cùng sống lại với ký ức một thời đã qua. Những ký ức đó được hiện hình
trong một tập bản thảo về thời thanh xuân mà bà đã yêu cầu đốt đi sau khi bà chết. Miss Saeki,
đắm chìm trong quá khứ về mối tình đầu say đắm để rồi khi gặp Kafka thì cái gọi là “xung năng
tính dục” trỗi dậy và nó thôi thúc bà xuất “hồn ma sống” đến làm tình với cậu bé.


3. Tip nhân vật lưỡng hóa nhân cách - Quạ, cái siêu tôi.


Nhân vật lưỡng hóa nhân cách (nhân vật nhị hóa nhân cách) thể hiện qua những hành động
mà lí trí không kiểm soát được, và cũng không giải thích được vì sao lại có thể hành động như
vậy, tạo ra một cảm giác ai đó tồn tại trong ta, điều khiển ta theo sở thích của nó, khiến ta có thể
hung dữ khác thường hoặc cũng có thể yếu hèn vô hạn không như cái bản thể hàng ngày của

ta. Đó là hiện tượng lưỡng phân, hay lưỡng hóa nhân cách, khi ấy trong mỗi con người đều
vừa là cái ego vừa là cái altego, vừa là nó mà không phải là nó




Sự lưỡng hóa nhân cách thể hiện sắc nét qua nhân vật Quạ, một hình tượng phân thân của chính Kafka
đồng hành với nhau trong suốt cuộc đời của chú là hai mặt của một bản ngã, là sự nhị hóa nhân cách, từ
góc nhìn của phân tâm học



Nhân vật Quạ thường xuất hiện vào thời điểm mà Kafka chỉ có một mình, trở thành hình thức tự vấn để
tìm lối thoát, là hình thức biểu hiện của cái tôi trong cuộc đấu tranh với cái phi ngã và cái siêu ngã.



Quạ, cái tôi của Kafka, là một tính cách tốt. Trong bản thân của con người đều có phần con và phần người,
cái tôi chính là phần con của con người, nó là thứ mà con người đã có sẵn từ khi sinh ra. Kafka từ nhỏ đã
phải mang trong lòng lời nguyền của người cha, cậu luôn sống khác so với cái tôi chính chắn của mình,
sống đúng với cái thằng tên là Quạ. Thông qua nhân vật Quạ, Murakami đã xây dựng một nhân vật Kafka
đầy mâu thuẫn. Cậu luôn phải đấu tranh với số phận nhưng rồi lại không thể thoát khỏi số phận


×