Thận và sau phúc mạc
THẬN VÀ SAU PHÚC MẠC
Mục tiêu học tập
1. Trình bày vai trò, các chỉ định của siêu âm trong khảo sát thận và các cơ quan
sau phúc mạc.
2. Trình bày kỹ thuật khám và giải phẫu siêu âm thận, thượng thận và sau phúc
mạc.
3. Mô tả hình ảnh siêu âm một số bệnh lý thận, thượng thận và sau phúc mạc
thường gặp.
I. NHẮC LẠI GIẢI PHẨU CÁC LÁ CÂN VÀ KHOANG SAU PHÚC MẠC
1. Các lá cân (fascias)
Phân định ra các ô sau phúc mạc, tuy trên siêu âm không nhìn thấy, nhưng về
giải phẫu phải nắm được.
Những cân này là màng ngăn cách tự nhiên khi có dịch:
- Ở sau phúc mạc (áp xe, bọc nước tiểu...)
- Hay trong phúc mạc (cổ trướng, dịch men tụy...)
2. Khoang sau phúc mạc: nằm giữa
- Cân kết hợp tạng phía trước
- Cân thành phía sau
Như vậy, nó liên quan với cơ quan tiêu hóa phía trước là:
- Tá tràng
- Tuỵ
- Đại tràng lên và xuống.
- Mạc bên chia thành 2 lá trước và sau thận, tạo ra hố thận hay còn gọi là khoang
quanh thận mà khoang này lại chia ra thành hai nửa trước và sau.
- Khoang cạnh thận trước
- Khoang cạnh thận sau ở phía sau, là vùng mô mỡ dày
120
Thận và sau phúc mạc
* Chú ý:
- Tĩnh mạch chủ dưới nằm trong hố thận phải.
- Ðộng mạch chủ, cố định ở trước cột sống, phân cách giữa 2 thận.
3. Các khoang này có thể thông thương với nhau
3.1. Về giải phẫu
Các khoang cạnh thân trước và sau không thông nhau ở phía bên mà kết hợp lại
ở cực dưới thận bằng một giải mỡ dài dưới phúc mạc chạy xuống tới vùng bẹn.
- Hố thận là một khoang mỡ chạy dọc xuống dưới cùng với niệu quản cho tới bàng
quang. Bên trong, 2 hố thận có thể ăn thông với nhau.
3.2. Về bệnh lý
Mạc phân cách có thể xẹp xuống, như trường hợp viêm tụy cấp, nước men tụy
tiết ra, ban đầu chỉ ở trong hố tụy, nhưng sau tràn qua mạc Treitz vào khoang cạnh
thận trước.
- Ngược lại, mạc có thể bị đội lên do một khối u nào đó ở sau phúc mạc nhưng phát
hiện chậm giống như khối u trong phúc mạc.
II. THẬN
Ðối với thận, siêu âm là xét nghiệm hàng đầu vì nó phát hiện khá chính xác,
nhất là kích thước thận.
Do độ nhậy cao, siêu âm phát hiện được các tổ chức lỏng, phân biệt được bản
chất u là nang nước hay đặc, xác định được ứ nước bể thận.
Siêu âm không đánh giá được chức năng, cũng như muốn đánh giá những mạch
thận trong ghép phải kết hợp siêu âm và Doppler.
1. Giải phẫu
1.1. Vị trí và hướng
Người có 2 thận, nằm thẳng đứng sau phúc mạc, trước cơ đái và cơ vuông thắt
lưng, ở trong hố thắt lưng.
Thận có 2 mặt: trước và sau. Rốn thận nhìn về phía trước trong. Trục lớn của thận
chéo xuống dưới ra ngoài và trước.
Thận phải thấp hơn thận trái vài cm
Thận di động xuống thấp khi đứng thẳng.
121
Thận và sau phúc mạc
1.2. Giải phẫu liên quan
Cực trên liên quan với hố thượng thận và phần sau cơ hoành.
Bên phải, thận liên quan với gan ở trước bởi khoang Morisson, với túi mật, tá
tràng (D2-3) và góc đại tràng phải.
Bên trái, thận liên quan với lách phía trên, đuôi tụy phía trước, bên trong với dạ
dày bởi hậu cung mạc nối.
Các mạch máu liên quan
- Ðộng mạch thận xuất phát từ động mạch chủ ở gần L 1- L2, cho nhánh trước và sau
bể thận. Ðộng mạch thận phải đi sau tĩnh mạch chủ.
- Thành mạch thận trái đi vào trong kìm (pince) chủ - mạc treo, còn tĩnh mạch thận
bên phải rất ngắn nên ung thư thận phải hay di căn tới tĩnh mạch chủ dưới là vì
vậy.
Niệu quản nằm mặt sau cuống mạch và đi xuống sau phúc mạc cơ đái.
2. Kỹ thuật siêu âm
Kỹ thuật siêu âm theo phương pháp thời gian thực dùng đầu dò nan quạt tần số
3,5 hay 5 MHz ở bệnh nhân gầy. Ðường vào chủ yếu là bên phải thành bụng trước để
tận dụng cửa sổ âm của gan. Ðường bên cho mặt cắt "bivalve" (hay mặt vắt vành) thấy
được khoang tiết và cuống thận. Có thể xem từ phía thành bụng sau.
Khi bệnh nhân trướng bụng nhiều, cực trên thận nấp sau 2 sườn cụt, về kỹ thuật
rất khó xem, phải cho bệnh nhân thở (hít vào cơ hoành đẩy thận xuống), cho dễ nhìn,
hoặc cho bệnh nhân nằm nghiêng phải, nghiêng trái, hay đứng thẳng. Xét nghiệm phải
làm đối xứng và không cần nhịn đói.
3. Giải phẫu siêu âm bình thường và các biến thể.
3.1. Trên mặt cắt dọc thận có hình trứng
Mặt cắt ngang, thận tròn ở 2 cực trên và dưới, hoặc mở ra hình chữ C nếu mặt
cắt đi qua rốn thận.
Kích thước đối xứng, khoảng 10 x 4cm, thay đổi theo tầm vóc cơ thể và trạng
thái ứ nước.
Bờ đều nhưng có thể lồi lõm (lobulés) di tích của thận bào thai (thận múi)
Bên trái: có ấn lõm của lách làm thận biến dạng hình tam giác: thận lạc đà (rein
dromadaire).
Trục thận, nhất là thận phải, hơi nghiêng.
122
Thận và sau phúc mạc
3.2. Cấu trúc âm
3.2.1. Ngoại vi
Nhu mô dày đều, giảm âm so với gan, đồng nhất. Tuy nhiên, ở người gầy, máy
tốt: có thể phân biệt được tháp Malpighi giảm âm rõ, và cột Bertin. Khi cột này phì
đại, vẫn đồng âm như phần vỏ bên cạnh trông giống u vỏ thận lồi vào xoang
3.2.2. Xoang thận
Vùng trung tâm, tăng âm, chứa nhiều mạch máu và các ống tiết ở trong một hố
nhiều tế bào mỡ.
3.2.3. Cấu trúc mạch và hệ thống tiết trong xoang ít khi nhìn thấy nên hình ảnh rỗng
âm. Ðài thận rõ hơn khi bệnh nhân được truyền dịch.
3.2.4. Góc đài thận (hay vòm của đài thận: fornix) tạo hình ảnh dạng hạt tròn nhỏ tăng
âm, cần phân biệt với sỏi.
3.2.5. Bể thận
Là một cấu trúc vô âm rộng trên mặt cắt ngang qua rốn thận, đôi khi phình rộng
vào trong nếu nhìn thấy một phần lồi ra ngoài xoang.
3.2.6. Mỡ quanh thận
Ở trong lòng hố thận, rất tăng âm và đồng nhất ở trạng thái bình thường.
3.2.7. Niệu quản chỉ nhìn thấy khi giãn.
3.2.8. Siêu âm kết hợp Doppler có thể thấy rõ hoạt động của mạch máu: động mạch,
các nhánh phân thùy, gian thùy, và nhánh hoạt động mạch cung.
3.3. Tiêu chuẩn siêu âm thận bình thường: phải chú ý khi làm là
3.3.1. Kích thước
Theo tiêu chuẩn sinh học Trường Ðại học Y Hà Nội (1966) thận có kích thước
như sau:
- Thận phải: dài 9,2 - 0,9cm, rộng 4,5 - 0,3, dày 3,3-0,3 cm.
- Thận trái: dài 9,5 - 1,1cm, rộng 4,5 - 0,3, dày 3,3-0,5 cm.
- Nhu mô: 1-1,5cm (theo Ultrasound Diagnosis Imaging 1984, Đức).
3.3.2. Đường viền
Nhẵn, có thể hơi gợn cong (bẩm sinh).
3.3.3. Cấu trúc
- Phân biệt rõ nhu mô với đài thận
123
Thận và sau phúc mạc
- Đài thận: thường hồi âm rỗng
- Vỏ thận: hồi âm tăng hơn đài thận
- Chính giữa: Phản âm trung tâm hồi âm rất mạnh. Phản âm trung tâm gồm: bể thận
nhu mô mỡ, mô liên kết và các mạch máu liên kết, và các mạch máu.
3.3.4. Liên quan giữa bể thận - nhu mô
Chiều rộng nhu mô trước + Chiều rộng nhu mô sau
Chiều rộng phản âm trung tâm
4. Bệnh lý
= 1,5
4.1. Dị tật
4.1.1. Bất thường về quay thận
Là biến thể bình thường một hoặc 2 bên thận, do quay không đủ, rốn thận nhìn
ra trước.
Nếu cực dưới ở trong, phải tìm kỹ hình thận móng ngựa.
Hai cực dưới thận có thể liên kết làm một, bằng nhu mô hay chỉ bằng một cầu
xơ đơn giản trước cột sống, rất khó phân biệt bằng siêu âm. Ở đó, động mạch xuất phát
trên chỗ động mạch chủ phân đôi tức là trên 2 động mạch chậu gốc.
4.1.2. Bất thường về vị trí
Hố thắt lưng trống.
Siêu âm đơn độc không xác định được chẩn đoán, phải nhờ đến chụp thận tĩnh
mạch (UIV) hay cắt lớp điện toán (scanner).
Quả thận nhỏ, biến dạng cấu trúc có thể giống cơ quan tiêu hóa. Ngược lại, góc
đại tràng, khi soi khó, lại giống cấu trúc thận Siêu âm phải xác minh không có sự lạc
chỗ, ở :
- Thắt lưng
- Tiểu khung (++) là nơi thận dễ bị che lấp
- Dưới cơ hoành
- Chéo nhau
Cần xem thận đối diện để loại trừ thận Sigmoide, tuy hiếm.
Khi xem thận bên đối xứng: thường thấy một thận to hơn để bù lại cho thận bên
này nhỏ lại, do bẩm sinh (bất sản) hay mắc phải (nhiễm khuẩn tái phát, do mạch). Nếu
mắc phải, vỏ thận hay có ấn lõm lên đài thận.
124
Thận và sau phúc mạc
Ghi chú: Nếu thực sự là thận bất sản nên tìm thêm các dị tật sinh dục đi kèm (tử cung
2 sừng ...)
4.1.3. Những hình ảnh có dịch
Hình ảnh nước bể thận: có thể là túi thừa đài thận hoặc nang bể thận bẩm sinh,
phát triển trên khoang tiết: Cái thứ nhất ở tủy thận, liên quan tới đáy đài thân; cái thứ
hai phát triển trong xoang thận.
Không kể 2 bệnh sau đây:
- Bệnh to đài thận (Mégacalicose: Do giãn nhiều đài thận nhỏ, ở cả 2 bên, không có
tắc nghẽn. Bể thận bình thường và thận to.
- Bệnh Cacchi - Ricci: Là bệnh phình giãn các ống nhỏ (ectasies caniculaires) ở
trước đài thận.
4.1.4. Thận to chứa dịch
- Loạn sản đa nang (dysplasie multikystique): Thận có hình một đám nang tập
trung, giới hạn bằng những vách xơ. Thường phát hiện ngẫu nhiên ở người lớn,
được chẩn đoán trên trẻ sơ sinh. Thận đối diện to bù, cấu trúc bình thường.
- Thận đa nang (polykystose): Thường ở 2 bên, không đối xứng. Ðược phát hiện
ngẫu nhiên hay được chẩn đoán thận có nhiễm khuẩn, đái máu, cơn đau quặn
thận, các biến chứng đưa tới suy thận.
Thận thường to, có bướu, nhiều nang to nhỏ khác nhau.
Chất chứa bên trong một số nang không đồng nhất (máu, nhiễm khuẩn). Nên tìm
thêm nang gan, nang tụy kết hợp. Những bệnh nhân này do suy thận phải đư ợc theo
dõi bằng siêu âm.
4.1.5. Thận quá dài
Phải tìm hình ảnh 2 bể thận con: bể thận 2 mỏm hay bể thận phân đôi hoàn toàn
Trên mặt cắt dọc: đôi khi thấy một cái “cầu” nhu mô đè lên xoang thận. Trên
mặt cắt “bivalve”: thấy rõ 2 bể thận nếu các khoang chứa đầy nước.
Khi bể thận chia đôi hoàn toàn, thường xuyên có:
- Bể thận dưới: teo, bệnh thận hồi lưu.
- Bể thận trên: giãn, giả nang, phía trên có thoát vị niệu quản (ureterocèle).
125
Thận và sau phúc mạc
4.1.6. Hội chứng chỗ nối bể thận - niệu quản
Thường có hội chứng tắc - khoang đài - bể thận, thận căng rất to. Niệu quản
đoạn thắt lưng và tiểu khung không giãn cho phép xác nhận dễ dàng vị trí tắc.
4.1.7. Niệu quản phải đi lạc, sau tĩnh mạch chủ dưới: Có thể có hình ảnh tắc. Niệu
quản ở trước cột sống thắt lưng.
4.1.8. Niệu quản to vô căn (méga - uretère idiopathique) thường ở người lớn, và do
mắc phải, trên một người có hồi lưu bàng quang - niệu quản.
4.1.9. Hai động mạch thận: Thấy trong 1/4 số ca (Doppler phát hiện).
4.2. Khối u
4.2.1. U ác
U biểu mô tuyến hay ung thư biểu mô tế bào sáng (carcinomes à cellules
claires): Loại u này gặp nhiều nhất.
Một số điểm sau định hướng cho chẩn đoán:
- Đái máu
- Cơn đau quặn thận
- Có cảm giác nặng ở hố thắt lưng.
Thể trạng chung có thể sút kém, sốt, đa hồng cầu, cũng như tốc độ huyết trầm
tăng.
Ðôi khi chẩn đoán được là do ngẫu nhiên. 30% số ca là u không triệu chứng.
Về mặt chẩn đoán, chủ yếu là hội chứng khối u, tùy theo vị trí và kích thước có thể
làm biến dạng bờ thận (phát triển ra ngoài thận) hoặc lan rộng ra xoang thận.
Khối u có thể đồng âm, giảm âm, hay tăng âm, hoặc không đồng nhất (chảy
máu, hoại tử, calci hóa).
Siêu âm còn tìm dấu hiệu lan xa của u ác tính (tổng kê toàn bộ sự lan xa nên chụp cắt
lớp điện toán):
Thâm nhiễm ra vùng mỡ quanh thận làm vỡ vỏ thận, khoang cạnh thận sau. Cần
đánh giá di động thận trên cơ đái khi thở.
- Lan theo mạch máu: Siêu âm có thể thấy trực tiếp cục máu đông như ng không
phân biệt được cục máu này là do bản thân khối u hay do biến loạn máu.
- Hạch rải rác: rốn thận, sau phúc mạc.
126
Thận và sau phúc mạc
- Di căn: Cần xem thận bên kia: để xem rõ bệnh lý từ trước hay do di căn hoặc tổn
thương nhiều ổ (pluri - focales). Từ đó mà có cách xử lý khác nhau.
Cũng phải xem ung thư ăn lan lên thượng thận, gan.
+ U đường tiết: ít có hơn và hay được phát hiện bằng đái máu. Thường nhiều u, ở
cả 2 bên, hay tái phát, liên quan đến hệ tiết niệu cao và thấp…
Nếu u nhỏ, khó phát hiện: hình ảnh mô đơn thuần trong lòng ống tiết, sùi, ít
nhiều có thâm nhiễm. Phải tìm chỗ tắc phía trên ống dẫn.
U to hơn, thì chẩn đoán phân biệt giữa u đường tiết với ung thư biểu mô lan ra
xoang, không phải dễ dàng.
+ Di căn thận: Thường ở nhiều chỗ. Đó là các u nhỏ và ở cả 2 bên. Phải tìm u
nguyên phát, thường là phổi.
+ U bạch huyết (chủ yếu là không Hodgkin) (lymphome): U bạch huyết thường ở
nơi khác trước (hạch, gan), sau đó mới lan sang thận nhưng muộn và không
đặt thành vấn đề chẩn đoán. Thường có hình ảnh giảm âm, nhiều nhân, hoặc
thâm nhiễm 2 bên.
4.2.2. U đặc lành tính (tumeurs solides)
Thông thường chúng không có triệu chứng, đôi khi phát hiện nhờ đái máu, đau
hố thắt lưng.
- U mạch - cơ - mỡ (angiomyolipome): Hình ảnh u tròn, đều tăng âm, bờ rõ. Chẩn
đoán được xác định bằng cắt lớp điện toán chứng minh có mỡ bên trong (tỷ trọng
tự tăng âm tính) đặc hiệu. Tổn thương này thường do loạn sản trong khung cảnh
bệnh thần kinh - da (phacomatose).
- U tế bào lớn Hamperl (oncocytome): Hình u bờ rõ, ở giữa có "sẹo" hình sao
(stellaire), cũng được chẩn đoán bằng chụp cắt lớp điện toán khi tiêm.
4.2.3. Nang
- Nang vỏ thận đơn thuần: Rất hay gặp, có thể một hoặc nhiều nang. Tuân theo
định nghĩa về nang trong siêu âm:
+ Là cấu trúc lỏng vô âm
+ Không có vách riêng hoặc có thì rất mỏng và đều.
+ Âm đậm phía sau rõ.
127
Thận và sau phúc mạc
Cần chú ý trường hợp này phải để khuếch đại thấp nhất. Nếu khuếch đại cao sẽ
tạo hồi âm giả, mặc dầu u hoàn toàn lỏng.
Nang vỏ hay gặp, thường phát hiện ngẫu nhiên, và trên nguyên tắc không cần làm
thêm các xét nghiệm khác.
- Nang cạnh bể thận:
Phát triển trong xoang thận và không nên nhầm với bệnh nước bể thận (xem
mặt cắt "bivalve" rất rõ)
- Nang nhiều hốc (kyste multiloculaire): là khối nang to, nhiều vách.
- Nang sán: ở thận ít có hơn gan, lách. Trong vùng đang có dịch địa phương, nếu
siêu âm nghĩ tới nang sán phải làm chẩn đoán huyết thanh trước khi cần chọc dò.
Nang sán thận, hình ảnh giống nang gan.
Chú ý: ở người chạy thận nhân tạo, hay có thận đa nang mắc phải trong l/3 trường
hợp.
U ác
- U biểu mô tế bào
sáng ++
U lành
U đặc
- U tế bào lớn Hamperl
U dịch
- Nang đơn thuần
- U mạch - cơ - mỡ
(hay biến chứng)
- Di căn ung thư
- Nang cạnh bể thận
- U bạch huyết
- Nang nhiều hốc
- U đường tiết
- Nang sán
4.3. Hội chứng tắc nghẽn
Cần nhớ 3 trường hợp có giãn đường tiết sinh lý:
- Bàng quang căng quá mức
- Mất nước nhiều do dùng lợi tiểu (truyền tĩnh mạch)
- Có nang.
Khi chẩn đoán tắc nghẽn thì tùy theo nặng nhẹ và lâu hay mới mắc mà chú ý các triệu
chứng sau:
- Có khoang tiết giãn rộng
- Thận to
- Khi nhu mô teo và vỏ thận mỏng thì vỏ giãn theo khoang tiết.
128
Thận và sau phúc mạc
* Khi xem khoang tiết thận phải cho bàng quang rỗng.
Các trường hợp dẫn tới tắc nghẽn rất đa dạng:
4.3.1. Trong suy thận: hội chứng tắc nghẽn có thể 2 bên (ví dụ u sau phúc mạc đè lên
niệu quản), hoặc 1 bên nếu thận bên kia không có hoặc trước đó không hoạt động.
4.3.2. Cơn đau quặn thận: Ðau tăng lên do tắc nghẽn, hội chứng đau không điển
hình (cổ điển phải phân biệt với viêm ruột thừa cấp bên phải). Siêu âm phải chứng
minh có sỏi, hình ảnh đồng nhất dù là sỏi cản quang hay không cản quang, với 2 dấu
hiệu:
- Cung tăng âm phía trước.
- Bóng cản sau.
Nếu sỏi trong bể - đài thận hoặc niệu quản thì trên nguyên tắc cần chứng minh
cho rõ. Ðặc biệt phải xem niệu quản tiểu khung bằng dùng cửa sổ âm bàng quang (cho
bàng quang đầy nước) để tìm sỏi mắc vào lỗ niệu quản dưới (méat).
4.3.3. Sỏi tiết niệu
Không phải là nguyên nhân duy nhất gây đau quặn thận.
Mọi tắc nghẽn mạn tính, bất cứ bản chất gì, đều có cơn đau cấp (u đường tiết, cục
máu). Nhìn thấy trực tiếp cục máu (caillot) là bằng chứng rõ rệt cho bên niệu quản gây
đái máu và phải tìm tổn thương phía trên. Ðặc điểm chủ yếu của cục máu là biến mất
tự nhiên trong vài ngày (tan fibrin).
4.3.4. Trước hội chứng tắc nghẽn đường tiết niệu trên, đều phải nghĩ tới nguyên
nhân gây ra do có vật chướng ngại ở dưới thấp…
4.4. Nhiễm khuẩn đường tiểu cao
Nhiễm khuẩn cấp tính thường có hội chứng sốt, đau, đôi khi sờ thấy u vùng thắt
lưng. Ban đầu sốt nhẹ, được chẩn đoán và điều trị đỡ. Về sau có thể biến chứng mặc
dầu được điều trị, nhất là áp xe. Bệnh hay tái phát, phải chú ý tìm các yếu tố thuận lợi
(dị tật, hồi lưu bàng quang - niệu quản).
4.4.1. Viêm thận - bể thận cấp
Siêu âm ít đặc hiệu: thận to, tăng thể tích, với tính chất làm khó phân biệt 2
vùng vỏ - tủy. Khoang tiết có thể giãn nhẹ.
4.4.2. Viêm thận - bể thận cấp nhiễm khuẩn và từng ổ
129
Thận và sau phúc mạc
Siêu âm có thể thấy vùng vỏ giảm âm, hình tam giác đáy quay ra ngoài. Siêu
âm có thể phát hiện các biến chứng:
- Áp xe thận: vùng giảm âm có dịch bên trong, bờ không rõ.
- Viêm tấy quanh thận: thâm nhiễm mỡ quanh thận, không đồng nhất, thận giảm di
động khi thở mạnh, nếu áp xe hóa: chọc dò dưới siêu âm, tìm vi khuẩn, chọn
kháng sinh thích hợp hoặc dẫn lưu nếu áp xe quá lớn, tạo điều kiện điều trị.
4.4.3. Viêm thận-bể thận khí thũng(emphysèmateuse)
Thường xảy ra trên bệnh nhân đái đường, có khí trong bể đài thận do nhiễm
khuẩn yếm khí. Khí có hình ảnh tăng âm với bóng cản sau di động theo tư thế.
4.4.4. Viêm bể thận hạt vàng (xanthogranulomateuse)
Bệnh hiếm gặp, hay tái phát, thường kết hợp với sỏi san hô. Siêu âm có hình
ảnh thận giả u, nhiều chất tăng âm, không đồng nhất, hay có áp xe, khoang tiết giãn,
giảm âm.
4.4.5. Ứ mủ bể thận
Ðó là ứ mủ trong các khoang tiết với nhiễm khuẩn nhu mô làm phá hủy bể thận.
Khoang tiết bị giãn, vô âm, hoặc có vài hồi âm, đôi khi có lắng đọng vùng thấp.
Siêu âm xác định mức độ và bản chất tắc nghẽn, thường nhất là do sỏi.
4.4.6. Nang nhiễm khuẩn
Ðây là trường hợp hiếm trong nang vỏ thận đơn thuần nhưng lại hay gặp trong
thận đa nang. Nhiễm khuẩn có đặc điểm xuất hiện hồi âm trong lòng nang mà trước đó
vô âm hoàn toàn.
Những nang này có thể chọc dò kiểm tra dưới siêu âm. Không kể 2 trường hợp
sau đây:
- Tổn thương viêm bể thận mạn: được chú ý bằng hình ảnh teo phân thùy đối diện
với đài thận, các vùng calci hóa.
- Tổn thương lao: Khi lao mới phát, siêu âm thấy bình thường, sau đó thấy "hang"
lao: giãn khoang tiết trên chỗ tắc hoặc u lao (tuberculome) tăng âm, cuối cùng là
hình ảnh thận matít, calci hóa.
Lao thận có thể cả 2 bên, luôn luôn không có triệu chứng.
4.5. Chấn thương thận
130
Thận và sau phúc mạc
Thường gặp trong tai nạn công cộng, trong khung cảnh đa chấn thương. Siêu
âm là xét nghiệm đơn giản, không xâm lấn, không cần di chuyển bệnh nhân. Nó cho
phép thăm dò toàn ổ bụng và tiểu khung thận, bàng quang, cơ quan tiêu hóa đặc. Siêu
âm có thể phát hiện phúc mạc máu, cũng như tổn thương lồng ngực kết hợp (tràn máu
màng phổi).
Siêu âm cung cấp các thông tin hình thái về:
- Thương tổn do chấn thương gây ra.
- Các thương tổn do bệnh cũ thận móng ngựa, nang.
- Các tổn thương kết hợp tùy nặng nhẹ mà thăm dò toàn ổ bụng. Cần phân biệt.
4.5.1. Ðụng dập thận
Có các dải giảm âm tương đối tròn, kết hợp với các ổ tăng âm nhỏ trong nhu
mô, không biến đổi bờ thận. Hình ảnh này xen lẫn với phù khoảng kẽ và các ổ chảy
máu nhỏ trong nhu mô.
4.5.2. Máu tụ (hématome)
Khác với u niệu, ổ máu tụ là u giảm âm, qua 3 giai đoạn:
Đầu tiên giảm âm ngay sau chấn thương
Sau tăng âm khi hình thành cục máu
Rồi lại giảm âm khi cục máu tan.
- Máu tụ dưới vỏ: Ổ máu tụ làm biến dạng bờ thận, phân biệt với bên ngoài qua lớp
vỏ thận. Kiểm tra u tiến triển bằng siêu âm và cắt lớp điện toán có thể thấy các
tổn thương u kết hợp.
- Máu tụ quanh thận: Hình ảnh thay đổi tùy theo có cục máu hay không, thường có
bọc nước tiểu kết hợp. Như vậy khối u là không đồng nhất và có biểu hiện vỡ
đường tiết.
Có thể là dạng "thận to", kém đồng nhất và hơi lệch ra.
Cần tìm dấu hiệu vỡ thận: bờ thận biến dạng, mất liên tục.
- Máu tụ cạnh thận phía sau: ổ tụ máu phân cách với thận bằng lớp mỡ tăng âm ở
quanh thận.
4.5.3. Tổn thương cuống thận
131
Thận và sau phúc mạc
Là một cấp cứu, cần thăm dò mạch thận. Hình thái thận có thể thay đổi: từ ổ
máu tụ hình thành nhanh sau phúc mạc, đến có hình ảnh trong nhu mô làm chẩn đoán
sai và cho là đụng dập đơn thuần.
Mọi nghi ngờ lâm sàng (chấn thương nặng, đái máu) hoặc siêu âm (có ổ tụ
máu) về tổn thương mạch, đều phải xét nghiệm chức năng thận UIV hay chụp cắt lớp
điện toán.
4.5.4. Tổn thương đài - bể thận và niệu quản
Ngoài trường hợp bọc nước tiểu do vỡ khoang tiết, siêu âm đài - bể thận rất khó
chẩn đoán các tổn thương nhỏ ngay sau chấn thương các hạt nhỏ trong xoang thận,
giảm âm, gợi ý bên trong có cục máu.
Khoang tiết có thể giãn trên chỗ có cục máu vết thương niệu quản, ổ tụ máu đè ép lên
đường tiết.
Xa hơn, niệu quản sau chấn thương có thể tắc do lúc đầu không thấy tổn thương
cần xử lý, hoặc tắc do thày thuốc (mổ tiểu khung) gây ra.
4.5.5. Siêu âm được coi là xét nghiệm không thể thiếu khi nghi có chấn thương thận,
nhất là ở người đa chấn thương. Nó cho phép theo dõi tiến triển của thương tổn, trường
hợp nặng cần thăm dò chức năng bằng tiêm iode vì nhiều khi không biết có tổn thương
cuống thận.
4.6. Thận ghép
4.6.1. Trong ghép thận, thường dùng siêu âm + Doppler để theo dõi
Thường lấy hình ảnh siêu âm lần đầu sau mổ để tham khảo cho các lần sau.
Thận nằm ở một trong 2 hố chậu, dễ sờ thấy. Nhưng cần lưu ý:
- Kích thước thận
- Tăng âm của nhu mô, xoang thận
- Giãn khoang tiết, ứ đọng quanh thận.
- Mạch máu (Doppler).
4.6.2. Như vậy, siêu âm là xét nghiệm thường quy đóng góp vào việc phát hiện sớm
2 biến chứng hay gặp trong ghép thận là:
- Tổn thương nhu mô: gây bong ghép và hoại tử ống thận cấp, là biến chứng hàng
đầu.
- Các biến chứng do phẫu thuật:
132
Thận và sau phúc mạc
+ Tắc mạch thận
+ Ổ ứ đọng quanh thận (máu, bạch huyết, nước tiểu, mủ).
+ Tắc đường tiết.
+ Vỡ thận.
4.7. Phân biệt chẩn đoán các bệnh thận có thay đổi mang tính chất toàn diện
4.7.1. Phù cấp
Viêm bể thận, nhưng không có phản ứng miễn dịch, có thể là viêm cầu thận cấp
dạng thâm nhiễm toàn bộ ở u hạch bạch huyết (Lymphomee infiltration). Biểu hiện
siêu âm:
- Thận lớn.
- Đường viền nhẵn.
- Nhu mô thận phù lên, cấu trúc echo giảm.
- Đài thận "biến mất".
4.7.2. Bệnh nhu mô thận
Viêm cầu thận, Amyloïdose, hội chứng Kimmelstiel - Wilson, viêm thận kẽ.
Biểu hiện siêu âm:
- Độ lớn của thận tùy theo thời kỳ của bệnh.
- Đường viền nhẵn.
- Echo nhu mô dày như phản âm trung tâm, đài thận qua đó nổi bật lên trong dạng
echo trống.
- Tương quan độ lớn giữa bể thận - nhu mô bình thường.
- Thận teo ở thời kỳ cuối (dạng xơ hóa động mạch).
4.7.3. Viêm thận - bể thận mạn
Biểu hiện siêu âm:
- Độ lớn tuỳ theo thời kỳ bệnh.
- Đường viền gồ ghề.
- Cấu trúc mô không đều.
- Có những đường viền phản âm dài nối với bờ viền và phản âm trung tâm (thường
là biểu hiện di chứng sau viêm hay ngạch nối tắc thận). Thận teo nhỏ thời kỳ
cuối.
4.7.4. Thận teo dạng xơ hoá động mạch (arteriosclérosetype)
133
Thận và sau phúc mạc
Ở bệnh xơ hoá động mạch, viêm cầu thận, hội chứng Kimmelstiel Wilson. Biểu
hiện siêu âm:
- Thận nhỏ (ngoại trừ hội chứng Kimmelstiel Wilson)
- Cấu trúc bên trong không đổi
- Đường viền nhẵn
- Nhu mô rộng đều.
4.7.5. Teo thận dạng viêm thận-bể thận
Ở viêm thận kẽ, xơ hóa động mạch ngoại biên, biểu hiện siêu âm:
- Thận nhỏ với những biểu hiện tàn phá các cấu trúc bên trong.
- Phản âm trung tâm bị phân tán.
- Nhu mô chỗ rộng chỗ hẹp.
- Đường viền gồ ghề.
4.7.6. Thoái hóa dạng đa nang
Biểu hiện siêu âm:
- Thận to lớn rõ rệt
- Đường viền gồ ghề
- Cấu trúc bên trong hầu như bị phá hủy toàn diện bởi nhiều nang có nhiều độ lớn
khác nhau.
Ở dạng này nên để ý tìm kiếm dạng nang ở những cơ quan còn lại.
4.8. Phân biệt chẩn đoán những biến đổi của phản âm trung tâm (Centralreftex)
có tính chất bệnh lý
4.8.1. Ứ nước bể thận (giai đoạn I)
Phản âm trung tâm với vùng echo trống ở giữa, kích thước ở vùng echo trống
bằng với chiều dày của nhu mô, có biểu hiện giãn bể thận, gai thận giãn hình túi.
4.8.2. Ứ nước bể thận (giai đoạn II)
Ở giai đoạn này, bề dày nhu mô bị hẹp lại thấy rõ, bể thận giãn rộng rõ rệt.
4.8.3. Ứ nước bể thận (giai đoạn III)
Cả bể thận như bị chiếm lấy bởi một nang lớn, bể thận và vùng gai thận không
còn phân biệt được nữa.
4.8.4. Thoái biến mỡ dạng echo mỏng
134
Thận và sau phúc mạc
Xuất hiện ở giữa trung tâm phản âm dưới dạng echo trống hay mỏng, không có
phân định ranh giới rõ rệt.
4.8.5. Viêm thận bởi lạm dụng thuốc giảm đau
- Đài thận lớn, echo trống, phản âm trung tâm đóng kín.
- Có phản âm, vệt sáng, với bóng lưng (hoại tử gai thận)
4.8.6. Nang đơn độc hay đa nang.
4.8.7. U không mang dạng nang.
Echo mỏng có biểu hiện choán chỗ ở vùng phản âm trung tâm: gặp trong
Urothéliome - Tụ máu.
III. THƯỢNG THẬN
Tuyến thượng thận nằm trong ổ thận, phân cách với thận bằng một lớp mỡ
tương đối dày.
Tuyến thượng thận nằm ở cực trên của thận
- Bên phải: thượng thận liên quan với mặt dưới, sau của gan và tĩnh mạch chủ dưới.
- Bên trái: thượng thận xích vào trong, phía bên mạch chủ, liên quan phía trước với
đuôi tuỵ, mạch lách và dạ dày qua hậu cung mạc nối.
- Cả hai bên: thượng thận đều liên quan với cuống thận phải và trái ở phía trước.
1. Kỹ thuật xét nghiệm
Khảo sát thượng thận người lớn thường làm khi có gợi ý (cao huyết áp), bằng
cắt lớp điện toán.
Siêu âm độ nhạy yếu khi cần bọc lộ một tổn thương nhỏ (ví dụ u tuyến trong
cao huyết áp), đặc biệt ở bên trái và người béo.
Xét nghiệm tốt hơn nếu làm khi đói và tập trung nhiều tia (mặt cắt trán) và thay
đổi tư thế người bệnh.
2. Kết quả
2.1. Ở trạng thái bình thường
Tuyến thượng thận cho một vùng giảm âm trong lòng hố mỡ tăng âm của hố
quanh thận. Kích thước trung bình 30mm, dày 3 - 6mm, dù nguyên nhân nào cũng
dưới 10mm. Thường là hình tam giác, dạng chữ “V” hay chữ “Y” hoặc chỉ đơn thuần
là đường thẳng.
Trong thực tế, siêu âm tuyến thượng thận có 1 trong hai trường hợp sau:
135
Thận và sau phúc mạc
2.1.1. Phát hiện u thượng thận nhân dịp siêu âm ổ bụng. Khối u phải trên 2cm mới
phát hiện được.
2.1.2. Bổ trợ cho điện quang, khi chẩn đoán u bằng cắt lớp điện toán không xác định
được bản chất là gan, thượng thận, hay thận.
2.2. Dạng bệnh lý
2.2.1. U tuyến vỏ thượng thận (adénome corticale)
Là khối u lành, hay gặp, thường không có triệu chứng. Ðôi khi là tuyến tiết (u
tuyến Conn) và là nguyên nhân cao huyết áp phải phẫu thuật.
U có kích thước nhỏ bằng hoặc dưới 1 cm, thường được cắt lớp điện toán phát
hiện. Có thể thấy dạng quá sản hạt, thường cả 2 bên, đặc điểm là cả 2 tuyến đều to, bờ
không đều, mà về cơ bản phát hiện cũng phải dựa vào cắt lớp điện toán.
2.2.2. Ung thư biểu mô thượng thận (carcinomes surrénaliens)
Ðược phát hiện dễ dàng bằng siêu âm. Thường u này là nguyên nhân của hội
chứng Cushing. Khối u tiến triển nhanh, thường to trên 6cm, không đồng nhất, có
nhiều đám hoại tử, chảy máu, và vôi hóa. U có thể lan rộng ra toàn vùng (tĩnh mạch
chủ dưới, gan, thận). Siêu âm cũng có thể tìm thấy tổn thương thứ phát ở gan và hạch.
2.2.3. U tế bào ái sắc ở tủy thuợng thận (phéochromocytome)
Là khối u phát triển ở tủy thượng thận, gây cao huyết áp từng cơn hoặc thường
xuyên, kết hợp với tăng métanéphrine niệu. Loại u này dễ nhìn thấy bằng siêu âm,
thường to trên 3cm đường kính, với bờ viền đều. Cấu trúc âm đồng nhất nhưng có thể
vôi hóa và có các đám dịch lỏng.
Nên nhớ có thượng thận lạc chỗ, ở ngoài hố thượng thận (vai trò của chụp nhấp
nháy), có thể cả 2 bên. U tủy thượng thận có thể nằm trong bệnh thần kinh-da. Kết hợp
u tủy thượng thận với u tủy tuyến giáp tạo nên hội chứng Sipple.
Khi nghi ngờ u tủy thượng thận, phải tránh mọi chọc dò hoặc tiêm cản quang
tĩnh mạch. Có thể xẩy ra nguy cơ gây cơn cao huyết áp không kiểm soát được.
Các tổn thương này cũng có thể ác tính, và siêu âm tìm được tổn thương thứ
phát của chúng ở gan.
2.2.4. Di căn thượng thận
136
Thận và sau phúc mạc
Thường cả 2 bên trong 1/3 số ca, hay gặp, và thường không triệu chứng. Ðó là
những tổn thương đa vòng, kích thước thay đổi, đồng nhất, hoặc hoại tử trung tâm khi
u quá to.
U nguyên phát thường ở phổi, thận, gan.
2.2.5. U tủy mỡ (myélolipome)
Là tổn thương lành tính, hiếm, hay phát hiện được ở người nhiều tuổi, mà bản
chất mỡ phải xác định bằng chụp cắt lớp.
2.2.6. Các tổn thương nang
Hay gặp nhất là dạng giả nang, di chứng của những ổ chảy máu nội tuyến, cả 2
bên, mà thành nang đã bị vôi hóa. Cũng có thể đó là các nang biểu mô hoặc nang ký
sinh trùng (nang sán).
Siêu âm khẳng định được chất chứa bên trong là vô âm, tồn tại các vách mỏng.
Khi nghi có khối u chắc trong nang thì phải chọc dò mới biết được.
2.2.7. Các nốt vôi hóa
Thượng thận có thể bị vôi hóa, được phân tích rõ bằng cắt lớp điện toán, đó là
những di chứng chảy máu, lao. Sự hiện diện của chúng trong một khối u chắc gợi ý
chẩn đoán là u vỏ thượng thận (cortico - surrénalome).
2.2.8. Tụ máu (hématome)
Thường phát hiện được khi điều trị thuốc chống đông. Có thể ở cả 2 bên, tiến
triển được kiểm soát bằng siêu âm. Chúng nhanh chóng trở nên tăng âm (có cục máu)
rồi giảm âm (tan fibrin).
2.2.9. Các tổn thương nhiễm khuẩn
Là những ổ áp xe với vi khuẩn thông thường, và các ổ nhiễm lao.
IV. SAU PHÚC MẠC
Bệnh sau phúc mạc hay gặp nhất là u. Nguyên nhân chính của u sau phúc mạc
là: hạch, u nguyên phát từ các cơ quan gần đấy, phình mạch chủ bụng, và xơ cứng sau
phúc mạc.
Nguyên nhân hội chứng u sau phúc mạc:
- U trung mô lành hay ác, từ một hoặc nhiều mô
- Hạch nhất là hạch ác tính nguyên phát hay thứ phát
- Phình động mạch chủ
137
Thận và sau phúc mạc
- Ổ ứ đọng (máu, nước tiểu, bạch huyết)
- Tổn thương cơ đái ( ổ máu tụ, áp xe).
1. Hạch
Siêu âm là xét nghiệm đơn giản nhất để thăm dò hạch bụng. Nó cho phép phát
hiện được sự phì đại của các hạch bụng - mạc treo, rốn, lách, gan, mà chụp bạch mạch
không rõ. Siêu âm chỉ biết được kích cỡ của hạch, không hiểu được cấu trúc bên trong.
1.1. Kỹ thuật
Lý tưởng là cho bệnh nhân nhịn ăn để làm giảm lượng hơi trong đường tiêu
hoá, vì hạch sau phúc mạc ở sâu. Trên người béo phệ, trướng bụng, hay cổ trướng rất
khó tìm.
Ðường soi chọn lọc là phía trước bụng, có thể lấy mặt cắt ngang và dọc, tìm
mạch máu làm mốc cho dễ xác định hạch. Phải tìm cửa sổ âm cho đúng, ép nhẹ bụng
để đuổi hết hơi ra. Có thể dùng đường cạnh giữa, đường bên, và cho người bệnh nằm
nghiêng để dễ lấy mặt cắt trán.
Muốn xem chuỗi hạch chậu, phải dùng mặt cắt ngang, chéo theo trục mạch.
Tìm hạch bụng còn để xem mức độ lan xa của một ung thư niệu - dục, khối u
bạch huyết, theo kế hoạch. Nhưng cũng có thể do ngẫu nhiên, đồng thời xem luôn được ổ bụng, chậu hông, bìu dái, để tìm:
- Nguyên nhân bệnh: ung thư niệu dục (ví dụ u tinh)
- Các tổn thương kết hợp, di căn, cổ trướng.
- Ảnh hưởng từ nơi khác lên đường tiết niệu (chứng tắc nghẽn).
1.2. Kết quả
Các hạch bình thường không thấy được bằng siêu âm, chỉ khi nào to lên trên
13mm và ở những người gầy mới thấy.
Hình ảnh hạch tròn hoặc bầu dục, giới hạn rõ, bờ nét, cấu trúc âm giảm, đôi khi
giả - lỏng. Có thể thấy vùng hoại - tử. Nếu nhiều hạch kết thành khối to, bờ thấy nhiều
vòng.
Tùy mức độ, hạch to có thể đẩy hoặc đè ép tổ chức xung quanh:
- Đẩy tĩnh mạch chủ dưới, kể cả mạch mạc treo, mạch chủ, ra trước.
- Đội và kéo căng cuống thận lên.
Có thể hạch đè ép niệu quản gây hội chứng tắc nghẽn thận.
138
Thận và sau phúc mạc
Tùy theo vị trí và mức to nhỏ của hạch, thận có thể bị đẩy ra ngoài; tụy, đoạn 3
tá tràng, và nếu hạch quá to thì cả dạ dày và các quai ruột bị đẩy ra trước.
Hạch to và đặc biệt hạch "xâm lấn" (agressif) có thể cụm vào nhau hoặc lan
rộng và đè vào mạch máu, niệu quản, cơ quan lân cận (thận, cột sống).
1.3. Nguyên nhân
Thường hình ảnh siêu âm đơn thuần không đủ xác định nguyên nhân bệnh.
Phải kết hợp với lâm sàng, các cơ quan có u nguyên phát, các tổn thương kết hợp, mới
chẩn đoán được. Tuy nhiên, siêu âm có thể giúp ta chọc dò và làm tổ chức học tốt.
Nguyên nhân hạch to có thể lành tính, bệnh sacoid, trong bệnh cảnh AIDS, có
thể là hạch lao hoặc tăng sản lympho.
Thường gặp là bệnh máu (u bạch huyết Hodgkin hoặc không Hodgkin), hoặc di
căn ung thư. Nắm vững đường đi và dẫn lưu của bạch mạch, có thể tìm thấy u nguyên
phát ban đầu.
Tùy theo điều kiện và yêu cầu chẩn đoán, hạch to có thể được xác định bằng
chụp cắt lớp điện toán hoặc chụp bạch mạch.
Cần chú ý điểm mạnh của siêu âm trong theo dõi bệnh sau điều trị
- Phát hiện bệnh tái phát
- Theo dõi tiến triển u sau chạy tia và hóa liệu pháp. Nếu bệnh nhân phải điều trị
chọc dò xét nghiệm nhiều lần gây đau đớn thì siêu âm là phương pháp theo dõi
dễ được chấp nhận.
2. U nguyên phát sau phúc mạc
Đó là những u lành hay u ác mà chẩn đoán chính xác phải dựa vào sinh thiết
hoặc phẫu thuật. Đôi khi u rất to, có tính chất thâm nhiễm. Hay gặp nhất là u trung mô
lành hay ác tính. Các u quái và u nang loạn sản phôi ít gặp hơn.
Hai trường hợp sau đây hay gặp trên siêu âm:
- Khối u bụng mà cắt lớp điện toán không biết được chính xác một cơ quan nào do
không tìm thấy mặt phẳng phân tách rõ (plan de clivage) (chỉ biết thể tích một
phần) thì siêu âm, do tính chất cắt cúp hướng tới được nhiều mặt phẳng cùng lúc
nên cho phép tìm rõ mặt phẳng phân tách đó và chẩn đoán được rõ ràng
- Xác nhận khối u bụng hay tiểu khung khi bệnh nhân có biểu biện nặng ở hố thắt
lưng, đau bụng hoặc đau ở tiểu khung, ở đây siêu âm là xét nghiệm hàng đầu.
139
Thận và sau phúc mạc
Tổn thương phụ thuộc vào cấu trúc âm của mô (cơ, tổ chức liên kết, thần kinh,
mỡ, mạch máu, bạch huyết), là một hoặc nhiều mô. Tính chất nhiều mô tạo ra hình ảnh
không đồng nhất nhưng ít đặc hiệu nên phải chụp cắt lớp điện toán thêm để xác định tỷ
trọng mỡ (u mỡ, sarcome mỡ, mảnh hoại tử, các nốt vôi hoá) và xem tình hình mạch
nối.
Như mọi bệnh hạch, siêu âm giúp tìm di căn, cổ trướng ảnh hưởng đến đường
tiết niệu cao.
Các dữ kiện chứng minh có u sau phúc mạc là: các mạch máu sau phúc mạc bị
đẩy ra trước, niệu quản bị đẩy ra trước, vào trong và ra ngoài, thận bị đẩy ra trước và
ngoài nhưng cấu trúc bên trong không thay đổi. Sự dịch chuyển các tổ chức này rất
quan trọng và ngay cả khi khối u lồi ra trước làm ta nhầm tưởng là u trong ổ bụng.
Cần chú ý, khi không có triệu chứng khêu gợi, có thể nhầm lẫn u sau phúc mạc
nguyên phát với khối hạch to, phải xem thêm hình ảnh lân cận. Phải khám lâm sàng lại
cho cẩn thận (hạch ngoại biên, bìu dái), làm tổng kê sinh học và điện quang đơn giản
(chụp ngực phổi, cắt lớp điện toán, siêu âm ổ bụng tiểu khung và bìu) để tìm cho được
chẩn đoán và thăm dò bổ trợ trước khi điều trị.
3. Phình động mạch chủ bụng
Siêu âm là xét nghiệm cơ bản trong chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật phình
mạch chủ bụng.
3.1. Chẩn đoán
Ðộng mạch chủ bụng gọi là phình khi đường kính ngang đo phía dưới động
mạch thận lớn hơn 35mm.
Nhìn qua mặt cắt dọc giữa, thấy 2 bờ mạch mất song song và loại trừ được
động mạch chủ dài (dolicho - aorte).
3.2. Tổng kê trước mổ
Siêu âm xác định:
- Cực trên của phình mạch đối với động mạch thận và động mạch mạc treo tràng
trên.
- Bề dày thành mạch, có vôi hóa hay huyết khối.
Siêu âm cho phép đo được đường kính trong và ngoài của phình mạch và tìm
được ở máu tụ ngoại vi biểu hiện của vỡ phình mạch.
140
Thận và sau phúc mạc
Phình mạch phải được theo dõi định kỳ bằng đo qua siêu âm, đường kính ngang
từ 6cm trở lên là có chỉ định mổ ngay.
4. Xơ cứng sau phúc mạc
Ðây là bệnh hiếm gặp, đặc điểm có mảng xơ sau phúc mạc, lan rộng ra tiểu
khung, trung thất hoặc mạc treo. Nguồn gốc nguyên phát chỉ biết được sau khi đã loại
trừ các nguyên nhân do thuốc (methysergide, ergotamine); phản ứng viêm rồi xơ thứ
phát của khối u cạnh đó, viêm tụy hoặc biến chứng sau mổ.
Mảng xơ co rút và là nguyên nhân của thắt nghẽn 2 niệu quản, kéo lệch niệu
quản vào trong. Ðôi khi có đợt đau quặn thận hoặc đau thắt lưng. Thường niệu quản bị
đè ép lâu ngày dẫn tới suy thận mạn.
Trên siêu âm xuất hiện mảng giảm âm bao quanh động mạch chủ và tĩnh mạch
chủ dưới, nguyên nhân gây ra giãn khoang tiết ngay phía trên.
141