Tải bản đầy đủ (.doc) (133 trang)

luận văn hệ thống bài tập chương dao động cơ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 133 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI một thế giới đòi hỏi cao về tri thức và năng
lực của con người, nhân tố quyết định đến sự phát triển của xã hội tương lai đó là xã hội
của khoa học kĩ thuật và kinh tế tri thức. Đứng trước yêu cầu đổi mới nâng cao chất
lượng giáo dục phổ thông phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, ngành giáo dục đã và đang thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy học để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng
tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Trong dạy học vật lí, có thể nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực
của học sinh bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Trong đó giải bài tập vật lí
với tư cách là một phương pháp được xác định từ lâu trong giảng dạy vật lí, có tác dụng
rất tích cực đến việc giáo dục và phát triển năng lực của học sinh. Giải bài tập cũng là
một trong những thước đo thực chất, đúng đắn sự tiếp thu, vận dụng kiến thức và kĩ
năng, kĩ xảo của học sinh.
Bài tập vật lí giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn những quy luật vật lí, những hiện
tượng vật lí, biết phân tích vào những vấn đề thực tiễn. Chỉ thông qua bài tập dưới hình
thức này hay hình thức khác, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức để tự lực
giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác thì kiến thức đó mới trở lên sâu sắc,
hoàn thiện và biến thành vốn riêng của học sinh.
Xu hướng hiện đại của lí luận dạy học là chú trọng nhiều đến hoạt động và vai trò
của người học, đặc biệt là rèn luyện hoạt động tự lực, tích cực của học sinh. Điều 28,
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học...” Việc rèn luyện khả năng hoạt động tự lực, sự sáng tạo và đánh
giá sự tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc nghiên cứu, xây dựng một hệ thống
các bài tập và hướng dẫn là cần thiết. Trong nhiều năm giảng dạy ở trường phổ thông và
qua tìm hiểu thực tế, tôi nhận thấy trong chương trình vật lí phổ thông phần kiến thức về

97



“Dao động cơ” là một trong những kiến thức cơ bản nhưng cũng rất phức tạp. Cơ học cổ
điển được xây dựng trên cơ sở của các định luật Niu-tơn và ba lực cơ học để khảo sát,
giải thích nguyên nhân làm thay đổi chuyển động của các vật, các hoạt động trong đời
sống và trong khoa học kỹ thuật. Việc giải các bài tập vật lí phần “Dao động cơ” sẽ giúp
học sinh hiểu rõ, hiểu sâu sắc nội dung của các định luật Niu-tơn, các loại lực cơ học
cũng như tạo cơ sở cho việc xây dựng các kiến thức vật lí sau này. Việc nghiên cứu và
đưa ra phương pháp giải bài tập vật lí khoa học là rất quan trọng đối với giáo viên trong
quá trình giảng dạy nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu
cầu của thực tế.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Lựa chọn hệ thống bài tập và hướng dẫn
hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ – vật lí 12 theo hướng tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2.Lịch sử nghiên cứu:
Cho đến nay, đã có một số học viên cao học nghiên cứu về đề tài nghiên cứu xây
dựng hệ thống bài tập như: Đặng Thị Bình với đề tài:Tổ chức dạy học một số ứng dụng
của hiện tượng cảm ứng điện từ theo hướng sử dụng bài tập làm phương tiện xây dựng
kiến thức mới, góp phần bồi dưỡng tính tích cực , tự chủ sáng tạo của học sinh lớp 12
THPT. Lã Thị Thu Hoài với đề tài :Xây dựng hệ thống bài tập chương Cân bằng và
chuyển động của vật rắn trong chương trình sách giáo khoa vật lí 10 THPT theo tiếp
cận hệ thống. Phạm Đình Lượng với đề tài :Soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập thí
nghiệm về khúc xạ ánh sáng lớp 11 trung học phổ thông theo chương trình nâng cao
nhằm phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh. Nguyễn
Thanh Huyền với đề tài: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập định tính trong dạy học
phần “ Từ trường và Cảm ứng điện từ” vật lí 11 THPT theo hướng nâng cao tính tích
cực nhận thức của học sinh” . Lương Thị Minh với đề tài :Xây dựng hệ thống bài tập và
hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “Hạt nhân nguyên tử” vật lí 12 . Các tác giả
viết sách giáo khoa và sách bài tập vật lí phổ thông cũng đã soạn thảo hệ thống bài tập

98



bám sát các chủ đề vật lí phổ thông. Nhưng vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc
lựa chọn và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “ Dao động cơ” Vật lí 12.

99


3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu, xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập
chương Dao động cơ – vật lí 12, nhằm giúp học sinh không những ôn tập củng cố được
kiến thức mà còn phát huy được tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo trong hoạt
động giải bài tập
4. Câu hỏi vấn đề nghiên cứu
Dạy bài tập chương Dao động cơ như thế nào để bồi dưỡng tính tích cực, tự chủ
và sáng tạo cho học sinh?
5. Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với mục tiêu dạy học và thời
gian dành cho mỗi chủ đề kiến thức vật lí, đồng thời tổ chức hoạt động dạy giải bài tập
theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thì sẽ phát huy được hết các
tác dụng của bài tập vật lí trong dạy học vật lí, góp phần vào việc giúp học sinh không
những ôn tập củng cố được kiến thức mà còn phát huy được tính tích cực, tự chủ và năng
lực sáng tạo.
6. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học về bài tập vật lí ở lớp 12 THPT .
7. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học về bài tập vật lí chương Dao động cơ – vật lí 12
Đối tượng thực nghiệm: hoạt động dạy học về bài tập vật lí chương Dao động cơ
của học sinh lớp 12 THPT tại một số trường THPT tỉnh .
8. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

* Tìm hiểu lý luận về vai trò, tác dụng, phương pháp giải bài tập vật lí.
* Nghiên cứu nội dung kiến thức chương Dao động cơ – vật lí 12
* Nghiên cứu phương pháp giải bài tập chương Dao động cơ – vật lí 12
* Lựa chọn hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động
cơ – vật lí 12

100


* Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống các bài
tập và phương pháp hướng dẫn hoạt động giải bài tập đã đề ra.

101


9. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
*Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: phương pháp thực nghiệm sư
phạm,phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra.
* Phương pháp thống kê toán học.
10. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn còn bao gồm 03 chương
Chương 1.Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy giải bài tập vật lí phổ thông
Chương 2.Hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao
động cơ- vật lí 12 THPT.
Chương 3.Thực nghiệm sư phạm

102



Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
DẠY GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ PHỔ THÔNG
1.1. Khái niệm về bài tập vật lí
Trong thực tế dạy học, người ta hay gọi một vấn đề, hay một câu hỏi cần được
giải đáp nhờ lập luận lôgic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí trên cơ sở sử dụng
các định luật và các phương pháp của Vật lí học là bài tập vật lí.
Bài toán vật lí,hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí, là một phần không thể thiếu
của quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm
vật lí, phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn, góp
phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp.
1.2. Vai trò, tác dụng của bài tập vật lí.
Mục tiêu của dạy học vật lí ở trường phổ thông là phải đảm bảo trang bị đầy đủ
cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, làm cho học sinh có thể vận
dụng những kiến thức đó để giải quyết nhiệm vụ học tập. Để đạt được những nhiệm vụ
trên đồi hỏi học sinh phải được rèn luyện một cách thường xuyên, kết hợp nhiều phương
pháp. Bài tập vật lí là một trong những phương pháp được vận dụng có hiệu quả trong
dạy học vật lí. Nó có một tầm quan trọng đặc biệt góp phần vào việc hoàn thành nhiệm
vụ dạy học vật lí ở phổ thông.
Có thể nói, việc giải các bài tập vật lí được xem như mục đích, là phương pháp
dạy học. Người ta ngày càng chú ý tăng cường các bài tập vật lí vì chúng đóng vai trò
quan trọng trong dạy học và giáo dục học sinh.
Tùy thuộc vào những tình huống cụ thể, bài tập vật lí được sử dụng theo các mục đích
khác nhau.
- Bài tập vật lí có thể được sử dụng như là phương tiện nghiện cứu tài liệu mới
khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức
một cách sâu sắc và vững chắc.

103



Ví dụ:Con lắc lò xo gồm quả cầu coi là chất điểm m=100g, lò xo độ cứng K=100N/m
đặt trên mặt phẳng ngang một đầu lò xo giữ cố định, kéo lệch khỏi vị trí cân bằng một
đoạn 5cm rồi buông nhẹ để con lắc dao động điều hòa.
a)Tìm biểu thức động năng và thế năng của con lắc phụ thuộc vào thời gian.
b)Chứng tỏ cơ năng của con lắc không đổi [ 9].
Bài tập trên vận dụng những kiến thức đã học trong bài Dao động cơ và biểu thức động
năng, thế năng đàn hồi ở lớp 10 để xây dựng kiến thức động năng và thế năng của con
lắc phụ thuộc vào thời gian, biểu thức cơ năng không phụ thuộc thời gian trong bài
học.
- Bài tập vật lí là một phương tiện để học sinh rèn luyện khả năng vận dụng kiến
thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống.
Ví dụ sau khi học về dao động cưỡng bức, cộng hưởng có thể cho học sinh làm bài tập:
Xe chạy trên đường lát gạch , cứ cách khoảng 6,4m thì trên đường có một rãnh nhỏ.Chu
kì dao động riêng của khung xe là 1,6s.Xe bị xóc mạnh nhất khi chạy với tốc độ bao
nhiêu?[ 9]
Khi giải các bài tập như vậy sẽ giúp cho học sinh ôn tập, củng cố các kiến thức
đã học, đồng thời tập cho người học quen với việc liên hệ lí thuyết với thực tế, vận dụng
các kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
- Bài tập vật lí là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn
luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh.
Hoạt động giải bài tập là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh.
Trong khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài, tự xây dựng những
lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết phải tiến hành các thí nghiệm, thực hiện
các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận của
mình. Trong những điều kiện đó, tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát
triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao.
Ví dụ khi giải bài tập: “Vật dao động điều hòa cứ sau thời gian 0,5s thì động
năng lại bằng thế năng.Tìm chu kì dao động”[10] học sinh phát hiện được trong một

104



chu kì có bốn giai đoạn bằng nhau có động năng bằng thế năng , sau đó tự lực áp dụng
công thức T = 4t sẽ tính được chu kì dao động.
- Bài tập vật lí là một phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách
sinh động và có hiệu quả.
Khi giải các bài tập đòi hỏi học sinh phải nhớ lại các công thức, định luật, kiến
thức đã học, có khi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức đã học trong cả một
chương, một phần do đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn và ghi nhớ vững chắc những kiến thức
đã học.
Ví dụ, khi cho học sinh giải bài tập:Vật thực hiện đồng thời hai dao động điều hòa
x1=3cos40t(cm), x2=A2cos(40t+

π
)(cm), biết vận tốc khi vật qua vị trí cân bằng có độ
2

lớn 2m/s.Tìm biên độ A2 [ 10]
Muốn giải được bài tập này, học sinh cần phải nhớ các kiến thức về tổng hợp dao động,
vị trí vật dao động điều hòa có tốc độ lớn nhất, công thức tính tốc độ lớn nhất của vật .
- Thông qua việc giải bài tập có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt
như tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần vượt khó.
Ví dụ: Vật tham gia đồng thời hai dao động điều hòa cùng phương cùng tần số và có
biên độ lần lượt là A1 và A2 .Biên độ dao động tổng hợp bằng
dao động là

7 A1 , độ lệch pha của hai

A2
π

.Tỉ số
bằng bao nhiêu ?[ 9 ].
A1
3

Khi giải bài tập này, học sinh phải chú ý đến từ công thức tính biên độ tổng hợp suy ra tỉ
số

A2
là biến của phương trình bậc hai, từ đó tìm nghiệm dương , loại bỏ nghiệp âm nếu
A1

có vì biên độ luôn dương.
- Bài tập vật lí là một phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức,kĩ năng của
học sinh một cách chính xác.

105


Trên phương diện giáo dục, giải các bài tập vật lí sẽ giúp hình thành các phẩm
chất cá nhân của học sinh, như tình yêu lao động, trí tò mò, sự khéo léo, khả năng tự lực,
hứng thú đối với học tập, ý chí và sự kiên trì đạt tới mục đích đặt ra (kết quả của bài
toán). Trong quá trình học, nhiều khi học sinh hiểu và nắm được nội dung lí thuyết, song
họ cũng gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng kiến thức vào thực tiễn, vào việc giải các bài
toán cụ thể. Học sinh có thể nhắc lại các định luật, quy tắc, công thức nhưng không biết
vận dụng chúng như thế nào để giải một bài tập vật lí. Do đó, việc rèn luyện, hướng dẫn
học sinh giải các bài tập Vật lí là đặc biệt quan trọng, là biện pháp hiệu quả để phát triển
tư duy vật lí cho học sinh. Thực tế, ý nghĩa vật lí của các định luật, quy tắc, định lí...trở
nên dễ hiểu khi học sinh sử dụng chúng nhiều lần để giải các bài tập.
Giải các bài tập vật lí cũng là một phương pháp đơn giản để kiểm tra, hệ thống

hóa kiến thức, kĩ năng và thói quen thực hành, cho phép mở rộng, làm sâu sắc các kiến
thức đã học. Mặt khác, khi giải các bài toán vật lí học sinh phải vận dụng các kiến thức
toán học, hóa học hoặc của các bộ môn khác. Vì vậy, bài tập vật lí cũng là một công cụ
để thực hiện mối quan hệ liên môn.
1.3. Phân loại bài tập vật lí.
Số lượng các bài tập Vật lí sử dụng trong thực tiễn dạy học hiện nay rất lớn, vì
vậy cần có sự phân loại sao cho có tính tương đối thống nhất về mặt lí luận cũng như
thực tiễn cho phép người dạy lựa chọn và sử dụng hợp lí các bài tập Vật lí trong dạy học.
Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung và mục đích dạy học, vì vậy trong dạy học vật lí
có thể phân loại chúng theo các cơ sở :
-

Phân loại theo nội dung

-

Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải.

-

Phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng, phát triển tư duy sáng tạo của

học sinh.

106


BÀI TẬP VẬT LÍ

Phân loại theo

yêu cầu phát
triển tư duy

Phân loại
theo nội
dung

Bài
tập có
nội
dung
lịch sử



Bài tập
có nội
dung
cụ thể
hoặc
trừu
tượng

Nhiệt

Bài
tập

thuật
tổng

hợp

Điện

Bài
tập có
nội
dung
lịch sử

Bài
tập
sáng
tạo

Bài
Bài
tập
tập
vật
lí n
luyệ
vui
tập

Phân loại theo phương thức
cho điều kiện và phương
thức giải

Bài

tập
định
tính

Bài tập
định
lượng

Bài tập
thí
nghiệm

Bài
tập đồ
thị

Trắc
nghiêm
khách
quan

Quang

Hình 1.1. Phân loại bài tập vật lí
Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, các phương án phân loại như trên không hoàn toàn tách
biệt, một bài tập cụ thể có thể đồng thời thuộc một vài nhóm khác nhau.
1.3.1 Phân loại bài tập theo nội dung.
Nên chia các bài tập theo các đề tài của tài liệu vật lí của chúng. Theo đó, người
ta phân thành các bài tập về Cơ học, Vật lí phân tử, Điện học...sự phân chia này mang
107



tính quy ước, bởi vì kiến thức sử dụng trong giả thiết một bài tập thường không phải chỉ
lấy trong một chương mà có thể lấy từ những chương, những phần vật lí khác nhau trong
chương trình vật lí đã học.
Theo nội dung, bài tập vật lí cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung
trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể. Ở các bài tập có nội dung trừu tượng, các dữ
kiện đều cho dưới dạng các kí hiệu, lời giải cũng sẽ biểu diễn dưới dạng một công thức
chứa đựng ẩn số và dữ kiện đã cho.
Ngược lại, với các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện đều cho dưới dạng
các con số cụ thể. Ưu điểm của bài tập trừu tượng là nhấn mạnh bản chất vật lí của hiện
tượng mô tả trong bài tập, còn ưu điểm của các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan
gắn liền với thực tiễn, với kinh nghiệm sống của học sinh.
Các bài tập mà nội dung chứa đựng những tài liệu về kĩ thuật, về sản xuất công
nông nghiệp về giao thông liên lạc được gọi là những bài tập có nội dung kĩ thuật tổng
hợp.
- Bài tập có nội dung lịch sử: đó là những bài tập chứa đựng những kiến thức có
đặc điểm lịch sử : những dữ liệu về các thí nghiệm vật lí , về những phát minh sáng chế
hoặc về những câu chuyện có tính chất lịch sử.
Ngoài ra, để phát triển và duy trì hứng thú học vật lí, người ta thường sử dụng
các bài tập vật lí vui làm cho bài học sinh động. Trong các bài tập như vậy các điều kiện
của bài tập thường chứa đựng các yếu tố nghịch lí hoặc gây trí tò mò ở học sinh.
Ví dụ: Vật dao động điều hòa tại vị trí cân bằng có hợp lực bằng không , vậy
theo định luật II Niutơn gia tốc vật bằng không, tại sao nói dao động điều hòa có gia tốc?
1.3.2. Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải.
Theo đó, người ta sẽ phân ra thành các dạng: bài tập định tính, bài tập định
lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị, bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Bài tập định tính: Có hai loại bài tập định tính là: Giải thích hiện tượng và dự
đoán hiện tượng.


108


+ Giải thích hiện tượng thực chất là cho biết một hiện tượng và lí giải xem vì
sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Trong các bài tập này, bắt buộc phải thiết lập được
mối quan hệ giữa hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay với một số định
luật vật lí. Thực hiện phép suy luận logic luận ba đoạn trong đó tiền đề thứ nhất là một
đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí tổng quát, tiền đề thứ hai là những điều
kiện cụ thể,kết luận về hiện tượng được nêu ra.
Ví dụ: Giải thích vì sao trong dao động tắt dần cơ năng bị giảm.
+ Dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đề
bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiện tượng gì xảy ra
và xảy ra thế nào. Ta thực hiện suy luận lôgic,thiết lập luận ba đoạn, trong đó ta mới biết
tiền đề thứ hai( phán đoán khẳng định riêng), cần phải tìm tiền đề thứ nhất( phán đoán
khẳng định chung) và kết luận (phán đoán khẳng định riêng). Trong trường hợp hiện
tượng xảy ra phức tạp, ta phải xây dựng một chuỗi luận ba đoạn liên tiếp ứng với các
giai đoạn diễn biến của hiện tượng.
- Bài tập định lượng (bài tập tính toán): Đó là các bài tập khi giải phải sử dụng
các phương pháp Toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết Vật lí). Đây là dạng
bài tập sử dụng rộng rãi, thường được soạn thảo cho chương trình Vật lí phổ thông. Các
bài tập này có thể giải trên lớp, trong giờ luyện tập, giao về nhà cho học sinh tập vận
dụng kiến thức (sau đó có sự kiểm tra của giáo viên). Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là
làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh vận dụng phương pháp
nhận thức đặc thù của Vật lí đặc biệt phương pháp suy luận Toán học. Tuỳ theo phương
pháp Toán học được vận dụng, bài tập tính toán được quy về các bài tập số học, đại số
và hình học.
Tuỳ theo phương pháp Toán học được vận dụng, bài tập tính toán được quy về
các bài tập số học, đại số và hình học.
- Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số học, tác
động lên các con số hoặc các biểu diễn chữ mà không cần thành lập phương trình để tìm

ra ẩn số.

109


- Phương pháp đại số: Dựa trên các công thức Vật lí, lập các phương trình từ đó
giải chúng để tìm ra ẩn số.
- Phương pháp hình học: Khi giải dựa vào hình dạng của đối lượng, các dữ liệu
cho theo hình vẽ để vận dụng quy tắc hình học hoặc lượng giác.
Trong các phương pháp trên, phương pháp đại số là phương pháp phổ biến nhất, quan
trọng hơn cả vì vậy cần thường xuyên quan tâm rèn luyện cho học sinh.
Khi giải các bài tập tính toán người ta còn sử dụng thủ pháp logic khác nhau,
cũng có thể coi là phương pháp giải: đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp.
- Phương pháp phân tích:
+ Tìm một định luật, một qui tắc diễn đạt bằng một công thức có chứa
đại lượng cần tìm và một vài đại lượng khác chưa biết.
+ Tiếp tục tìm những định luật, công thức khác cho biết mối quan hệ
giữa đại lượng chưa biết này với các đại lượng đã biết trong đề bài. Cuối cùng tìm được
một công thức chỉ chứa đại lượng cấn tìm với đại lượng đã biết.

- Phương pháp tổng hợp

110


+ Từ những đại lượng đã cho ở đề bài. Dựa vào các định luật,qui tắc vật lí,tìm
những công thức có chứa đại lượng đã cho với các đại lượng trung gian mà ta dự kiến có
liên quan đến đại lượng cần tìm.
+Suy luận toán học, đưa đến công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm với các đại

lượng đã cho.

Hai phương pháp trên đều có giá trị như nhau, chúng bổ sung cho nhau. Phương
pháp phân tích nếu tìm được công thức đúng thì nhanh chóng hướng tới kết quả bài toán.
Tuy nhiên, học sinh không tập trung chú ý nhiều vào các giai đoạn trung gian, điều đó
nói chung là không có lợi, đặc biệt đối với học sinh yếu, họ sẽ nắm bản chất Vật lí kém
sâu sắc hơn. Phương pháp tổng hợp cho phép đi sâu vào các giai đoạn trung gian, học
sinh chú ý hơn tới bản chất Vật lí và mối liên hệ giữa các đại lượng và hiện tượng.
Phương pháp tổng hợp giống như phương pháp " thử " và “ sai ” nên gần với tư duy trực
quan, cụ thể của học sinh. Trong khi phương pháp phân tích đòi hỏi cao hơn về mức độ
tư duy logic và chuẩn bị Toán học. Vì vậy căn cứ vào đối tượng học sinh, mục đích dạy
học, giáo viên nên sử dụng hợp lí các phương pháp này. Trong những bài tập tính toán
tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều nguyên nhân, trải qua nhiều giai đoạn, khi xây
dựng lập luận có thể phối hợp hai phương pháp.

111


- Bài tập thí nghiệm: là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng
lời giải bằng lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho bài tập. Bài tập thí nghiệm có
nhiều tác dụng về mặt giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt làm sáng tỏ mối
quan hệ giữa lí luận và thực tiễn : trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các
số liệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế, cho nên
phần vận dụng các định luật vật lý để lí giải các hiện tượng mới là nội dung chính của
bài tập thí nghiệm.
- Bài tập đồ thị: là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải
phải tìm trong đồ thị đã cho trước hoặc ngược lại. Bài tập đòi hỏi học sinh phải biểu diễn
quá trình diễn biến của hiện tượng đã nêu trong bài tập. Bài tập đồ thị có tác dụng rèn
luyện kĩ năng đọc, vẽ đồ thị, và mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng mô tả trong đồ
thị.

- Bài tập trắc nghiệm khách quan: bài tập dạng trắc nghiệm khách quan thường
dùng để kiểm tra kiến thức trong phạm vi rộng, số lượng người được kiểm tra nhiều, kết
quả thu được khách quan không phụ thuộc người chấm. Bài tập dạng này yêu cầu học
sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều các kiến thức liên quan.
Khi lựa chọn các nội dung các bài tập nên đi từ đơn giản đến phức tạp, tăng
cường cá nhân hóa hoạt động của học sinh tương ứng với năng lực và kiến thức của họ.
Phân chia các bài toán theo các cấp độ: đơn giản, phức tạp, mức độ sáng tạo. Có thể quy
ước mức độ phức tạp của một bài tập như sau: các bài tập được coi là đơn giản là các bài
tập khi giải cần sử dụng một, hai công thức hoặc quy tắc, định luật Vật lí, hình thành
một, hai kết luận, thực hành một thí nghiệm đơn giản. Những bài tập này thường được
gọi là các bài luyện tập. Nhờ các bài tập này có thể củng cố các kiến thức đã học. Các
bài tập phức tạp hơn (còn gọi là các bài tập tổng hợp), khi giải thường phải sử dụng các
định luật vật lí, nhiều khi thuộc các phần khác nhau của định luật vật lí, đưa ra một vài
kết luận, sử dụng một số kĩ năng thực nghiệm.
1.3.3. Phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng, phát triển tư duy trong quá trình
dạy học.

112


-Bài tập luyện tập: là loại bài tập dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng được
những kiến thức xác định để giải từng bài tập theo mẫu xác định. Ở đó không đòi hỏi
học sinh phải tư duy sáng tạo mà chủ yếu để cho học sinh luyện tập, nắm vững cách giải
đối với một loại bài tập đã được chỉ dẫn.
-Bài tập sáng tạo: là loại bài tập để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Có
thể chia bài tập sáng tạo thành :
+ Bài tập nghiên cứu: khi cần giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở mô
hình trừu tượng thích hợp từ lí thuyết vật lí.
+Bài tập thiết kế: bài tập loại này là bài tập xây dựng mô hình thực nghiệm để
kiểm tra kết quả rút ra từ lí thuyết.

Ngoài ra, bài tập sáng tạo còn được hiểu là bài tập có nhiều cách giải.
1.4. Tư duy trong giải bài tập vật lí.
Quá trình giải bài tập vật lí là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài tập, xem xét
hiện tượng vật lí được đề cập và dựa trên kiến thức vật lí để đưa tới mối liên hệ có thể có
của những cái đã cho và cái phải tìm, sao cho có thể thấy được cái phải tìm có mối liên
hệ trực tiếp hay gián tiếp với cái đã cho.
Từ đó, đi tới chỉ rõ mối liên hệ tường minh trực tiếp của cái phải tìm với những
cái đã biết, tức là tìm ra được lời giải cho bài toán. Các công thức, phương trình mà ta
xác lập được dựa trên kiến thức vật lí của các điều kiện cụ thể của bài tập là sự biểu diễn
mối quan hệ định lượng giữa các đại lượng vật lí. Dựa trên tập hợp các mối quan hệ này
(tập hợp các phương trình) ta mới có thể luận giải tính toán để có lời giải cuối cùng. Đối
với những bài tập tính toán thì những công việc vừa nói chính là việc thiết lập các
phương trình và giải hệ các phương trình để tìm ra các ẩn số của bài toán.
Ta có thể mô hình hóa các mối liên hệ đã cho, cái phải tìm, những cái chưa biết theo
hình 1.2, trong đó (x) là cái phải tìm (A) (B)... là cái đã cho , (a) (b) là những cái chưa
biết
(x)

(A)

(B) ... (a) (b) ....

113


Hình 1.2
Giả sử khi giải một bài tập nào đó, việc phân tích điều kiện trong đề bài và dựa
trên kiến thức vật lí , sẽ dẫn ra được 6 mối liên hệ mô hình hóa:

(x)


(A)

(a)

(b)

(B)

(a)

(c)

I

II
(C)

(D)

(c)

(b)

(E)

(d)

IV


(G)

(H)

(d)

V

(I)

III
(e)

(K)

(e)

Hình 1.3
VI

Trong sáu mối liên hệ cho thấy , có mối liên hệ giữa cái phải tìm (x) với cái đã
cho A, B, C, D, E, G, H, I, K thông qua mối liên hệ giữa chúng với cái chưa biết a, b, c,
d, e. Nhờ hệ thống sáu mối liên hệ này mà ta làm sáng tỏ hoặc loại trừ những cái đã biết
để rồi xác định được cái cần tìm.
III

II

(c)


(a)
I

V
IV
VI

114

(x)


(d)
(b)
(e)
Hình 1.4
Trong đó: từ mối liên hệ (III) rút ra (c)
Thế (c) vào (II) rút ra (a)
Từ (V) rút ra (d) , từ (VI) rút ra (e)
Thế (d), (e) vào (IV) rút ra (b)
Thế (a), (b) vào (I) rút ra ẩn (x) – là cái cần tìm.
Như vậy, tư duy trong giải bài tập vật lí cho thấy hai phần cơ bản, quan trọng
như sau:
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí vào điều
kiện cụ thể của bài tập đã cho.
- Sự tiếp tục luận giải ,tính toán đi từ mối liên hệ đã xác lập được đặt trong bài
tập đã cho.
Tóm lại, để tìm được lời giải của một bài tập vật lí là phải trả lời được câu hỏi:
- Để giải bài tập này, cần xác lập những mối liên hệ cơ bản nào?
- Sự xác lập những mối liên hệ cơ bản cụ thể này dựa trên sự vận dụng những

kiến thức gì? Vào điều kiện cụ thể gì của bài tập.
Trả lời được những câu hỏi đó còn giúp giáo viên có sự định hướng trong phương
pháp dạy học về bài tập một cách đúng đắn, hiệu quả.
1.5.Phương pháp giải bài tập vật lí.
Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải và sửa bài tập gặp không ít khó khăn vì
học sinh thường không có kiến thức lý thuyết chắc chắn và kĩ năng vận dụng kiến thức
vật lí còn hạn chế. Vì vậy các em giải một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng,
áp dụng công thức máy móc và nhiều khi không giải được. Có nhiều nguyên nhân:
- Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập vật lí.

115


- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập là xem xét, phân tích các
hiện tượng vật lí để đi đến bản chất vật lí.
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo
đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những giúp học
sinh có kiến thức lí thuyết chắc chắn mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận logic, làm việc
một cách khoa học, có kế hoạch.
Quá trình giải một bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài tập,
xem xét hiện tượng vật lí, xác lập được những mối liên hệ cụ thể dựa trên sự vận dụng
kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập đã cho. Từ đó tính toán những mối liên
hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và kết luận chính xác..
Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú. Vì vậy
không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp dụng để giải được tất cả
bài tập. Song trong thực tế người ta cũng thừa nhận một quan điểm chung về quá trình
giải một bài tập Vật lí. Theo quan điểm đó, giáo viên không chỉ đơn giản trình bày cách
giải cho học sinh mà phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng học sinh trong quá
trình giải bài tập, cần phải dạy học sinh tự lực giải được bài tập Vật lí. Vì vậy sau mỗi
chương, mỗi phần của chương trình Vật lí, giáo viên trình bày cách giải mẫu mỗi loại

bài, hình thành cho học sinh thói quen phân tích đúng bài toán, ghi chép và tính toán một
cách hợp lí, rèn luyện tư duy logic. Quá trình giải một bài tập Vật lí, đặc biệt là giải một
bài tập phức tạp, có thể trải qua các bước chính sau:
Bước 1. Tìm hiểu đề bài
- Đọc, ghi ngắn gọn các dữ kiện xuất phát và các cái phải tìm.
- Mô tả lại tình huống được nêu trong bài tập, vẽ hình minh họa. Nếu đề bài yêu cầu, thì
phải làm thí nghiệm hoặc vẽ đồ thị để thu được dữ kiện (trong trường hợp bài tập thí
nghiệm hoặc bài tập đồ thị). Trong nhiều trường hợp, cần đổi đơn vị của các đại lượng
đã cho về đơn vị chuẩn( Theo hệ SI)
Bước 2. Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm

116


Đối chiếu các dữ kiện xuất phát và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình
huống đã cho để nhận ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan.
Xác lập các mối liên hệ cụ thể của các dữ kiện xuất phát và của cái phải tìm.
Lựa chọn các mối liên hệ cơ bản, cho thấy sự liên hệ của cái phải tìm với các dữ kiện
xuất phát và từ đó có thể rút ra cái phải tìm.
Bước 3. Luận giải rút ra kết quả cần tìm.
Từ các mối liên hệ cơ bản đã xác lập, tiếp tục luận giải, tính toán rút ra kết quả cần
tìm.
Bước 4. Kiểm tra và biện luận kết quả.
Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải theo một hoặc
một số cách sau:
-Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi chưa, đã xét hết các trường hợp chưa.
- Kiểm tra tính toán có đúng không?
- Kiểm tra thứ nguyên của các đại lượng có phù hợp không?
- Xem xét kết quả về ý nghĩa thực tế có phù hợp không?
- Giải bài tập theo cách khác xem có cho cùng kết quả không?

Hoạt động giải bài tập trong thực tế có khi không thấy tách bạch rõ bước thứ ba với
bước thứ hai. Có thể, sau khi xác lập được một mối liên hệ vật lí cụ thể nào đó người ta
thực hiện ngay sự luận giải với mối liên hệ đó (biến đổi phương trình đó) rồi tiếp sau đó
mới lại xác lập một mối liên hệ vật lí khác. Có nghĩa là, các bước có mối liên hệ xen kẽ
trong quá trình giải bài tập, vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập để
xác lập một mối liên hệ cụ thể, và việc luận giải tiếp theo với mối liên hệ đã xác lập
được này. Vì vậy, khi khái quát hóa phương trình giải một bài tập vật lí ta vẫn có thể chỉ
ra được đâu là những phương trình cơ bản cụ thể cần xác lập để sự luận giải từ các
phương trình đó cho phép rút ra kết quả cần tìm.
Đối với bài tập phần chương Dao động cơ, việc hướng dẫn học sinh giải bài tập
là quan trọng. Thực tế cho thấy học sinh chỉ có thể giải bài tập nếu học sinh có kiến thức
lý thuyết chắc chắn và thực hiện thành thạo các bước giải bài tập vật lí nói chung.

117


Phương pháp giải bài tập chương Dao động cơ cũng có đầy đủ các bước giải giống như
phương pháp giải bài tập vật lí nói chung.
Bước 1. Tìm hiểu đề bài.
Bước 2. Lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm
Bước 3. Luận giải rút ra kết quả cần tìm.
Bước 4. Kiểm tra và biện luận kết quả.
1.6 .Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí.
Để việc hướng dẫn giải bài tâp cho học sinh có hiệu quả, thì trước hết giáo viên
phải giải được bài tập đó, và phải xuất phát từ mục đích sư phạm để xác định kiểu hướng
dẫn cho phù hợp.
Ta có thể minh họa bằng sơ đồ sau:
Tư duy giải bài
tập vật lí


Phân tích phương pháp
giải bài tập vật lí cụ thể
Phương pháp
hướng dẫn giải bài
tập vật lí cụ thể

Mục đích sư
phạm

Xác dịnh kiểu Hình
hướng1.5
dẫn

Theo đó, tùy theo mục đích sư phạm mà người ta vận dụng các kiểu hướng dẫn khác
nhau trong hướng dẫn giải bài tập vật lí.
1.6.1. Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn Angorit)
Sự hướng dẫn hành động theo mẫu sẵn có thường gọi là hướng dẫn angôrit.
Hướng dẫn angorit là sự hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh những hành động cụ thể cần thực
hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt được các kết quả như mong muốn.
Những hành động sơ cấp phải được học sinh hiểu một cách đơn giá và học sinh đã nắm
vững. Kiểu hướng dẫn angorit không đòi hỏi học sinh phải tự mình tìm tòi xác định các
hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinh chấp hành

118


các hành động đã được giáo viên chỉ ra, căn cứ theo đó học sinh sẽ đạt được kết quả, sẽ
giải được bài tập đã cho.
Kiểu hướng dẫn angorit đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoa học việc
giải bài tập để xác định được một trình tự chính xác chặt chẽ của các hành động cần thực

hiện để giải được bài tập và đảm bảo cho các hành động đó là những hành động sơ cấp
đối với học sinh. Nghĩa là, kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xác định angorit giải bài tập.
Kiểu hướng dẫn angorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinh phương pháp
giải một lớp các bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh các kĩ năng giải
một bài tập vật lí xác định. Người ta xây dựng các angorit giải cho từng loại bài tập cơ
bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kĩ năng giải loại bài tập đó dựa trên việc làm
cho học sinh nắm chắc các angorit giải.
Ưu điểm: Dạy cho học sinh được phương pháp giải một loại bài tập điển hình.
Đồng thời, rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải một bài tập xác định.
Nhược điểm: Học sinh có thói quen chấp hành những hành động đã được chỉ
dẫn theo mẫu đã có sẵn, do đó ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm tòi,
sáng tạo, hạn chế sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Để khắc phục nhược điểm
này, trong quá trình giải bài tập, giáo viên phải lôi cuốn học sinh tham gia vào quá trình
xây dựng angorit cho bài tập.
1.6.2. Hướng dẫn tìm tòi. ( Hướng dẫn Ơrixtic)
Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh suy
nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải quyết. Không phải là giáo viên chỉ dẫn cho học sinh chỉ
việc chấp hành các hành động theo một mẫu đã có để đi tới kết quả mà là giáo viên gợi
mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, tự xác định các hành động cần thực hiện để đạt
được kết quả. Thông thường, kiểu hướng dẫn tìm tòi được áp dụng khi cần giúp đỡ học
sinh vượt qua khó khăn để giải được bài tập, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu phát triển tư
duy học sinh, muốn tạo điều kiện để học sinh tự lực tìm cách giải quyết.
Ưu điểm: Tránh được tình trạng giáo viên làm thay học sinh trong việc giải bài
tập. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi học sinh phải tự lực tìm ra cách giải quyết chứ không

119


phải là học sinh học sinh chỉ việc chấp hành các hành động theo mẫu đã được chỉ ra, nên
không phải bao giờ cũng có thể đảm bảo cho học sinh giải được bài tập một cách chắc

chắn.
Khó khăn: Cách hướng dẫn này không phải bao giờ cũng đảm bảo cho học sinh
giải quyết được bài tập một cách chắc chắn. Có thể, sự hướng dẫn của giáo viên cho học
sinh dễ đưa học sinh đến chỗ chỉ còn việc thừa hành các hành động, theo mẫu, hoặc sự
hướng dẫn của giáo viên viển vông, quá chung chung, không giúp ích được cho sự định
hướng tư duy của học sinh. Nó phải có tác dụng hướng tư duy của học sinh vào phạm vi
cần và có thể tìm tòi phát hiện cách giải quyết vấn đề. Ngoài ra, phương pháp này không
thể áp dụng cho toàn bộ đối tượng học sinh do chất lượng học sinh là khác nhau.
1.6.3. Định hướng khái quát chương trình hóa.
Định hướng khái quát chương trình hóa cũng là sự hướng dẫn cho học sinh tự
tìm tòi cách giải quyết, chứ không thông báo ngay cho học sinh cái có sẵn. Nét đặc trưng
của kiểu hướng dẫn này là, giáo viên định hướng hoạt động tư duy của học sinh theo
đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề. Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực
tìm tòi giải quyết của học sinh. Nếu học sinh không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp
theo của giáo viên là sự phát triển định hướng khái quát hóa ban đầu, cụ thể hóa thêm
một bước bằng cách gợi ý thêm cho học sinh, để thu hẹp hơn phạm vi phải tìm tòi, giải
quyết cho vừa sức với học sinh. Nếu học sinh vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải
quyết thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo
cho học sinh hoàn thành được yêu cầu của một bước. sau đó tiếp tục yêu cầu học sinh tự
lực tìm tòi giải quyết các bước tiếp theo. Nếu cần thì giáo viên lại giúp đỡ thêm. Cứ như
vậy cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra. Phương pháp hướng dẫn này được áp
dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh, nhằm
giúp cho học sinh tự giải được bài tập đã cho, đồng thời dạy cho học sinh cách suy nghĩ
trong quá trình dạy giải bài tập.
Ưu điểm: Kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu: rèn luyện tư duy của học
sinh trong quá trình giải bài tập và đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã cho. Sự

120



hướng dẫn như vậy đòi hỏi giáo viên theo sát tiến trình hoạt động giải bài tập của học
sinh, không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn, mà phải kết hợp được
việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của học sinh để điều chỉnh sự giúp
đỡ, thích ứng với trình độ của học sinh.
Ví dụ: Đối với các bài toán giáo viên có thể hướng dẫn học sinh theo cách định
hướng khách quan khái quát hóa như sau: đề bài đã cho cái gì? Yêu cầu tìm cái gì? Hay
có thể xác nhận được những mối liên hệ cụ thể gì đối với cái đã cho và cái phải tìm? Nó
liên quan đến những kiến thức gì ?
Nhược điểm: Để làm tốt được sự hướng dẫn này phụ thuộc vào trình độ và khả
năng sư phạm của người giáo viên. Đôi khi người giáo viên dễ sa vào làm thay cho học
sinh trong từng bước định hướng. Do vậy, câu hỏi định hướng của giáo viên phải được
cân nhắc kĩ và phù hợp với trình độ học sinh.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập không thể theo một khuôn mẫu
nhất định, mà tùy thuộc vào nội dung, kiến thức, yêu cầu của bài toán, và còn tùy thuộc
vào đối tượng học sinh mà chúng ta có cách lựa chọn kiểu hướng dẫn cho phù hợp.
Người giáo viên phải biết phối hợp cả ba kiểu hướng dẫn trên, tận dụng những ưu điểm
trong cả ba phương pháp.
1.7. Lựa chọn và sử dụng bài tập vật lí
1.7.1 Lựa chọn các bài tập Vật lí
Trong thực tế dạy học Vật lí người giáo viên thường xuyên phải thực hiện công
việc lựa chọn và tìm cách vận dụng các bài tập Vật lí sao cho phù hợp với mục tiêu dạy
học của mỗi loại bài học, của công việc (như kiểm tra, giờ luyện tập,... ). Khi đó việc lựa
chọn hệ thống các bài tập cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nội dung các bài tập phải phù hợp với nội dung các kiến thức cơ bản và kỹ năng giải
bài tập của học sinh.
- Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp... giúp cho học sinh xây
dựng được phương pháp giải các loại bài tập điển hình.

121



×