MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 4
1.Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 4
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 5
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 9
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 9
7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 9
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 11
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ................. 11
1.1 Vài nét đặc trưng của thơ trữ tình ............................................................. 11
1.2 Mối tương quan mật thiết giữa thơ và các thể loại văn học khác, thơ và
các loại hình nghệ thuật................................................................................... 16
1.2.1 Thơ và các thể loại văn học khác....................................................... 17
1.2.1.1 Thơ và các thể loại tự sự ............................................................ 17
1.2.1.2 Thơ và kịch ................................................................................ 20
1.2.2 Thơ và các loại hình nghệ thuật khác ................................................ 21
1.2.2.1 Thơ và hội họa ........................................................................... 22
1.2.2.2 Thơ và nhạc ................................................................................ 23
1.3 Vài nét khái quát về tự sự.......................................................................... 26
1.3.1 Khái niệm .......................................................................................... 26
1.3.2 Các yếu tố cơ bản của tự sự ............................................................... 28
1.3.2.1 Sự kiện....................................................................................... 28
1.3.2.2 Cốt truyện .................................................................................. 29
1.3.2.3 Nhân vật .................................................................................... 31
1.3.2.4 Trần thuật ................................................................................... 33
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
CHƢƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ TỰ SỰ TRONG THƠ
TRẦN NHUẬN MINH ................................................................................. 35
2.1 Bối cảnh xã hội, văn hóa, văn học từ sau thời kỳ đổi mới ........................ 35
2.1.1.Khái quát về bối cảnh xã hội, văn hóa, văn học ................................ 35
2.1.2 Tình hình thơ ca ................................................................................. 36
2.1.3 Ảnh hưởng của bối cảnh xã hội, văn hóa, văn học đến con đường thơ
Trần Nhuận Minh ............................................................................... 40
2.2 Những biểu hiện của yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh................ 45
2.2.1 Nhan đề bài thơ giàu tính tự sự ......................................................... 45
2.2.2 Cốt truyện hóa dòng tâm trạng .......................................................... 47
2.2.3 Xây dựng nhân vật kiểu tự sự ........................................................... 56
2.2.3.1 Nhân vật được cụ thể hóa, khách quan hóa qua những chi
tiết bề ngoài ..................................................................... 57
2.2.3.2 Nhân vật được tái hiện trong sự đa chiều muôn mặt về tâm lí,
tính cách ...................................................................................... 61
2.2.4 Ngôn ngữ và giọng điệu mang màu sắc tự sự ................................... 68
2.2.4.1 Ngôn ngữ ........................................................................................ 68
2.2.4.1.1 Ngôn ngữ đậm chất đời thường............................................... 68
2.2.4.1.2 Ngôn ngữ thơ mang tính nghị luận ......................................... 75
2.2.4.2 Giọng điệu .................................................................................. 79
2.2.4.2.1 Giọng điệu kể .......................................................................... 79
2.2.4.2.2 Giọng điệu nói ......................................................................... 81
2.2.4.2.3 Giọng điệu hóm hỉnh, bông đùa, giễu nhại ............................. 86
2.2.5 Người kể chuyện và sự đa dạng hóa các điểm nhìn .......................... 89
CHƢƠNG 3: GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA YẾU TỐ TỰ SỰ TRONG THƠ
TRẦN NHUẬN MINH ................................................................................. 95
3.1 Yếu tố tự sự mở rộng phạm vi phản ánh trong thơ Trần Nhuận Minh............... 96
3.1.1 Yếu tố tự sự và những thông tin về hiện thực .................................... 97
3.1.2 Yếu tố tự sự và những trăn trở của nhà thơ trước cuộc đời ............... 99
1
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
3.1.3 Yếu tố tự sự và những số phận ......................................................... 102
3.2 Yếu tố tự sự làm cho cảm xúc từ hiện thực của nhà thơ dễ được bộc lộ
hơn ................................................................................................................. 105
3.2.1 Yếu tố tự sự và những cảm xúc chân thành tự nhiên của nhà thơ .......... 106
3.2.2 Yếu tố tự sự - đòn bẩy cho việc thể hiện cảm xúc ........................... 110
3.3 Thể hiện sự kế thừa và đổi mới của nhà thơ trong hành trình sáng tạo nghệ
thuật ............................................................................................................... 113
3.3.1 Sự kế thừa các yếu tố nội dung và hình thức .................................. 114
3.3.2 Sự sáng tạo đổi mới......................................................................... 118
3.4 Yếu tố tự sự và hiệu quả tiếp nhận thơ Trần Nhuận Minh ..................... 121
3.4.1 Yếu tố tự sự góp phần nâng cao hiệu quả tiếp nhận ....................... 122
3.4.2 Yếu tố tự sự làm tăng tính đối thoại cho bạn đọc ........................... 124
KẾT LUẬN .................................................................................................. 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 131
2
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,
TS. Nguyễn Văn Tùng, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để
tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà thơ Trần Nhuận Minh,
người đã cung cấp cho tôi hệ thống tư liệu trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong chuyên ngành Lí luận
văn học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Phòng sau Đại học, Ban giám hiệu
trường Đại học sư phạm Hà Nội, đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên và
tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
3
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1. Trong thực tế đã có khá nhiều luận văn, luận án, các công trình
nghiên cứu nói về sự ảnh hưởng, tác động của bối cảnh xã hội, kinh tế, văn
hóa… thời kỳ Đổi mới đối với thể loại tự sự. Ở luận văn này chúng tôi muốn
nghiên cứu theo một hướng khác: Thơ (trữ tình) có chịu sự tác động của thời
kỳ Đổi mới hay không, và nếu có thì nó biểu hiện như thế nào?
1.2. Trong thời kỳ Đổi mới, các nhà thơ không ngừng tìm tòi sáng tạo
cho mình những hướng đi riêng, những phong cách thơ độc đáo, làm diện
mạo thơ thay đổi. Trần Nhuận Minh, theo chúng tôi, là một trong số các nhà
thơ tạo dựng được cho mình một tiếng nói riêng. Không hướng tới cái cao
siêu, không quá chú tâm vào làm câu, làm chữ, thơ Trần Nhuận Minh vừa gần
gũi, bình dị, vừa gợi lên những vấn đề thế sự sâu sắc. Đọc những bài thơ Thím
Hai Vui, Mợ Hữu, Cô Bổng, Bá Kim…ta thấy đậm chất tự sự, nó thể hiện ở
ngay nhan đề, và mỗi bài thơ như mang dung lượng một truyện ngắn, nhân
vật có số phận, có tính cách, tâm lí… Đây cũng là một trong những lí do tại
sao hơn mười lần in đi in lại, người đọc vẫn tìm đến với thơ ông. Thành công
trong sáng tác của ông đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng như: Giải
thưởng của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho hai tập thơ: Âm điệu một
vùng đất (1980) và Nhà thơ áp tải (1990); Giải thưởng của Trung ương Đoàn
Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho tập thơ Trước mùa mưa bão (1980);
Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về chuyên ngành văn học
với hai tập thơ: Nhà thơ và hoa cỏ (1993), Bản xônát hoang dã (2003). Vì
vậy, theo chúng tôi, thơ Trần Nhuận Minh xứng đáng trở thành đối tượng
nghiên cứu. Nghiên cứu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh ngoài việc
tìm hiểu sự tương tác giao thoa thể loại, khẳng định sức hấp dẫn và vị trí của
thơ ông, chúng tôi còn đưa ra những đánh giá khách quan về hiệu ứng thẩm
mĩ mà yếu tố tự sự tạo nên.
1.3. Thơ là một thể loại được đưa vào giảng dạy nhiều trong nhà trường.
4
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
Nghiên cứu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh giúp chúng tôi có cơ hội
nâng cao năng lực nghiên cứu, cảm thụ thơ ca. Qua các thao tác được sử dựng
trong luận văn như: cảm nhận, phân tích, so sánh… sẽ góp phần nâng cao hơn
nữa hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
2. Lịch sử vấn đề
Là một trong số nhà thơ tạo được một tiếng nói riêng, Trần Nhuận Minh
và thơ của ông đã trở thành đề tài của không ít các bài viết trong sách báo, tạp
chí. Ở phần này, chúng tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn những bài viết,
công trình tiêu biểu nhất.`
Trước hết, một số tác giả đã bàn về sự ảnh hưởng của thời đại, đặc biệt là
thời kỳ Đổi mới đến thơ Trần Nhuận Minh. Khi Đọc thơ Trần Nhuận Minh,
Mai Quốc Liên cho rằng tâm hồn Trần Nhuận Minh đã “nhạy cảm làm sao
trước những dư chấn của thời mình đang sống. Và anh đã làm một cuộc từ
giã những câu thơ pha nước đường để đi đến cái chân thực đích thực... ”[54,
tr 9]. Theo đó, cảm hứng thế sự đời tư đã thể hiện rất đậm nét trong sáng tác
của nhà thơ từ sau thời kỳ đổi mới đất nước. Và vì thế, những vần thơ dung dị
ấy dễ đi vào chiều sâu tâm hồn con người, lắng đọng lại vị muối của đời nhiều
hơn. Nó khiến Nguyễn Trọng Tạo cảm thấy mỗi khi “đọc thơ ông, nó cứ làm
tôi day dứt nhớ Đỗ Phủ, Tú Xương… một nỗi đau đời, nỗi đau kẻ sĩ, nỗi đau
thi nhân”[54, tr 192]
Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã khái quát con đường thơ mà Trần
Nhuận Minh đã lựa chọn, đó là con đường hiện thực gắn với những kiếp
người chìm nổi giữa cuộc đời: “Người bảo bác theo Đỗ/ Em phải học Lí
thôi… Bác âm thầm chìm nổi/ Cùng kiếp người lang thang/… Bác làm bông
lau ngàn/ Thả hồn vào hoang vắng/ Khi buồn thì hát ca/ Lúc vui thì im lặng
/… Bác gánh bao nỗi người/ Sóng đôi mà đơn độc/ Đi mang mang trong đời
[54, tr 201-202].
Thơ Trần Nhuận Minh“nặng việc đời, nặng tình người, tâm trạng, nỗi
trăn trở của tác gải trước những vui buồn của cuộc đời đã cho anh những câu
5
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
thơ đích thực. Nhà thơ nhìn thẳng vào sự thật, nhận thức sứ mệnh Áp tải sự
thật đến với người đọc. Câu thơ đã vượt qua sự làm duyên, làm xiếc, mà chân
thực ào ạt chạm vào trái tim người đọc, lay động tâm hồn người
đọc”(Nguyễn Bùi Vợi) [33, tr 224].
Tác giả Tô Thùy Anh khi đọc Nhà thơ và hoa cỏ đã nhận xét: “Cái chất
dung dị hồn nhiên trong thơ anh ngày trước vẫn còn, song bây giờ quyện
thêm nhiều chất suy tư, dằn vặt trăn trở”[54, tr 191 ]. Đứng trước hiện thực
thay đổi, nhà thơ không thể nhìn bằng con mắt xuôi chiều nữa, do đó thơ Trần
Nhuận Minh như được nêm thêm thứ gia vị mới, nhiều khi đắng chát được
chắt lọc từ chính cuộc đời.
Ở một số bài viết khác, các tác giả lại bàn đến bút pháp thơ Trần Nhuận
Minh trên nhiều khía cạnh như ngôn ngữ, thể thơ, giọng điệu… Nguyễn Bao
cho rằng:“Những chi tiết đời sống sinh động, những nét điển hình của từng
nhân vật với sức khái quát cao, những phác họa xuất thần, lột tả bản chất con
người… tất cả tạo được một hiệu quả nghệ thuật bất ngờ” [54, tr 191].
Mai Quốc Liên cũng nhận thấy sự kế thừa và sáng tạo trong thơ Trần
Nhuận Minh: “Thể thơ ngũ ngôn cổ điển, được anh kế thừa và vận dụng
thành thạo, từ ngữ thơ anh giản dị nhưng chắt lọc, cân nhắc đến mức điêu
luyện, giọng điệu thơ anh đa dạng: lúc thì trào tiếu, lúc thì êm nhẹ, đằm thắm,
bay lượn… lúc thì cay chua, bi phẫn.”[54, tr 13]. Đánh giá về mặt nghệ thuật
thể hiện, tác giả Đỗ Hữu Tấn nhận thấy thơ Trần Nhuận Minh“hay ở sự giản
dị, dễ hiểu. Có những câu thơ như nói, tự nhiên như không, đứng tách bạch
nhau thì chẳng có gì, nhưng đứng liền nhau trong một tổng thể thì rất hay”
[54, tr 208].
Hữu Tuân thì cho rằng thơ Trần Nhuận Minh “hồn nhiên, chân chất. Bởi
chính nó chảy từ trái tim nhân hậu của thi sĩ…Tứ thơ thi sĩ không dừng lại ở
dấu chấm cuối bài, mà nó cứ ngân vang mãi giữa lòng ta không dứt”, ở một
bài khác lại viết: “Thơ Trần Nhuận Minh thấm đượm màu sắc cổ điển. Tôi
cho rằng hồn thơ Đường, âm hưởng thơ Kiều hòa trong máu, trong hồn nhà
6
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
thơ, nhuyễn đến nỗi, có nhiều câu thơ anh viết ra cứ như Nguyễn Du, Lí Bạch,
nhẹ nhàng như không” [54, tr 199-209].
Thái Doãn Hiểu nhận định: “Anh làm thơ theo lối truyền thống, tổng hợp
được mọi thi pháp, nhiều cái hay từ xưa đến nay.Thơ trần Nhuận Minh hàm
súc, phóng khoáng, mực thước, bình dị, tự nhiên…”[54, tr 207]
Bên cạnh đó, một số bài viết cũng đã ít nhiều bàn đến yếu tố tự sự trong
thơ Trần Nhuận Minh. Đào Tiến Thi đã cảm nhận được rằng sau mỗi bài thơ
của Trần Nhuận Minh là sự “da diết một nỗi niềm nhân thế” [54, tr 197] bởi
dường như mỗi bài thơ là một câu chuyện nhỏ về cuộc đời nhưng lại làm
người đọc xúc động về những vấn đề lớn của cả xã hội.
Tác giả Thái Doãn Hiểu trong bài viết “Thơ phải lay động lòng người về
số phận nhân dân” đã cảm nhận ở trong thơ Trần Nhuận Minh lúc nào cũng
có “sự dằn vặt, suy tư về nỗi đau nhân thế đè nặng” [37, tr 6].
Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá: “Những bài thơ thành công của Trần Nhuận
Minh là sự cộng hưởng giữa chất sống và kinh nghiệm sống, những thảng thốt lo
âu bất chợt đan xen với vẻ đẹp bình dị thường ngày” [33, tr 228].
Tác giả Phạm Khải cũng thừa nhận: “…anh đã hướng ngòi bút về những
phận đời lam lũ, cơ cực đang tồn tại quanh mình như những vỉa than quý bị
phủ lấp trong đất bụi bấy nay. Anh muốn thơ ca phải là sự an ủi, bù đắp phần
khuyết thiếu mà những con người bất hạnh ấy đang gánh chịu. Trong khi độc
giả ngày một quay lưng lại với lối thơ hoặc tầm phào mây gió, hoặc rối rắm,
u ơ, thì với những bài thơ ngắn gọn, có cốt truyện, nhân vật cụ thể, đề cập tới
những vấn đề thiết thực của đời sống, thơ Trần Nhuận Minh thực sự là một
kênh hấp dẫn, thu hút đông đảo người đọc.”[CAND. Com.vn]
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã có bình luận khá tinh tế, sâu sắc:“Ông chỉ
vẽ mà không vời, phác mà không họa, kể mà không ngắm, một thực tại, một
kiếp người, nén không gian vào các khe chữ, cho đến lúc phải bật máu… Chỉ
bằng một số câu chữ ngắn, thơ chân dung của Trần Nhuận Minh là cả một
7
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
câu chuyện, một cuộc đời, được tinh lại, cô lại, theo kiểu vũ trụ cô trên đầu
giọt sương”[33, tr 68-70 ]
Nguyễn Văn Quảng cho rằng: “Đặc sắc nhất trong thơ Trần Nhuận
Minh là chùm thơ có tính tự sự mà người ta gọi là thơ chân dung. Những
chân dung này mới nhìn qua gồm toàn dân thường, từ nhà văn công nhân
vùng mỏ Võ Huy Tâm, qua bá Kim, xứng đáng là bà mẹ Việt Nam anh hùng,
đến ông Vọng suốt đời đánh giậm, nhưng thật ra là bao quát gần như tất cả
các loại người điển hình của xã hội Việt Nam hôm nay”[54, tr 213].
Từ sự khảo sát tìm hiểu như trên đã chứng tỏ Trần Nhuận Minh có vị trí
trong thơ ca hiện đại. Các tác giả đã đề cập tới khá nhiều khía cạnh cụ thể
trong các bài nghiên cứu, phê bình. Nhìn chung vấn đề yếu tố tự sự trong
thơ Trần Nhuận Minh đã được đề cập tới. Tuy nhiên, không nhiều và chưa
có công trình chuyên biệt, các tác giả chỉ nói tới một cách khái quát hoặc ở
một vài khía cạnh riêng lẻ. Song, những nhận định, cảm nhận đó là những
tư liệu quý giá để chúng tôi tiếp cận vấn đề một cách hiệu quả hơn khi thực
hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này chúng tôi muốn thâm nhập để thấy rõ sự vận động trong
thơ Trần Nhuận Minh từ đó thấy rõ vị trí, đóng góp của ông trong trào lưu thơ
đổi mới.
Từ khái niệm tự sự và các bình diện cơ bản của tự sự để khám phá quá
trình tương tác, giao thoa thể loại trong những chỉnh thể trữ tình của Trần
Nhuận Minh, thấy được yếu tố tự sự là một trong những đặc điểm nổi bật, là
một trong những lí do khiến thơ trần Nhuận Minh dễ đi sâu vào lòng bạn đọc.
Có những đánh giá khách quan về những hiệu ứng nghệ thuật mà quá
trình tương tác tạo ra trong thơ Trần Nhuận Minh, góp phần tạo tiếng nói
khách quan về hiện tượng thâm nhập của chất tự sự vào trong thơ đương đại
nói chung.
8
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi không có điều kiện đi khảo sát yếu
tố tự sự trong toàn bộ sáng tác của Trần Nhuận Minh, mà chỉ tập trung khảo
sát ở ba tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ, Miền dân gian mây trắng, 45 khúc đàn
bầu của kẻ vô danh.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng có sử dụng một số bài thơ
của các nhà thơ khác để làm tư liệu so sánh đối chiếu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, người viết sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cơ bản như:
Phương pháp cấu trúc hệ thống
Phương pháp loại hình.
Phương pháp tiếp cận tác phẩm của thi pháp học.
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng một số thao tác khoa học như: thống
kê, so sánh đối chiếu, phân tích.
6. Đóng góp của luận văn
Khám phá vấn đề Yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh với những
biểu hiện cơ bản, cụ thể của nó.
Đánh giá khách quan vị trí, đóng góp của Trần Nhuận Minh trong thơ
đương đại.
Góp phần làm sáng rõ lí luận tương tác, giao thoa thể loại và sự vận động
trong tư duy nghệ thuật của các nhà thơ nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính của luận văn tập
trung vào ba chương như sau:
9
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
Chƣơng 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan.
Chƣơng 2: Những biểu hiện của yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh.
Chƣơng 3: Giá trị thẩm mĩ của yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh.
10
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1 Vài nét đặc trƣng của thơ trữ tình
Thơ là thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống tinh thần con
người, “lời của thơ nảy sinh vào thời xa xưa của mỗi dân tộc, lúc đó ngôn
ngữ còn chưa hình thành, phải nhờ có thơ ca ngôn ngữ mới được phát triển”
[72, tr 254]. Thơ có nghĩa rộng, bao hàm toàn bộ văn học, theo sách thi pháp
học của Aritote, thơ bao gồm sử thi, bi kịch, hài kịch. Vào thời cận đại, thơ có
nghĩa hẹp, chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơ trữ tình, thơ tự sự,
trường ca… Trong phương thức trữ tình, thơ trữ tình là một thể loại tiêu biểu
hơn cả. Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm thơ ca theo nghĩa hẹp trong phạm
vi thơ trữ tình. Thơ trữ tình là phương tiện để nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình thể
hiện những cảm xúc suy tư trước các hiện tượng đời sống một cách trực tiếp.
Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng biểu hiện sự phức tạp của thế
giới nội tâm sâu kín, từ những cung bậc tình cảm cho tới những quan điểm, chí
hướng, tư tưởng triết học… Tùy theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có
thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau. Trước đây trong văn học
Châu Âu, người ta thường dựa vào cảm hứng chủ đạo mà chia thơ trữ tình
thành bi ca, tụng ca, thơ trào phúng. Ngày nay, người ta dựa vào đối tượng đã
tạo nên cảm xúc của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình mà chia thành thơ trữ
tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân.
Các cách phân loại như trên đều hết sức tương đối, nhiều khi khó tách bạch.
Song, sự phân chia về thể loại như thế cũng giúp chúng ta thuận lợi hơn trong
nghiên cứu tìm hiểu về tư tưởng và khuynh hướng nghệ thuật của nhà thơ.
Là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình, vì thế cái chủ
quan là đặc trưng cơ bản nhất của thơ trữ tình. Trữ tình là “vương quốc chủ
quan”[67, tr1], “là sự biểu hiện và cảm thụ của chủ thể”[67, tr1]. Trữ tình là
11
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
sự thể hiện thế giới chủ quan của con người với những cảm xúc tâm trạng và
suy nghĩ trực tiếp. Tuy nhiên, không nên hiểu đơn giản trữ tình chỉ là sự bộc
lộ trực tiếp tình cảm và ý nghĩ, bởi trong tự sự cũng miêu tả cảm xúc và suy
nghĩ của nhân vật. Nhưng cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật không phải là
mục đích chính của tự sự mà nó làm cơ sở cho các sự kiện tiếp đó. Trữ tình
chỉ có khi có sự tự ý thức của thế giới chủ quan. Sự tự ý thức của thế giới chủ
quan vừa là bản chất vừa là động cơ, nguồn gốc của trữ tình. Trong Mĩ học
Hêghen viết: “Đối tượng của thơ không phải là mặt trời, núi non, phong
cảnh, cũng không phải là hình dáng và các biểu hiện bên ngoài của con
người, máu thịt, thần kinh… Đối tượng của thơ là những hứng thú tinh
thần”[72, tr 256]. “Nhiệm vụ chính của thơ là gợi lên cho ý thức nhận thấy
sức mạnh của cuộc sống tinh thần và tất cả những gì lay động chúng ta, làm
chúng ta xúc cảm trong các dục vọng và các tình cảm nhân tính”[72, tr 256].
Như vậy, thơ không chỉ miêu tả sự vật bên ngoài, không kể các sự việc xảy ra
mà chỉ biểu hiện các xúc động nội tâm, những tình cảm, cảm nhận của con
người trước sự việc, giúp ta hiểu con người chủ thể ở bên trong. “Nhà thơ lấy
tâm hồn của mình để phản ánh thực tế lịch sử, rồi nhà thơ lại nhìn vào tâm
hồn mình để viết về thực tế lịch sử đã phản ánh trong ấy”[27, tr 224]. Dựa
vào mối liên hệ giữa nhà thơ với tư cách là chủ thể tiếp cận đời sống và thực
tại với tư cách là đối tượng tinh thần để Hêghen lí giải về bản chất thơ trữ
tình. Theo ông, “thơ trữ tình biểu hiện phương diện chủ quan của một con
người, đem con người bên trong phơi bày ra trước mắt chúng ta, do đó là
toàn bộ cảm xúc, tình cảm, âm nhạc” [67, tr 1]. CL Bell cũng cho rằng “cái
độc đáo của người nghệ sĩ là ở chỗ họ có năng lực thương xuyên nắm bắt một
cách chuẩn xác thực tại và năng lực biểu hiện tình cảm với thực tại đó. Do
vậy nghệ thuật chứa đựng tình cảm thẩm mĩ của nghệ sĩ với thực tại” [52, tr
210]. Cơ sở của điều này được Fran Bretana giải thích do bắt nguồn từ bản
chất của hoạt động tâm lí của con người“hoạt động tâm lí của con người là
hướng về khách thể. Cái ý hướng đó vẫn nằm trong thế giới chủ quan, còn đối
12
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
tượng khách thể vẫn nằm bên ngoài. Ý hướng đó tiếp cận đối tượng sau khi
được chủ quan hóa trở thành đối tượng nội tại, đối tượng ý thức”[52, tr 371].
Bản chất chủ quan của trữ tình (sự tự ý thức) thể hiện ở nguyên tắc tiếp
nhận và tái hiện đời sống thông qua toàn bộ nhân cách người trữ tình. Cuộc
sống đã được nhận thức, lí giải, đánh giá, cảm xúc, mơ ước bằng chính lăng
kính tâm hồn người trữ tình. Toàn bộ nhân cách con người trữ tình tồn tại như
một lăng kính nhận thức và biểu cảm trong trữ tình không hiện lên một cách
thụ động, trung tính, vô cảm, khách quan mà luôn chủ động vận động một
cách tích cực, giàu tính chủ quan và cá thể. Điều đó khiến tâm hồn hòa nhập
vào ngoại vật hay ngoại vật chứa tâm hồn. Thế giới ngoại vật càng mang dấu
ấn tâm hồn bao nhiêu, chất trữ tình càng đậm bấy nhiêu. Đây chính là khả
năng nội cảm hóa thế giới của trữ tình. “Thơ là sự bộc lộ tình cảm mãnh
liệt”,“làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt” [72, tr 257]. Nhà thơ Cuba José
Marti nói: “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm những câu có
vần chứ không thể làm được thơ” [72, tr 257]. Lê Quý Đôn, một học giả Việt
Nam thế kỉ XV cho rằng có ba vấn đề chính khi làm thơ, trong đó đặt vị trí
đầu tiên là “một tình” rồi mới đến“hai cảnh, ba sự”. Ngô Thì Nhậm cũng đề
cao vai trò của tình cảm trong thơ: “Mây gió, hoa cỏ xinh tươi kì diệu đến đâu
hết thảy cũng từ trong lòng mà nảy ra… Hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có
thần” [26, tr 168]. Bạch Cư Dị, nhà thơ đồng thời là nhà lí luận phê bình nổi
tiếng đời Đường Trung Quốc đã quan niệm về thơ: "Cảm hóa nhân tâm không
gì bằng tình cảm…Gốc rễ của thơ là tình cảm, lá của thơ là ngôn ngữ, hoa
của thơ là thanh âm, quả của thơ là tư tưởng”[50, tr 91]. Lưu Hiệp cũng
khẳng định: “Người vốn có bảy tình, ứng với vật mà xúc cảm vật rồi ngâm
ngợi cái chí, đó là lẽ tự nhiên vậy” [50, tr 55].
Như vậy, tình cảm trong trữ tình là tình cảm rất mãnh liệt với những
chấn động bên trong, với mọi cung bậc cảm xúc. Nhưng tình cảm trong thơ
không phải bộc lộ một cách bản năng, trực tiếp, không phải là sự kêu gào
13
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
khóc cười ồn ào ở bên ngoài mà là sự rung động mãnh liệt ở bên trong, những
chấn động trong tâm hồn mình, tình cảm được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ
gắn liền với khoái cảm của sự tự ý thức về mình và về đời. Theo Susan
Langer thì “tự biểu hiện không cần đến nghệ thuật. Bọn côn đồ lấy việc phạm
tội hình sự làm vui rồi trước giá treo cổ đang gào rống, người mẹ đang hoảng
hốt trước đứa con đang ốm thập tử nhất sinh, kẻ si tình vừa cứu được người
yêu thoát nạn đang chân tay run rẩy, mồ hôi nhễ nhại, cười nói luyên
thuyên… tất cả những con người này đều bộc lộ tình cảm mãnh liệt nhưng đó
không phải và không cần cho nghệ thuật” [52, tr 457].
Có nhiều cách biểu hiện về sự tự ý thức của chủ thể, của cái chủ quan.
Trước hết con người trữ tình coi chính mình là một khách thể đang tồn tại,
một giá trị nhân sinh, có một vị thế nào đó trong cuộc đời, từ đó miêu tả trực
tiếp tâm trạng, ý nghĩ của mình, tự xưng danh, định nghĩa về mình:
Ta là một, là riêng, là thứ nhất.
Không có ai bè bạn nổi cùng ta
(Xuân Diệu)
Hay:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
(Chế Lan Viên).
Ý thức về cá nhân, cá tính, chủ thể xuất phát từ nhu cầu tự đánh giá, tự
khẳng định. Con người trữ tình nhận thấy có sự tồn tại của thế giới nội tâm
chính mình, họ tự cảm thấy mình, nhận thức mình, và tự miêu tả mình qua
những cảm xúc, suy nghĩ và hành động. Đặc biệt, con người trữ tình thường ý
thức mình trong những tình huống đầy tâm trạng như chia ly, xa cách, nhớ
nhung… Họ thường miêu tả mình như một khách thể, luôn hướng vào vị thế
và cảnh ngộ của mình, họ coi mình là tâm điểm của các quan hệ đan chéo. Sự
tự ý thức dẫn đến nhu cầu tự biểu hiện, muốn được giãi bày, chia sẻ, đồng
cảm…Vì thế, cái chủ quan chính là nguồn gốc, bản chất của thơ trữ tình.
Thế giới chủ quan còn thể hiện ở sự nội cảm hóa và cá tính hóa các sự
14
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
vật hiện tượng được miêu tả. Thế giới trong thơ trữ tình là một thế giới đã
được nội cảm hóa, khó mà phân biệt được đâu là chủ thể, đâu là khách thể, sự
kiện thực tế và sự kiện nội cảm, cảnh thực tế và cảnh nội cảm là hoàn toàn
khác nhau. Chẳng hạn, nhà thơ Hoàng Cầm đã xúc động, đau xót trước cảnh
quê hương Kinh Bắc tan hoang dưới gót giày xâm lược của giặc, trước cảnh
sống cơ cực, lầm than, đọa đày… như của chính những người thân trong gia
đình, đó hoàn toàn không chỉ là sự kiện khách quan, vô cảm:
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gầy teo….
(Bên kia sông Đuống)
Hoặc hình ảnh vầng trăng trong con mắt người lính cách mạng mang vẻ
hào hùng lãng mạn:
Đầu súng trăng treo
(Chính Hữu)
Cũng có khi thế giới trữ tình đầy những hình ảnh khó giải thích:
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc...
Hay:
Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím …
Tuy nhiên, sự kiện đời sống khách quan luôn là điểm tựa cho những tình
cảm, cảm xúc trữ tình, là điểm tựa để cảm xúc thăng hoa. Mỗi nhà thơ từ đó
mà có những cảm nhận, miêu tả khác nhau.Viên Mai nhấn mạnh hơn về cái cá
nhân trong nội dung trữ tình: “Gốc của thơ ca là ở chỗ miêu tả những tính
tình và tình cảm cá nhân…Chính vì là cái tính linh của mỗi người, thơ không
có gì gọi là Đường Tống, nếu cứ khư khư giữ lấy cái này thì lòng anh chí
mang được một quốc huy đã mất, chứ không có được tính tình riêng, do đó
15
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
cũng mất luôn đi cái gốc của thơ ca” [50, tr 138].
Tình cảm trữ tình không chỉ mang tính cá thể mà còn mang tính phổ
quát, dân tộc, thời đại. Nó không chỉ là tiếng nói của nhà thơ mà phải là tiếng
nói chung của mọi người, tình cảm trở nên khoáng đạt, siêu thăng, phổ quát.
Trữ tình do đó không chỉ là nhận xét về những hình ảnh cá biệt mà là những
cảm xúc, đánh giá về cuộc đời, con người nói chung, mang những mẫu số
chung: tình yêu quê hương, gia đình, bạn bè…
Từ đó có thể đi đến kết luận: Cái chủ quan là đặc trưng cơ bản của nội
dung thơ trữ tình. Tuy nhiên cũng không nên tuyệt đối hóa cái chủ quan của
thơ trữ tình mà tách biệt nó khỏi sự tác động của cái khách quan, xem thơ ca
là cái gì đó huyền bí xa lạ. Chẳng hạn Platon xem “linh cảm như bản chất của
thơ ca bộc lộ ra từ quá trình sáng tác và thưởng thức”[27, tr 28], nhà thơ chỉ
truyền những linh cảm thần thánh đến con người.Vũ Hoàng Chương, Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên cũng có những quan niệm tương tự khi cho rằng “thơ
là sự cầu nguyện thượng đế”,“thơ là bản kinh, người thơ tự cầu nguyện với
chính mình”, “thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của những khát khao”,“làm thơ
là làm sự phi thường, thi sĩ không phải là người, nó là người mơ, người say,
người điên. Nó là tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu…”[27, tr 28]. Những
quan niệm này đã hoàn toàn tách bản chất chủ quan của chủ thể trữ tình ra
khỏi những tác động của khách thể để đưa thơ ca đi vào địa hạt huyền bí.
Việc xác định cái chủ quan là đặc trưng cơ bản nhất của thơ trữ tình sẽ
giúp ta đi đúng hướng trong việc khám phá giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
thể loại này, đồng thời cũng là cơ sở để xem xét sự vượt biên tràn sang thể
loại khác và những hiệu ứng nghệ thuật nó tạo nên.
1.2 Mối tƣơng quan mật thiết giữa thơ và các thể loại văn học khác,
thơ và các loại hình nghệ thuật
Sự thâm nhập giữa các thể loại văn học, nghệ thuật là một hiện tượng
bình thường trong sự phát triển của văn nghệ. Mọi cách phân loại xét cho đến
cùng đều có tính tương đối bởi theo Giáo sư Trần Đình Sử thì “trên thực tế
16
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
thể loại văn học rất đa dạng, không một lối nào được bao quát trọn vẹn và sít
sao. Trước các thể loại trung gian, kết hợp loại này và loại kia, không dễ quy
hẳn vào một loại nào… Mặt khác, nhiều thể loại kí quy vào loại tự sự cũng
không thật thích hợp vì cốt truyện ít phát triển mà chất trữ tình lại rất
cao”[70, tr 350-351]. Điều quan trọng để đánh giá chính là kết quả của tác
phẩm. Nếu quả thật nhà văn sử dụng hỗ trợ các thể loại khác trong miêu tả và
tạo hiệu quả cho tác phẩm thì đó là hiện tượng tích cực trong sáng tạo. Trong
sự phát triển chung của văn nghệ trong thời kì hiện đại, hiện tượng giao lưu
thâm nhập giữa các loại hình văn học và nghệ thuật đó biểu hiện cho hết cái
đa dạng của sự sống và những ý đồ sáng tạo sâu sắc của nghệ sĩ sẽ trở thành
hiện tượng bình thường. Vấn đề đặt ra là cần tránh sự tùy tiện xem nhẹ đặc
trưng của từng thể loại và dẫn đến xóa nhòa ranh giới thể loại.
1.2.1 Thơ và các thể loại văn học khác
1.2.1.1 Thơ và các thể loại tự sự
Thơ, theo các nhà nghiên cứu từ xưa tới nay, là hình thái văn học đầu
tiên của loài người. Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tương đối dài các tác
phẩm văn học đều viết bằng thơ.Vì thế, trong lịch sử văn học của nhiều dân
tộc từ thế kỉ XVII về trước, nói đến thơ ca tức là nói đến văn học. Trong
nhiều nền văn học, thơ ca ra đời rất lâu thì văn xuôi mới xuất hiện. Sự phân
chia ranh giới thể loại chỉ mang tính chất tương đối bởi trong quá trình phát
triển, các thể loại văn học có sự thâm nhập lẫn nhau. Đối với thơ, bên cạnh
chất trữ tình nguyên vẹn, thuần nhất thường thấy trước đây, thơ đã được gia
tăng thêm nhiều yếu tố tự sự. Sự thâm nhập này không phải đến thơ ca hiện
đại mới xuất hiện, nó có từ rất sớm trong truyền thống văn học. Khả năng hòa
phối và chung sống hòa bình giữa chúng có cơ sở để lí giải. Truyền thống của
thơ ca trung đại Việt Nam chủ thể trữ tình thường tường thuật, kể lại, nói lên
nỗi lòng, chí hướng và tâm tình của mình. Đó là cội nguồn cho sự xuất hiện
hàng loạt bài thơ có các tiêu đề như: Ngôn hoài, Thuật hoài, Tự tình, Trần
17
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
tình… trong đó yếu tố đầu tiên được xem là cách thức trữ tình (thuật, tự,
ngôn, trần), yếu tố thứ hai thường là nội dung trữ tình (hoài, tình). Nhà nghiên
cứu Đặng Thai Mai gọi đó là “văn chương tự tình” xem như một cách đối lập
với “văn chương trữ tình” và“văn chương tự sự”. Tự thấy rằng, bản thân cách
gọi đó đã thừa nhận sự tồn tại của yếu tố tự sự trong tác phẩm. Muốn giãi bày
thổ lộ tình cảm không có con đường nào khác ngoài việc phải kể ra, thuật lại
những sự việc liên quan đến tình cảm ấy; những “hỉ nộ ái ố” của con người là
vì đâu, do đâu; hay những hoàn cảnh, trạng huống và sự kiện nào làm nảy
sinh mối tâm tình đó. Sự gia giảm của yếu tố tự sự trong tác phẩm sẽ góp
phần tạo nên những thể loại khác nhau như truyện thơ, ngâm khúc hay trường
ca… Các trường hợp như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều,
Truyện Lục Vân Tiên… là những minh chứng rõ nét cho sự thâm nhập này.
Đọc Chinh phụ ngâm, không quá khó để tìm ra yếu tố tự sự. Giáo sư Lê Trí
Viễn khi bắt đầu phân tích khúc ngâm cũng đã tóm tắt tác phẩm trong khoảng
20 dòng. Tác phẩm là câu chuyện về cuộc đời người chinh phụ được kể theo
ba phần với diễn tiến như sau: mở đầu là người chồng ra trận, tiếp đến là cảnh
đợi chờ của người vợ trẻ và kết lại khúc ngâm là ngày người chồng trở về
trong niềm vui chiến thắng; nhân vật trữ tình trong khúc ngâm cũng được
miêu tả cụ thể qua cả những chi tiết bên ngoài lẫn tâm lí bên trong... Trong
Truyện Kiều tính chất khẩu ngữ, giọng điệu nói, tâm lí nhân vật kiểu tự sự
cũng thể hiện rõ. Tác giả Phan Ngọc trong “Phương pháp tự sự của Nguyễn
Du” đã đưa ra cách tiếp cận mới mẻ với Truyện Kiều. Ông chỉ ra rằng mặc dù
trong tác phẩm này câu tự sự rất ít (575 câu) chiếm 17,5% tác phẩm nhưng tác
phẩm vẫn lôi cuốn, câu chuyện vẫn đầy đủ, rành mạch, “chúng ta vẫn thấy nó
nói với chúng ta biết bao nhiêu là chuyện. Mỗi chúng ta đều rút từ những
đoạn thơ tự sự này ra những quan hệ mà mình thích”[24, tr 61]. Mặc dù
Truyện Kiều sinh thành trong một hoàn cảnh rất xa so với hoàn cảnh mà thơ
đương đại đã và đang vận động, song những phát hiện của Phan Ngọc vẫn có
18
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
tính thời sự cho những ai quan tâm tới vấn đề lí thuyết tương tác thể loại.
Phong trào Thơ mới 1930-1945 là giai đoạn đầu tiên được nhìn nhận ở sự
thâm nhập của văn xuôi vào thơ và Hoài Thanh là người đầu tiên có ý thức
khai phá thơ dưới ánh sáng của lí thuyết tương tác. Nhìn lại con đường đã đi
qua của Thơ mới, nhà phê bình này nghĩ đến những dòng sông nước tràn vào
bờ và luôn giao hoán với nhau khi văn xuôi tràn vào địa hạt của thơ. Theo đó,
thành trì bền vững của thơ xưa bỗng chốc bị phá tan tành, khuôn khổ bài thơ
bắt đầu rạn nứt, thi tứ giãn ra. Bài thơ Chùa Hương và Sơn Tinh Thủy tinh của
Nguyễn Nhược Pháp được tác giả Nguyễn Thành Thi coi đó là “những bài
thơ kể chuyện mini”, đó là kết quả của sự tổng hợp giàu tính nghệ thuật giữa
truyện, kí và thơ, giữa tự sự và trữ tình. “Yếu tố truyện toát ra từ câu chuyện,
từ diễn biến của sự kiện (bắt đầu, nảy sinh, phát triển một mối tình). Yếu tố kí
(du kí, kí sự) toát ra từ những ghi chép tái hiện cảnh thật, việc thật, người thật
trong sự vận động tự nhiên của không gian thời gian theo một lịch trình nhất
định”[24, tr 172]. Vì vậy, khi đọc tác phẩm người ta dễ có cảm tưởng thưởng
thức một truyện ngắn, một thiên kí sự bằng thơ. Sau Thơ mới, biểu hiện của
sự mở rộng đặc trưng thể loại cũng được đề cập tới trong thơ ca cách mạng.
Các hiện tượng thơ có cốt truyện của Tố Hữu (Bà Bủ, Mẹ Suốt), Giang Nam
(Quê hương), Thanh Hải (Mồ anh hoa nở), Phạm Tiến Duật (Bài thơ về tiểu
đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong)… vẫn là những tác
phẩm trữ tình, nhưng người đọc có cảm giác như một câu chuyện về cuộc đời,
số phận, tính cách nhân vật.
Còn về phía tự sự, khả năng nào trong yếu tố này có thể hòa hợp cùng
trữ tình? Ta thấy rằng, trong tự sự, khi xây dựng nhân vật không thể không
nói đến hành động, đó có thể là hành động bên ngoài (như việc làm, cách ứng
xử, thái độ…) nhưng cũng có thể là hành động bên trong (như ý nghĩ, tình
cảm, cảm xúc). Chính hành động mang tính nội tâm này làm nên màu sắc trữ
tình trong tác phẩm tự sự. Nói khác đi, khi xây dựng nhân vật muốn đạt đến
19
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn và chân thật, không thể không
khắc họa và miêu tả tình cảm bên trong, những nung nấu, suy tư của nhân vật.
Thế giới nội cảm của nhân vật từ đó được bộc lộ. Sự dung hợp các yếu tố của
trữ tình trong tự sự góp phần không nhỏ trong việc bộc lộ ý đồ tư tưởng nghệ
thuật và hình thành phong cách cho nhà văn. Đọc văn Thạch Lam, người đọc
bước vào thế giới của tâm tình với những rung động tâm hồn rất mơ hồ, tinh
tế của các nhân vật với rất ít các sự kiện và hầu như không có cốt truyện, và vì
thế mà ta có cảm tưởng mỗi tác phẩm của Thạch Lam giống như một bài thơ
trữ tình đượm buồn. Cũng có thể tìm thấy yếu tố trữ tình trong trang văn của
Nguyễn Tuân, Tô Hoài…
Như vậy, sự dung hợp các yếu tố tự sự trong thơ và ngược lại là hiện
tượng bình thường trong quá trình phát triển của văn học. Tuy nhiên, trong
thời kì Đổi mới văn học, khi những quy định cũ thực sự đã được cởi trói,
chúng có cơ hội thấm sâu vào nhau hơn, nó cũng là một trong những yếu tố
góp phần làm thay đổi diện mạo thơ ca đương đại.
1.2.1.2 Thơ và kịch
Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học. Kịch vừa thuộc
sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch
bản chính là phương diện của văn học kịch. Như trên đã nói, mọi sự phân chia
thể loại văn học chỉ mang tính chất tương đối vì trong quá trình phát triển, các
thể loại văn học có sự thâm nhập lẫn nhau. Thơ và kịch cũng không nằm
ngoài quy luật phát triển chung đó. Một trong những minh chứng rõ nét nhất
cho sự kết hợp này là sự hình thành và phát triển của thể loại kịch thơ. Thế kỉ
XX trở về trước, kịch thơ phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước phương Tây. Thế kỉ XX kịch thơ mới du nhập vào nước ta. Sự phát triển
của kịch thơ rất phù hợp với quy luật phát triển thể loại của văn học Việt
Nam. Kịch thơ ra đời cùng lúc với Thơ mới, như một bộ phận của Thơ mới.
Lúc đầu nó được xem như là thơ với hình thức kịch, nhưng dần dần nó trở
thành một thể loại văn học khác của dân tộc, có ý nghĩa quan trọng trong việc
20
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
góp phần phát triển đa dạng thể loại văn học Việt Nam. Sân khấu Việt Nam
lúc bấy giờ chỉ toàn kịch hát - chủ yếu dựa vào các làn điệu dân ca dân gian
cũng là nguồn gốc từ thơ ca dân gian, đến khi kịch thơ (thể hiện bằng ngôn
ngữ thi ca) của các nước du nhập vào thì sự tiếp thu càng thuận lợi hơn. Có
thể kể đến các tác giả kịch thơ đầu tiên như Huy Thông, Thao Thao với những
vở kịch thơ mang dấu ấn như là gạch nối giữa Thơ mới và kịch. Đó là các tác
phẩm Anh Nga, Tiếng địch sông Ô, Bên bờ suối dưới ánh trăng… Những tác
phẩm này dường như mang đậm chất thơ hơn là kịch, các nhà thơ muốn hiện
thực hình thức kịch này để bày tỏ cảm xúc của mình một cách dễ dàng tuôn
chảy hơn. Những năm tiếp theo, kịch thơ có diện mạo mới, có giá trị và được
khán giả đón nhận. Các tác phẩm Bóng giai nhân (Yến Lan - Nguyễn Bính),
Dương Quý Phi (Thế Lữ - Vi Huyền Đắc), Huyền Trân công chúa (Huy
Thông), Trương Chi, Vân Muội (Vũ Hoàng Chương)… quan tâm tới các vấn
đề trong xã hội với nhiều cảm xúc và nguồn cảm hứng khác nhau: những mối
tình đẹp nhưng dang dở, những khát vọng riêng tư của con người về hạnh
phúc, tình yêu được viết bằng cảm xúc nồng nàn như trong Thơ mới, về
những vấn đề dân tộc với tâm trạng hoài cổ… Các tác phẩm kịch thơ thời kì
này giàu chất thơ, men thơ của Thơ mới, tạo nên đặc trưng cơ bản của thể
loại là chất thơ và chất kịch, và đây cũng chính là một trong những yếu tố
cuốn hút người đọc, người xem. Đến giai đoạn sau có thể kể đến một số tác
phẩm của Nguyễn Đình Thi như Rừng trúc, Giấc mơ, Nguyễn Trãi ở Đông
Quan… Ngày nay kịch thơ không còn là một thể loại vượt trội, nhưng nó đã
để lại dấu ấn quan trọng, đánh dấu quy luật phát triển thể loại của văn học. Rõ
ràng, sự thâm nhập giữa thơ và kịch đã làm cho kịch không những vẫn giữ
được đặc trưng cơ bản mà còn tạo nên chất thơ - thứ men say lôi cuốn hấp dẫn
đối với người đọc.
1.2.2 Thơ và các loại hình nghệ thuật khác
Cũng như văn học, các loại hình nghệ thuật khác ra đời từ lao động và
trong hoạt động thực tiễn của con người. Hoạt động và nhu cầu thực tiễn của
21
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
con người là đa dạng, cho nên các loại hình nghệ thuật cũng phong phú đa
dạng. Văn học là một loại hình nghệ thuật đặc biệt. Tính hình tượng gián tiếp,
tính tư duy trực tiếp là hai đặc trưng cơ bản làm nó khác biệt với các loại hình
nghệ thuật khác. Tuy nhiên, giữa văn học và các loại hình nghệ thuật luôn
luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Không phải ngẫu nhiên mà trong hầu
hết các thứ tiếng người ta đều nói “văn học và nghệ thuật”, trên một ý nghĩa
nào đó, đã nhằm nêu rõ tính chất và vai trò của nó là sánh ngang và có mối
liên hệ mật thiết với tất cả các bộ môn nghệ thuật còn lại. Hêghen cũng cho
rằng thơ gắn với nhạc và họa. Nhà mĩ học Trung Quốc Chu Quang Tiềm phát
hiện thơ ca cùng một nguồn gốc với nhạc và vũ mà dấu tích còn thấy rõ trong
ca dao dân ca. Sóng Hồng cũng khẳng định: “Thơ là thơ, đồng thời cũng là
vẽ, là chạm khắc theo một cách riêng”[71, tr 197].
1.2.2.1 Thơ và hội họa
Các thể loại văn học nói chung, đặc biệt là thơ ca, có mối quan hệ mật
thiết với hội họa. Tính chất giàu hình ảnh, đường nét làm thơ ca và hội họa
gần nhau hơn. Trong truyền thống văn học phương Đông từ lâu đời vốn có
truyền thống kết hợp giữa thơ và hội họa. Đời Đường có rất nhiều thi sĩ kiêm
họa sĩ, nhiều bài thơ và bức tranh đều vẽ về một đề tài, dưới bức tranh thường
có mấy câu thơ, ngược lại trong thơ có rất nhiều bức tranh minh họa. Đến đời
Tống, thậm chí người ta ra đề khảo thí cho các họa sĩ tương lai bằng các bài
thơ. Chính Tô Đông Pha đã phát hiện trong tác phẩm của thi sĩ kiêm họa sĩ
Vương Duy đời Đường là “thi trung hữu họa”, “họa trung hữu thi” (trong thơ
có họa, trong họa có thơ). Ông còn gọi thơ Đỗ Phủ là “vô hình họa” (tranh
không hình) và tranh của họa sĩ nổi tiếng Hoàn Can là “bất ngữ thi” (thơ
không lời). Trong thơ, các nhà thơ cũng thường sử dụng những biện pháp hội
họa, cách phối màu như trong hội họa vẫn là việc thường thấy. Nguyễn Du đã
tạo ra bức tranh thiên nhiên mùa xuân đầy sức sống, hài hòa về màu sắc:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Nhiều khi, các tác giả vận dụng kĩ thuật phối màu, hòa sắc trong hội họa.
22
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
Có khi là sắc nóng:
Cát vàng cồn nọ dặm hồng bụi kia
(Nguyễn Du)
Có khi là sắc lạnh:
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
(Hồ Chí Minh)
Hay tạo ra một không gian ba chiều:
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Huy Cận).
Hoặc tạo ra một bức tranh tứ bình hài hòa về đường nét, màu sắc:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
(Tố Hữu)
Đôi lúc lại là sự vận dụng luật xa gần, tầng tầng lớp lớp trong hội họa:
Bạch thủy minh điền ngoại
Bích phong xuất sơn hậu
(Nước trắng sáng ngoài đồng
Non xanh nhô lên sau dãy núi).
(Vương Duy)
1.2.2.2 Thơ và nhạc
Thơ vốn gắn bó với âm nhạc. Không phải ngẫu nhiên mà hai tiếng “thơ
ca” luôn đi liền với nhau. Trong Kinh Thi có nói:“Thơ là do cái chí của mình
phát ra…Tình động ở trong lòng mà hiện ra lời nói, nói không đủ phải vịnh
23
Đề tài: Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ Trần Nhuận Minh
hát…” [71, tr 201]. Bạch Cư Dị đã lưu ý một trong những đặc trưng của thơ
là tính nhạc điệu của nó. Có lẽ vì thế mà ông cho “hoa của thơ là thanh âm”.
Thẩm Ước cũng là người sớm đề cập tới tính âm nhạc, tới vần điệu trong thơ
“Năm màu ánh nhau tám âm hòa nhau, là bởi màu sắc và âm thanh được đặt
đúng chỗ của nó. Bản đàn muốn thánh thót thì âm cao âm thấp phải tiết chế
lẫn nhau. Nếu âm trên nổi thì âm sau phải sao cho thật kêu. Trong một đoạn
âm vận rất khác nhau. Trong hai câu nặng nhẹ cũng chẳng giống nhau. Làm
được như thế thì mới có thể nói là thơ” [50, tr 158]. Cụ Lê Đình Diên nước ta
cũng từng nói: “Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự hỗ trợ của thơ.
Tính rung động phát ra thành thanh, người ta có thanh mà sau đó mới có thơ.
Thanh biểu hiện ra lời, nhạc có thơ mà sau đó có thanh” [71, tr 201]. Không
phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ luôn yêu thích và rất sành nhạc. Nguyễn Du
say mê hát phường vải, Nguyễn Công Trứ mê hát cô đầu, Tố Hữu tha thiết
các giai điệu dân ca xứ Huế…Veclen khẳng định trong thơ, âm nhạc đi trước
mọi thứ. Lamáctin khẳng định tâm hồn thì vô tận, ngôn ngữ chẳng qua là một
số ít ỏi các dấu hiệu chỉ thích ứng với nhu cầu hàng ngày và bất lực trong việc
truyền đạt “hàng tỉ những nốt nhạc say mê, suy tưởng, ước mơ, cầu nguyện tự
nhiên mà thượng đế bắt phải vang lên trong lòng”[71, tr 202]. Các nhà thơ
lãng mạn 1930-1945 nước ta cũng rất chú ý tới vai trò của âm nhạc. Xuân
Diệu đã sử dụng vần bằng trong nhiều câu thơ: “Khí trời quanh tôi làm bằng
tơ. Khí trời quanh tôi làm bằng thơ… Sương nương theo trăng ngừng lưng
trời. Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…” (Nhị hồ). Hay Mộng Thu đã sử dụng
vần bằng suốt cả bài thơ Tì bà: “Trăng này không nàng như trăng thiu. Đêm
này không nàng như đêm hiu…”. Dĩ nhiên, nếu lạm dụng quá sẽ dẫn đến cái
nhìn có phần cực đoan thiên về hình thức chủ nghĩa.
Thơ và âm nhạc có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình hình
thành ý đồ sáng tác, các tác giả thường mang một tâm trạng có màu sắc nhạc
tính. Sile nói: “Cảm giác ở tôi lúc đầu còn chưa có một đối tượng dứt khoát
rõ ràng, đối tượng này chỉ về sau mới được hình thành. Một sự kích động có
24