Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

sáng kiến kinh nghiệm dạy khoa học lớp 4 theo phương pháp bàn tay nặn bột sao cho hiệu quả”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.38 KB, 22 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phước Vĩnh Đông, ngày 06 tháng 04 năm 2016

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: “DẠY KHOA HỌC LỚP 4 THEO PHƯƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT SAO CHO HIỆU QUẢ”
I. SƠ LƯỢC LÍ LỊCH
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Mỹ
- Năm sinh: 1986
- Nơi thường trú: 61/13, Nguyễn Thái Bình, Phường 3, thành phố Tân An, tỉnh
Long An
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An
- Chức vụ: Tổ trưởng Tổ chuyên môn 4
- Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên chủ nhiệm lớp 4A1
II. NỘI DUNG
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Năm học 2015 – 2016 là năm học thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày
4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo. Chủ trương của Đảng và Nhà nước đặt ra cho Ngành Giáo dục ngày nay là
cần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học sao cho nền giáo dục nước nhà đạt được
kết quả ngang tầm với các nước trong khu vực cũng như các nước tiên tiến trên thế
giới. Trong đó đổi mới phương pháp dạy học môn Khoa học ở lớp 4 cũng là một yêu
cầu cần thiết góp phần đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Ở lớp 4, học sinh lần đầu làm quen với môn Khoa học thay cho môn học Tự
nhiên và xã hội ở các lớp dưới. Đối với lứa tuổi này, những kiến thức mà môn Khoa
học mang lại cho các em là những kiến thức vô cùng rộng lớn, khó nhớ lại có phần
khô cứng. Tuy nhiên, chúng cũng khá gần gũi với thực tế đời sống của bản thân mỗi
học sinh.



Trang 1


Kể từ năm học 2013 – 2014, một số trường tiểu học trên địa bàn huyện Cần
Giuộc bắt đầu được tập huấn và triển khai áp dụng một phương pháp mới dành cho
môn Tự nhiên và xã hội ở các lớp 1, 2, 3 và môn Khoa học ở các lớp 4, 5. Đó là
phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”.
Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn
khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa
học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt
thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, bản thân tôi cảm thấy vô cùng hứng thú
với phương pháp dạy học mới này bởi khi áp dụng nó thì người giáo viên thật sự trở
thành người tổ chức và hướng dẫn, còn bản thân mỗi học sinh phải tự giác và tích cực
trong quá trình tìm hiểu và khám phá những tri thức mới. Không những thế, sau một
thời gian áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột cho môn Khoa học lớp 4, bản thân tôi
nhận ra được vẻ hứng thú, ánh mắt mong đợi của từng em học sinh khi sắp bắt đầu tiết
học. Bởi lẽ, trong tiết học đó, học sinh sẽ được khám phá tìm tòi qua những thí nghiệm
khoa học mà trước đây các em ít có dịp tham gia. Có dịp cọ sát với thực tế, lại được
rèn thêm kĩ năng diễn dạt thông qua ngôn ngữ nói và viết, tôi nhận thấy học sinh mình
tiến bộ hơn về học tập cả về mặt giao tiếp.
Những kết quả mà phương pháp Bàn tay nặn bột mang lại có thể nói được hầu
hết giáo viên công nhận. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này, không riêng gì bản
thân tôi mà một số đồng nghiệp khác cũng vướn phải một số khó khăn trong quá trình
áp dụng. Chính vì lẽ đó, trong năm học 2015 - 2016 này, bản thân tôi tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu và áp dụng đề tài “Dạy Khoa học lớp 4 theo phương pháp Bàn tay nặn
bột sao cho hiệu quả”.
Đề tài nghiên cứu đã chú ý đến các phương pháp sau đây:
- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho mỗi tiết dạy có áp dụng phương pháp

Bàn tay nặn bột.
- Nắm vững lý thuyết về phương pháp Bàn tay nặn bột.
- Áp dụng thường xuyên phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học
môn Khoa học.
- Đặc biệt chú ý đến quá trình thực hiện phương án tìm tòi vì đây là bước dạy
chiếm nhiều thời gian nhất.
Trang 2


- Vận dụng phối hợp nhiều phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học khác
nhau trong tiết dạy có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột.
- Đổi mới chương trình sách giáo khoa.
- Nắm bắt tâm lí học sinh.
2. Phạm vi đề tài
Nghiên cứu về một số phương pháp giúp cho việc dạy Khoa học lớp 4 theo
phương pháp Bàn tay nặn bột đạt hiệu quả cao.
PHẦN II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thực trạng
Có thể nói tình hình thực tế là trong những tiết dạy mà giáo viên áp dụng
phương pháp Bàn tay nặn bột thì các tiết dạy này mất rất nhiều thời gian gây ảnh
hưởng không nhỏ đến các giờ học khác. Nguyên nhân là do khi sử dụng phương pháp
này, học sinh phải trải qua 5 bước thực hiện và mỗi bước phải mất khá nhiều thời gian
nên những tiết dạy có áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột có khi kéo dài đến 50
phút hoặc hơn thế nữa.
Trong các phong trào thi đua đổi mới phương pháp dạy học, rất ít giáo viên áp
dụng phương pháp này tham gia thi giảng môn Khoa học vì còn e ngại rằng tiết dạy sẽ
không đảm bảo thời gian, ảnh hưởng đến việc đánh giá, xếp loại.
2. Những hạn chế, khó khăn:
a. Về phía giáo viên
- Một số giáo viên vẫn còn ít kinh nghiệm khi áp dụng phương pháp Bàn tay

nặn bột trong dạy học môn Khoa học nên khi áp dụng vẫn còn lúng túng, chưa thể hiện
rõ tiến trình dạy học theo 5 bước.
- Một số giáo viên chưa biết cách hướng dẫn cho học sinh làm thí nghiệm, thậm
chí ngay cả bản thân người giáo viên vẫn còn lúng túng khi thao tác với một số vật
dụng trong quá trình làm thí nghiệm.
- Một số giáo viên chỉ áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn
Khoa học một cách qua loa, chiếu lệ và áp dụng không thường xuyên dẫn đến tình
trạng mặc dù đã qua gần 3 năm học nhưng học sinh vẫn chưa quen với cách tổ chức
làm việc của giáo viên khi dạy học theo phương pháp này.
b. Về phía học sinh

Trang 3


- Chưa quen với việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm lại càng chưa thành thạo
cách tiến hành thí nghiệm.
- Chưa mạnh dạn và nhạy bén trong việc nêu ý tưởng ban đầu, đề xuất câu hỏi
và phương án tìm tòi, …
- Thao tác trong suốt quá trình học tập còn chậm chạp: khi vẽ hình minh họa
cho ý tưởng ban đầu hoặc ghi chép trong vở thực nghiệm, thảo luận nhóm, đề xuất câu
hỏi, …
- Một số sọc sinh chưa tự giác và tích cực tham gia tham gia các hoạt động học
tập.
- Học sinh chưa quen với các hình thức làm việc nhóm, có em rất tích cực, có
em lại thụ động không chịu hợp tác làm quá trình thảo luận bị kéo dài và không đạt
được kết quả như mong đợi.
c. Các lí do khác
- Nội dung chương trình Sách giáo khoa lớp 4 rất ít bài học phù hợp với phương
pháp Bàn tay nặn bột.
- Có những bài học mà nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh quá lớn,

trong đó có nhiều hoạt động dạy học, giáo viên chỉ chọn 1 hoạt động có áp dụng
phương pháp Bàn tay nặn bột thì khi kết thúc xong hoạt động đó cũng đã chiếm hầu
hết thời lượng của tiết dạy, không đủ thời lượng dành cho các hoạt động còn lại.
- Các thiết bị dạy học và vật dụng làm thí nghiệm vẫn còn thiếu thốn, nếu có thì
chỉ có đủ cho cả lớp cùng quan sát và làm việc chung, chưa đủ cung cấp cho học sinh
làm việc theo nhóm.
PHẦN III: MỤC TIÊU DỰ KIẾN CẦN ĐẠT ĐƯỢC
Sau khi áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi mong muốn đạt
được những mục tiêu sau:
1) Về kiến thức:
- Học sinh có hiểu biết về toàn bộ các kiến thức khoa học xoay quanh các chủ
đề có trong nội dung chương trình.
- Biết cách làm thí nghiệm và biết cách làm việc nhóm.
2) Về kĩ năng:
- Học sinh có kĩ năng tự phát hiện ra kiến thức sau quá trình thực nghiệm, tìm
tòi.
Trang 4


- Học sinh trở nên nhanh nhẹn khi tham gia vào quá trình học tập.
- Học sinh tham gia làm việc nhóm một cách nghiêm túc, mạnh dạn chia sẻ ý
kiến.
- Học sinh được phát triển kĩ năng trình bày thông qua ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết, trình bày một cách tự tin.
- Sử dụng khá thành thạo các vật dụng làm thí nghiệm.
3) Về thái độ:
- Học sinh trở nên yêu thích môn Khoa học.
- Tăng tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học ở mỗi học sinh.
- Hăng hái, tích cực tham gia các hoạt động học tập.
4) Về chất lượng giáo dục

- 100 % các tiết Khoa học có áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột đều đạt
được kết quả như mong đợi.
- 100 % học sinh hoàn thành môn Khoa học giai đoạn cuối năm học.
PHẦN IV: GIẢI PHÁP
1) Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho mỗi tiết dạy có áp dụng phương
pháp Bàn tay nặn bột
- Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy; có kế hoạch
dạy học rõ ràng; nắm rõ chuẩn kiến thức – kĩ năng – thái độ cần truyền đạt cho học
sinh trong từng bài học.
- Soạn kế hoạch bài dạy thể hiện rõ 5 bước dạy theo phương pháp Bàn tay nặn
bột sẽ giúp ích cho giáo viên rất nhiều trong quá trình thực hiện tiết dạy.
- Chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng dạy học cần thiết cho tiết dạy như: bảng phụ;
phiếu giao nhiệm vụ; phiếu quan sát, tranh ảnh minh họa; đồ dùng dành cho trò chơi;
đồ dùng dành cho các thí nghiệm; video clip hay vật thật để đối chiếu, minh họa, …
- Nghiên cứu cách dẫn dắt, giới thiệu bài học và cách nêu vấn đề sao cho thật
sinh động, mới mẻ và hấp dẫn để lôi cuốn học sinh vào bài học, tạo động lực cho học
sinh trở nên thích khám phá để tìm cho được kết quả nhằm kiểm chứng lại những ý
tưởng ban đầu mình nêu ra là đúng hay sai.
- Giáo viên cũng cần dự đoán trước một số tình huống có thể xảy ra trong tiết
dạy và đưa ra giải pháp xử lí để có thể ứng phó kịp thời khi tình huống đó xảy ra nhằm
mang lại hiệu quả cao hơn cho tiết dạy. Trong quá trình học sinh đề xuất câu hỏi, có
Trang 5


những thắc mắc cần được giáo viên giải đáp. Nếu những thắc mắc đó phù hợp với nội
dung bài học thì giáo viên nên giúp học sinh giải đáp ngay. Nếu những thắc mắc đó là
những kiến thức vượt cấp thì giáo viên cần có cách giải quyết khéo léo. Trong trường
hợp này, tôi thường hẹn với học sinh sẽ giải đáp trong tiết sau hoặc biến nó trở thành
một nhiệm vụ giao cho học sinh về nhà tìm hiểu. Trong thời gian đó, bản thân tôi cũng
đi tìm đáp án riêng cho mình để trong tiết học sau sẽ giải đáp giúp học sinh hiểu rõ vấn

đề.
- Tìm hiểu thêm tư liệu có liên quan đến bài học, sưu tầm thêm tranh ảnh minh
họa, vật thật, cập nhật thêm những thông tin thực tế mới nhất để giới thiệu thêm cho
học sinh biết, giúp học sinh có điều kiện mở rộng kiến thức.
- Nghiên cứu soạn và giảng dạy đầy đủ các nội dung lồng ghép theo quy định
của Ngành. Có thể nói, hầu như ở môn Khoa học thì đa số các bài học đều có lồng
ghép giáo dục một số nội dung như: Giáo dục kĩ năng sống, giáo dục biến đổi khí hậu,
giáo dục bảo vệ tài nguyên môi trường biển và hải đảo, giáo dục sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả, …Mỗi người giáo viên nên nhớ rằng, tuy những nội dung lồng
ghép này chỉ là một phần nhỏ nhưng tác dụng giáo dục mà nó đem lại vô cùng lớn lao.
Vì thế, nếu những nội dung đó được thể hiện rõ trong thiết kế bài giảng thì sẽ dễ dàng
hơn cho giáo viên trong quá trình dạy học.
2) Nghiên cứu tìm hiểu lý thuyết về phương pháp Bàn tay nặn bột
- Tham gia đầy đủ và nghiêm túc các buổi tập huấn hoặc sinh hoạt chuyên đề về
phương pháp Bàn tay nặn bột. Mạnh dạn trao đổi ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm và nêu
những thắc mắc của bản thân về phương pháp này để tất cả cùng học hỏi và được các
chuyên gia giải đáp. Như vậy, người giáo viên sẽ tích lũy được thêm nhiều kinh
nghiệm cho bản thân mình.
- Nghiên cứu kĩ tài liệu về phương pháp này để nắm tiến trình sư phạm của các
hoạt động nghiên cứu khoa học theo các bước của phương pháp Bàn tay nặn bột:
Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề
Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh
Bước 3: Đề xuất câu hỏi (dự đoán/giả thuyết) và phương án tìm tòi
Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi
Bước 5: Kết luận kiến thức

Trang 6


- Tìm hiểu một số cách thức tổ chức làm việc theo nhóm khi áp dụng phương

pháp Bàn tay nặn bột. Nghiên cứu xem hình thức nào sẽ phù hợp với nội dung nào để
khi áp dụng, các hoạt động dạy học sẽ diễn ra một cách suôn sẻ và tự nhiên, tránh vận
dụng hình thức tổ chức dạy học không phù hợp với nội dung hoạt động vì điều này sẽ
không giúp người giáo viên đạt được mục tiêu của tiết dạy.
- Tìm hiểu và nắm các nội dung cho học sinh ghi chép trong Vở thực nghiệm:
KHOA HỌC – BÀI: …
1. Điều em nghĩ:
……………………………………………………………………………………
……...………………………………………………………………………….....
2. Câu hỏi mà em đặt ra:
Câu 1:…………………………………………………………………………….
Câu 2:…………………………………………………………………………….
Câu 3:…………………………………………………………………………….
3. Em dự đoán:
……………………………………………………………………………………
……...………………………………………………………………………….....
4. Cách em làm thí nghiệm:
……………………………………………………………………………………
……...………………………………………………………………………….....
5. Kết luận của em:
……………………………………………………………………………………
……...………………………………………………………………………….....
- Tra cứu thêm thông tin giáo dục về phương pháp Bàn tay nặn bột trên các trang
báo mạng, các website giáo dục của các trường tiểu học trên cả nước nhằm học hỏi
thêm những kinh nghiệm áp dụng cho hiệu quả. Không những thế, qua mỗi năm áp
dụng, giáo viên cần rút ra những kinh nghiệm riêng cho bản thân mình để năm học sau
áp dụng tốt và đạt hiệu quả cao hơn năm học trước.
- Tham khảo ý kiến và nhờ sự giúp đỡ của bộ phận chuyên môn hay Hiệu
trưởng nhà trường khi gặp khó khăn trong quá trình vận dụng.
Trang 7



3) Áp dụng thường xuyên phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình
dạy học môn Khoa học
Để bản thân và học sinh tập làm quen dần với cách thức dạy học theo phương
pháp Bàn tay nặn bột, ngoài những bài học mà tổ chuyên môn đã thống nhất, bản thân
tôi đã nghiên cứu lựa chọn thêm một số bài học phù hợp với phương pháp này để
giảng dạy nhằm giúp giáo viên có thêm điều kiện cọ sát thực tế, tích lũy thêm nhiều
kinh nghiệm giảng dạy. Ngoài ra việc làm này cũng góp phần giúp cho học sinh có
thêm điều kiện để làm quen với những thí nghiệm khoa học. Lâu dần, cả thầy và trò sẽ
không còn cảm thấy bỡ ngỡ trong suốt quá trình áp dụng. Khi sắp tiến hành tiết dạy
Khoa học theo phương pháp Bàn tay nặn bột, bản thân tôi thường trao đổi với các
đồng nghiệp trong tổ chuyên môn để tìm ra những cách thức tổ chức dạy học ở từng
bước của phương pháp này sao cho phù hợp. Chỉ có như thế, mỗi tiết học có áp dụng
phương pháp Bàn tay nặn bột mới đạt được hiệu quả cao nhất mà người giáo viên
mong muốn.
* Dưới đây là những bài học mà tổ chuyên môn của tôi đã thống nhất lựa chọn
ở mỗi chủ đề để áp dụng dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột:
CHỦ ĐIỂM
Con người và sức khỏe

Vật chất và năng lượng
Thực vật và động vật

TÊN BÀI HỌC
Bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?
Bài 8: Tại sao cần ăn phối hợp đạm động vật và đạm
thực vật?
Bài 20: Nước có những tính chất gì?
Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?

Bài 57: Thực vật cần gì để sống?
Bài 62: Động vật cần gì để sống?

* Dưới đây là những bài học mà bản thân tôi đã chọn lựa thêm để áp dụng dạy
theo phương pháp Bàn tay nặn bột. Các bài mà tôi lựa chọn đều thuộc chủ đề “Vật
chất và năng lượng”:
Bài 20: Không khí gồm những thành phần nào?
Bài 31: Không khí có những tính chất gì?
Bài 42: Sự lan truyền âm thanh
4) Đặc biệt chú ý đến quá trình thực hiện phương án tìm tòi vì đây là bước
dạy chiếm nhiều thời gian nhất

Trang 8


Đây là quá trình học sinh tự làm thí nghiệm để kiểm chứng lại những dự đoán
mà các em nêu ra ban đầu là đúng hay sai. Để quá trình làm thí nghiệm của học sinh
đạt được hiệu quả cao nhất, bản thân tôi đã chú ý đến những vấn đề sau:
- Trước hết, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thật kĩ cách tiến hành làm thí
nghiệm.
- Giáo dục học sinh ý thức giữ vệ sinh chung và cẩn thận, an toàn khi làm việc.
- Khi làm thí nghiệm, giáo viên nên phát cho từng cá nhân hay từng nhóm một
“Phiếu quan sát”, vừa làm thí nghiệm vừa ghi kết quả vào Phiếu quan sát, sẽ giúp học
sinh làm việc dễ dàng và nhanh chóng hơn.
- Giáo viên cần bao quát lớp, nếu có điều kiện thì đến thăm từng nhóm để có
thể vấn đáp khi học sinh thực hành và kịp thời giúp đỡ những nhóm gặp khó khăn
trong lúc thí nghiệm.
- Sau khi kết thúc thí nghiệm, cần nhắc nhở học sinh cất hết nững đồ dùng
không cần thiết, tránh để học sinh nghịch phá hoặc chỉ lo quan sát các vật dụng mà ảnh
hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức.

5) Vận dụng phối hợp nhiều phương pháp và các hình thức tổ chức dạy
học khác nhau trong tiết dạy có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
Làm được điều này sẽ giúp tạo sự hứng thú, lôi cuốn học sinh tập trung vào giờ
học. Nhờ vậy mà học sinh có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả. Sau đây là một số
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đã được bản thân tôi áp dụng trong năm học
vừa qua:
- Thảo luận nhóm: Tùy nội dung của từng hoạt động dạy học mà giáo viên lựa
chọn hình thức tổ chức cho phù hợp: thảo luận nhóm đôi, nhóm ba, nhóm bốn,… hoặc
làm việc theo các kĩ thật dạy học tích cực: kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật K-W-L, kĩ
thuật khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, trình bày một phút, ... Bên cạnh đó, việc sắp xếp bố trí
bàn học sao cho thuận tiện cho quá trình làm việc nhóm cũng là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình thảo luận nhóm.
- Điểm mới của quá trình thảo luận nhóm khi áp dụng phương pháp Bàn tay nặn
bột là lúc học sinh trình bày ý tưởng ban đầu hay trình bày kết quả làm việc nhóm, giáo
viên có thể cho học sinh đính bảng ghi kết quả ở bất cứ vị trí nào mà học sinh thích trong
lớp học miễn sao đảm bảo thuận tiện cho các học sinh khác và thuận tiện cho giáo viên
quan sát, nhận xét, nêu câu hỏi vấn đáp, … Khác với trước đây, khi thảo luận xong, giáo
Trang 9


viên thường cho 1 hoặc 2 nhóm học sinh đính lên bảng lớp rồi trình bày. Như vậy sẽ
không có tác dụng động viên khích lệ cho các nhóm còn lại hoàn thành tốt nhiệm vụ
được phân công sau đó được dịp thể hiện và trình bày kết quả trước tập thể lớp.
- Trò chơi học tập: Cũng tùy từng nội dung mà giáo tổ chức hướng dẫn học sinh
tìm hiểu kiến thức thông qua một số trò chơi học tập: Thỏ tìm nhà, Phong bì may mắn,
Trò chơi ô chữ, Rung chuông vàng, Thử tài trí nhớ, Ô cửa tri thức,…Đây là những trò
chơi mà bản thân tôi đã áp dụng trong dạy học môn Khoa học cũng như các môn học
khác, được học sinh tham gia một cách hào hứng và đạt được hiệu quả khá tốt. Có những
trò chơi do bản thân tôi tự tìm tòi sáng tạo như các trò chơi: Thỏ tìm nhà, Phong bì may
mắn, Thử tài trí nhớ, Ô cửa tri thức. Cũng có những trò chơi bản thân tôi đã học hỏi từ

đồng nghiệp như: Trò chơi ô chữ, Rung chuông vàng. Mỗi trò chơi khi tổ chức đều được
học sinh tham gia một cách hào hứng và sôi nổi.
Lưu ý: Tổ chức thi đua giữa các nhóm hoặc các tổ với nhau cũng là một trong
những hình thức tổ chức dạy học gây hứng thú hơn cho học sinh tiểu học. Tuy nhiên,
theo tinh thần đổi mới hiện nay thì phương pháp dạy học này cần hạn chế sử dụng mà
thay vào đó là những trò chơi học tập nêu trên nhằm giúp học sinh có thể vừa học, vừa
chơi nhưng lại tiếp thu bài một cách hiệu quả.
6) Đổi mới chương trình sách giáo khoa
- Người giáo viên cần mạnh dạn đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới
nội dung học tập; soạn ra những nội dung học tập phù hợp với thực tế đời sống của
học sinh và những nội dung đó cần phù hợp khi áp dụng dạy học theo phương pháp
bàn tay nặn bột.
- Thay thế những kiến thức đã lỗi thời bằng cách cập nhật những kiến thức mới
nhất để truyền đạt đến học sinh và khuyến khích học sinh nên tích cực tìm hiểu thêm
thông tin trên các trang thông tin đại chúng, không nên quá phụ thuộc và sách giáo
khoa. Có như thế mới giúp học sinh mở rộng kiến thức, đáp ứng nhu cầu phát triển
không ngừng của xã hội ngày nay.
* Ví dụ minh họa thể hiện qua Thiết kế bài giảng dành cho học sinh thực
hành trong một tiết ngoài giờ lên lớp như sau:
Nội dung cần tìm hiểu: Phân biệt nước với rượu
I. MỤC TIÊU
1) Kiến thức:
Trang 10


- Học sinh biết cách làm thí nghiệm để phân biệt nước với rượu.
- Qua thí nghiệm, học sinh hiểu đặc điểm khác biệt giữa nước với rượu.
2) Kĩ năng:
- Tự phát hiện ra cách phân biệt nước với rượu.
- Làm thí nghiệm nhanh nhẹn, cẩn thận.

- Mạnh dạn chia sẻ ý kiến với các bạn trong nhóm.
3) Thái độ: Yêu khoa học, thích khám phá cuộc sống.
II. CHUẨN BỊ

- Giáo viên: Một số chai chứa đầy nước và một số chai chứa đầy rượu, cân, một
số xô nhỏ, đèn cồn, ống nghiệm, diêm, nhiều viên bi…
- Học sinh: tìm hiểu các cách phân biệt nước với rượu.
III. HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN
* Trước khi làm việc, giáo viên giúp học

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

sinh ôn lại các tính chất của nước và tìm
hiểu một số tính chất của rượu.
Bước 1: Tình huống xuất phát và nêu
vấn đề
- Giáo viên đặt vấn đề: Em hãy nêu một số

- Học sinh lắng nghe.

cách giúp ta phân biệt chai nào chứa nước,
chai nào chứa rượu.
Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu
của HS
- Yêu cầu học sinh ghi dự đoán của mình

- Làm việc nhóm 4, vẽ hình minh họa.


vào phiếu thảo luận nhóm, vẽ hình minh
họa.
- Mời học sinh nêu ý tưởng, giáo viên ghi

- Các nhóm trình bày bảng ghi kết quả

nhanh lên bảng lớp.

và cử đại diện thuyết trình.
+ Các cách để phân biệt như: ngửi,
cân, đun, nếm, đốt, thả vật vào 2 chai
nước, …

Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án tìm
Trang 11


tòi
- Yêu cầu các nhóm hãy dựa vào các ý tưởng - Học sinh đề xuất câu hỏi:
mà các nhóm vừa nêu để đặt câu hỏi.

+ Dựa vào đâu để khi đun nước và
rượu giúp ta phân biệt được 2 loại
trên?
+ Khi ngửi, rượu và nước có mùi vị ra
sao?
+ Chai rượu và chai nước chai nào?


- Yêu cầu học sinh suy nghĩ tìm cách nào


- Học sinh suy nghĩ nêu cách làm thí

để có thể xác minh dự đoán nêu ra là đúng

nghiệm: thực hành cân, đun, nếm, đốt,

hay sai.

ngửi, … từng chất rồi ghi lại kết quả
quan sát.

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm, tìm tòi
- Yêu cầu học sinh làm thí nghiệm theo

- Học sinh làm việc nhóm 5:

nhóm 5. Phân công mỗi nhóm tiến hành làm + Nhóm 1: Cân để phân biệt
thí nghiệm.

+ Nhóm 2: Ngửi để phân biệt
+ Nhóm 3: Đun
+ Nhóm 4: Đốt
+ Nhóm 5: Thả viên bi vào

- Mời các nhóm trình bày kết quả.

- Các nhóm trình bày kết quả sau khi thí
nghiệm.


Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến
thức
- Giáo viên yêu cầu học sinh từ đó hãy cho

- Đại diện vài nhóm trình bày.

biết những cách nào có thề dùng để phân
biệt rược và nước một cách chính xác.
- Giáo viên kết luận: Để phân biệt nước và
rượu ta có thể dùng các cách: cân, nếm,
ngửi, đun, đốt, thả vật nặng vào, …
* Củng cố: Cho học sinh nhắc lại các cách

- 2 học sinh phát biểu.

để phân biệt nước và rượu.
Trang 12


IV. NHẬN XÉT-DẶN DÒ: GV nhận xét quá trình làm việc. Dặn HS dựa vào các cách
vừa tìm hiểu để vận dụng vào thực tế.
7) Nắm bắt tâm lí học sinh
- Đây là một vấn đề hết sức quan trọng vì người giáo viên có nắm bắt được tâm
lí của các em thì mới hiểu và đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của từng học sinh.
Làm được điều này, người giáo viên sẽ giúp cho học sinh hứng thú và yêu thích hơn
môn Khoa học. Những lời khen ngợi, tuyên dương kịp thời đối với các em học sinh
hoàn thành tốt môn học hay thái độ ân cần, trìu mến, tận tình chỉ dạy các đối tượng
học sinh chưa hoàn thành sẽ góp phần động viên khích lệ tinh thần học tập của các em.
- Tôn trọng ý kiến của học sinh cũng là một biện pháp tốt nhằm khích lệ học
sinh hăng hái hơn trong việc phát biểu ý kiến xây dựng bài. Đặc biệt, trong quá trình

dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột, khi học sinh nêu lên những ý tưởng ban
đầu của mình thì cho dù những ý tưởng đó là hợp lí hay chưa hợp lí người giáo viên
cũng nên vui vẻ ghi nhận lại. Sau quá trình tìm tòi làm thí nghiệm, học sinh sẽ tự đánh
giá được ý tưởng ban đầu nêu ra là đúng hay sai. Người giáo viên cần tránh tỏ thái độ
thất vọng hay chê cười trước những ý tưởng sai lầm ấy của học sinh vì đó chỉ là những
dự đoán ban đầu của các em.
- Để nắm bắt tâm lí học sinh tiểu học, giáo viên cần nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi
thêm nhiều tư liệu về tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học hoặc học hỏi kinh nghiệm từ
những đồng nghiệp đi trước, từ lãnh đạo nhà trường, … để có thể thấu hiểu được tâm
tư, tình cảm và nguyện vọng của các em.
Tin rằng, khi thầy và trò đã hiểu và đồng cảm cùng nhau thì bất kì một tiết học
nào dù nội dung kiến thức hay các hoạt động có quá phức tạp hay quá nhiều thì cả hai
cũng đều vượt qua được và hoàn thành mục tiêu mà tiết học đã đề ra.
* Ví dụ minh họa thể hiện qua Thiết kế bài giảng sau:
KHOA HỌC
NƯỚC CÓ NHỮNG TÍNH CHẤT GÌ?
(Áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột 1 phần)
I. MỤC TIÊU
1) Kiến thức: Học sinh nêu được một số tính chất của nước: nước là chất lỏng
trong suốt, không màu, không mùi, không vị, không có hình dạng nhất định; nước chảy
Trang 13


từ cao xuống thấp, chảy lan ra khắp mọi phía, thấm qua một số vật và hòa tan được một
số chất.
2) Kĩ năng:
- Quan sát và làm thí nghiệm để phát hiện ra một số tính chất của nước.
- Nêu được ví dụ về ứng dụng một số tính chất của nước trong đời sống:
làm mái nhà dốc cho nước mưa chảy xuống, làm áo mưa để mặc không bị ướt,…
3) Thái độ: Yêu khoa học, thích khám phá cuộc sống.

II. CHUẨN BỊ

- Giáo viên: dụng cụ làm thí nghiệm: cốc thủy tinh, nước, sữa, tấm kính, các chai
lọ có hình dạng khác nhau; Phiếu quan sát cho học sinh làm thí nghiệm, …
- Học sinh: dụng cụ làm thí nghiệm: vải, bọc ni lông; một ít đường, cát, muối,
tiêu xay.
III. HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN
1. Ổn định lớp

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
Học sinh hát tập thể.

2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra 2 học sinh,

2 học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao cần ăn

nêu nhận xét.

phối hợp nhiều loại thức ăn và thường
xuyên thay đổi món?

3. Bài mới: Giới thiệu bài
* HĐ 1: Phát hiện màu, mùi vị của
nước
- Yêu cầu các nhóm đem cốc đựng nước

- Làm việc theo nhóm 4 như yêu cầu trang


và cốc đựng sữa ra và bắt đầu thực hành.

42 SGK.

Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm.

+ Cốc nào đựng nước, cốc nào đựng sữa.
+ Làm thế nào để biết điều đó?

- Mời đại diện các nhóm trình bày kết

- Vài nhóm trình bày.

quả. Giáo viên ghi lại các ý kiến.
- Yêu cầu học sinh nói về những tính

- 2 học sinh phát biểu.

chất của nước vừa phát hiện.
- Giáo viên kết luận: Nước là một chất
lỏng trong suốt, không màu, không mùi,
không vị.
* HĐ 2: Phát hiện hình dạng của nước
Trang 14


- Hỏi học sinh: Nước có hình dạng nhất

- Học sinh nêu ý kiến.


định hay không nhất định?
- Hỏi học sinh: Làm thế nào để chứng

- Học sinh nêu cách làm thí nghiệm.

minh điều đó?
- Giáo viên chốt lại: Làm thí nghiệm với
các chai lọ và các vật dụng chứa nước có
hình dạng khác nhau.
- Yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm.

- Tiếp tục làm việc theo nhóm 4.

- Mời vài nhóm báo cáo kết quả.

- Các nhóm báo các kết quả.

- Giáo viên nêu KL: Nước không có hình
dạng nhất định.
* HĐ 3: Tìm hiểu xem nước chảy như
thế nào?
- Yêu cầu học sinh liên hệ thực tế, cho

- Học sinh suy nghĩ nêu ý kiến.

biết nước chảy từ vị trí nào đến vị trí
nào, khi chảy xuống một mặt phẳng,
nước sẽ ra sao?
- Giáo viên mời 1 học sinh lên trước lớp


- Quan sát thí nghiệm để biết nước chảy

thí nghiệm cho cả lớp cùng quan sát.

như thế nào.

(Đặt tấm kính nằm nghiêng trên một cái
khay, đổ nước chầm chậm từ phía trên
tấm kính cho nước chảy xuống khay.)
- Yêu cầu học sinh nêu kết luận sau khi

- Học sinh phát biểu.

theo dõi.
- Giáo viên chốt lại: Nước chảy từ cao
xuống thấp, lan ra khắp mọi phía.
* HĐ 4 : Phát hiện tính thấm hoặc
không thấm của nước
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm thí

- Làm việc nhóm đôi.

nghiệm:
+ Cho một ít vải, len, giấy khô vào cái
khay, đổ nước vào và yêu cầu vài học
Trang 15


sinh lên quan sát cho biết nước có thấm
qua các vật trên hay không.

+ Cho nước vào 1 túi ni lông, hỏi: Tại
sao nước không bị chảy ra ngoài?
- Cho học sinh trình bày kết quả.

- Vài nhóm trình bày kết quả.
- Các nhóm nhận xét, bổ sung.

- Từ đó, giáo viên mời học sinh nêu tính

- Vài học sinh nêu tính chất của nước vừa

chất của nước qua các thí nghiệm vừa

phát hiện.

rồi.
- Giáo viên chốt lại: Nước thấm qua một
số vật.
- Giáo viên yêu cầu học sinh cho biết con - HS phát biểu, cả lớp nhận xét và bổ
người đã ứng dụng tính chất trên của

sung.

nước vào những việc nào trong đời sống
hàng ngày?
- Giáo viên chốt lại: dùng khăn lau bàn
ghế, nền nhà; sản xuất vật chứa nước
bằng chất liệu không thấm nước (thau
nhựa, bồn i – nox, …); làm áo mưa bằng
nhựa, ….

* HĐ 5 : Phát hiện nước có thể hoặc
không thể hòa tan một số chất (Áp
dụng phương pháp Bàn tay nặn bột)
Bước 1: Tình huống xuất phát và nêu
vấn đề
- Giáo viên hỏi HS : Nước có thể hòa tan

- HS nghe tình huống.

những chất nào sau đây: tiêu xay, đường,
muối, cát?
Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu
của HS
- Yêu cầu HS ghi dự đoán của mình vào

- Làm việc cá nhân, ghi chép kết quả vào

Vở thực nghiệm.

vở thực nghiệm:
Trang 16


+ Nước có thể hòa tan đường và muối.
+ Nước không thể hòa tan tiêu và cát.
+ Nước có thể hòa tan tất cả các chất
trên. …
- Mời HS nêu ý tưởng, giáo viên ghi

- Vài cá nhân phát biểu.


nhanh lên bảng lớp.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án
tìm tòi
- Yêu cầu cả lớp hãy dựa vào các ý tưởng mà
- HS
cácđề xuất câu hỏi:
bạn vừa nêu để đặt câu hỏi với bạn.

+ Tại sao bạn khẳng định nước có thể hòa
tan đường và muối?
+ Tại sao bạn khẳng định nước không thể
hòa tan cát và tiêu?
+ Bạn có thể cho biết nước có thể hòa tan
những chất nào khác hay không? …

- Yêu cầu HS suy nghĩ tìm cách nào để

- HS suy nghĩ nêu cách làm thí nghiệm.

có thể xác minh dự đoán nêu ra là đúng
hay sai.
- GV chốt lại: Làm thí nghiệm, hòa tan
các chất trên vào nước, khuấy đều, quan
sát.
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm, tìm tòi
- Yêu cầu HS làm thí nghiệm theo nhóm

- HS làm việc nhóm 4: Lần lượt cho một ít


4.

đường, muối, hạt tiêu xay, cát vào các cốc
nước khuấy lên và quan sát, rút ra kết
luận, ghi kết quả vào Phiếu quan sát.

- Mời các nhóm trình bày kết quả.

- Vài nhóm trình bày.
- Nhóm khác nhận khác, bổ sung

Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến
thức
- Giáo viên yêu cầu HS từ đó hãy cho

- Đại diện vài nhóm trình bày.

biết nước có thể hòa tan những chất nào?
Trang 17


Từ đó nêu tính chất của nước được phát
hiện qua thí nghiệm vừa rồi.
- Giáo viên kết luận: Nước có thể hòa
tan một số chất.
4. Củng cố:
- Yêu cầu HS cho biết: Nước có những

- 2 HS nêu lại những tính chất của nước.


tính chất gì?
- Giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ

- Cả lớp theo dõi.

nguồn nước và sử dụng nước một cách
tiết kiệm.
IV. NHẬN XÉT-DẶN DÒ: GV nhận xét giờ học. Dặn HS về ôn lại kiến thức và chuẩn
bị cho bài học sau.
PHẦN V: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Khi áp dụng những biện pháp trên trong việc giảng dạy môn Khoa học lớp 4 theo
phương pháp Bàn tay nặn bột, bản thân tôi nhận thấy:
- Trong suốt quá trình dạy học từ đầu năm cho đến cuối năm, kết quả đánh giá ở
từng tháng và cuối học kì được nâng lên rõ rệt. Các em tiếp thu bài nhanh và nhớ lâu, có
tinh thần học tập tốt.
- Đặc biệt là nhiều học sinh đã trở nên yêu thích môn Khoa học, thích làm thí
nghiệm, thích phát biểu xây dựng bài học, thảo luận sôi nổi hơn trước và thuộc bài cũng
rất nhanh, nhớ bài một cách lâu bền.
- Các tiết dạy áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột dần dần được rút ngắn về
thời gian, tuy nhiên cũng có một vài tiết dạy vẫn chưa đảm bảo được thời gian nhưng so
với các năm học trước thì đó là một động lực giúp tôi tiếp tục cố gắng.
- Nhiều học sinh trở nên mạnh dạn khi trình bày ý kiến, các em được phát triển kĩ
năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết một cách khá thành thạo.
- Hình thành được ở học sinh ham muốn khám phá và say mê khoa học. 100 %
học sinh tỏ ra hào hứng khi được giới thiệu sẽ được tham gia làm một thí nghiệm nào đó
và tham gia làm thí nghiệm một cách tích cực.
- Kết quả sau kiểm tra cuối Học kì I trong năm học 2015-1016 đạt chất lượng khá
cao, các em đều hoàn thành môn học 100%. Cụ thể như sau:
Trang 18



1

2

3

HK I

4

CHT

5
5

Điểm
6
7
1
3

8
4

9
5

10
10


HT
28
(100%)

Tính đến thời điểm hiện tại, tuy chưa đến kì Kiểm tra cuối năm học nhưng tôi tin
rằng với những biện pháp nêu trên kết hợp sự nhiệt tình, tận tụy của người giáo viên thì
trong đợt Kiểm tra cuối năm học này kết quả mà học sinh đạt được sẽ cao hơn so với
giai đoạn Học kì I.
Đạt được kết quả trên ngoài sự phấn đấu của bản thân tôi còn có sự cố gắng của
từng em học sinh trong lớp tôi phụ trách, ngoài ra còn nhờ vào sự quan tâm của quý phụ
huynh học sinh cùng với sự giúp đỡ của Tổ chuyên môn, Nhà trường đã xây dựng và
góp ý giúp bản thân tôi hoàn thành Sáng kiến kinh nghiệm này.
PHẦN VI: KẾT LUẬN
1. Tóm lược các giải pháp đã thực hiện
- Phương pháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học nhằm tạo nên tính
tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng
đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc
rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
- Tiến trình dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột gồm các bước:
Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề
Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh
Bước 3: Đề xuất câu hỏi (dự đoán/giả thuyết) và phương án tìm tòi
Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi
Bước 5: Kết luận kiến thức
- Để áp dụng có hiệu quả phương pháp dạy học trên vào việc giảng dạy môn
Khoa học ở lớp 4, trong năm học qua bản thân tôi đã đề ra những biện pháp như sau:
+ Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho mỗi tiết dạy có áp dụng phương
pháp Bàn tay nặn bột.
+ Nắm vững lý thuyết về phương pháp Bàn tay nặn bột.

+ Áp dụng thường xuyên phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình
dạy học môn Khoa học.

Trang 19


+ Đặc biệt chú ý đến quá trình thực hiện phương án tìm tòi vì đây là
bước dạy chiếm nhiều thời gian nhất.
+ Vận dụng phối hợp nhiều phương pháp và các hình thức tổ chức dạy
học khác nhau trong tiết dạy có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột.
+ Đổi mới chương trình sách giáo khoa.
+ Nắm bắt tâm lí học sinh.
2. Phạm vi áp dụng
Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng trong việc dạy học Khoa học
khối 4 - 5 trong toàn huyện và có thể mở rộng phạm vi toàn tỉnh.
3. Bài học kinh nghiệm.
Qua việc dạy học bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm như sau:
- Giáo viên phải nắm bắt toàn bộ chương trình môn Khoa học lớp 4; nắm vững
các chủ đề dạy học và nội dung chuẩn kiến thức cần truyền đạt cho học sinh trong từng
bài học. Có như vậy mới chọn lựa bài học dạy theo phương pháp bàn tay nặn bột sao cho
phù hợp.
- Sưu tầm thêm tài liệu, hình ảnh, vật thật, băng hình, … có liên quan đến bài
giảng để tiết học thêm sinh động.
- Cần giúp học sinh liên hệ thực tế, chuyển từ kiến thức cũ giúp học sinh khai
thác kiến thức mới một cách khoa học, hấp dẫn.
- Người giáo viên cần gần gũi và thân thiện với học sinh; có sự linh hoạt trong
cách tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, giúp các em biết tự giác tìm tòi để khám phá và
chiếm lĩnh tri thức.
- Dạy học môn Khoa học là thời điểm thuận lợi để giáo dục học sinh ý thức bảo
vệ môi trường, giáo dục biến đổi khí hậu và giáo dục các kĩ năng sống cần thiết khác.

- Cần sáng tạo thêm những thiết bị dạy học tự làm và những trò chơi học tập vui
nhộn vì chúng có tác dụng giúp cho giáo viên khai thác bài học tốt hơn và lôi cuốn học
sinh vào bài một cách tích cực.
- Kiểm tra và đánh giá là khâu then chốt trong quá trình dạy học. Đánh giá vừa
mang mục đích xác định mức độ năng lực và kiến thức được hình thành ở học sinh, vừa
giúp giáo viên điều chỉnh được hoạt động dạy học của mình. Cần nghiên cứu kĩ nội dung
Thông tư 30 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đánh giá học sinh theo đúng quy định,

Trang 20


manh tính nhân văn, có tác dụng khuyến khích các em nỗ lực học tập và cũng giúp các
em nhận ra được khuyết điểm của mình nhằm kịp thời sửa chữa, khắc phục.
Trên đây là những phương pháp của Sáng kiến kinh nghiệm: “Dạy Khoa học lớp
4 theo phương pháp Bàn tay nặn bột sao cho hiệu quả” mà trong năm học 2015 – 2016
vừa qua bản thân tơi đã nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy và chất lượng học
tập của học sinh đã nâng lên thấy rõ.
Tuy nhiên trong q trình nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này sẽ
khơng tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tơi mong đươc sự giúp đỡ và
đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo để đề tài này được hồn thiện và áp dụng vào thực
tế đạt kết quả cao hơn.
Thủ trưởng đơn vị xác nhận, đề nghị

Người viết

Nguyễn Thị Thùy Mỹ

-

BẢNG CHẤM ĐIỂM ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

(Kèm theo sáng kiến kinh nghiệm)
Tên đề tài, SKKN: Dạy Khoa học lớp 4 theo phương pháp Bàn tay nặn bột sao cho
hiệu quả.
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thùy Mỹ
Đơn vò: Trường Tiểu học Phước Vĩnh Đơng
Trang 21


Tiêu chuẩn

Điểm
chuẩn

1. Đề tài sáng kiến có yếu tố mới và sáng tạo:
3
- Hoàn toàn mới, được áp dụng lần đầu tiên
3
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức
2
độ khá
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức
1.5
độ trung bình
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức
1
độ ít
- Không có yếu tố mới hoặc sao chép từ các giải
0
pháp đã có trước đây
2. Đề tài sáng kiến có khả năng áp dụng:

3
- Có khả năng áp dụng trong toàn tỉnh hoặc
3
ngoài tỉnh
- Có khả năng áp dụng trong đơn vò và có thể
2
nhân ra ở một số nơi trong tỉnh
- Có khả năng áp dụng ở mức độ ít trong đơn vò
1
- Không có khả năng áp dụng trong đơn vò
0
3. Đề tài sáng kiến có tính hiệu quả:
4
- Có hiệu quả trong phạm vi toàn tỉnh
4
- Có hiệu quả trong phạm vi cấp cơ sở, ngành,
3
huyện, thành phố
- Có hiệu quả trong phạm vi cấp trường, phòng,
2
ban, tổ, khối
- Không có hiệu quả cụ thể
0
Tổng cộng
10
Xác nhận của Hội đồng khoa học cơ sở:
(Ký tên, đóng dấu)

Xác nhận của Hội đồng khoa học cấp:
(Ký tên, đóng dấu)


Trang 22

Điểm
của HĐ
cơ sở

Điểm
của HĐ
cấp
huyện

Điểm
của

ngành
GD

Điểm
của

cấp
tỉnh



×