UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
---------------------------------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN
TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI
Chủ nhiệm đề tài:
Cao Văn Chư
Quảng Ngãi, năm 2012
UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
------------------------------------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN
TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI
Chủ nhiệm đề tài
Cơ quan chủ trì đề tài
Chủ tịch hội đồng nghiệm thu
Cơ quan quản lý đề tài
-2-
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN
THAM GIA ĐỀ TÀI
TT
HỌ VÀ TÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC
1
Cao Văn Chư
Sở VHTT DL
2
Phạm Minh Đát
Sở VHTTDL
3
Lê Hồng Khánh
Tạp chí Cẩm Thành
4
Dương Thị Hảo
Sở VHTTDL
5
Phạm Thị Ngọc Sương
Sở VHTTDL
-3-
TÓM TẮT
Địa danh là tên đất. Đề tài khoa học cấp tỉnh Nghiên cứu, biên soạn
Từ điển địa danh Quảng Ngãi được thực hiện từ tháng 8 năm 2010 đến
tháng 11 năm 2012, với đối tượng nghiên cứu là các địa danh trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi, với mục tiêu, sản phẩm chính là hình thành Từ điển địa
danh Quảng Ngãi, để xuất bản và phục vụ bạn đọc. Cũng như các tỉnh khác
trong nước, Địa danh ở tỉnh Quảng Ngãi có thể là vô số, không ai và cũng
không bằng cách gì có thể đo đếm đích xác là có bao nhiêu. Địa danh lại có
thể có gốc tiếng Việt phổ thông, tiếng các dân tộc Hre, Cor, Ca Dong bản
địa. Địa danh có thể tồn tại chỉ bằng tiếng nói, có thể được ghi vào chữ
viết, bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, với nhiều cách viết khác
nhau cho cùng một hiện tượng. Về lịch đại, địa danh có thể xuất hiện và
tồn tại lâu dài, nhưng cũng có nhiều trường hợp địa danh có sự biến đổi,
biến mất, hoặc thay đổi hình dạng vào một địa danh khác, theo biến động
của hành chính, chính trị qua các thời kỳ lịch sử. Do vậy, địa danh vừa
phong phú lại vừa phức tạp; đối với người nghiên cứu, việc nghiên cứu địa
danh là vô cùng khó khăn và mang tính sáng tạo cao.
Dựa vào lý thuyết địa danh học và căn cứ vào tính thực dụng của đề
tài, đề tài này không đặt một tham vọng bất khả thi là nghiên cứu tất cả các
địa danh, mà xác định giới hạn, phạm vi nghiên cứu của mình là các địa
danh chỉ địa hình tự nhiên chủ yếu (tên sông, suối, ao, hồ, vũng, vịnh…),
địa danh chỉ vùng không xác định ranh giới, địa danh hành chính (gồm tên
các thôn, xã trở lên), địa danh cũ không còn hiện hành về mặt hành chính.
Trong các công trình trước đây, người ta có ghi nhiều địa danh, nhưng
chưa có công trình nào có chủ đích nghiên cứu chuyên biệt về địa danh,
hình thành từ điển địa danh Quảng Ngãi. Do vậy, để đi đến hình thành từ
điển địa danh, tác giả đề tài đã dùng hai phương pháp phối hợp là sưu tầm
sách vở và sưu tầm điền dã, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh;
thực hiện 27 chuyên đề nghiên cứu địa danh ở các mặt của nó; thực hiện 16
cuộc hội thảo ở tỉnh và ở các huyện, thành phố; trao đổi với các chuyên
gia, tư vấn khoa học. Đó cũng là những kết quả chính của công trình. Sản
phẩm chủ yếu sẽ là Từ điển địa danh Quảng Ngãi với khoảng 2.500 mục
từ, trong đó các mục từ địa danh sẽ được chọn lựa và sắp xếp, chú giải theo
dạng từ điển để phục vụ việc tra cứu của đông đảo bạn đọc, các nhà quản
lý, các nhà khảo sát, nghiên cứu.
-4-
P HẦN C HÍNH
BÁO CÁO
-5-
MỤC LỤC
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI............................7
A. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI.................................................................7
I. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................7
II. Mục tiêu của đề tài........................................................................................... 8
III. Nội dung, nhiệm vụ của đề tài........................................................................ 8
IV. Phạm vi, giới hạn, đối tượng nghiên cứu của đề tài....................................... 9
V. Phương pháp nghiên cứu - Các nét tiếp cận chính...........................................13
VI. Kết quả của đề tài............................................................................................14
B. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI..................................17
I. Đề tài đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu của nhiều người về các
địa danh ở Quảng Ngãi......................................................................................... 17
II. Đề tài góp phần nghiên cứu kho tàng địa danh trong toàn quốc......................18
III. Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về địa danh.....................19
Chương II: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH Ở QUẢNG NGÃI................................24
A. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA ĐỊA DANH............................................................ 24
I. Khái niệm địa danh............................................................................................24
II. Ý nghĩa của địa danh........................................................................................27
B. NGUỒN ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI............................................................ 28
I. Nguồn địa danh từ sách vở, thư tịch..................................................................28
II. Nguồn địa danh từ sưu tầm điền dã..................................................................34
Chương III: TỔNG HỢP, PHÂN LOẠI ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI....................37
I. Địa danh phân loại theo đối tượng.................................................................... 37
II. Lịch sử và sự xuất hiện, biến đổi địa danh ở Quảng Ngãi............................... 47
III. Loại địa danh chữ Hán (tên chữ) ở Quảng Ngãi.............................................55
IV. Loại địa danh thuần Việt (hay tên Nôm) ở Quảng Ngãi................................59
V. Loại địa danh gốc tiếng Hre ở Quảng Ngãi..................................................... 67
VI. Loại địa danh gốc tiếng Cor ở Quảng Ngãi.................................................... 71
VII. Loại địa danh gốc tiếng Ca Dong ở Quảng Ngãi.......................................... 75
VIII. Đa dạng và trùng lặp trong các địa danh Quảng Ngãi................................. 78
IX. Loại địa danh có sự chuyển hóa với nhân danh..............................................82
X. Loại địa danh bằng số ở Quảng Ngãi ..............................................................87
XI. Các công trình mang tên địa danh ở Quảng Ngãi ..........................................92
Chương IV: BIÊN SOẠN TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI.......................... 99
I. Quá trình hình thành từ điển địa danh................................................................99
II. Biên soạn từ điển địa danh............................................................................... 104
Chương V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................. 114
A. KẾT LUẬN.......................................................................................................114
I. Đề tài đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra.......................................................114
II. Đề tài đạt chất lượng tốt về chuyên môn..........................................................114
III. Một số kết quả phái sinh................................................................................. 115
B. KIẾN NGHỊ...................................................................................................... 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH...................................................................... 121
PHỤ LỤC................................................................................................................129
I. Đề cương sưu tầm nghiên cứu địa danh tại các huyện, thành phố................... 130
-6-
II. Các bài báo khoa học đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành......................... 131
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
------------------------
A. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
I. Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài khoa học Nghiên cứu, biên soạn Từ điển địa danh Quảng Ngãi,
như tên gọi của nó, nhằm nghiên cứu trên địa hạt tỉnh Quảng Ngãi và biên
soạn thành từ điển địa danh. Có con người, có ngôn ngữ, là có địa danh. Hai
chữ “địa danh” gốc chữ Hán viết là 地 名 có nghĩa là tên đất. Tiếng Anh viết
là place-names, nghĩa là tên nơi chốn. Địa danh xuất hiện như một tất yếu,
cũng như nhân danh tức tên gọi cho từng người không thể không có, để phân
biệt vùng này với vùng khác, núi nọ với núi kia, cũng như nhân danh nhằm
phân biệt người nọ với người kia. Nếu không có địa danh để gọi, tất yếu
người ta chẳng thể truyền cho nhau biết một vị trí cụ thể nào đó; cũng như
tên riêng của từng con người vậy, nếu người không có tên thì người ta ắt sẽ
nhầm lẫn lẫn nhau. Từ đó mà suy, thì địa danh Quảng Ngãi, cũng như địa
danh ở khắp nơi trong nước, xuất hiện từ rất sớm. Địa danh do chính con
người đặt ra. Người sử dụng ngôn ngữ nào thì dùng ngôn ngữ ấy để đặt địa
danh. Tỉnh Quảng Ngãi vốn có lớp cư dân Chăm Pa sau đó là người Việt kế
tiếp nhau cư trú. Ở miền núi thì có cư dân bản địa Hre, Cor, Ca Dong cư trú
lâu đời. Từ đó mà suy, địa danh Quảng Ngãi là các địa danh do người Chăm,
người Việt, người Hre, người Cor, người Ca Dong đặt, bằng tiếng Chăm,
tiếng Việt, tiếng Hre, tiếng Cor, tiếng Ca Dong. Nhưng người Chăm đã rời
mảnh đất này từ nhiều thế kỷ, nên các địa danh gốc tiếng Chăm không thấy
rõ, may lắm cũng chỉ thấy vài dấu vết của nó trong sự kế thừa của địa danh
tiếng Việt. Người Việt vốn dùng văn từ Hán nên có thể dùng chữ Hán hay
tên gọi thuần Việt để đặt địa danh. Người Hre, người Cor, người Ca Dong
vốn không có văn tự, nên địa danh chỉ có thể tồn tại ở dạng tiếng nói; việc
văn tự hóa địa danh (một số ít) do người Việt ghi lại, bằng chữ Hán, chữ
Nôm, chữ Quốc ngữ, trải qua các thời kỳ dài của lịch sử. Địa danh Quảng
Ngãi bao hàm những nhân tố ấy; nghiên cứu địa danh Quảng Ngãi cũng phải
tính đến những nhân tố ấy.
Mặt khác địa danh có thể xuất hiện, biến đổi, biến mất do tác động của
lịch sử.
Địa danh mang tính lịch sử, phản ánh đặc điểm của một vùng đất trong một
thời kỳ nhất định, nên nó cũng có chức năng lưu giữ, bảo tồn ngay chính ở
tên gọi của nó.
-7-
Địa danh tự thân nó mang các đặc điểm về ngôn ngữ, hàm chứa đặc
điểm tự nhiên, nghề nghiệp, đặc điểm văn hóa - xã hội và lịch sử của địa
phương mà nó chỉ. Trong thực tế tồn tại của địa danh Quảng Ngãi, có địa
danh còn dùng chính thức, có địa danh đã mất, có địa danh dân gian, có địa
danh hành chính, địa danh chỉ vùng, địa danh chỉ sông núi, cửa biển, địa
danh gốc chữ Hán, địa danh tiếng Việt phổ thông và địa danh tiếng các dân
tộc thiểu số (Hre, Cor, Ca Dong) và mối tương quan giữa chúng với nhau
cần phải được giải mã, làm rõ.
Về mặt nghiên cứu, trước đây địa danh Quảng Ngãi chỉ được sử dụng
vào những mục đích khác, hầu như chưa được nghiên cứu chuyên biệt. Đáng
kể nhất là trong công trình Địa chí Quảng Ngãi có liệt kê các tên làng xã
Quảng Ngãi đời vua Đồng Khánh, dựa vào sách chữ Hán Đồng Khánh địa
dư chí (1886-1888), số lượng còn quá ít so với thực tế (hoàn toàn vắng bóng
địa danh dân gian, địa danh miền núi), mà trong đó ngoài tên gọi, chưa hề
được tường giải, chưa có sự “giải mã” ý nghĩa của từ, nguồn phát sinh, biến
đổi (và biến mất) của từng địa danh.
Trong thực tiễn, trong đời sống hằng ngày cũng như những công việc
lớn, người ta thường xuyên dùng địa danh, có rất nhiều trường hợp phải sử
dụng địa danh, nhưng do chưa hiểu rõ ý nghĩa của từng địa danh mà có
những sự ngộ nhận nhất định, như nhận thức về địa danh, sự bất cập khi đặt
địa danh mới (khi tách lập đơn vị hành chính mới) gây ra những thắc mắc và
phiền toái không đáng có. Giải quyết nhu cầu tra cứu địa danh buộc phải
nghiên cứu nguồn gốc và ý nghĩa của từng địa danh mà việc nghiên cứu này
buộc phải tiến hành sớm với đối tượng là những người cao tuổi có nhiều
hiểu biết.
Nghiên cứu, biên soạn từ điển địa danh là một công việc hết sức cần thiết.
II. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài đã được xác định là:
1. Từ nguồn thư tịch và nguồn điền dã, sưu tầm, nghiên cứu một cách
đầy đủ địa danh theo các chuyên đề cơ bản, có tính đặc thù, nổi trội; nghiên
cứu nguồn gốc, những biến đổi và ý nghĩa của các địa danh trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi, chú ý đặc biệt đến các địa danh gắn với những danh lam thắng
cảnh, những sự kiện lịch sử, có giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch trên đất
Quảng Ngãi.
2. Biên soạn từ điển địa danh Quảng Ngãi, làm tài liệu tra cứu, tham
khảo, phục vụ việc tìm hiểu, nghiên cứu địa lý, lịch sử, văn hóa Quảng Ngãi.
III. Nội dung, nhiệm vụ của đề tài
Nội dung 1:
Nghiên cứu lý thuyết, xác lập các khái niệm, tiêu chí địa danh.
-8-
Sưu tầm địa danh qua các sách báo tài liệu đã có, tổng hợp nguồn địa
danh đã được ghi trong các sách cổ, các văn bản xưa và nay (nguồn địa danh
thành văn).
Nội dung 2:
Tổ chức sưu tầm, điền dã địa danh (nguồn địa danh dân gian) trong các
địa phương ở tỉnh Quảng Ngãi.
Sưu tầm chi tiết ý nghĩa của từng địa danh (từng mục từ) và những nội
dung liên quan với nó.
Nội dung 3:
Tổng hợp, thống kê; sắp xếp, phân loại địa danh theo các nhóm và lên
danh mục toàn bộ địa danh các loại, kể cả địa danh dân gian và địa danh
hành chính (từ thôn và các đơn vị tương đương trở lên), các địa danh còn tồn
tại và các địa danh đã có nhưng đến nay không còn sử dụng, nguồn gốc phát
sinh và biến đổi của từng địa danh, các nhân tố văn hóa, lịch sử trong mỗi
địa danh.
Nội dung 4:
Biên soạn từ điển địa danh Quảng Ngãi
Sắp xếp nội dung mục từ địa danh theo dạng từ điển và theo chuẩn mực
của một công trình xuất bản, làm tài liệu tra cứu, tham khảo, phục vụ việc
tìm hiểu, nghiên cứu địa lý, lịch sử, văn hóa Quảng Ngãi.
Dự kiến công trình xuất bản gồm:
- Tổng quan về địa danh tỉnh Quảng Ngãi
- Phương pháp tiếp cận địa danh
- Quy ước nghiên cứu, biên soạn
- Tên mục từ và chú giải mục từ [loại địa danh], gốc tiếng [Việt, Hre…],
nguyên văn chữ Hán [nếu có gốc chữ Hán], nguồn gốc phát sinh, ý nghĩa
của từ (giải mã tên địa danh), biến đổi của địa danh, nét nổi bật về lịch sử
văn hóa của đối tượng mà địa danh đó chỉ (đi kèm với thiết lập hình ảnh, bản
đồ minh họa.)
Tổng mục từ được xác định tối thiểu là 1.000 mục từ.
IV. Phạm vi, giới hạn, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi của đề tài là nghiên cứu các địa danh trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi trong lịch sử, dù địa danh đó có gốc tiếng Việt, tiếng Hre, tiếng Cor
-9-
hay tiếng Ca Dong, đã từng được ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm hay chữ quốc
ngữ; gồm các loại hình địa danh chỉ địa hình tự nhiên, địa danh chỉ vùng
không xác định ranh giới, địa danh hành chính, địa danh hành chính không
còn hiện hành. Vì địa danh là có vô số, đối với địa danh chỉ địa hình tự
nhiên, gồm tên sông suối, núi đồi, ao hồ, vũng vịnh, nên đề tài chỉ giới hạn
trong các địa danh chỉ địa hình tự nhiên chính; địa danh chỉ vùng không xác
định ranh giới cũng vậy; đối với địa danh hành chính thì giới hạn trong
phạm vi địa danh chỉ thôn (và tương đương) trở lên; địa danh hành chính
không còn hiện hành giới hạn trong phạm vi những địa danh chính yếu nhất.
Phạm vi và giới hạn nghiên cứu được xác định như trên không phải chỉ
căn cứ vào “độ lớn” của các đối tượng địa danh, mà quan trọng hơn, là căn
cứ vào nhu cầu thực tiễn tìm hiểu địa danh.
Đối tượng nghiên cứu của địa danh chính là các địa danh. Như vậy, đối
tượng nghiên cứu của địa danh tỉnh Quảng Ngãi chính là các địa danh từng
tồn tại trên địa bàn tỉnh này.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định theo địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi, mà tỉnh Quảng Ngãi lại gồm các dân tộc sinh sống: Kinh, Hre, Cor, Ca
Dong, có nghĩa là trên địa bàn ngoài địa danh tiếng Việt, còn có địa danh
gốc tiếng dân tộc thiểu số Hre, Cor và Ca Dong, và qua giao lưu trong lịch
sử còn có loại địa danh là hỗn hợp thứ tiếng các dân tộc. Đề tài tất nhiên
không thể bỏ qua các địa danh này và xem đây là một hợp phần quan trọng,
tất nhiên vẫn nằm trong giới hạn chung của đề tài.
Địa danh Quảng Ngãi = + địa danh tiếng Việt
+ địa danh gốc tiếng Hre,
+ địa danh gốc tiếng Cor,
+ địa danh gốc tiếng Ca Dong
+ địa danh hỗn hợp gốc tiếng
BIỂU 1: ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI LÀ HỢP THÀNH
ĐỊA DANH
TỪ ĐỊA DANH CÓ CÁC GỐC TIẾNG
TIẾNG KHÁC
HRE NHAU
VÀ TỪ SỰ KẾT HỢP CỦA HAI TRONG SỐ
ĐỊA DANH TIẾNG VIỆT
CÁC GỐC TIẾNG ĐÓ
Nhưng địa danh, như đã nói, dù chỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi không
thôi cũng đã có vô số và không ai có thể đo đếm được là bao nhiêu; vì không
chỉ một ngọn núi, mà mỗi điểm của ngọn núi, với hóc núi, hang đá, sườn
ĐỊAriêng
DANH
dốc, tảng đá, con suối… rất có thể cũng có tên gọi
để phân biệt. Thêm
GỐC
TIẾNG
nữa, việc xác định tên gọi cho một ngọn núi, con suối… đã là một sự phức
COR
tạp, bởi cùng một hiện tượng mà người ta gọi tên
khác nhau, ngược lại cùng
một tên gọi mà người ta lại chỉ các đối tượng không trùng khớp nhau. Tình
-10-
ĐỊA DANH
GỐC TIẾNG
CA DONG
hình như vậy không chỉ riêng ở Quảng Ngãi, mà ở bất cứ nơi nào trên trái
đất có con người cư trú.1
Như vậy, việc biết hết các địa danh, dù cho là địa danh của một tỉnh, đã
là một sứ mệnh bất khả thi.
Cần biết nhiều địa danh càng tốt. Nhưng cũng không thể bắt buộc phải
biết hết các địa danh, vì như vậy cũng là không cần thiết. Người nghiên cứu
có quyền lựa chọn đối tượng nghiên cứu, cách tiếp cận và thiết kế nghiên
cứu, miễn sao các lựa chọn đó hợp lý, sáng tạo và có sức thuyết phục cao.
Ta hãy quay lại với lý thuyết về chức năng hay tại sao địa danh phải ra
đời. Đó là nó phải giúp người ta phân biệt nơi này với nơi khác, nói theo
thuật ngữ khoa học là nó cá thể hóa đối tượng, như nhân danh nhằm phân
biệt người này với người khác. Nhưng trước khi cho biết nó cá thể hóa đối
tượng, thì một việc cũng rất quan trọng là nó khu biệt hóa cái cá thể ấy, mới
xuất hiện khái niệm hiệu danh đi trước địa danh, để trước hết để người ta
nhận biết, nó thuộc về cái gì, là sông, núi, ao, hồ, vũng, vịnh, gò, đồng, hay
là vùng, thôn, xã, huyện, phủ, tỉnh… Địa danh cho ta biết cái này ở chỗ này,
chứ không phải cái kia ở chỗ kia. Địa danh có vô số, không thể biết hết, và
trên thực tế cũng không ai cần phải biết hết. Có người chỉ có nhu cầu biết địa
danh ở một khu vực hẹp. Có địa danh chỉ cần được biết hoặc có ý nghĩa
trong một khu vực hẹp. Dựa theo chức năng cá thể hóa, thì có thể hiểu địa
danh không được trùng nhau, tuy nhiên xét ở phạm vi rộng, chúng vẫn có
trường hợp trùng nhau, chính là vậy. Chẳng hạn trong tỉnh Quảng Ngãi có
đến 4 làng (thôn) mang tên Châu Me (ở huyện Bình Sơn, Mộ Đức, Nghĩa
Hành và Đức Phổ), có hai làng mang tên Lương Nông (ở Bình Sơn và Mộ
Đức), có nhiều núi mang tên Mồ Côi, Chớp Vung, Chớp Chài… chính là vì
thế: trong một phạm vi hẹp, chúng không trùng tên với cái nào, và vì vậy
chúng không bị nhầm lẫn, và người địa phương chỉ cần biết trong phạm vi
khu vực hẹp đó thôi. Như vậy, từ chức năng của địa danh và từ nhu cầu sử
dụng, đã có hàm ý hữu hạn. Việc nghiên cứu, biên soạn từ điển địa danh, do
vậy cũng xác định đối tượng một cách hữu hạn.
Bởi những lý do trên, địa danh trong công trình nghiên cứu, biên soạn
này không phải là tất cả địa danh Quảng Ngãi, mà được lựa chọn, xác định
và giới hạn như sau:
+ Địa danh chỉ địa hình tự nhiên:
- Tên núi, đồi, gò, rừng chính
- Tên sông, suối, ao, hồ, đầm, bãi biển, vịnh biển, gành đá chính
+ Địa danh dân gian chỉ vùng không xác định ranh giới:
- Bảo đảm đầy đủ tất cả các địa danh thông dụng nhất
1
Chẳng hạn theo Lê Trung Hoa trong quyển Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (SĐD, trang 9), thì
chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh tác giả đã tìm được khoảng 22.000 địa danh; cũng Lê Trung Hoa cho biết theo E.G.
Gudde trong công trình California place-names. A geographical dictionary, Los Angeles 1949, thì riêng ở bang
California có đến 150.000 địa danh.
-11-
- Giới hạn: các địa danh quá hẹp và không thông dụng không cần thiết
sưu tầm.
+ Địa danh hành chính:
- Tên huyện, thành phố
- Tên xã, phường, tổ dân phố (tương đương xã)
- Tên thôn, khối phố
Giới hạn: không sưu tầm đơn vị xóm quá nhỏ, trừ một số trường hợp
đặc biệt.
+ Địa danh hành chính không còn hiện hành:
- Tên huyện, thành phố không còn hiện hành
- Tên tổng, xã, phường, trại, thôn, ấp, châu, ty, phường không còn hiện
hành.
Giới hạn: không sưu tầm đơn vị xóm quá nhỏ, trừ một số trường hợp
đặc biệt
Về sắp xếp, chú giải địa danh trong từ điển được xác định như sau:
+ Sắp xếp mục từ:
Các địa danh sưu tầm, điều tra, tổng hợp sắp xếp theo thứ tự chữ cái
Tiếng Việt thành mục từ độc lập và chú giải từng mục từ đó để về sau hình
thành tự điển địa danh chung trong toàn tỉnh.
+ Nội dung chú giải từng mục từ:
- Tên mục từ (địa danh)
[gốc tiếng: Hán, Hre, Cor, Ca Dong… nếu có khác tiếng Việt]
- Nguồn gốc phát sinh và biến đổi (nếu tìm ra)
- Ý nghĩa của từ địa danh (nếu cần thiết)
- Đối tượng chỉ của địa danh
- Nét nổi bật về lịch sử, văn hóa (nếu có)
Đối với địa danh hành chính xã, huyện, thành phố: có thêm diện tích và
dân số, gắn với thời điểm nhất định, đặc biệt là năm 2010.
Sự xác định đối tượng và giới hạn như trên có nghĩa là chọn những gì
lớn nhất, quan trọng nhất và không chọn những gì quá nhỏ, kém quan trọng
hơn. Ở đây ta cũng cần lưu ý, cái gọi là chính, là quan trọng hơn, lớn hơn là
xét ở góc độ địa danh chứ không phải xét ở góc độ địa lý. Địa danh học có
liên quan chứ không phải địa lý học. Chẳng hạn, đối với địa danh học, thì
tên núi Thiên Ấn là quan trọng hàng đầu, được rất nhiều người sử dụng hơn
rất nhiều các núi cao trên miền núi to lớn hơn nó nhiều lần, nhưng đối với
địa lý học, thì Thiên Ân chỉ là một quả núi nhỏ, thấp hơn nhiều so với vô số
núi khác. Thực tế cuộc sống cho thấy người nhắc đến Thiên Ấn rất nhiều, so
với nhắc tên các ngọn núi kia, và đương nhiên người muốn tra cứu về Thiên
Ấn chắc chắn cũng nhiều hơn. Do vậy đối với người nghiên cứu địa danh thì
địa danh Thiên Ấn lại quan trọng hơn là các địa danh chỉ các núi trên vùng
cao, dù các núi ấy có quy mô lớn gấp nhiều lần Thiên Ấn. Nói tóm lại, sự
-12-
giới hạn ở các địa danh chính cũng là sự cần thiết, dựa trên nhu cầu thực tế
của người sử dụng và mục đích của người nghiên cứu, biên soạn Từ điển địa
danh Quảng Ngãi.
V. Phương pháp nghiên cứu - Các nét tiếp cận chính
1. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
- Phương pháp tiếp cận tổng thể: vừa khảo sát địa danh, vừa liên hệ giữa
nó với các yếu tố kinh tế - xã hội khác.
- Phương pháp lịch sử, cụ thể: khảo sát, nghiên cứu địa danh trong quá
trình phát sinh, biến đổi của nó trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, ở một
dân tộc cụ thể, trong một hoàn cảnh địa lý cụ thể.
- Phương pháp điền dã: thực hiện các chuyến đi điền dã, tìm và gặp gỡ
các đối tượng có hiểu biết về lĩnh vực này để phỏng vấn.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu nhiều chiều kích
khác nhau để nhận thức đặc tính của những địa danh cụ thể.
- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa: Thống kê, hệ thống hóa theo nhiều
tiêu chí khác nhau; như thống kê, hệ thống hóa theo địa phương, theo ngôn
ngữ, theo loại hình địa danh, theo sự tồn tại hay không tồn tại…
Để đạt được mục đích như đã trình bày, đề tài phải chọn các cách tiếp
cận chính như sau:
2. Các nét tiếp cận chính:
- Tiếp cận từ các lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu địa
danh: Xác định địa danh là gì, thế nào là một địa danh, địa danh gồm các
loại như thế nào, đặc điểm của địa danh v.v… tức xây dựng khung lý thuyết
để làm cơ sở cho việc sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn; căn cứ vào các công
trình nghiên cứu lý thuyết về địa danh học đã có. Bên cạnh đó còn tham
khảo những kinh nghiệm sưu tầm, những nguyên tắc và phương pháp biên
soạn từ điển địa danh.
- Tiếp cận qua các thư tịch, sách vở để xác định: Địa danh Quảng Ngãi đã
được ghi chép gồm những địa danh nào, như thế nào trong quá khứ và hiện
tại, tức tìm hiểu, nghiên cứu địa danh Quảng Ngãi ở mặt sách vở, thư tịch,
các văn bản hành chính, các bản đồ cổ và bản đồ hiện đại. Công tác này
được thực hiện trên cách sách vở đã biên chép về Quảng Ngãi hoặc có liên
quan đến Quảng Ngãi trong quá khứ và hiện tại.
- Tiếp cận từ thực tế điền dã: nhằm xác định địa danh Quảng Ngãi tồn tại
trong thực tế cuộc sống như thế nào, những địa danh nào được người ta nói
đến nhiều, những địa danh nào ít được nói đến; so với ghi chép trên sách vở,
bản đồ thì các địa danh đó có được ghi chép không, có trùng khớp không;
nguồn gốc phát sinh, tên gọi của nó mang ý nghĩa gì không, đặc điểm vị trí
mà nó chỉ là gì… tức tiếp cận địa danh tồn tại trong chính cái gốc của nó là
-13-
thực tế cuộc sống, nơi địa danh xuất hiện và tồn tại, thực hiện chức năng xã
hội của nó, như một tất yếu, không thể không có.
- Tiếp cận qua trao đổi, hội thảo: Sau khi đã truy tầm các địa danh,
chúng tôi sẽ hình thành các chuyên đề, đưa về các địa phương và tổ chức hội
thảo, với quan niệm chính người địa phương là những người sâu sát nhất, sử
dụng địa danh hằng ngày, để thu thập thêm ý kiến đóng góp. Do đó, thành
phần dự hội thảo gồm các nhà quản lý, các cá nhân có hiểu biết về địa
phương. Sau khi các địa danh đã được chuẩn xác hóa cao, từ đó hình thành
từ điển địa danh Quảng Ngãi.
VI. Kết quả của đề tài
1. Kết quả thực hiện 27 chuyên đề
1.1 Các chuyên đề khoa học thực hiện đủ, đạt mục tiêu, yêu cầu đề
ra:
Trên cơ sở các địa danh đã sưu tầm được, đề tài đã thực hiện 27 chuyên
đề chuyên sâu, hệ thống, xem xét địa danh Quảng Ngãi qua các khía cạnh,
góc độ khác nhau, để giúp chuẩn xác hóa từ điển địa danh, đồng thời chuyên
sâu vào các khía cạnh của chúng, giúp cho việc chú giải địa danh chính xác
hơn.
1.2. Các chuyên đề khoa học đều có tính hệ thống, tương hỗ nhau,
và có nhiều phát hiện, làm sáng tỏ những bí ẩn của địa danh:
Các chuyên đề đã có sự tương hỗ nhau rất tốt, như các chuyên đề về địa
danh các huyện Trà Bồng, Tây Trà giúp cho chuyên đề địa danh gốc tiếng
Cor được thuận lợi và ngược lại, chuyên đề địa danh gốc tiếng Cor có sự
giúp sức cho chuyên đề địa danh hai huyện Trà Bồng, Tây Trà thêm thuận
lợi; tương tự là trường hợp chuyên đề địa danh các huyện Sơn Hà, Minh
Long, Ba Tơ với chuyên đề địa danh gốc tiếng Hre, chuyên đề địa danh
huyện Sơn Tây với chuyên đề địa danh gốc tiếng Ca Dong, chuyên đề địa
danh chữ Hán Nôm, …
2. Kết quả hội thảo và tư vấn
Theo kế hoạch thực hiện đề tài đã được phê duyệt, đề tài tổ chức 16 cuộc
hội thảo, trong đó có 2 cuộc hội thảo ở tỉnh và 14 cuộc hội thảo ở từng
huyện, thành phố trong tỉnh. Các cuộc hội thảo này nhằm mục đích thảo
luận, thu thập ý kiến của các thành viên tham gia để ban chủ nhiệm đề tài
nghiên cứu tu chỉnh, bổ sung, để các dữ liệu có độ chính xác cao.
Để chuẩn bị cho các cuộc hội thảo, ban Chủ nhiệm đề tài phải chuẩn bị
các tài liệu dùng trong hội thảo và gửi trước cho các thành viên tham dự để
nghiên cứu và có ý kiến đóng góp.
Qua 16 cuộc hội thảo ở tỉnh và ở các huyện, thành phố, các thành viên
tham dự đều hoan nghênh, tán thành mục đích, ý nghĩa, các yêu cầu và cách
thức thực hiện đề tài. Nhiều đại biểu có sự am hiểu về địa phương đã đóng
góp những ý kiến quý báu.
-14-
Các đóng góp ý kiến hầu hết bằng miệng, có một số góp ý ghi thẳng vào
trong bản dự thảo địa danh các huyện và gửi lại Ban Chủ nhiệm. Từ đó Ban
Chủ nhiệm nghiên cứu trực tiếp tại các bản góp ý đó, chứ không có văn bản
góp ý riêng.
Việc trực tiếp tổ chức hội thảo tại 14 huyện, thành phố có rất nhiều phiền
phức, vất vả và khá tốn kém cho ban chủ nhiệm (số kinh phí bố trí cho từng
hội thảo quá ít, không đủ chi), nhưng nó thực sự hữu ích và thu thập được
những đóng góp tư liệu quý báu.
2.1 Kết quả hai cuộc hội thảo ở tỉnh có nhiều ngành tham gia:
- Cuộc hội thảo ở tỉnh có nhiều ngành tham gia là cuộc hội thảo đầu
tiên của đề tài. Tại cuộc hội thảo này các đại biểu đã nghe báo cáo đại cương
về lý thuyết địa danh, các chuẩn để lựa chọn địa danh; nghe tham luận về địa
danh Quảng Ngãi do đồng chí Lê Hồng Khánh trình bày; nghe báo cáo về
những chặng đường lịch sử và sự xuất hiện, biến đổi và biến mất của địa
danh Quảng Ngãi do Ban Chủ nhiệm trình bày. Các đại biểu phát biểu đã tán
thành các ý kiến của Ban Chủ nhiệm và đóng góp thêm một số ý kiến, giúp
Ban Chủ nhiệm có định hướng nghiên cứu rõ ràng hơn; nhận định đây là
một đề tài rất thú vị nhưng lại hết sức phong phú, phức tạp, đòi hỏi rất nhiều
công sức và sự nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng.
- Cuộc hội thảo ở tỉnh lần thứ hai được tổ chức sau khi đã qua 15 cuộc
hội thảo, gồm cuộc hội thảo nói trên và 14 cuộc hội thảo ở 14 huyện, thành
phố trong tỉnh. Cho nên cuộc hội thảo này mang tính chất như một cuộc đúc
kết và lấy ý kiến lần cuối cùng. Tại cuộc hội thảo này Ban Chủ nhiệm đề tài
đã có báo cáo sơ bộ về quá trình và kết quả đã đạt được trong quá trình thực
hiện đề tài, về những vấn đề đã đặt ra và đã giải quyết được. Tiến sĩ Nguyễn
Diên Xướng và đồng chí Lê Hồng Khánh đã có tham luận. Đại biểu tán
thành các kết quả, đồng thời đề nghị Ban Chủ nhiệm tiếp tục tu chỉnh hoàn
thiện đề tài, chuẩn xác hóa các nội dung, sau khi nghiệm thu cần có kế hoạch
xuất bản và đưa lên trang Web để phát huy tác dụng.
2.2 Kết quả 14 cuộc hội thảo ở 14 huyện, thành phố:
Địa danh nằm ở các địa phương và chính người địa phương là người
luôn tiếp xúc với địa danh, có những hiểu biết quý báu về địa danh của địa
phương mình. Xuất phát từ quan điểm đó, được cơ quan thẩm quyền phê
duyệt, Ban Chủ nhiệm đề tài đã đi đến từng huyện thành phố để tổ chức hội
thảo tại chỗ. Tài liệu gồm thống kê và chú giải địa danh, tham luận về địa
danh ở địa phương. Kết quả gặt hái được như sau :
- Đã chuẩn hóa và bổ sung danh mục địa danh, qua rà soát của các đại
biểu. Địa danh được bổ sung thêm thường là các địa danh chỉ địa hình tự
nhiên, địa danh dân gian chỉ vùng không xác định ranh giới.
-15-
- Đã chuẩn xác hóa, bổ sung được các dữ liệu về địa danh rất quý giá,
đặc biệt là ý nghĩa tên gọi các địa danh, gắn với đặc điểm của đối tượng và
các chuyện truyền thuyết.
- Đã trao đổi để đi đến sáng tỏ một số trường hợp chưa thống nhất: một
số đại biểu do không nắm tư liệu hoặc hiểu nhầm về mục đích ý nghĩa của
việc nghiên cứu, biên soạn từ điển địa danh, nên có những góp ý không sát,
ban chủ nhiệm đã trao đổi và thống nhất tại chỗ.
Điều nổi bật trong các cuộc hội thảo này là nó đã mời được các đồng chí
nguyên là lãnh đạo huyện, cũng là những người hết sức tâm đắc với đề tài,
đã đóng góp những ý kiến hết sức quý báu, như đồng chí Nguyễn Tấn Vạn
(nguyên Bí thư Huyện ủy Tư Nghĩa), đồng chí nguyên Bí thư Huyện ủy
Bình Sơn, đồng chí Trần Bảo Phát (nguyên Bí thư Huyện ủy Nghĩa Hành),
đồng chí Trần Thanh Vân (nguyên Bí thư Huyện ủy Ba Tơ), đồng chí Trần
Đức Oanh (nguyên Bí thư Huyện ủy Sơn Tịnh), các đồng chí nguyên là Chủ
tịch UBND huyện Trà Bồng, Sơn Hà … Đặc biệt đồng chí Đinh Kà Để,
đương kim Bí thư Huyện ủy Sơn Tây đã dự trọn cuộc hội thảo ở huyện mình
và bản thân đồng chí đã có những đóng góp hết sức cụ thể, thiết thực.
2.3. Kết quả tư vấn:
Đề tài nghiên cứu, biên soạn Từ điển địa danh Quảng Ngãi không nhằm
mục đích giải quyết vấn đề lý thuyết địa danh, mà chỉ vận dụng lý thuyết đó,
xây dựng khung nghiên cứu để biên soạn địa danh của một địa phương; nên
bên cạnh việc tham vấn một số chuyên gia, Ban Chủ nhiệm đề tài tập trung
vào các vị tư vấn đối với các nhóm địa danh cụ thể. Các vấn đề tư vấn tiêu
biểu như sau :
Đồng chí Phạm Thanh Biền: nguyên Bí thư Tỉnh ủy, tư vấn về địa danh
huyện Bình Sơn, huyện Trà Bồng và huyện Tây Trà là địa bàn thân thuộc
nhiều năm với đồng chí; đã đóng góp nhiều ý kiến hay.
Đồng chí Phạm Thanh Nghìn: dân tộc Hre, đương kim Phó Chủ tịch
UBMTTQVN tỉnh, góp ý về địa danh gốc tiếng Hre và địa danh huyện Ba
Tơ quê hương.
Đồng chí Lê Văn Đường, nguyên Bí thư huyện Sơn Tây, tư vấn về địa
danh gốc tiếng dân tộc Ca Dong và địa danh huyện Sơn Tây.
Đồng chí Hồ Ngọc Tùng, dân tộc Cor, tư vấn về địa danh gốc tiếng Cor
và địa danh các huyện Tây Trà, Trà Bồng.
Ngoài ra Ban Chủ nhiệm còn tranh thủ ý kiến tư vấn của nhiều đồng chí
khác.
3. Kết quả biên soạn Từ điển địa danh Quảng Ngãi
Kế hoạch thực hiện yêu cầu nghiên cứu, sưu tầm và chú giải tối thiểu
1.000 mục từ địa danh; Ban Chủ nhiệm đề tài thực hiện trên thực tế trên
2.500 đơn vị mục từ để hình thành từ điển địa danh. (Xem chương IV)
-16-
4. Kết quả thực hiện ảnh minh họa:
Kế hoạch đề ra thực hiện 60 ảnh minh họa, Ban Chủ nhiệm đề tài thực
hiện đủ. Các hình ảnh minh họa gồm các hình ảnh sông núi tiêu biểu của
Quảng Ngãi.
5. Kết quả thực hiện các bài báo chuyên ngành:
Kế hoạch đề ra thực hiện 2 bào báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, đề
tài thực hiện 3 bài báo chuyên ngành.
(1) Bài Hiện tượng “làng” trong địa danh của vùng người Hre miền núi
Quảng Ngãi (Tạp chí Sông Trà của Hội VHNT Quảng Ngãi, số 38 năm
2012)
(2) Bài Bước đầu tìm hiểu địa danh gốc tiếng Hre ở Quảng Ngãi (Tạp chí
Văn hóa Nghệ thuật, của Bộ VHTTDL số 341- tháng 11.2012)
(3) Bài Địa danh ở Quảng Ngãi (Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam, số 415-416 tháng 11-12 /2012)
B. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. Đề tài đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu của nhiều
người về các địa danh ở Quảng Ngãi
Thực tế có rất nhiều người có nhu cầu tìm hiểu, tra cứu về địa danh,
giới nghiên cứu, nhà quản lý cũng có nhu cầu tìm hiểu địa danh để phục vụ
cho công việc của mình. Do vậy, việc nghiên cứu, biên soạn từ điển địa danh
Quảng Ngãi sẽ đáp ứng được nhu cầu đó.
Đối với hầu hết người dân, không ít lần người ta cần phải tự tìm hiểu
địa danh quê mình hay nơi mình đến, chốn mình quan tâm nằm ở đâu, mang
ý nghĩa gì. Lớp bụi thời gian lẫn những nguồn gốc đã quá xa xưa, rào cản
ngôn ngữ, sự biến đổi, trại âm khiến những địa danh vốn rất gần gũi với đời
sống, như Chú Tượng, Thạch Trụ, Lương Nông, Bàu Nú, Giá Vụt, Đắk
Kring… trở nên khó hiểu, có thể tìm hiểu trong từ điển và trở nên vô cùng
dễ hiểu. Chắc chắn người ta sẽ cảm thấy thích thú với những điều này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, qua các cuộc hội thảo tại các địa phương
trong tỉnh, nhiều người tỏ ra tâm đắc, tán thành công việc nghiên cứu, biên
soạn này. Đó là một minh chứng rõ ràng.
Đối với nhà quản lý, công việc hằng ngày lẫn trong những dự án, đề án,
là phải dùng địa danh. Địa danh không chỉ hiển hiện trong đời sống bình
thường hằng ngày của con người, mà còn vô hình trung hiển hiện trong rất
nhiều công việc. Và từ đó người ta có nhu cầu phải tra cứu địa danh để giải
quyết một vấn đề nào đó trong công việc của mình một cách chính xác.
Đối với những người học tập, nghiên cứu, thì nhu cầu tìm hiểu địa
danh cũng không ít. Địa danh gắn liền với những dấu ấn lịch sử, nên người
-17-
ta có thể lấy nó làm một ví dụ cho sự biến đổi nào đó, chẳng hạn các địa
danh Hoa Sơn, Hoa Bân, Mộ Hoa phải đổi thành Tú Sơn, Văn Bân, Mộ Đức
là do tục kỵ húy, vào thời điểm vua Thiệu Trị lên ngôi 1841; như sự biến đổi
hàng loạt tên xã năm 1958 là do chính quyền Sài Gòn muốn khẳng định vai
trò cầm quyền của nó, đồng thời nhằm làm cho những người kháng chiến và
nhân dân gặp phải nhiễu loạn, trở ngại khi thông tin về vùng đất cần liên
lạc… Địa danh gắn liền với địa lý học, như khi hình thành đơn vị hành chính
mới hay khi sự tách lập diễn ra thì vấn đề đầu tiên người ta nghĩ đến là đặt
tên gọi cho nó, qua số lượng tên làng xã người ta có thể đoán định việc khai
phá, cư dân đến đâu; số lượng tên làng xã tăng lên là do sự tách lập làng xã
mới ngày một nhiều; do sự hợp nhất nên diễn ra hiện tượng hợp nhất tên
gọi… Địa danh gắn liền với dân tộc và ngôn ngữ, nên các nhà nghiên cứu
dân tộc học, ngôn ngữ học có thể lấy đó làm minh chứng cho nét riêng của
dân tộc, chẳng hạn dân tộc Hre giỏi nghề làm ruộng, có nhiều ruộng, nên có
nhiều địa danh mang tiền tố Đồng, do có sự giao lưu rộng rãi với người Việt
nên có nhiều địa danh mang tiền tố Làng; dân tộc Cor thì có khái niệm
Đường (Truôk) với ý nghĩa là một vùng dọc một tuyến đường; có nhiều hẻm
núi nên phổ biến tiền tố Eo (Wăh); dân tộc Ca Dong thì có nhiều địa danh
gắn với Đắk (nước), Wi (làng), Tman (nà thổ)…
Nói tóm lại, từ điển địa danh giúp cho việc tra cứu đối với địa danh
được dễ dàng, thuận tiện, đỡ rất nhiều công sức cho bạn đọc; là công cụ hữu
ích cho nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, cho
các nhà quản lý khi đụng đến vấn đề quản lý một lãnh thổ, xây dựng các đề
án, công trình...
II. Đề tài góp phần nghiên cứu kho tàng địa danh trong toàn quốc
Toàn quốc là do nhiều tỉnh thành hợp lại. Theo nghĩa ấy thì kho tàng địa
danh toàn quốc chính là sự tổng hợp của địa danh của tất cả các tỉnh thành
trong cả nước. Địa danh là cả một vấn đề phong phú và phức tạp. Việc
nghiên cứu địa danh toàn quốc có tốt hay không tùy thuộc vào việc nghiên
cứu địa danh từng tỉnh thành có tốt không. Nếu như từng tỉnh thành chưa
nghiên cứu địa danh trên địa hạt của mình, hoặc nghiên cứu địa danh chưa
thật tốt, thì đương nhiên việc nghiên cứu địa danh trong toàn quốc sẽ khó có
thể tốt được. Bởi vì địa danh toàn quốc thì có vô vạn, không ai có thể biết
hết được. Người nghiên cứu địa danh trên toàn quốc không thể đi khắp cả
nước để khảo sát địa danh, và do vậy, buộc phải kế thừa, sử dụng thành tựu
nghiên cứu địa danh của từng tỉnh thành.
Hiện nay, một số tỉnh thành trong nước cũng đang nghiên cứu địa danh,
làm từ điển địa danh. Việc nghiên cứu địa danh Quảng Ngãi vì vậy sẽ góp
phần vào một tổng đại thành của việc nghiên cứu địa danh trong phạm vi
toàn quốc – nếu như một đề án lớn của quốc gia được xác lập và thực hiện.
-18-
III. Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về địa danh
Đề tài không đặt mục tiêu và không có tham vọng làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về địa danh học. Tuy nhiên qua thực tiễn nghiên cứu, ứng dụng và
thực hiện, lại mặc nhiên làm sáng rõ được một số vấn đề.
1. Vấn đề khái niệm địa danh và chức năng của địa danh:
Hiểu một cách nôm na nhất, địa danh có nghĩa là tên đất. Hai tiếng địa
danh có gốc từ chữ Hán 地 名 , tiếng Anh gọi là place-name.
Về khái niệm địa danh, tác giả Lê Trung Hoa đưa ra một định nghĩa:
“Địa danh là những từ hoặc ngữ được dùng làm tên riêng của các địa
hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ và các công trình
xây dựng thiên về không gian hai chiều” (TL đã dẫn).
Các tác giả đề tài này xem xét tình hình cụ thể của địa phương cũng như
nghiên cứu quy luật hình thành nên địa danh không thể thừa nhận rằng tên
“các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” cũng là địa danh.
Bởi mấy lẽ:
- Người ta có thể nói “tôi ở cầu Chữ Y” thì nghĩa của nó không phải là
tôi cư ngụ ở ngay chỗ cầu (vì không ai có thể cư ngụ ở trên cầu được), mà là
tôi ở khu vực dân cư chung quanh cầu chữ Y. Như vậy cầu Chữ Y ở đây
mang ý nghĩa hoán dụ, dùng cái nhỏ hơn để nói cái lớn hơn, chứ không phải
bản thân cầu Chữ Y là một địa danh.
- Nguồn gốc hình thành địa danh thường là người ta quan sát thấy đặc
điểm riêng của địa hình ở một vùng nào đó – như nét riêng của tự nhiên, nét
độc đáo của một công trình xây dựng – mà mượn đặt. Chẳng hạn địa danh
Thạch Trụ (nay là hai thôn Thạch Trụ Đông, Thạch Trụ Tây xã Đức Lân
huyện Mộ Đức) là xuất phát ở trong vùng có một tảng đá hình trụ tròn cao
đến khoảng 6 mét, rất độc đáo. Người ta gọi Thạch Trụ (cột đá) là chỉ chung
cho cả vùng rộng lớn hơn nhiều cái cột đá đó, chứ không phải chỉ riêng cái
cột đá ấy. Như vậy từ nguồn gốc hình thành địa danh, ta có thể suy ra, sở dĩ
các công trình như cầu Chữ Y, Cầu Sắt, Cầu Cháy… một khi được dùng như
một địa danh thì đã hàm ý chỉ khu vực chung quanh lớn hơn nó rất nhiều,
chứ không còn chỉ bản thân nó nữa. Người ta chỉ mượn tên gọi cái công
trình dễ nhận diện cho vị trí nào đó để chỉ cho toàn bộ khu vực lớn hơn nó
mà thôi.
Như vậy, ngay cả vấn đề định nghĩa địa danh như trên cũng cần phải
xem xét lại ở chỗ tên công trình xây dựng có phải là địa danh hay không.
Về chức năng của địa danh, ta hiểu rằng địa danh có chức năng cá thể
hóa bằng tên gọi cho một đối tượng cụ thể, là chức năng định danh. Vùng
đất cần phải có tên riêng, cũng như mỗi con người cần phải có tên riêng, để
phân biệt người này với người khác, vùng này với vùng khác. Để dễ nhận
-19-
diện một vùng đất, thì cách tốt nhất là tên gọi của nó gắn với đặc điểm của
nó. Nhưng giữa một vùng đồng bằng tháng rộng, người ta chẳng tìm ra một
nét riêng cho một khu vực nào đó, thì sao? Thì người ta buộc phải đặt địa
danh theo cách ấn định chủ quan, mà sự ấn định này có khi thể hiện một ước
vọng và rất nhiều khi ước vọng đó lại không hề phù hợp với tính chất của
vùng đất. Tên người cũng luôn ấn định chủ quan; khi con người ra đời,
người ta đặt cho cái tên Hùng, Dũng, Duyên, nhưng thực tế là người đó lớn
lên, lại nhút nhát, lại chẳng có chút duyên nào. Nhưng không ai lấy đó làm
điều, là bởi, chức năng của cái tên chỉ là để nhận biết từng cá nhân, để phân
biệt. Với tên đất hay địa danh cũng vậy, rất nhiều trường hợp người ta cần
một cái tên riêng, hơn là qua cái tên để biết đặc tính của vùng đất đó. Chức
năng cá thể hóa địa danh là chức năng tuyệt đối. Chức năng nay đương
nhiên gắn với chức năng thông tin của nó. Nếu tên người, tên đất mà chỉ có
một vài người biết (hay lưu truyền), thì tên đất tên người đặt ra cũng trở nên
vô ích. Chức năng cá thể hóa gắn với chức năng thông tin là lý luận mà công
trình này có thể đóng góp.
Từ chức năng đó, ta mới có thể xác định và xử lý những vấn đề đặt ra
trong việc xác lập địa danh.
2. Việc xác định tên chính xác của các địa danh:
Một địa danh được ghi trong chữ viết như thế nào là chính xác? Vấn đề
tưởng như không có gì, nhưng đôi khi lại rất nan giải. Dẫn dụ một vài trong
số rất nhiều trường hợp như sau:
- Thạch Thang: tên gọi một thôn thuộc xã Đức Phong huyện Mộ Đức.
Tên gọi này đã lưu truyền rất lâu đời, và truy tầm tên viết bằng chữ Hán là
石 灘, có nghĩa là bãi đá bày ra khi nước rút. Nếu căn cứ vào chữ Hán do tổ
tiên từng ghi chép như trên là địa danh gốc, địa danh xuất phát, ta sẽ phải
viết là Thạch Than (chứ không phải Thang). Nguyên do cách viết này khác
nhau này chắc chắn là bởi người miền Nam thường không phân biệt âm an
và ang, vào cái thời kỳ mà chữ Hán phải nhường chỗ cho chữ quốc ngữ
thành chữ viết chính thống, khoảng đầu thế kỷ XX.
Như vậy thì Thạch Thang, hay Thạch Than mới là cách viết đúng?
- Bàu Nú: là tên một vùng cực nam huyện Đức Phổ. Chữ Nú hầu như
không có tên trong tự vựng tiếng Việt, vì tuy đọc được, nhưng bản thân nó
lại chẳng có ý nghĩa gì. Truy tầm điền dã thì một số người dân địa phương
khẳng định rằng “nú” tức là “núi”, hai chữ Bàu Nú tức là núi có bàu, bàu ở
bên núi. Nguyên do chuyển âm có thể do thổ âm hoặc quy luật âm (Bàu Nú
dễ phát âm hơn Bàu Núi), nên đã “rớt âm”.
Vậy Bàu Nú hay Bàu Núi đúng hơn?
- Đôn Lương: là tên thôn, xóm ở huyện Bình Sơn và huyện Mộ Đức.
Truy tìm nguyên văn trong sách chữ Hán xưa ghi là 敦 掄 Đôn Luân, có
nghĩa là giữ gìn nhân luân. Như vậy có thể hiểu Đôn Lương chính là trại âm
-20-
của Đôn Luân và khi chữ quốc ngữ thay chữ Hán đã căn cứ âm địa phương
mà viết là Đôn Lương.
Vậy Đôn Lương hay Đôn Luân đúng hơn?
Trong những trường hợp trên, nếu làm một phép suy luận, thì phải viết
Thạch Than, Bàu Nú, Đôn Luân thì mới đúng.
Tuy nhiên cần phải biết rằng, chức năng của địa danh là cá thể hóa đối
tượng, là tên gọi của vùng đất, tên gọi ấy phải được nhiều người thừa nhận,
nên phải chấp nhận cách viết Thạch Thang, Bàu Nú, Đôn Lương. Trong
ngôn ngữ học nói chung, địa danh nói riêng, đều mang tính quy ước, do vậy
cái gì được cho là đúng là cái được nhiều người thừa nhận. Nếu ta cố chấp,
cứ khăng khăng viết là Thạch Than, Bàu Núi, Đôn Luân, thì sẽ không ai
hiểu. Tất nhiên, trong các mục từ Thạch Thang, Bàu Nú, Đôn Lương, ta sẽ
không bỏ qua cái nguồn gốc nguyên ủy của nó là gì. Tức là ta phải lấy thực
tế sử dụng làm chuẩn để xác định.
Trong việc xác địa danh còn rất nhiều vấn đề có lẽ còn tranh cãi về mặt
lý thuyết. Chẳng hạn trong tỉnh Quảng Ngãi, có những tên gọi như Xóm Bún,
Xóm Sáo, Xóm Thùng (tên các xóm làm bún, làm rèm, làm thùng tô nô). Rõ
ràng chữ xóm có nghĩa là một khóm cư dân (như trong chữ Hán gọi là lân)
là một danh tự chung, nhưng trong trường hợp này, giả thử ta bỏ chữ Xóm,
mà cứ nói là Bún, Sáo, Thùng… liệu người ta có thể hiểu chúng là địa danh
không? Ở đâu không? Vậy bản thân các chữ ấy thôi, có đủ làm một địa danh
không? Tương tự là các trường hợp Thôn 1, Thôn 2… Nếu ta bỏ chữ Thôn,
thì bản thân các số 1, 2 vẫn độc lập làm nên một địa danh chăng? Trong Từ
điển địa danh Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả Lê Trung Hoa
và Nguyễn Đình Tư đã làm như vậy, tức là tách riêng 1, 2, 3 … như một địa
danh; nhưng giả thử ta nói thế này: Tôi ở Tân Bình, hoặc Tôi ở 1, thì người
ta hiểu ngay Tân Bình ở đâu, còn số 1 người nghe có thể hiểu ở đâu chăng?
Trong Quận 1, thì Quận vừa làm chức năng hiệu danh 號 名, vừa làm chức
năng một thành tố của một địa danh cụ thể.
Ở đây các tác giả công trình này tạm đưa ra một khái niệm, đó là các địa
danh có cấu tạo đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ: các tên loại địa danh, hoặc hiệu
danh, vốn là một danh tự chung, đã gắn chặt và không thể tách rời với hậu tố
tên riêng ở sau nó, và cần phải xem như một thành tố trong một địa danh.
Công trình này cũng sẽ xác định Xóm Thùng, Xóm Sáo, Xóm Bún, chứ không
phải Thùng, Sáo, Bún; Thôn 1, Thôn 2 chứ không phải 1, 2…
3. Vấn đề văn tự hóa địa danh gốc tiếng dân tộc thiểu số:
Vấn đề văn tự hóa địa danh gốc tiếng dân tộc thiểu số là vấn đề hết sức
phức tạp. Sự phức tạp ấy thể hiện ngay trong việc có sự ghi chép rất khác
nhau cho cùng một địa danh. Thể hiện cụ thể như một số trường hợp sau
đây:
-21-
(1) Cùng một tên gọi ở vùng tây huyện Ba Tơ, người ta có các cách viết
khác nhau: Giá Vụt, Giá Vực.
(2) Cùng nghĩa và âm chỉ con nước, mà có khi người ta viết là Đắc,
Đắk, Dheak, Đhắk, Tét.
(3) Cùng một âm tiết, mà có khi người ta dùng K, có khi dùng C cho âm
[k], như Ka La – Ca La, Kon Dung – Con Dung …
(4) Người ta viết là Hoăn Bờ Lăng (núi Bờ Lăng), nhưng đến núi khác
(cũng là tên núi) thì chỉ viết là A Zin, trong khi thực tế thì núi A Zin người ta
cũng gọi là Hoăn A Zin. Vậy nên cách ghi cũng không thống nhất, dứt khoát
giữa vấn đề tên loại địa danh với chính một địa danh cụ thể. Tương tự là
trường hợp Đắc Xê Lô với Rhin, Re.
Điều này đặt ra nhiều vấn đề mà khoa lý luận địa danh buộc phải giải
quyết:
- Giải quyết vấn đề nhận âm và cách viết (như trường hợp 1).
- Giải quyết vấn đề cách viết cho trường hợp con chữ quốc ngữ không
thể trùng khớp với âm gốc (như trường hợp 2).
- Giải quyết vấn đề thống nhất con chữ trong cùng một âm (trường hợp
3).
- Giải quyết vấn đề phân biệt tên loại địa danh với chính địa danh
(trường hợp 4).
4. Vấn đề các địa danh khác nhau cùng chỉ một đối tượng:
Đây là vấn đề hầu như ít được những nhà nghiên cứu lưu ý; tuy nhiên
trong thực tiễn nghiên cứu địa danh Quảng Ngãi, đây là hiện tượng không
phải hiếm và đặt ra cho người nghiên cứu phải có cách xử lý thích hợp.
+ Phổ biến nhất là các địa danh khác nhau là của các ngôn ngữ khác
nhau cùng chỉ một đối tượng. Mỗi dân tộc tùy theo ngôn ngữ của mình mà
có một địa danh chỉ đối tượng đó.
Ví dụ tên một ngọn núi có ba đỉnh liên tiếp nhau ở Trà Bồng giáp với
Trà My:
- Ca Ghé (như cái vết ghe – tiếng Cor)
- Răng Cưa (như cái răng cưa, tiếng Việt)
- Cứ Xỉ 鋸 齒 (dịch nghĩa từ Răng Cưa, chữ Hán)
- Ngũ Chỉ 五 指 (hình 5 ngón tay, chữ Hán)
+ Các địa danh khác nhau trong một ngôn ngữ cùng chỉ một đối tượng:
chẳng hạn trong tiếng Kinh núi Thiên Ấn còn có tên núi Hó, núi Đầu Voi
còn có tên núi Tranh, núi Quán Lát còn có tên núi Trắng…
Bằng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hệ thống, đề tài góp phần lý
giải những hiện tượng này.
Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khác mà qua thực tiễn nghiên cứu, tác
giả đề tài này đã phát hiện, nhận diện được. Tuy nhiên đề tài này không
-22-
nhằm giải quyết vấn đề lý luận, cho nên những vấn đề như vậy sẽ được nêu
ra trong những trường hợp thích hợp.
-23-
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH Ở QUẢNG NGÃI
-------------------------A. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA ĐỊA DANH
I. Khái niệm địa danh
1. Sơ lược về quá trình hình thành địa danh học:
Cho đến nay, khoa địa danh học đã bắt đầu phát triển khá mạnh trong
nước, thu hút sự chú ý của giới khoa học và công chúng, đồng thời xuất hiện
những công trình nghiên cứu chung về địa danh học cũng như những công
trình nghiên cứu về địa danh cụ thể.
1.1 Trên thế giới, việc chú ý về địa danh đã diễn ra từ rất lâu trong lịch
sử, từ khoảng đầu công nguyên qua các học giả Trung Quốc; người ta ghi
chép các địa danh và đã có sự giải thích lý do gọi tên và quá trình diễn biến
của các địa danh. Còn ở Việt Nam, từ sau khi thoát khỏi một nghìn năm Bắc
thuộc, nền học thuật nước nhà phát triển, trong các bộ sách sử và địa chí đều
có chú ý nhất định đến địa danh trong phần ghi chép về địa lý trong các vùng
của đất nước. Người ta coi đó là thời kỳ phôi thai của địa danh học.
Nhưng địa danh học chỉ được xem chính thức hình thành từ khoảng
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi hàng loạt sách nghiên cứu và từ điển địa
danh ra đời ở Ý, Nga, Pháp, Trung Quốc; như sách Địa danh học của J.J.
Egli (Thụy Sĩ, 1872), Địa danh học của J.W. Nagl (Áo,1903), Nguồn gốc và
sự phát triển địa danh của A. Dauzat (Pháp, 1926), Trung Quốc cổ kim địa
danh đại từ điển (1931)…
Ở Việt Nam, sự hình thành địa danh học có chậm hơn chút ít. Cho đến
khoảng cuối thế kỷ XX, thì khoa địa danh học đã được chú ý với một số
công trình chuyên về địa danh ra đời.
Người ta có thể nghiên cứu địa danh như một khoa học lý thuyết, lý
thuyết chung về khoa học địa danh ứng vào trường hợp địa danh Việt Nam,
đưa ra các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, như các công
trình:
- Địa danh Việt Nam của Nguyễn Văn Âu (NXB Giáo dục, 1993)
- Một số vấn đề về địa danh Việt Nam của Nguyễn Văn Âu (NXB Đại
học Quốc gia, Hà Nội, 2000).
- Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (NXB Lao động, 1996).
- Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược, Trung Hải (NXB Giáo
dục 1998).
- Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh của Lê Trung Hoa
(NXB Khoa học Xã hội, 2002).
- Địa danh học Việt Nam của Lê Trung Hoa (NXB KHXH, 2006).
-24-
Đó là chưa kể các bài báo khoa học trong nước ít nhiều có đề cập đến
những chủ đề tương tự.
Như vậy, lý thuyết về địa danh học và địa danh học Việt Nam đã được
chú ý nghiên cứu, mặc dù chưa phải đã nhiều, nhưng cũng không thể nói là
quá ít. Giới nghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu địa danh như
một ngành trong ngôn ngữ học, hàm chứa rất rõ yếu tố văn hóa trong đó.
Giới nghiên cứu cũng thừa nhận, trong khi ở châu Âu, khoa địa danh học đã
được chú ý từ nhiều thế kỷ trước, thì ở nước ta, chỉ mới được phát triển từ
khoảng cuối thế kỷ XX trở về sau. Ngay cả ở Trung Quốc năm 1931 cũng
từng có công trình Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển (Từ điển lớn về
địa danh xưa nay ở Trung Quốc), do Thương vụ ấn thư quán phát hành, Đài
Bắc). Về địa danh học, các nhà nghiên cứu xác định: Địa danh học
(toponymie) là một ngành nhỏ trong từ vựng học của ngôn ngữ học, chuyên
nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh.
Giới nghiên cứu đã xác định rõ đối tượng nghiên cứu của địa danh học
chính là các địa danh, định nghĩa địa danh, phân loại địa danh, xác lập các
nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, phân tích các phương thức
đặt địa danh, cấu tạo địa danh, cũng như phương pháp xác định nguồn gốc ra
đời, biến đổi, tiêu vong của các địa danh… Điều đó giúp cho người nghiên
cứu, vận dụng để nghiên cứu địa danh của một vùng đất cụ thể.
Tất nhiên không phải tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan
niệm với nhau.
1.2 Ứng dụng lý thuyết địa danh học vào việc nghiên cứu địa danh cụ thể
của các vùng trong nước cũng có một số công trình đã xuất bản, như:
- Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh của Lê Trung Hoa
và Nguyễn Đình Tư (NXB Trẻ, 2003)
- Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết
của Nguyễn Hữu Hiếu (NXB KHXH, Hà Nội, 2004).
- Từ điển Hà Nội: địa danh của Bùi Thiết (NXB Văn hóa Thông tin,
1993).
- Địa danh thành phố Huế của Trần Thanh Tâm, Huỳnh Đình Kết (NXB
Văn hóa Dân tộc, 2001)
- Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng của Nguyễn Đăng Lợi chủ biên
(NXB Hải Phòng, 1999)
- Địa danh văn hóa Việt Nam của Bùi Thiết (NXB Thanh niên, 1999)
- Địa danh tỉnh Quảng Nam: đã hoàn thành sưu tầm, nghiên cứu và xuất
bản.
Địa danh một số tỉnh thành khác trong nước cũng đã, đang hoặc sẽ được
nghiên cứu và xuất bản.
Lược qua tình hình như trên, ta cũng có thể thấy, việc nghiên cứu địa
danh của một vùng đất cụ thể trong nước cũng đã được giới nghiên cứu chú
-25-