Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

NGHIÊN CỨU HOÁ HỌC VÀ NHẬN DẠNG MỘT SỐ NHÓM CHẤT CÓ TRONG CÂY CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA (PHYLLANTHUS URINARIA L., EUPHORBIACEAE)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.07 MB, 55 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------------

NGÔ ĐỨC TRỌNG

NGHIÊN CỨU HOÁ HỌC VÀ NHẬN DẠNG
MỘT SỐ NHÓM CHẤT CÓ TRONG CÂY
CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA (PHYLLANTHUS URINARIA L.,
EUPHORBIACEAE)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------

NGÔ ĐỨC TRỌNG

NGHIÊN CỨU HOÁ HỌC VÀ NHẬN DẠNG
MỘT SỐ NHÓM CHẤT CÓ TRONG CÂY
CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA (PHYLLANTHUS URINARIA L.,
EUPHORBIACEAE)
Chuyên ngành : Hoá hữu cơ
Mã số : 60.44.27

LUẬN V ĂN THẠ C SĨ HOÁ HỌC

LUẬN V ĂN THẠ C SĨ HOÁ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN THỈNH

THÁI NGUYÊN - 2008



THÁI NGUYÊN - 2008


LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS
Phạm Văn Thỉnh - Người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ

liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.

tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Quyết Tiến, TS. Phạm Thị
Hồng Minh, Th.S. Vũ Anh Tuấn, Th.S Hứa Văn Thao những người thầy đã
động viên và giúp đỡ từng bước đi của tôi trong quá trình nghiên cứu thực

Tác giả

hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn phòng hoạt chất sinh học của trường Đại học Y
Thái Nguyên và cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc thành phẩm của Bác sĩ
Hoàng Sầm, phòng nghiên cứu cấu trúc - Viện Hóa học đã tận tình giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành các kế hoạch nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban
lãnh đạo Khoa Hóa, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này.


Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008
Tác giả

Ngô Đức Trọng

NGÔ ĐỨC TRỌNG


DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

SKLM

: Sắc kí lớp mỏng

UV

: Ultraviolet spectrocopy

MS

: Mass Spectroscopy

EI-MS

: Electron Impact Mass Spectroscopy

Bảng 2.2: Phát hiện các nhóm chất trong cây chó đẻ răng cƣa…………………27


LC-MS

: Liqud chromatography - Mass Spectroscopy

Bảng 2.3: Kết quả thử hoạt tính sinh học của dịch chiết thô từ cây chó đẻ răng

FT-IR

: Fourier Transform Infrared Spectroscopy

NMR

: Nuclear Magnetic Resonance

1

: 1H-Nuclear Magnetic Resonance

H-NMR

Bảng 2.1: Khối lƣợng chất tổng số đƣợc chiết từng phân đoạn của cây chó đẻ
răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)…………………………...……….26

cƣa (Phyllanthus urinaria L)…………………...………………...…..29
Bảng 2.4: Số liệu phổ 13C-NMR (CDCl3, 125Mhz) của chất PH-1 trong cây chó
đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)…………………...………...….30

13


: C- Nuclear Magnetic Resonance

Bảng 2.5: Phổ 1H-NMR và 13C-NMR của chất PE-3…………..……………….32

DEPT

: Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer

Bảng 3.1: Số liệu phổ

COSY

: Correlated Spectroscopy

HSQC

: Heteronuclear Spectroscopy- Quantum Coherence

HMBC

: Heteronuclear multiple - Bond Correlation

HIV

: Human Immunodeficiency Virus

đvC

: Đơn vị Cacbon


C-NMR

13

Trang

13

C-NMR (CDCl3, 125Mhz) của PH-1 trong cây chó đẻ

răng cƣa (Phyllanthus urinaria L) và phổ của  -sitosterol [15]….…..40
Bảng 3.2: Số liệu phổ NMR của PE-1 và số liệu phổ NMR trong phần mềm
ACD/NMR của 5-hidroxymetylfufural................................................44
Bảng 3.3: Số liệu phổ NMR của PE-2 và số liệu phổ NMR trong phần mềm
ACD/NMR của axit gallic....................................................................48
Bảng 3.4: Số liệu phổ NMR của PE-3 và số liệu phổ trong phần mềm
ACD/NMR của chất kampherol...........................................................52


DANH MỤC CÁC HÌNH

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn

Hình 1.1: Cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L, Euphorbiaceae............. 3

Lời cam đoan


Hình 2.1: Đƣờng kính vùng ức chế xung quanh giếng thạch (mm) theo phƣơng

Danh mục các chữ viết tắt dùng trong luận văn

phƣơng pháp khuyếch tán trên thạch....................................................28

Danh mục các bảng

Hình 3.1: Phổ FT-IR của -sitosterol (PH-1).......................................................36

Danh mục các hình và sơ đồ

Hình 3.2: Phổ 1H-NMR của -sitosterol (PH-1)..................................................37

MỞ ĐẦU ........................................................................................................1

Hình 3.3: Phổ 13C-NMR và ATP của  -sitosterol (PH-1)....................................38
Hình 3.4: Phổ 1H-NMR-DMSO của PE-1...........................................................42
Hình 3.5: Phổ 13C-NMR-DMSO của PE-1..........................................................43
Hình 3.6: Phổ 1H-NMR-DMSO của PE-2...........................................................46
Hình 3.7: Phổ 13C-NMR-DMSO của PE-2..........................................................47
Hình 3.8: Phổ 1H-NMR-AcetoneD6 của PE-3.....................................................50
Hình 3.9: Phổ 13C-NMR-AcetoneD6 của PE-3....................................................51

CHƢƠNG I. TỔNG QUAN ................................................................................3

1.1. Mô tả thực vật ............................................................................................3
1.2. Tác dụng sinh học của chi Phyllanthus........................................................4
1.2.1 Một số công dụng của chi Phyllanthus ......................................................4

1.2.2 Một số tác dụng dƣợc lý của chi Phyllanthus .............................................5
1.3 Tình hình nghiên cứu hoá học thực vật của chi Phyllanthus ..........................6
1.3.1 Một số đại diện của nhóm tecpenoit ..........................................................6
1.3.2 Một số đại diện của khung axit..................................................................8
1.3.3 Một số đại diện của Lignan .......................................................................9
1.3.4 Một số đại diện của khung flavonoit........................................................11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1.3.5 Một số hợp chất phenolic khác ................................................................12
1.3.6 Một số hợp chất nhóm ankaloit ...............................................................15

Sơ đồ 2.1: Quy trình ngâm chiết mẫu...................................................................26

1.4 Tình hình nghiên cứu hóa học của loài Phyllanthus urinaria L....................16
CHƢƠNG II. THỰC NGHIỆM..........................................................................23

2.1. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................23
2.1.1. Thu mẫu cây, xác định tên khoa học và phƣơng pháp xử lý mẫu..............23
2.1.2. Phƣơng pháp phân lập các hợp chất từ các dịch chiết ..............................23
2.1.3. Phƣơng pháp khảo sát và xác định cấu trúc hoá học các hợp chất ............24


1

MỞ ĐẦU
2.2. Dụng cụ, hoá chất và thiết bị nghiên cứu ...................................................24
2.2.1. Dụng cụ và hoá chất ..............................................................................24
2.2.2. Thiết bị nghiên cứu................................................................................25
2.3. Các dịch chiết từ cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)..................25

2.3.1. Các dịch chiết .......................................................................................25
2.3.2. Khảo sát định tính các dịch chiết ............................................................27
2.3.3. Thử hoạt tính sinh học ...........................................................................27
2.4. Phân lập, tinh chế các chất từ ....................................................................29
2.4.1. Dịch chiết n-hexan ................................................................................29

Từ xưa đến nay, những cây thuốc dân gian vẫn đóng vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người. Từ trước khi có sự ra đời
của thuốc tây, nhiều loài cây cỏ trong tự nhiên đã được sử dụng trong dân
gian để chữa bệnh và rất có hiệu quả. Rất nhiều loại bệnh tật đã được chữa
khỏi nhờ thảo dược.
Ngày nay những hợp chất tự nhiên được phân lập từ cây cỏ đã được
ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp, chúng

2.4.2. Dịch chiết trong etylaxetat (PE) .............................................................31

được dùng để sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, làm nguyên

2.4.2.1 Chất PE-1............................................................................................31

liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm v.v... Mặc dù công nghệ

2.4.2.2 Chất PE-2............................................................................................31

tổng hợp hoá dược ngày nay đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra các biệt dược khác

2.4.2.3 Chất PE-3............................................................................................32

nhau sử dụng trong công tác phòng, chữa bệnh. Điều đó đã góp phần làm tăng


CHƢƠNG III. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................34

tuổi thọ con người, song nhu cầu sử dụng cây cỏ để làm thuốc cũng ngày càng

3.1. Nguyên tắc chung ....................................................................................34

tăng lên, được khoa học hiện đại soi sáng, vì trong chúng có chứa những biệt

3.2. Xác định định tính các nhóm chất thiên nhiên............................................34

dược rất khó tổng hợp. Mặt khác việc dùng thuốc nam hầu như không gây ra

3.3. Phân lập và nhận dạng các hợp chất ..........................................................35

tác dụng phụ.

3.3.1. -sitosterol (PH-1).................................................................................35

Có nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu về cây thuốc ra đời. Việc

3.3.2. 5-Hydroxymetylfufural (PE-1) ...............................................................41

nghiên cứu cây thuốc đã giúp cho chúng ta hiểu rõ về thành phần và cấu trúc

3.3.3. Axit gallic (PE-2) ..................................................................................45

hóa học, hoạt tính sinh học, tác dụng dược lí của cây thuốc. Trên cơ sở các

3.3.4. Kampherol (PE-3) .................................................................................49


nghiên cứu đó có thể tạo ra chất mới có hoạt tính sinh học cao như mong

3.4. Thử hoạt tính sinh học ..............................................................................53
KẾT LUẬN.................................................................................................... 55
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN .... .56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................57
PHỤ LỤC .......................................................................................................62

muốn để làm thuốc chữa bệnh.
Cây chó đẻ răng cưa là một cây thuốc đã được sử dụng từ lâu trên thế
giới cũng như ở Việt Nam. Trong Y học dân tộc cây này được nhân dân dùng
làm thuốc để chữa nhiều loại bệnh như: đau viêm họng, đinh râu, mụn nhọt,
viêm da lở ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, trẻ em tưa lưỡi, chàm má, bệnh
viêm gan,… rất có hiệu quả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2

3

Thực vật chó đẻ răng cưa có nhiều ứng dụng quan trọng nhưng gần đây

CHƢƠNG I

TỔNG QUAN


mới được các nhà khoa học các nước quan tâm chọn làm đối tượng nghiên
cứu, còn ở nước ta hiện có rất ít công trình nghiên cứu về thành phần hóa học
và dược lí học của cây chó đẻ răng cưa.

1.1 Mô tả thực vật

Với mục đích nghiên cứu và tìm hiểu thành phần hóa học các hợp chất
có hoạt tính sinh học của cây chó đẻ răng cưa, góp phần làm tăng thêm sự

Cây chó đẻ răng cưa còn gọi là diệp hạ châu, diệp hoè thái, lão nha châu,
trân châu thảo, cam kiềm, rút đất, khao ham (Tày), prakphle (Campuchia).

hiểu biết về nguồn thực vật làm thuốc phong phú và quý giá của Việt Nam.

Tên khoa học là: Phyllanthus urinaria L, thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae).

Chúng tôi chọn cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) làm đối tượng

Phân bố địa lý: Cây chó đẻ răng cưa phân bố rộng khắp ở các vùng

nghiên cứu cho công trình nghiên cứu này. Tên đề tài là: “Nghiên cứu hóa
học và nhận dạng một số nhóm chất có trong cây chó đẻ răng cưa
(Phyllanthus urinaria L., Euphorbiaceae)”.

nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Ở Việt Nam, cây chó đẻ răng cưa thường thấy mọc tự nhiên ở hầu hết
các tỉnh thành trong cả nước, điển hình như: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nghệ
An, Hà Giang,… Trên thế giới loại cây này mọc nhiều ở các nước Châu Á
như: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Inđonexia, Myanma, Thái
Lan,… Châu Mĩ như: Brazil, Argentina,…[5].


Hình 1.1: Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L, Euphorbiaceae)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




4

5

Đặc điểm sinh trưởng và phát triển:

Một số bài thuốc dùng cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L)

Cây chó đẻ răng cưa là một loại cỏ mọc hàng năm, cao chừng 30 cm,
thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành, thường có màu đỏ hơi tía.
Cây có vị hơi ngọt. Lá mọc so le lưỡng hệ hay có cuống rất ngắn. Hoa
mọc ở kẽ lá, đơn tính, màu đỏ nâu. Hoa đực và hoa cái cùng gốc. Hoa đực ở
đầu cành, hoa cái ở cuối cành. Hoa không có cuống hoặc có cuống rất ngắn.
Quả nang không cuống hình cầu hơi dẹt. Đường kính quả có thể đạt tới 2mm.
Hạt ba cạnh hình trứng màu nâu nhạt có vân ngang [5].

[5], [6]:
Nhân dân ta thường dùng toàn cây hái về làm thuốc, mùa thu hái quanh

năm nhưng tốt nhất là vào mùa hạ. Thường dùng tươi có khi phơi khô, ngày
uống 20-40g cây tươi, sao khô, sắc đặc, uống thay nước.
Chữa suy gan (do sốt rét, sán lá, lỵ amip, ứ mật, nhiễm độc): Chó đẻ
răng cưa sao khô 20g, cam thảo đất sao khô 20g. Sắc nước uống hàng ngày.
Đối với bệnh ngoài da: Cây tươi dã nát với một ít muối đắp ngoài da

1.2. Tác dụng sinh học của chi Phyllanthus

với liều lượng không hạn chế.

1.2.1 Một số công dụng của chi Phyllanthus
Các loài cây thuộc chi Phyllanthus (Euphorbiaceae) được sử dụng
rộng rãi trong y học dân tộc của nhiều nước để chữa bệnh thận, bệnh tiểu

1.2.2 Một số tác dụng dƣợc lý của chi Phyllanthus
Năm 1961, phòng Đông Y Viện Vi trùng Việt Nam, nghiên cứu tác

đường, bệnh viêm gan B…[7]. Các loài được dùng làm thuốc nhiều hơn cả là

dụng kháng sinh của cây chó đẻ răng cưa thấy kết quả tác dụng kháng sinh

3 loài Phyllanthus urinaria L, Phyllanthus niruri L và Phyllanthus amarus

như sau: Tụ cầu trùng (0,5 cm), Typhi (0,9 cm), Flexneri (1,1cm), Sonnei (0

Schum et Thonn [4].

cm), Shiga (1cm), Subtilis (0,4 cm), Coli (0 cm).

Một số bài thuốc dùng cây chó đẻ đắng (Phyllanthus amarus Schum et


Năm 1977, một nhóm bác sĩ Việt Nam, khoa Tiêu hoá, Gan, Mật đã sử
dụng bài thuốc gia truyền của Lương y Trần Xuân Thiện gồm 3 vị là chó đẻ

Thonn) [6]:
Chữa viêm gan do virus: Chó đẻ đắng sao khô 20g, sắc nước 3 lần.

đắng, xuyên tâm liên, quả dành dành để điều trị cho những người có kết quả

Trộn chung các nước sắc. Thêm 50g đường, đun sôi cho tan đường. Chia làm

xét nghiệm HBsAg (+). Sau một thời gian điều trị, kết quả xét nghiệm âm tính

4 lần uống trong ngày. Khi kết quả xét nghiệm HBsAg (-) thì ngừng thuốc.

được coi là khỏi. Tỷ lệ đạt 26/98 bệnh nhân. Ngoài ra, thuốc còn giúp cơ thể

Chữa xơ gan cổ trướng thể năng: Chó đẻ đắng sao khô 100g sắc nước 3
lần. Trộn chung nước sắc, thêm 150g đường, đun sôi cho tan đường, chia
nhiều lần uống trong ngày (thuốc rất đắng), liệu trình 30-40 ngày. Khẩu phần
ăn hàng ngày phải hạn chế muối, tăng đạm (thịt, cá, trứng, đậu phụ).
Riêng cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L) trong y học dân
tộc được nhân dân dùng để chữa đau viêm họng, đinh râu, mụn nhọt, viêm
da, lở ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, trẻ em tưa lưỡi, chàm má, chữa bệnh

trung bình 4-5 tháng [6].
Năm 1988 các tác giả Blunberg và Thiogarajan công bố đã điều trị 37
bệnh nhân viêm gan siêu vi B bằng chó đẻ răng cưa Phyllanthus amarus và
Phyllanthus niruri đạt kết quả âm tính 22/37 bệnh nhân sau 30 ngày. Các tác
giả còn chứng minh Phyllanthus amarus có chứa chất làm ức chế men

pelymerase DNA của virus viêm gan siêu vi B [5].

gan, sốt, rắn rết cắn rất có hiệu quả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

người dùng sản xuất kháng thể chống HBsAg (59/98 người). Liều điều trị



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




6

7

Năm 2002, Nguyễn Bá Kinh và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu

Theo [39], từ loài Phyllanthus oxyphyllus đã tách được: 29-nor-3,4-

lâm sàng tại Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội), đã sử dụng chế phẩm LIV/94

seco-friedelan tritecpen (axit 29-nor-3,4-seco-friedelan-4(23),20(30)-dien-3-

(chó đẻ răng cưa là một trong 3 thành phần chính của thuốc) điều trị cho các

oic) và một secquitecpen mới là guaiane secquitecpen (5-hydroxy-6,9-


bệnh nhân viêm gan mãn tính trong 2 năm (2001-2002) đạt kết quả tốt. Thuốc

epoxyguaiane). Những hợp chất này được đánh giá là có khả năng chống oxi

có tác dụng làm giảm và sạch HBsAg của bệnh nhân [6].

hóa tốt ở nồng độ thử nghiệm IC50 = 0.017 ± 0.001 mM.

Những công trình nghiên cứu hóa học gần đây về các loài Phyllanthus
đã phát hiện một vài lignan, flavonoit và tanin thủy phân có tác dụng bảo vệ
gan, có khả năng làm sạch phần lớn các kháng nguyên HBsAg, ức chế mạnh
HIV transcriptase ngược [21].

O

Các thí nghiệm in vitro của cây chó đẻ với kháng nguyên HBsAg và

HOOC

HO

với tổn thương gan do cacbontetraclorit gây nên đã chứng minh cây chó đẻ có
khả chống virus viêm gan B. Cây chó đẻ răng cưa có tác dụng kháng khuẩn

1. 29-nor-3,4-seco-friedelane tritecpen

2. Guaiane secquitecpen

đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn Coli, Shigella


Từ loài Phyllanthus reticulates đã phân lập được một hợp chất mới là

dysenteriae, S. flexneri, S. shigae, Moraxella và kháng nấm đối với

21α-hydroxyfriedel-4(23)-en-3-one và một vài triterpenoit khác, đã biết đó là:

Aspergillus fumigatus [1].

friedelin, sitosterol, friedelan-3β-ol, glochidonol và 21α-hydroxyfriedelan - 3

1.3 Tình hình nghiên cứu hoá học thực vật của chi Phyllanthus

- on [47].

Cho đến nay người ta đã phát hiện chi Phyllanthus L. họ thầu dầu

Theo tài liệu [46], từ loài Phyllanthus plyanthus ở Châu Phi các tác giả

(Euphorbiaceae) có 700 loài, gồm từ những cây thân thảo đến cây bụi hay cây

đã tìm ra được một số tritecpenoit: phyllanthol, phyllanthone, (20S)-3β-

gỗ nhỏ. Thành phần hoá học của chi này rất phong phú và đa dạng [11]. Ở

acetoxy-24-methylenedammaran-20-ol, δ-amyrin acetate, lupenone và (20S)-

Việt Nam có 44 loài, các loài đáng được chú ý nhiều hơn cả là Phyllanthus

3α-acetoxy-24-methylenedammaran-20-ol.


urinaria L. (chó đẻ răng cưa), Phyllanthus niruri L. (chó đẻ thân xanh) và
HO

Phyllanthus amarus Schum et Thonn (chó đẻ đắng hay diệp hạ châu đắng).

H

1.3.1 Một số đại diện của nhóm tecpenoit

H

Từ loài Phyllanthus flexuosus đã phân lập được 5 tritecpen mới, cấu
trúc được chỉ ra là: olean-12-en-3β,15α-diol; lup-20 (29)-en-3β,24-diol;
olean-12-en-3β,24-diol; oleana-11:13(18)-dien-3β,24-diol và olean-12-en3β,15α,24-triol và hai chất đã biết là: tritecpen diol betulin [33]; lup-20(29)-

H
CH3OCO
H

3. (20S)-3β-acetoxy-24-methylenedammaran-20-ol

en-3β,15α-diol [41].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





8

9

Từ loài Phyllanthus acidus đã tách được hai pentacyclic tritecpenoit, đó
là: phyllanthol và olean-12-en-3β-ol (β-amyrin) [35].

1.3.3 Một số đại diện của Lignan
Trong loài Phyllanthus discoides người ta đã tách được phyllanthin

Từ loài Phyllanthus niruri đã tách được một acyclic tritecpen, cấu trúc
của nó được dự đoán dựa trên các phương pháp phân tích phổ là:

C14H17O2N, phyllantin C13H15O3N [27] và phyllantidin C 13H15O2N [20].
Trong

loài

Phyllanthus

niruri

L



phyllanthin


C 24H34O6,

3,7,11,15,19,23-hexamethyl-2Z,6Z,10Z,14E,18E,22E-tetracoshexen-1-ol [10].

hypophyllanthin C 24H30O7, niranthin C24H30O7 (cấu trúc của niranthin được

Từ loài Phyllanthus watsonii đã tách được hợp chất tritecpen mới: 26-

chỉ ra là (+)3,4,3′,4′,9,9′-hexamethoxy-8:8′-butyrolignan), nirtetralin C24H30O7

Nor-D:A-friedooleanane tritecpen cùng với lupenyl palmitate, friedelin,

và phyllteralin C24H34O6 [8]. Dựa trên các dữ liệu phổ khối lượng và phổ cộng

epifriedelanol, glochidone, glochidonol, lupeol, lup-20(2) [29].

hưởng từ hạt nhân, cấu trúc của nirtetralin và phyltetralin được chỉ ra là 1-

1.3.2 Một số đại diện của khung axit

phenyl tetralins.

Từ loài Phyllanthus amarus đã phân lập được axit thiobarbituric, axit

H

H
RO


CH2OCH3

H3CO

CH2OCH3

H3CO

ascorbic [42]. Từ dịch chiết n-hexan cũng của loài này ở Malaysia đã tách
được axit oleanolic và axit ursolic [16], axit amariinic, axit repandusinic A,

R1O

CH2OCH3

CH2OCH3

H

axit geraniinic B và một chất là 1-O-galloyl-2,4-dehydrohexahydroxydiphe

H

H

R2

noyl -glucopyranozơ elaeocarpusin [26].
OCH3


Từ loài Phyllanthus emblica đã tách được axit phyllaemblic [52], axit
ascorbic [23].
Từ loài Phyllanthus fraternus đã tách được axit indole-3-butyric, axit 1naphthaleneacetic [31] và axit trichadenic B có cấu trúc như axit 3β-hydroxyD: A-friedooleanan-27-oic, được xác định dựa vào phương pháp phân tích X-

OCH3

O

OCH3

O

5

6

5a. Phyllanthin R= R 1 =CH3, R2 =H

Hypophyllantin

5b. Niranthin R+R1= -CH2 -R2 = OCH3

ray [38].

H
H

CH2OCH3

CH2OCH3


O
HOOC

O
H

CH2OCH3
H

H

HO

H3CO

CH2OCH3
H
OCH3

H

OCH3

OCH3
OCH3

4. Axit trichadenic B

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


7. Nirtetralin



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

OCH3

8. Phyllteralin




10

11

Cũng từ phần dịch chiết n-hexan của loài này, người ta đã tách được

1.3.4 Một số đại diện của khung flavonoit
Từ dịch chiết etanol loài Phyllanthus emblica L đã phân lập được quecxetin

triacontanal và triacontanol [40].
Các chất hypophyllanthin, phyllanthin cũng được phân lập trong cặn

và catechin. Đây là hai chất có hoạt tính chống oxi hóa tốt [49].

n-hexan bằng phương pháp sắc kí lỏng trung áp (MPLC) từ loài Phyllanthus
niruri L ở vùng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh nước ta [4], đây là hai lignan


OH
HO

HO

O

O

đã được chứng minh là có hoạt tính bảo vệ gan trên mô hình gây độc tế bào
gan bằng CCl4 và D- GalN/ TNF- [3], [45].

OH

OH

Theo tài liệu [34], từ loài Phyllanthus niruri đã tách được 4

OH

diarylbutane lignan mới, chúng được coi là sản phẩm chuyển hóa thuộc hệ
chuyển hóa từ axit veratrylidene piperonylidene succinic, (10a) được chuyển
hóa từ axit veratrylidene 3,4,5-trimethoxy benzylidene succinic và (10b) được
chuyển hoá từ (10a).

OH

OH


O

11. Quecxetin

thống 5′ -desmethoxy niranthin. Trong đó hai chất (9a) và (9b) là sản phẩm

OH

*
*

OH

12. Catechin

Cũng về vấn đề nghiên cứu khả năng chống oxi hóa, các nhà khoa học đã
khảo sát khả năng này từ dịch chiết methanol của 5 loài phyllanthus đặc biệt từ
Ấn Độ là: Phyllanthus debilis, Phyllanthus debilis, Phyllanthus urinaria,
Phyllanthus virgatus, Phyllanthus maderaspatensis, Phyllanthus amarus. Tất

O

CH2OR

RO

CH2OMe

CH2OR


RO

CH2OMe

cả các dịch chiết này đều cho kết quả tốt [22].
Từ loài Phyllanthus sellowianus đã phân lập được rutin và isoquercitrin

O

là hai flavonoit chiếm thành phần chủ yếu trong cây này [19].

OMe

OMe
OMe

OH

OMe
OMe

HO

O
OH

9a. R=H; 9b. R=CH3

HO


OH

O

10a. R=H; 10b. R=CH3
OH

Từ loài Phyllanthus polyphyllus L đã tách được các lignan là
arylnaphthalide, phyllamyricin C, justicidin B và diphyllin [51].
Từ loài Phyllanthus anisolobus đã tách được ichtyotoxic lignan justicidin B

O -Ramnozo -glucozo
OH

O

13. Rutin

OH

O

14. isoquercitrin

Theo tài liệu [36], từ loài Phyllanthus niruri đã tách được 2 flavanon:

và lignan-glucozit phyllanthostatin A [43].

8-(3-metyl-but-2-enyl)-2-phenyl chroman-4-on (15) và 2-(4-hydroxyphenyl)-


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




12

13

8-(3-metyl-but-2-enyl)-chroman-4-on (16). Hai chất trên được các tác giả
nhận định là có khả năng làm thuốc chữa bệnh Gút (Gout) và bệnh thận.

Từ loài Phyllanthus amarus đã tách được axit shikimic (3- and 5-O-gallat),
flavan-3-ol (epigallocatechin 3-gallat), proanthocyanidin và hydrolysable tannin
(corilagin, casuariin, geraniin) [17], [14].
OH

3''
3'

2''

1''

7


2'

3'

4'

8

6

8a

1'
2

4a

4

2''

1''

1
O

OH

3''


6'

5

7

4'

1

5'

3

2'

8

6

8a

1'

O

2
4a

4


COOH

OH

HO

OH

O
HO

OH

O

OH

16

C

OH

O

15

OH


6'

3

5
O

O

5'

OH

OH

17. Axit shikimic

18. Epigallocatechin-3-gallat

1.3.5 Một số hợp chất phenolic khác
là: axit gallic, axit ellagic, ellagitannin, (−)-epicatechin, (+)-gallocatechin, (−)epigallocatechin, (−)-epicatechin 3-O-gallat và (−)-epigallocatechin 3-O-gallat
[28]. Hợp chất ellagitannin cũng được tách từ loài Phyllanthus amarus [26].

OH HO

HO

Từ loài Phyllanthus niruri Linn đã tách được một số hợp chất phenolic
HO


OH
OH
OC

O

Các tác giả Đài Loan đã phân lập và nhận dạng một số hợp chất

trong metanol và sau đó được chiết lần lượt với etyl ete, etyl axetat, butanol
và nước. Phân đoạn etyl axetat cho thấy có hàm lượng lớn nhất của hợp chất

CO
O

O

O

phenolic và nghiên cứu hoạt tính chống oxi hóa của các chúng từ loài
phyllanthus emblica L [50]. Nguyên liệu sau khi làm khô được ngâm chiết

OH

C

OH

O
OH


OH

OH

19. Proanthocyanidins

1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) so với cả bốn phân đoạn. Phân đoạn

Theo L.Yeap Foo, Herbert Wong [24], cũng từ loài này đã tách được

etyl axetat được tách bằng sephadex và thu được 6 hợp chất, chúng được nhận

một sản phẩm từ tannin thủy phân (hay ellagitannin đặc biệt) đó là

dạng là: geraniin, quercetin-3-β-D-glucopyranozit, kaempferol 3-β-D-

phyllanthusiin D có cấu trúc được xác định là: 1-galloyl-2,4-(acetonyl-

glucopyranozit, isocorilagin, quercetin , và kaempferol. Một số hợp chất trên
lần đầu tiên được tách từ loài Phyllanthus emblica. Các hợp chất đã tách,
được làm sạch và đem khảo sát khả năng chống oxi hóa. Kết quả cho thấy
trong số 6 chất trên thì geraniin là chất có khả năng chống oxi hóa tốt nhất (ở
nồng độ IC50 = 4.7 và 65.7 μM, thử nghiệm sự oxi hóa lipit).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



dehydrohexahydroxydiphenoyl) -3,6-hexahydroxydiphenoylglucopyranozit.
Theo tài liệu [25] cũng từ loài này đã tách được amariin, là một sản phẩm
thủy phân của di-dehydrohexahydroxydiphenoyl (DHHDP), cấu trúc của nó

được xác định là 1-galloyl-2,4: 3,6-bis-DHHDP-glucopyranosit trong đó phần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




14

15

vòng cyclohexenetrione của DHHDP liên kết với nguyên tử O-3 và O-4 của
phần đường glucozơ, cùng với: geraniin, corilagin, 1,6-digalloylglucopyranozit
cũng như rutin và quercetin-3-O-glucopyranozit đã được phân lập từ
Phyllanthus amarus.

OH
HO

HO

Cũng từ loài này tách được axit amariinic - là một dạng ellagitannin cùng
với 1-O-galloyl-2,4-dehydrohexahydroxydiphenoyl-glucopyranozơ elaeocarpusin,
axit repandusinic A và axit geraniinic B [26]. Cấu trúc của axit amariinic đã
được chứng minh bằng chất oxi hóa mở phần vòng cyclohexentrione của
DHHDP được gắn vào O-4 của phần đường glucozơ.

OCH2CH3

O

O

O

O

21. 5,7,8 - trihidroxi-9,10- peoxi- 4- ethoxy benzo[2,3-d] coumarin
Hoạt tính chống oxy hóa của 5,7,8 – trihidroxi-9,10- peoxi- 4- ethoxy
benzo[2,3-d] coumarin cùng với quercetin làm đối chứng đã được thử bằng
phương pháp Potterat trong cùng một điều kiện. Cho thấy chất này thể hiện

Từ loài Phyllanthus polyphyllus L ở Đài Loan, Yew-Min Tzeng và các

hoạt tính chống oxy hóa yếu hơn so với quercetin (ở nồng độ 25 mg/l vẫn còn

cộng sự đã tách được benzenoit, axit 4-O-methylgallic [51], hợp chất này chủ

phản ứng dương tính) [4].

yếu được tạo thành từ sự chuyển hóa axit gallic và nó có nhiều trong rượu

1.3.6 Một số hợp chất nhóm ankaloit

vang đỏ, chè, trong nhiều loại trái cây. Cũng từ loài này đã tách được 3
arylnaphthalide lignan có tên là: phyllamyricin C, justicidin B và diphyllin.
Từ phần dịch chiết etylaxetat của loài Phyllanthus niruri L, ở Vùng
Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh đã phân lập được hai chất là: 2,4,6-

Từ loài Phyllanthus amarus đã tách được 2 ankaloit mới là isobubbialine
và epibubbialine cùng với 3 ankaloit đã biết là phyllanthine, securinine và

norsecurinine. Cấu trúc của chúng được xác định trên cơ sở phân tích các dữ
liệu phổ UV, IR, phổ khối lượng và phổ NMR [30].

xyclohepta-trien-2,3,7-trihydroxy-5-ethoxy-1-on (20) và 5,7,8 – trihidroxi-

Từ loài Phyllanthus niruroides ở bang Florida nước Mĩ các tác giả:

9,10- peoxi- 4- ethoxy benzo[2,3-d] coumarin (21), hai chất này cho đến nay

Babady-Bila, Thomas E. Gedris và Werner Herz, đã phân lập được một hợp

chưa thấy thông báo có mặt trong các loài Phyllanthus [4].
HO

chất mới thuộc nhóm ankaloit là niruroidine, cấu trúc của nó được làm sáng tỏ
dựa trên các phương pháp phổ [9].
Từ loài Phyllanthus simplex lần đầu tiên đã phân lập được một ankaloit là

O

simplexine (14-hydroxy-4-methoxy-13,14-dihydronorsecurinine) và một ankaloit

O - CH2 -CH3

đã biết là phyllanthine [32]. Chất này đã và đang được sử dụng làm thuốc Tây Y

HO

dạng viên nén (sản phẩm có tên là simplexin), phổ biến trên thị trường.


OH

Ngoài những nhóm hợp chất trên, từ loài Phyllanthus anisolobus đã
20. 2,4,6- xyclohepta-trien-2,3,7-trihydroxy-5-ethoxy-1-on

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



tách được hai γ -lacton: menisdaurilide và aquilegiolide [43].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




16

17

1.4 Tình hình nghiên cứu hóa học của loài Phyllanthus urinaria L
Từ loài Phyllanthus urinaria L. đã tách được một số triterpen như:

HO

O

stigmasterol, daucosterol, sigmasterol-3-O-  -glucosid,  -sitosterol, glucosid,
HO


OH

lupeol acetat,  -amyrin, lup-20 (29)-en-3  -ol [5], [53]. Chất
 -sitosterol cũng được phân lập từ dịch chiết n-hexan của loài Phyllanthus

H3CO

26. Axit ferulic

niruri L. ở tỉnh Bắc Ninh nước ta [4]. Cấu trúc một số hợp chất điển hình đã
được xác định như sau:

Gần đây, cũng từ loài cây này, nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đã
phân lập được 5 hợp chất, đó là: ester mono-[2-(4-carboxy-phenoxycarbonyl)vinyl]

terephthalat,

axit

(E)-3-(5’-hydroperoxy-2,2’-dihydroxy[1,1’-

biphenyl]-4-yl)-2-propenoic, axit 3,4,5-trihydroxybenzoic, axit succinnic (hay
axit butanedioic) và axit 2,3,4,5,6-pentahydroxybenzoic . Trong đó 25 và 26
là hai hợp chất mới, lần đầu tiên được phân lập từ loài Phyllanthus urinaria L
[48].

glucozo- O

HO


22.  -Amyrin

23. Glucosid
O

O

O
O

O
OH

HO
O

27
H3C

HO

HO

24.  -Sitosterol

O

HO

O


HO

OH

25. Stigmasterol
28

Từ loài Phyllanthus urinaria L đã tách được một số axit hữu cơ như:
Axit succinic, axit ferulic, axit dotriancontanic, axit hecxacosanoic [11], [53].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Từ loài Phyllanthus urinaria L đã phân lập được 4 lignan mới


5-demethoxyniranthin

(29a.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

C 23 H30 O 6 ),

urinatetralin

(30a.





18

19

C 22 H24 O 6 ), dextrobursehernin (31a. C21H22O6), urinaligran (32. C22H24O7) ,

MeO

O

OMe

cùng với 9 lignan đã biết là: phyllanthin (29b), niranthin (33), phyltetralin (30b),

OMe
OMe

OMe
O

O

hypophyllanthin (34), nitetralin (35), lintetralin (36), isolintetralin (37),

O

OMe


heliobuphthalminlactone (31b) và virgatusin (38) [12].
OMe

OMe

R1O

R1O

OMe

OMe

OMe

OMe

OMe

OMe
R2O

33

34

R2O
MeO


O
OMe

OMe

OMe

OMe

O

MeO

OR1

OMe

OMe

OR2

OMe

OMe

29a. R1 + R2 = CH2

30a. R1 + R2 = CH2

29b. R1 = R2 =Me


30b. R1 = R2 =Me

35
OMe

O

36

O
OMe

MeO

R1O

O
O

OMe

OMe

O

O

MeO


O

R2O

OMe

O
O

OMe

O
O
O

31a. R1 = R2 =Me

O

O

OMe

O
OMe

32

31b. R1 + R2 = CH2


37

O

OMe

38

Cũng từ loài Phyllanthus urinaria L Zhang L. Z. và cộng sự đã tách
được một chất mới là ellagitannin [54].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




20

21

Riêng loài Phyllanthus urinaria L được thu hái ở huyện Đô Lương,
Nghệ An -Việt Nam các nhà khoa học Việt nam lần đầu tiên đã phân lập
được 4’-methoxyscu tellarein. Chất này lần đầu tiên được phân lập từ cây

Chất methyl brevifolin cacboxylat cũng được tách bằng phương pháp sắc
kí cột từ dịch chiết n-butanol của cây này ở huyện Đô Lương, Nghệ An [7].

Theo tài liệu [37], từ loài Phyllanthus urinaria L ở Đài Loan đã
tìm được các hợp chất sau: phyllanthin (42), phyltetralin (43), trimetyl-

Stachys. annua [7].

3,4-dehydrochebulate (44), metylgallat (45), rhamnocitrin (46), methyl
brevifolincarboxylat (47), β-sitosterol-3-O-β-d-glucopyranosid (48),

OCH3

HO

quercitrin (49)và rutin (50).

O

HO

H3C
OH

O

Đài Loan đã tách được geraniin và 1,3,4,6-tetra-O-galloyl-β-D-glucozơ [13].
Các thí nghiệm in vitro đã chỉ ra hai chất này có hoạt tính chống lại vi rút
bệnh mụn rộp ngoài da và không gây độc.
Từ loài này người ta còn tách được axit ellagic, axit 3, 3’,4- triO- methylellagic, axit gallic , 4-O-brevifolincarbonyl-1-O-galloyl-3,6O-hexahydroxydiphenoyl-D- glucopyranozơ, methyl brevifolincarboxylate
[5], [53].

4'


3

5

C

OH

O

4

OH

6'
5'

OH

46. Rhamnocitrin (hay kampferol-7-methylete)
Cấu trúc các hợp chất (44) và (47) được xác minh bằng phương pháp
phổ khối lượng và phổ cộng hưởng từ. Các hợp chất trên đã được nghiên cứu
một cách kĩ lưỡng về khả năng chống oxi hóa và khả năng làm thuốc kháng
viêm. Các chất (44), (45) và (47) có khả năng chống oxi hóa tốt (ở IC50 = 9.4,
9.8 và 8.9 μM, các lần thử nghiệm riêng rẽ). Còn trong các thí nghiệm in vitro

năng kháng viêm của loài Phyllanthus urinaria và do đó các chất đã được

HO


O

O

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1'

tính kháng viêm cao. Tài liệu này lần đầu tiên thông báo thử nghiệm về khả

O
OH

COOH

40. Axit gallic

3'

khác về hoạt tính kháng viêm thì ngoại trừ (48), các chất còn lại đều có hoạt

OCH3

OH

2

10


6

Từ dịch chiết axeton của loài Phyllanthus urinaria L các nhà khoa học

OH

9

O

7

39. 4’-methoxyscutellarein

HO

2'

1

8

O

HO

phân lập từ cây Phyllanthus urinaria có thể được sử dụng làm thuốc kháng
viêm trong điều trị.
Từ loài Phyllanthus urinaria L đã tách được phyllurine (51) [44], cấu


O

41. Methyl brevifolincarboxylate



trúc của phyllurine như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




22
OH

23
CHƢƠNG II

NH2

+

THỰC NGHIỆM

NH2

2.1. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1.1. Thu mẫu cây, xác định tên khoa học và phương pháp xử lý mẫu
Nguyên liệu để nghiên cứu gồm toàn bộ phần trên mặt đất của cây chó


COO-

đẻ răng cưa, thu hái vào tháng 11 năm 2007 tại vùng giáp ranh giữa Huyện

51. Phyllurine

Đồng Hỷ và Thành Phố Thái Nguyên.
Chất này (51) được nhận dạng là tương tự như phyllanthurinolacton

Cây chó đẻ răng cưa còn gọi là cây diệp hạ châu, dân địa phương gọi là

(52). Trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất giả thuyết có sự chuyển hóa qua lại

diệp hòe thái, các nhà khoa học ở khoa Sinh trường ĐHSP Thái Nguyên xác

giữa (51) và (52).

định tên khoa học là “Phyllanthus urinaria L.”. Họ thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mẫu cây tươi sau khi thu hái gồm cả thân, lá và quả được đem sấy ở

Theo tài liệu [18], từ loài này đã phân lập được phyllanthurinolacton
0

80 C trong 10 phút để diệt men, sau đó sấy khô ở nhiệt độ 60 0C cho tới khi

(52), cấu trúc của nó như sau:

khô hoàn toàn. Mẫu khô được nghiền nhỏ và ngâm chiết trong etanol 90 o ở
CH2


O

H

nhiệt độ phòng nhiều lần, liên tục trong 10 ngày.

N

5 OH
O
H2N

O

O

Sau khi cất loại dung môi, cặn cô đến dưới dạng xirô được chiết lần

NH

lượt bằng các loại dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexan, etylaxetat, n-

O
HO

O

butanol, metanol. Các dịch chiết được đuổi kiệt dung môi bằng thiết bị cất


OH

quay ở nhiệt độ 500C dưới áp suất thấp. Các cặn thô được phân chia bằng sắc
O

kí cột với các hệ dung môi rửa giải có độ phân cực tăng dần để phân lập các
chất có độ phân cực gần giống nhau, kết tinh phân đoạn và kết tinh lại trong

O

52. Phyllanthurinolacton

hệ dung môi thích hợp để thu được các chất sạch .
2.1.2. Phương pháp phân lập các hợp chất từ các dịch chiết
Để phát hiện, phân lập được những hợp chất sạch từ các dịch thô khác
nhau của cây chó đẻ răng cưa chúng tôi đã phối hợp sử dụng các phương pháp
sắc kí và kết tinh lại trong dung môi thích hợp các phương pháp gồm:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




24

25


- Sắc kí lớp mỏng (SKLM).

Các bản SKLM sau khi sấy khô được soi dưới đèn tử ngoại (UV-

- Sắc kí cột silicagen, thường dùng silicagen Merck 63- 200nm.

BIOBLOCK) ở bước sóng  = 254nm và 365nm. Thuốc thử để hiện màu là

- Kết tinh phân đoạn và kết tinh lại.

vanilin 1% trong dung dịch metanol-H2SO4 5%, sau đó sấy trên 1000C .

2.1.3. Phương pháp khảo sát và xác định cấu trúc hoá học các hợp chất
Các chất kết tinh phân lập ra được xác định những hằng số vật lý đặc

Các giá trị Rf trong hệ dung môi triển khai có biểu thức:
Rf =

chiều dài di chuyển của chất thử
chiều dài di chuyển của dung môi

trưng: màu sắc, mùi vị, hệ số Rf, điểm nóng chảy, ghi các loại phổ như: phổ
hồng ngoại (FT-IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 H- NMR, phổ 13C- NMR,
phổ khối lượng (MS) và các phổ phân giải cao. Các số liệu phổ thực nghiệm
của các chất sạch được dùng để nhận dạng cấu trúc hoá học của chúng.

2.2.2. Thiết bị nghiên cứu
- Nhiệt độ nóng chảy đo trên máy Boetus (Đức), hoặc trên máy
Eletronthermal IA–9200.


2.2. Dụng cụ, hoá chất và thiết bị nghiên cứu

- Phổ hồng ngoại ghi trên máy IMPACT - 410 dạng viên nén KBr.

2.2.1. Dụng cụ và hoá chất

- Phổ LC/MS ghi trên máy ESI-LC/MS 1100 MSD Trap spectrometer.

Các loại dung môi dùng để ngâm chiết mẫu là các loại tinh khiết (pure),
còn các loại dung môi dùng để sắc kí cột, sắc kí lớp mỏng, dùng để kết tinh

- Phổ khối ghi trên máy MS-Engine-5989-HP ion hoá bằng va chạm eletron
(EI- MS) 70ev và sử dụng ngân hàng dữ liệu DATABASE/WILLEY 250L.
- Phổ 1H-NMR và 13C-NMR ghi trên máy Bruker 500MHz, nội chuẩn

lại là hoá chất loại tinh khiết phân tích (PA).
Sắc kí lớp mỏng dùng bản mỏng đế nhôm DC – Alufolien Kiesegel 60
F254 tráng sẵn, độ dày 0,2mm được sử dụng để xác định sơ bộ số thành phần
có trong các dich chiết, các phân đoạn chạy cột và kiểm tra sơ bộ độ sạch của
sản phẩm thu được.

TMS, dung môi CDCl3, DMSO, aceton-D6.
2.3. Các dịch chiết từ cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)
2.3.1. Các dịch chiết
Toàn bộ phần trên mặt đất của cây chó đẻ răng cưa đã phơi khô, nghiền
nhỏ được ngâm chiết kiệt bằng etanol ở nhiệt độ phòng cho đến khi thu được

Các hệ dung môi khai triển SKLM:


dịch không màu. Dịch chiết được cất loại hết dung môi ở áp suất giảm đến

1. n-Hexan – CHCl3

85:15

Hệ A

dạng cao khô, xác định khối lượng cặn khô, sau đó thêm nước vào cặn và lần

2. Cloroform – etylaxetat

90:10

Hệ B

lượt chiết với các loại dung môi: n-hexan, etylaxetat, đuổi hết nước và chiết

3. Cloroform – metanol

90:10

Hệ C

bằng butanol, tiếp tục đuổi hết nước và chiết bằng metanol.

4. Cloroform – metanol

50:10


Hệ D

5. Toluen – etylaxetat – axit formic

5:4:1

Hệ E

Các dịch chiết nói trên được làm khan bằng Na2SO4, lọc và cất kiệt
dung môi bằng cô quay dưới áp suất giảm ở nhiệt độ ≤ 50 0 C. Cặn được sấy
khô và cân để xác định trọng lượng. Như vậy từ toàn bộ phần trên mặt đất của
cây chó đẻ răng cưa đã thu nhận được 4 phân đoạn là n-hexan, etylaxetat,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




26

27

butanol và metanol với các ký hiệu tương ứng là: cặn trong n-hexan (PH), cặn

2.3.2. Khảo sát định tính các dịch chiết


trong etylaxetat (PE), cặn trong butanol (PB) và cặn trong metanol (PM).

Trên cơ sở dùng các thuốc thử đặc hiệu để phát hiện các nhóm hợp
chất thiên nhiên có hoạt tính sinh lý cao trong thực vật [2] chúng tôi thu

Sơ đồ 2.1: Quy trình ngâm chiết mẫu

được kết quả thử định tính với các nhóm chất, kết quả ấy được chỉ ra ở
bảng 2.2:

MẪU KHÔ

Bảng 2.2: Phát hiện các nhóm chất trong cây chó đẻ răng cƣa

1. Etanol
2. Cặn trong nước
n-Hexan
Cặn n-Hexan
(PH)

EtOAc
Cặn EtOAc
(PE)

BuOH
Cặn BuOH
(PB)

MeOH
Cặn MeOH

(PM)

1

Đường khử

Felinh

Cho kết tủa màu đỏ gạch

++

2

Ankaloit

Dragendorf

Màu vàng da cam

+

3

Steroit

Màu xanh vàng

++


4

Flavonoit

Xianidin

Từ hồng đến đỏ

++

5

Polifenol

FeCl3

Xanh thẫm

++

6

Cumarin

Axit và kiềm

Kết tủa bông

++


7

Glycozit tim

Kelle-Kiliani

Không có hiện tượng gì

-

8

Saponin

Tạo bọt

Bọt bền trong axit

++

PE-3

PE-2

Bảng 2.1: Khối lƣợng chất tổng số đƣợc chiết từng phân đoạn của
cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)
Khối lƣợng

302,05


37,01

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24,95

26,14

Ghi chú: Dấu (+): Phản ứng dương tính, (++): Phản ứng dương tính

2.3.3. Thử hoạt tính sinh học

nguyên liệu khô cặn cồn tổng n-Hexan Etylaxetat n-Butanol Metanol
số (g)
(g)
1230

Liberman-Bourchard

quả

rất rõ; (-): Không có.

Khối lƣợng cặn chiết (g)

Khối lƣợng

đặc hiệu

Hiện tƣợng


Kết

Nhóm chất

PH-1

PE-1

Thuốc thử

STT

Thử hoạt tính vi sinh vật kiểm định.
Thử định tính theo phương pháp khuyếch tán trên thạch, sử dụng
khoang giấy lọc tẩm chất thử theo nồng độ tiêu chuẩn.

50,28



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




28

29


Các chủng vi sinh vật gồm đại diện các nhóm:
* Vi khuẩn Gr(-) Escherichia coli
* Vi khuẩn Gr(+) Staphylococcus auresu
* Vi khuẩn: Salmonella typhi
Chúng tôi đã tiến hành thử các ứng dụng làm thực phẩm chức năng của
dịch chiết cây chó đẻ răng cưa tại Cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc thành
phẩm, thực phẩm chức năng Y học cổ truyền Thái Nguyên.
Tiến hành kiểm tra hoạt tính kháng khuẩn của dược liệu tại bộ môn Vi
Sinh trường Đại học Y Thái Nguyên.
Kết quả thực nghiệm thu được (xem hình 2.1).
Bảng 2.3: Kết quả thử hoạt tính sinh học của dịch chiết thô từ cây
chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)
Đƣờng kính vùng ức chế xung quanh giếng thạch (mm)
Dịch chiết
Staphylococcusauresu

E.coli

Salmonella typhi

Cặn nước

34

23

40

Cặn EtOAc


29

18

32

2.4. Phân lập, tinh chế các chất từ cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus
urinaria L)
2.4.1. Dịch chiết n-hexan
Từ 2g cặn dịch n-hexan của toàn bộ phần trên mặt đất của cây chó đẻ
răng cưa. Kí hiệu (PH) được tiến hành phân lập các chất trên sắc kí cột
silicagel. Hệ dung môi rửa giải là n-hexan : etylaxetat với tỷ lệ theo độ tăng
dần của dung môi phân cực từ 0 đến 100% etylaxetat, kiểm tra các phân đoạn
Hình 2.1: Đƣờng kính vùng ức chế xung quanh giếng thạch (mm)
theo phƣơng pháp khuyếch tán trên thạch

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



bằng sắc kí lớp mỏng, các phân đoạn giống nhau đem gộp lại và cất loại dung
môi đã thu được chất sạch.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




30


31

* Chất PH-1 (β-Sitosterol)
Tiến hành phân chia nhờ sắc kí cột bằng hệ dung môi n-hexan etylaxetat (9:1). Sau khi cất loại dung môi, cặn thu được kiểm tra bằng sắc kí
lớp mỏng trong hệ dung môi A, phát hiện nó bằng vanilin 1% trong dung dịch
metanol-H2SO4 5%, kết tinh lại trong n-hexan thu được 19 mg chất rắn, có
nhiệt độ nóng chảy ở 139-1410C, Rf = 0,72 (trong hệ dung môi A).
Tiến hành đo phổ chất PH-1 thu được các thông tin phổ như sau:
Phổ FT-IR (KBr);  (cm-1): Ở  max = 3450 (cm-1) cho một vân hấp thụ
rộng (H32,C3); một vân hấp thụ ở 3010- 1650 (cm-1) (liên kết đôi).
Phổ EI-MS; m/z(%): 414 [M+] (20); 413[M-H]+(41); 398(28);
397(100); 395(32); 383(11); 361(11); 257(3); 255(6,3); 151(5,6); 139(11).
Phổ 1H-NMR (500MHz, CDCl3);  (ppm): 0,68 ppm (3H, s, CH3-18);
1,01 ppm (3H, s, CH3-19); 0,81 ppm (3H, d, j 7Hz, CH3-26); 0,88 ppm (3H, d, j
7Hz, CH3-27); 0,83 ppm (3H, t, 7,32Hz, CH3-29); 0,92 ppm (3H, d, j 10Hz,
CH3-21); 3,52 ppm (1H, m, H-3); 5,42 ppm (1H, d, j 5Hz,H-6). Phổ

13

C-

NMR (500MHz, CDCl3);  (ppm): Xem bảng 2.4.
Bảng 2.4: Số liệu phổ 13C-NMR (CDCl3, 125Mhz) của chất PH-1
trong cây chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L)
STT
của C
1
2
3
4

5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

13

C-NMR (δ-ppm)

37,2
31,7
71,8
42,3
140,8
121,7
31,9
31,9
50,1
36,5
21,1
39,8
42,3
56,8

24,3

t
t
d
t
s
d
t
d
d
s
t
t
s
d
t

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

STT
của C
16
17
18
19
20
21
22
23

24
25
26
27
28
29
-

13

Từ 5g cặn chiết etylaxetat của cây chó đẻ răng cưa (ký hiệu PE) được
tiến hành tách các chất trên sắc kí cột silicagel, rửa giải cột sắc kí bằng hệ
dung môi cloroform : metanol có tỷ lệ theo độ tăng dần của dung môi phân
cực, từ 0-100% metanol, kiểm tra các phân đoạn trên sắc kí lớp mỏng, thuốc
thử phát hiện (FeCl3 + K3[Fe(CN)6]) 1% sau đó gộp các phân đoạn giống
nhau, đuổi hết dung môi và kết tinh lại thu được 3 cặn thô. Tinh chế hai cặn
đầu thu được hai chất: PE-1và PE-2. Cặn thứ ba được tách tiếp bằng hệ dung
môi toluen : etylaxetat : axit formic (5:4:1) thu được chất PE-3.
2.4.2.1 Chất PE-1(5-hidroxymetylfurfural)
Rửa giải cột bằng hệ dung môi cloroform : metanol (90:10). Những phân
đoạn có cùng Rf =0,8 trong hệ dung môi C được gộp lại, thu được cặn thô. Tinh
chế lại cặn này trong CHCl3 thu được 8 mg một chất dầu sệt mầu nâu.
Tiến hành đo phổ chất PE-1 thu được các thông tin phổ như sau:
Phổ LC- MS; m/z(%): Cho pic M+ = 126,8.
Phổ 1H-NMR (500MHz, DMSO);  (ppm): δ H = 7,48 ppm (1H,d, CH-3);
δ H= 4,50 ppm (2H, d, CH 2 -6); δ H= 6,60 ppm (1H,d, J=3,6 Hz, CH-4);

C-NMR (δ-ppm)

28,3

56,2
11,9
19,4
36,2
18,8
33,9
26,1
45,8
29,2
19,1
19,4
23,1
11,9
-

2.4.2 Dịch chiết etylaxetat (PE)

t
d
q
q
d
q
t
t
d
d
q
d
t

q
-



δ H= 9,54 ppm (1H,s,CHO-1).
Phổ 13C- NMR (500MHz, DMSO);  (ppm): Cho các pic ở δC = 177,91 ppm (C1);
δ C = 151,70 ppm (C 2 ); δ C = 124,33 ppm (C 3 ); δ C =109,62 ppm (C 4 );
δ C = 162,13 ppm (C5); δ C = 55,89 ppm (C6).
2.4.2.2 Chất PE-2 (axit gallic)
Chất PE-2 cũng được tách từ cặn etylaxetat. Những phân đoạn tiếp theo
giống nhau có cùng R f = 0,7 (trong hệ dung môi C) được gộp lại, đem cất đuổi
dung môi thu được một chất rắn kết tinh. Tinh chế lại bằng cloroform thu
được 40 mg tinh thể hình kim màu vàng có nhiệt độ nóng chảy ở 249-250oC.
Phổ 1H-NMR (500MHz, DMSO);  (ppm): Cho một pic ở 6,91ppm.
Phổ 13C-NMR (500MHz, DMSO);  (ppm): δ C = 120,48 ppm (C1);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




32

33

δ C = 108,73 ppm (C 2 và C6); δ C = 145,40 ppm (C 3 và C5); δ C = 137,98 ppm
(C4); δ C = 167,46 ppm (C7).

4


176,58

__

2/

130,44

5

157,78

__

3/

116,32

6

99,17

4/

160,16

7

164,98


5/

116,32

8

94,49

6/

130,44

9

162,30

__

__

2.4.2.3 Chất PE-3 (Kampherol)
Sau khi rửa giải cột bằng hệ cloroform : metanol (90:10) thu được hai

8,15 (1H,dd,
J=8,2; 2,2)
7,01(1H,dd,
J=8,2;2,2)

chất PE-1 và PE-2. Tiếp tục rửa giải cột bằng hệ dung môi chloroform :
metanol (50:10), thu được một một hỗn hợp có màu vàng có cùng R f = 0,65

(trong hệ dung môi D).

6,26 (1H, d,
J=2,1)

Hỗn hợp này cho màu đỏ cam với phản ứng xianiđin, màu xanh đen với
dung dịch FeCl3 1% điều đó nói lên trong hỗn hợp này có flavonoit.

__

__

7,01(1H,dd,
J=8,2; 2,2)

Hỗn hợp này tiếp tục được phân chia bằng phương pháp sắc kí cột
silicagel rửa giải bằng hệ dung môi toluen : etylaxetat : axit fomic (5:4:1) thu
được 29mg chất rắn màu vàng (có R f =0,4 trong hệ E), nóng chảy ở 276278oC.
+

6,52 (1H, d,
J=2,1)
__

8,15 (1H,dd,
J=8,2; 2,2)
__

-


Phổ LC- MS; m/z(%): Cho pic ion phân tử M ở m/z =286,9 và M ở
m/z =285,0.
Các số liệu của phổ 1H-NMR (500MHz, DMSO);  (ppm) và phổ 13CNMR (500MHz, DMSO);  (ppm) (xem bảng 2.5):
Bảng 2.5: Phổ 1H-NMR và 13C-NMR của chất PE-3
Vị

13

C-NMR

1

H-NMR

trí C

(δ-ppm)

2

147,03

__

3

136,52

__


Vị

C-NMR

1

H-NMR

(δ-ppm)

(δ-ppm, J-Hz)

10

104,15

__

1/

123,32

__

(δ-ppm, J-Hz) trí C

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




34

35

Để xác định định tính các nhóm hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh lí

CHƢƠNG III

THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

cao có trong thực vật thường dùng hơn cả là phân tích bằng các phản ứng đặc
trưng đối với mỗi nhóm chất đã nêu ra ở bảng 2.2. Từ kết quả chỉ ra ở bảng

3.1. Nguyên tắc chung

này có thể nhận thấy trong cây Phyllanthus urinaria L ít nhất có chưa tới 7

Để phân lập được các hợp chất trong bất kỳ một thực vật nào mà không

nhóm hợp chất thiên nhiên quan trọng đó là: đường khử, poliphenol,

làm ảnh hưởng tới thành phần hoá học có trong nó thì trước khi ngâm chiết


flavonoit, cumarin, steroit, saponintritecpen và ankaloit. Không phát hiện thấy

bằng dung môi hữu cơ, mẫu thực vật phải được đưa đi khử men ngay sau khi

glycozit tim có trong các mẫu thử. Từ kết quả phân tích định tính cũng sơ bộ

thu mẫu và sấy khô ở điều kiện thích hợp.

cho thấy cây chó đẻ răng cưa là một loài thực vật chứa nhiều chất có hoạt tính

Về nguyên tắc việc ngâm chiết mẫu thực vật có thể tiến hành theo 2

3.3. Phân lập và nhận dạng các hợp chất có trong các dịch chiết khác

cách phổ biến sau.
1. Chiết và phân lập các hợp chất từ mẫu thực vật bằng các loại dung
môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa hoặc n-hexan, cloroform, etylaxetat,

nhau của cây chó đẻ răng cƣa
Các dịch chiết từ cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L) đều là
những hỗn hợp phức tạp chứa các hợp chất khác nhau. Để phân lập từng chất

metanol hoặc etanol vv...
2. Chiết tổng bằng các ancol (metanol, etanol) hay hệ dung môi ancol :
nước. Sau đó sàng lọc các hợp chất bằng các loại dung môi có độ phân cực
tăng dần như phương pháp 1 để thu được các dịch chiết có chứa các hợp chất
có độ phân cực tương đối giống nhau.
Việc chiết mẫu thực vật chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L) được
thực hiện theo phương án 2 (Sơ đồ 2.1).
Các dịch chiết thô đem thử hoạt tính sinh học. Điều đó giúp cho việc

định hướng tìm kiếm các hoạt chất trong những dịch chiết có hoạt tính mạnh
với các chủng vi khuẩn đã thử nghiệm.

ra khỏi hỗn hợp, đã sử dụng các phương pháp sắc ký cột như: Cột với chất
hấp phụ silicagel, với các hệ dung môi rửa giải thích hợp và thường phải lặp
lại nhiều lần. Việc tinh chế các chất thường dùng phương pháp kết tinh lại
trong dung môi hoặc hệ dung môi thích hợp. Nhờ đó sẽ thu được các hợp chất
có độ tinh khiết cao, đáp ứng các nhu cầu để khảo sát tính chất hóa lý và
quang phổ của chúng. Đó là những yếu tố quan trọng trong quá trình nhận
dạng và xác định cấu trúc hóa học của các chất đã phân lập được từ các đối
tượng nghiên cứu nói trên. Việc phân lập các thành phần hóa học từ cây chó
đẻ răng cưa được thực hiện như sơ đồ 2.1 và đã thu được các hợp chất sạch
gồm các nhóm chất: tritecpenoit, furan, axit gallic và flavonoit.

3.2. Xác định định tính các nhóm chất thiên nhiên
Phân tích định tính các hợp chất hữu cơ thiên nhiên trong các mẫu
nghiên cứu là việc làm cần thiết trước khi tiến hành phân lập và xác định cấu
trúc của các chất cụ thể.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

sinh học cao, có lợi cho sức khỏe con người.

3.3.1. -sitosterol (PH-1)
Từ cặn của dịch chiết n-hexan phân chia trên sắc ký cột silicagel,
rửa rải bằng hệ dung môi n-hexan : etylaxetat (9:1) thu được chất PH-1 có
Rf = 0,72.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




36

37

Hình 3.1: Phổ FT-IR của -sitosterol (PH-1)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Hình 3.2: Phổ 1H-NMR của  -sitosterol (PH-1)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




38

39

Chất PH-1 là những tinh thể hình kim, không màu, điểm nóng chảy ở
139-1410C. Khi trộn lẫn với chất chuẩn cho một hỗn hợp có nhiệt độ nóng
chảy không thay đổi.
Chất PH-1 trong phổ EI-MS cho mảnh ion phân tử M+ = 414, như vậy
có nghĩa khối lượng phân tử bằng 414 đvC sẽ ứng với công thức phân tử
C29H50O.

Trong phân tử có một nhóm OH thể hiện ở phổ FT-IR với vân hấp thụ
rộng ở ν = 3380cm-1.
Mặt khác phổ 1H-NMR cho δ = 3,52 ppm đặc trưng cho proton trong
nhóm CH liên kết với nhóm hidroxyl.
Phổ 13C-NMR cũng nhận thấy δ = 71,7 ppm đặc trưng cho cacbon liên
kết trực tiếp với oxy của nhóm hidroxyl.
Trong phân tử còn có một nối đôi thể hiện bởi các đặc trưng ở phổ FTIR có vân ở 3010 cm-1 đặc trưng cho dao động hoá trị của liên kết C-H và vân ở
1650 cm-1đặc trưng cho dao động hoá trị của liên kết đôi C=C. Trong phổ 1HNMR cũng nhận được tín hiệu δ = 5,35 ppm đặc trưng cho H trong liên kết =CH và tín hiệu của 2 cacbon mang nối đôi với δ = 140,7 ppm và δ = 121,5 ppm
từ đó có thể quy kết hợp chất PH-1 có một nối đôi giữa vị trí C-5 và C-6.
So sánh phổ 1H-NMR và phổ 13C-NMR của chất PH-1 với phổ của βSitosterol thấy hoàn toàn tương tự nhau (bảng 3.1). Từ các kết quả phân tích
thành phần hoá học, tính chất vật lý, tính chất quang phổ nhất là dựa trên cơ
sở so sánh các số liệu phổ của chất PH-1 với phổ của chất β-sitosterol hoàn
toàn có thể cho phép quy kết chất PH-1 đã phân lập được từ cây chó đẻ răng
cưa là β-sitosterol.
Hình 3.3: Phổ 13C-NMR và ATP của -sitosterol (PH-1)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




40

41

13


Bảng 3.1: Số liệu phổ C-NMR (CDCl3, 125Mhz) của PH-1 trong cây

28

chó đẻ răng cƣa (Phyllanthus urinaria L) và phổ của  -sitosterol [15]

21

δ của 13C (ppm)
37,2
31,7
71,8
42,3
140,8
121,7
31,9
31,9
50,1
36,5
21,1
39,8
42,3
56,8
24,3
28,3
56,2
11,9
19,4
36,2
18,8

33,9
26,1
45,8
29,2
19,1
19,4
23,1
11,9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18

β-Sitosterol [15]
Vị trí C
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29

δ của 13C (ppm)
37,2
31,6
71,7
42,3
140,7
121,7
31,9
31,9
50,1
36,5
21,2
39,8
42,3
56,7

24,3
28,2
56,1
11,9
19,4
36,1
18,9
34,0
26,1
45,8
29,2
19,8
19,5
23,0
12,0



17
13

11

Vị trí C
1
2
3
4
5
6

7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29

20

19
12

Chất PH-1


22

1

HO

2

10

3

5
4

27

23

25

26
16

14

9

29


24

15

8
7
6

β-Sitosterol
3.3.2. 5-Hydroxymetylfufural (PE-1)
Chất PE-1 được tách từ cặn etylaxetat có Rf= 0,8 (trong hệ dung môi
cloroform : etylaxetat (9:1). Nó là chất dầu sệt màu nâu.
Phổ LC-MS cho biết chất PE-1 có píc ion phân tử M+ = 126,8 điều
này cho thấy chất PE-1 có khối lượng phân tử 126 đvC.
Các dữ liệu phổ NMR cũng xác nhận những thông tin quan trọng. Phổ
13

C-NMR cho tín hiệu δ = 177,91 ppm, đó chính là độ chuyển dịch hóa học

của cacbon cacbonyl. Ở độ chuyển dịch hóa học δ = 124,31 ppm và δ =
109,62 ppm là độ chuyển dịch của hai nguyên tử cacbon chưa no liên kết với
hiđro (=C-H), có thể quy kết δ = 124,31 ppm là C-3 còn δ = 109,62 ppm là
của C-4.
Từ phổ NMR kỹ thuật DEPT cho thấy có một số loại các bon như sau:
hai cacbon bậc 4 ở độ chuyển dịch hóa học 151,70 ppm và 162,13 ppm đó là
các nguyên tử cacbon C-2 và C-5. Có một nhóm CH2 với δ = 55,89 ppm. Có
hai nhóm CH (metin) ở các độ dịch chuyển hóa học 109,62 ppm và 124,31
ppm. Theo phổ HSQC thì nguyên tử H-1 có độ dịch chuyển hóa học ở 9,54
ppm, các nguyên tử H-6a,b có độ dịch chuyển hóa học ở 4,50 ppm, nguyên tử

H-3 có độ dịch chuyển hóa học ở 7,48 ppm. Còn nguyên tử H-4 có độ dịch
chuyển hóa học ở 6,60 ppm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




×