Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 60 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

---------    ---------

---------    ---------

DƢƠNG THỊ HỒNG LIÊN

DƢƠNG THỊ HỒNG LIÊN

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

CHUYÊN NG ÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S. MAI THỊ NHUNG

THÁI NGUYÊN - 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



THÁI NGUYÊN - 2008



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS. Mai Thị Nhung - người đã

Trang
MỞ ĐẦU

tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học và hoàn thành

1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1

luận văn.

2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................... 2

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 7


khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,

4. Mục đích nghiên cứu........................................................................................... 7

Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ tôi

5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn ....................................................................................... 8

hoàn thành khoá học.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, song do thời gian thực hiện không nhiều,

7. Cấu trúc luận văn ................................................................................................. 8
NỘI DUNG
Chƣơng 1. Cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời
kỳ Đổi mới ................................................................................................ 9
1.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật............................................................................... 9

năng lực bản thân có hạn nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính

1.2. Những yếu tố tạo nên cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng ....................... 10

mong nhận được sự lượng thứ và góp ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng

1.2.1. Tố chất thông minh sắc sảo và cá tính sáng tạo của nhà văn ................ 10

bạn bè đồng nghiệp để được học hỏi, rút kinh nghiệm cho các công trình sau.


1.2.2. Sự chuyển mình mạnh mẽ của một cơ chế xã hội mới ............................. 13
1.3. Cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn K háng trong tiểu thuyết thời kỳ

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2008
Dương Thị Hồng Liên

Đổi mới ............................................................................................15
1.3.1. Cái nhìn hiện thực sắc sảo hướng thẳng vào những vấn đề nhức
nhối trong cuộc sống .................................................................................. 15
1.3.2. Cái nhìn con người tinh tường nghiêng về những giá trị văn hoá
truyền thống .................................................................................................. 28
Chƣơng 2. Giọng điệu nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời
kỳ Đổi mới ................................................................................................. 46
2.1. Khái niệm giọng điệu nghệ thuật .......................................................................... 46
2.2. Các sắc thái giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới của
Ma Văn Kháng ........................................................................................................ 48
2.2.1. Giọng điệu trữ tình thiết tha, sâu lắng ...................................................... 50

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




1


MỞ ĐẦU

2.2.2. Giọng điệu triết lý, triết luận ...................................................................... 59
2.2.3. Giọng điệu mỉa mai, châm biếm ................................................................ 67
2.2.4. Giọng điệu thương cảm, xót xa .................................................................. 74
Chƣơng 3. Ngôn ngữ nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết
thời kỳ Đổi mới ....................................................................................... 80
3.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ............................................................................ 80
3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Ma Văn Kháng............................................. 82
3.2.1. Ngôn ngữ dung dị đời thường tươi rói sự sống........................................ 83
3.2.2. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm giản dị mà trong sáng .............................. 98
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 110

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn có công đầu tiên mở đường
cho sự nghiệp đổi mới văn học. Vào những năm đầu 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng
tác của Ma Văn Kháng đã "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên
những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học. Ông cũng là một trong số
các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và
tiểu thuyết. Qua từng tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm
kiếm những cách thể hiện mới. Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện
ngòi bút Ma Văn Kháng khiến ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể.
1.2. Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai
mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng
sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư. Trong đó có những tác
phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế và được dịch ra tiếng nước ngoài như:
Truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn
của Tuần báo Văn nghệ 1967 - 1968, tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ giải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995, giải cây bút vàng cho truyện SanChaChải trong

cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ
chức. Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma
Văn Kháng còn vinh dự nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) và giải
thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật (2001). Với những thành tựu kể trên, Ma
Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Việt Nam
đương đại.
1.3. Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về Ma Văn
Kháng và các tác phẩm của ông. Nhưng hầu hết là những đánh giá, nhận định chung
về từng tác phẩm cụ thể, về hình tượng nghệ thuật, thậm chí là khen chê một tác
phẩm hoặc một khía cạnh nào đó của tác phẩm ngay khi nó ra mới ra đời. Với các
công trình nghiên cứu công phu như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ tuy đã
hướng vào những khía cạnh chuyên biệt như: kiểu nhân vật, đặc trưng cuả thể loại,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2

3

cảm hứng nghệ thuật hoặc những dấu hiệu đổi mới văn học qua sáng tác của ông và

và đã trở thành hiện tượng văn học một thời. Các tiểu thuyết Mưa mùa hạ, Mùa lá


một số nhà văn tiêu biểu cùng thời, nhưng việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, khám

rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời... đã tạo ra

phá nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ góc độ cái nhìn, giọng điệu và ngôn

cuộc tranh luận sôi nổi làm cho đời sống văn học đương đại trở nên phong phú và

ngữ nghệ thuật để thấy sâu sắc hơn quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và

đa dạng hơn.

con người trong một giai đoạn phát triển đầy phức tạp của xã hội thì vẫn còn bỏ ngỏ.

Tác giả Trần Đăng Xuyền, trong bài viết Một cách nhìn cuộc sống hôm nay

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Nghệ thuật tiểu

đăng trên báo Văn nghệ số 15 - 19 - 1983 đã đưa ra nhận định xác đáng về tiểu

thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới làm đề tài nghiên cứu của mình. Việc

thuyết Mưa mùa hạ: "Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn lên án cái

nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ vị thế của các

tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái

yếu tố nghệ thuật (cái nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ) trong việc thể hiện tư tưởng


xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội".

nghệ thuật của nhà văn. Từ đó khẳng định đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng về

Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện. Trong cuộc

phương diện sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới, đồng thời đề tài cũng

hội thảo về tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do Câu lạc bộ Báo Người Hà Nội và

góp phần làm tư liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và những người yêu

Nhà xuất bản Phụ nữ phối hợp tổ chức, các nhà văn, nhà lý luận phê bình đã có

thích văn học Việt Nam hiện đại.

nhiều ý kiến đánh giá về những thành công cũng như những hạn chế của tác phẩm.

2. Lịch sử vấn đề

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: "Mùa lá rụng trong vườn biểu hiện

Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể vào công

cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu"; Hoàng Kim Quý lại nhấn

cuộc đổi mới văn xuôi giai đoạn sau 1975. Một trong những đóng góp ấy là sự đổi

mạnh: "Tác giả Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộc sống của những gia


mới về cái nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật. Ông "đã cố gắng đổi mới tư

đình với mỗi người".

duy nghệ thuật tiểu thuyết, tìm hướng đi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật".

Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy

Ngay từ khi truyện ngắn Phố cụt ra đời (1959) và đặc biệt là những tác phẩm xuất

giá thú, trong bài viết: "Đọc Đám cưới không có giấy giá thú" của Lê Ngọc Y, tác

hiện trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã được

giả đã nhận thấy "Bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả đã mô tả

đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm. Nhiều công trình nghiên

những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn. Những vui buồn

cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Giáo sư Phong

của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động". Từ đó, tác

Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu đã được đăng tải

giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng "đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói

trên nhiều sách báo và tạp chí… Để phục vụ cho những vấn đề mà đề tài nghiên


xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ

cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu ý kiến của những người đi trước về cái nhìn, giọng

thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ".

điệu và ngôn ngữ nghệ thuật.

Cùng với ý kiến đó, tác giả Lê Thanh Hùng cũng đưa ra nhận xét: "Có lẽ Ma
Văn Kháng muốn bộc lộ một cái nhìn tiến bộ và khá mới mẻ, một nhận định khá

2.1. Về cái nhìn nghệ thuật
Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới đã thật sự gây được sự chú ý,

chính xác về hiện thực đời sống đương thời - cái xấu, cái ác vẫn tồn tại, hoành hành

quan tâm đặc biệt của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




4

5


và sinh sôi trong đời sống, còn cái thiện, cái tốt mặc dù có nhưng có lẽ chưa đủ
mạnh để có thể chiến thắng" [12,77].

Khi bàn về Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời trong Vẫn chuyện Văn và
Người, Giáo sư Phong Lê tiếp tục nhận xét: "Truyện ngắn Ma Văn Kháng quả là

Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời (1998) - tác phẩm mà nhà văn tâm

một hiện tượng nổi bật trong văn học những năm 90, tuy vẫn chỉ một giọng điệu

đắc nhất, đã có không ít ý kiến xung quanh tác phẩm. Giáo sư Phong Lê trong cuốn

nhưng không gây nhàm tẻ. Biết thế trước rồi mà vẫn ham đọc. Một giọng điệu vẫn

Vẫn chuyện Văn và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin năm 1989 cho rằng:

là nằm trong trong mạnh ngầm tuôn chảy từ một nguồn chung của nền truyện ngắn

"Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều

hiện đại. Rõ ràng Ma Văn Kháng vẫn chưa tách ra được thật rõ một lối riêng, nhưng

cuốn sách khác. Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân

vẫn không bị nhoè mờ trong diện mạo chung đó… Côi cút giữa cảnh đời đối với

hậu tốt lành. Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa. Cái hiệu quả thanh lọc

tôi, đó là một cuốn sách đọc không thôi cảm động và đầy ấn tượng. Trên hai trăm


này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ

trang sách, đọc một thôi, không có gì khúc mắc, tất cả đều dễ hiểu, tưởng như

thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi"…

không có nghệ thuật… Cuốn sách của Ma Văn Kháng ai đọc cũng hiểu, đọc một lần

Nhận xét về cái nhìn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới, nhìn
chung các tác giả đã thấy rõ cái nhìn tiến bộ, mới mẻ của nhà văn. Tuy nhiên, đây
chỉ là những nhận xét lẻ tẻ trên các công trình của các nhà nghiên cứu. Chúng tôi

là hiểu, và xem ra cũng chỉ một tầng nghĩa thôi. Ấy vậy mà, tôi lại nghĩ, đó mới là
hoặc vẫn là nghệ thuật đích thực".
Về các luận văn, luận án tiến sĩ chúng tôi thấy luận văn cuả Phạm Mai Anh

thấy vấn đề này cần phải nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống hơn.

(1997) - Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng; Lê Thanh Ngọc (2004) - Nghệ thuật

2.2. Về giọng điệu nghệ thuật

trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975; Đỗ Phương Thảo (2006) -

Trong quá trình sưu tầm tài liệu tham khảo chúng tôi nhận thấy, có những

Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng…

công trình nghiên cứu, những ý kiến đánh giá liên quan đến khía cạnh này như


Đây là những công trình đã nghiên cứu và có những nhận xét, đánh giá khá sâu

trong bài viết Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của đời sống gia đình hôm

sắc, khách quan một số khía cạnh về phương diện nghệ thuật trong các tiểu thuyết

nay (Báo phụ nữ Việt Nam số 17 - 1986) tác giả Trần Bảo Hưng nhận xét: "Về mặt

của Ma Văn Kháng và là những gợi ý vô cùng quan trọng cho quá trình nghiên cứu

bút pháp, qua tác phẩm này, Ma Văn Kháng bộc lộ thêm một số sở trường mới; khả

của chúng tôi.

năng biện giải, triết lý, phân tích một cách khúc chiết thông minh"

2.3. Về ngôn ngữ nghệ thuật

Nghiên cứu về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú (1989), tác giả Mai

Với sự đóng góp của mình về thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng được coi là

Thục cho rằng: Đám cưới không có giấy giá thú có tính luận đề về mối quan hệ giữa

một trong những người có thành tựu đáng kể trong quá trình đổi mới tư duy tiểu

những giá trị văn hóa với đời sống của con người; Vũ Dương Quý với bài viết Phải

thuyết, tìm hướng đi mới trong sự sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là sự sáng tạo về


chăng đời là một vại dưa muối hỏng?...đặc biệt là cuộc hội thảo về tiểu thuyết Đám

ngôn ngữ. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy có một vài công trình nghiên

cưới không có giấy giá thú do báo Văn nghệ tổ chức ngày 11- 1- 1990 với sự tham

cứu về vấn đề này. Trong bài viết Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời

gia đông đảo của các nhà văn, nhà lý luận phê bình nổi tiếng đã đánh giá khái quát

của Ma Văn Kháng, tác giả Vũ Thị Oanh đã cho rằng: "Côi cút giữa cảnh đời -

và bổ ích, lý thú về giá trị đích thực cũng như những hạn chế của tác phẩm trên mọi

cuốn sách viết theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không hợp

phương diện.

đồng, được xuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





6

7

Văn học là một cuốn sách như thế… Đặc biệt, viết cho lứa tuổi sắp vào đời nhưng

mức độ nhất định, các tài liệu kể trên sẽ là những gợi ý, định hướng, là nguồn tư

tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách quan làm rõ

liệu quý báu và cần thiết cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu của mình.

thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở nhiều bình diện, sắc

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

thái khác nhau. Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác... Tất cả được thể hiện

Vì thời gian có hạn, luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề nghệ

bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu: kết

thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng mà chỉ tập trung vào 3 vấn đề đặc sắc: Cái nhìn

cấu có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng".

nghệ thuật, giọng điệu nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết thời kỳ

Khi bàn về tác phẩm Ngược dòng nước lũ theo tác giả Hồ Anh Thái, "Ngược


Đổi mới của Ma Văn Kháng.

dòng nước lũ chứa đựng những điển tích được gài cắm cẩn thận, khi được huy động

Trong quá trình nghiên cứu những vấn đề đặt ra, chúng tôi tập trung vào một

đã chuyển tải được những gửi gắm của tác giả từ trong chiều sâu suy tư ra bên

số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn như Mùa lá rụng trong vườn, Côi cút giữa cảnh

ngoài, trong một khoảng không gian mở rộng nhiều chiều kích. Nếu không có công

đời, Đám cưới không giấy giá thú, Chó Bi- đời lưu lạc và Ngược dòng nước lũ. Tuy

dụng tài hoa ấy, cuốn sách ấy chắc khó đọc với những tranh giành đấu đá đầy công

nhiên, để thấy rõ sự chuyển hướng trong nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi có đề

thức". Nghiên cứu tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn tác giả Trần Cương đã đưa ra

cập đến sáng tác của nhà văn trước đổi mới và có so sánh với những nhà văn khác.

nhận định: "Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả

4. Mục đích nghiên cứu

của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong

Xuất phát từ những vấn đề nghiên cứu đã được đặt ra chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới"


cách nghệ thuật của mình".
Gần đây còn có những công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập đến ngôn ngữ

nhằm hướng tới mục đích cụ thể như sau:

nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng như luận văn Thạc sĩ của Lê Thanh

4.1. Cảm thụ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới một cách sâu sắc

Hùng (2006) - Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới (Giai đoạn sáng tác

hơn, đồng thời chỉ ra được những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật của

1980 - 1989); Lê Minh Chung (2007) - Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới;

nhà văn, từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng.

Đỗ Thị Thanh Quỳnh (2006) - Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết cuả
Ma Văn Kháng; và luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thi Huệ (2000) - Những dấu hiệu
đổi mới trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986 - Qua bốn tác giả: Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn...
Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma Văn

4.2. Nâng cao khả năng cắt nghĩa, lý giải, truyền thụ cho giáo viên trong quá
trình giảng dạy tác phẩm của Ma Văn Kháng ở trường THPT.
4.3. Chỉ ra yếu tố chi phối thế giới nghệ thuật của Ma Văn Kháng, qua đó
khẳng định mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố nổi trội: cái nhìn, giọng
điệu và ngôn ngữ nghệ thuật Ma Văn Kháng. Khẳng định sự đóng góp to lớn của


Kháng ở từng khía cạnh cụ thể có liên quan đến những vấn đề mà luận văn nghiên

Ma Văn Kháng trên thi đàn văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.

cứu, chúng tôi nhận thấy: Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

mới ít nhiều đã được tìm hiểu, đề cập đến. Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ
dừng lại ở những ý kiến, nhận định có tính khái quát, tổng hợp. Mặc dù vậy, trong

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên
cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thống kê, khảo sát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




8

9

- Phương pháp phân tích


NỘI DUNG

- Phương pháp so sánh

CHƢƠNG 1

- Phương pháp khái quát, tổng hợp

CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG

6. Đóng góp của luận văn

TRONG TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI

- Góp thêm tiếng nói mới về phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng thời kỳ đương đại, cũng như có cái nhìn toàn vẹn về quá trình vận động
tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.
- Khẳng định những thành tựu và đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng trong
nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Ở một mức độ nào đó, luận văn sẽ làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy văn học ở trường PTTH và Đại học cũng như người yêu thích văn
học Việt Nam.

1.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật
Chúng ta đã biết, cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người,
qua cái nhìn người ta "có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện ra đặc điểm của nó mà
vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật". Do đó, cái nhìn được
vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật và là một vấn đề dặc biệt quan trọng, đối với
một nhà văn có tư tưởng và sự sáng tạo không thể không có cái nhìn nghệ thuật.
Khrápchencô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của

văn học đã nhận xét: "Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại

7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai 3 chương:

bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ
thực thụ" [106]. Bởi qua cái nhìn mỗi nhà văn mới tìm ra chất liệu để sáng tác và
sáng tạo nghệ thuật. Những nhà văn có tài là những nhà văn nhìn thấy cái mà người

Chương 1. Cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ
Đổi mới
Chương 2. Giọng điệu nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ
Đổi mới
Chương 3. Ngôn ngữ nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ
Đổi mới

khác không thấy hoặc khó thấy.
Nhận thấy tầm quan trọng của cái nhìn nghệ thuật, nhà văn Pháp M.Proust có
nói: "Đối với nhà văn cũng như đối với hoạ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ
thuật mà là vấn đề cái nhìn". Như vậy là, các nhà nghiên cứu lý luận và sáng tác
nghệ thuật đều khẳng định vai trò đặc biệt của cái nhìn trong sáng tạo nghệ thuật dù
ở bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào. Khi nghiên cứu về cái nhìn, Giáo sư Trần Đình Sử
cho biết "Cái nhìn được thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó nó có thể
phát hiện ra cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi... Đó là một cái nhìn bao quát của người
nghệ sĩ" [59,130]. Vậy cái nhìn đó được hình thành từ đâu? và nó được thể hiện
trong sáng tác của nhà văn như thế nào? Cái nhìn nghệ thuật được hình thành từ
trong quá trình tập trung năng lực tinh thần đặc biệt của nhà văn trước thực tiễn của
cuộc sống. Khi nhà văn có cái nhìn sâu sắc, bao quát thì nó sẽ mở ra khả năng nhìn
thấy rõ tính cách, quan hệ của con người và còn thấu hiểu được các mối liên hệ giữa

những hiện tượng phức tạp của hiện thực. Sự nhận thức, vốn sống của nhà văn về

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




10

11

thế giới được thể hiện chủ yếu trong cái nhìn nghệ thuật. Trong sáng tác của nhà

đã từng làm giáo viên dạy Văn, hiệu trưởng trường cấp 2, cấp 3 phổ thông Lào Cai,

văn, cái nhìn nghệ thuật được thể hiện qua hình tượng nghệ thuật, qua các chi tiết,

về sau ông được Tỉnh uỷ Lào Cai điều về làm thư ký cho Bí thư Tỉnh uỷ, rồi làm

sự kiện và chi phối thế giới nghệ thuật của tác phẩm.

phóng viên, Phó tổng biên tập báo Đảng bộ Tỉnh. Suốt 20 năm gắn bó với mảnh đất

Cũng trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học,

Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống, phong tục tập quán của đồng bào các


Khrápchencô đã phát biểu rằng: "Một nhà văn tài năng có thể tích luỹ những kiến

dân tộc thiểu số. Cái tên Ma Văn Kháng phần nào đã nói lên tình yêu thương mà

thức lớn có liên quan tới phạm vi này hay phạm vi nọ của cuộc sống, có thể là một

ông dành cho mảnh đất giàu tình nghĩa ấy. Từ trong tâm khảm, nhà văn đã coi Tây

con người hiểu biết trong lĩnh vực này hay một lĩnh vực khác, song nếu thiếu một

Bắc là quê hương thứ hai của mình.

nhãn quan rộng rãi về cuộc sống thì anh ta sẽ đâm ra bất lực trong việc khám phá ra

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ năm 1976 đến nay, Ma Văn

cái chủ yếu trong hiện thực" [15]. Qua đó có thể thấy, cái nhìn nghệ thuật có ý

Kháng về sống và công tác tại Hà Nội. Ông từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc

nghĩa quan trọng như thế nào trong việc phản ánh và khám phá hiện thực. Như vậy,

Nhà xuất bản Lao động. Đến tháng 3 năm 1995, ông là Uỷ viên Ban chấp hành

trong nghệ thuật, chân lý cuộc sống không thể tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật

Đảng - Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam khoá IV, trưởng ban sáng tác của Hội và là

của người nghệ sỹ. Thực tế sáng tác, mỗi nhà văn đều có cái nhìn riêng, độc đáo


Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài. Ở cương vị công tác nào, ông cũng là

biểu hiện trong thế giới nghệ thuật của mình. Chính cái nhìn ấy đã góp phần tạo nên

người dễ mến, sống chan hoà với mọi người.
Trải qua gần năm mươi năm cầm bút, Ma Văn Kháng đã chứng tỏ khả năng tung

phong cách nghệ thuật cuả nhà văn.
1.2. Những yếu tố tạo nên cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng

hoành ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực và đề tài khác nhau. Đức tính kiên trì, tố

1.2.1. Tố chất thông minh sắc sảo và cá tính sáng tạo của nhà văn

chất thông minh của nhà văn đã giúp ông trong việc tìm tòi nghệ thuật biểu hiện và

Ma Văn Kháng sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936, tên thật là Đinh Trọng Đoàn,

mạnh dạn phanh phui trực diện những vấn đề phức tạp, gai góc của đời sống hiện tại.

người dân tộc Kinh, quê gốc ở Phường Kim Liên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà

Sau nhiều năm miệt mài tâm huyết với sáng tạo nghệ thuật cho đến nay, Ma

Nội, nay ở Quận Ba Đình - Hà Nội. Ông là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội

Văn Kháng đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại gần 20 truyện ngắn, 10

viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình hiếu học, Ma Văn Kháng


tiểu thuyết và 8 tập truyện viết cho thiếu nhi. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ và bề

được bố mẹ rất quan tâm đến chuyện học hành. Vốn có tố chất thông minh cùng với

thế, cùng với chất lượng nghệ thuật trong từng trang viết của mình, Ma Văn Kháng

năng khiếu và sự ham tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật ông đã thành công trên con

đã khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại.

đường sự nghiệp. Ông được đánh giá là một trong những "cây bút văn xuôi lực
lưỡng" của văn học Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỷ XX.

Ở những sáng tác thời kỳ đầu người ta có thể thấy ngay chỗ mạnh và cũng là
đặc điểm trong các sáng tác của Ma Văn Kháng là tính chất tập trung đề tài và nội

Là một chàng trai Hà thành chính hiệu nhưng Ma Văn Kháng có một thời gian

dung phản ánh cuộc sống của con người miền núi. Đây chính là "đặc khu" mà Ma

khá dài sống ở miền núi Tây Bắc. Ma Văn Kháng đã từng tham gia quân đội từ tuổi

Văn Kháng đã dồn tâm, dồn sức trong suốt cuộc đời trai trẻ của mình. Có thể nói

thiếu nhi và được cử đi học ở Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc. Năm 1960, ông

cùng với nhà văn Tô Hoài - người đặt nền móng xây dựng nền văn học viết về đề tài

vào học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Đại học, Ma Văn


miền núi, Ma Văn Kháng đã góp sức mình khẳng định tầm cao mới trong những sáng

Kháng lên dạy học ở Lào Cai và đã lần lượt trải qua nhiều cương vị công tác. Ông

tác viết về đề tài miền núi của nền văn học hiện đại Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






12

13

Ma Văn Kháng đã từng tâm sự "Có sự tương hợp giữa thành nhân và đắc đạo

quan tâm, phản ánh đến số phận con người trong nhiều quan hệ, nhiều hoàn cảnh

văn chương". Chặng đường dài mấy chục năm qua của Ma Văn Kháng đã chứng

khác nhau và cố gắng nắm bắt mọi khía cạnh của cuộc sống để lột tả nó một cách

minh cho sự tương hợp ấy. "Tự rèn luyện mình để viết văn. Viết văn để tự rèn luyện


đầy đủ nhất trong tính đa dạng, toàn vẹn của nó…

mình" chu kỳ chuyển đổi đó không ngừng vận hành trong cuộc sống hàng ngày của

Đó là một thách thức lớn đối với tất cả các nhà văn, kể cả những nhà văn luôn

Ma Văn Kháng. Từ một Đinh Trọng Đoàn ngơ ngác giờ đây đã trở thành nhà văn

gắn mình với đô thị. Thách thức đó còn lớn hơn đối với một nhà văn có thời gian

Ma Văn Kháng được bạn đọc mến mộ. Hàng ngàn trang sách của ông quện đặc tình

lâu dài sống xa nơi phố phường, đô hội như Ma Văn Kháng. Nhưng bằng tài năng,

yêu con người, tình yêu thiên nhiên và tình yêu cuộc sống.

bằng sức sáng tạo và cả tấm lòng của mình, Ma Văn Kháng đã thổi vào văn học

Trải qua nhiều môi trường công tác, giữ nhiều chức vụ khác nhau, Ma Văn

Việt Nam thời kỳ Đổi mới một luồng sinh khí mới với cái nhìn tinh tế, sắc sảo,

Kháng đã phát huy mọi khả năng của mình để quan sát cuộc sống ở nhiều góc cạnh.

hướng thẳng vào những vấn đề nhức nhối trong cuộc sống hôm nay.

Làm việc không mệt mỏi sau mỗi chuyến đi, Ma Văn Kháng lại chắt lọc lại từng

1.2.2. Sự chuyển mình mạnh mẽ của một cơ chế xã hội mới


mẩu nhỏ của cuộc đời để tái hiện vào trong tác phẩm của mình. Bởi vậy, nhiều

Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi năm 1975 đã đưa đất nước và

người đọc tác phẩm của Ma Văn Kháng cứ ngỡ rằng tác giả viết cho mình - Ma Văn

nhân dân ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa

Kháng là "nhà văn của mình".

xã hội. Khi tiếng súng đã thật sự chấm dứt, thì hậu quả nặng nề của ba mươi năm

Đến với văn học bắt đầu bằng thể loại truyện ngắn, được người đọc yêu mến

chiến tranh chống Pháp và Mỹ vẫn để lại những ảnh hưởng của nó, vì thế thời kỳ

qua những tập truyện ngắn đặc sắc, nhưng Ma Văn Kháng chưa hài lòng với phạm

hậu chiến vốn đã khó khăn lại càng khó khăn. Công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội

vi phản ánh của thể loại này. Ông nhận ra rằng: "Chỉ có tiểu thuyết viết theo quy

chủ nghĩa đã bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết cả trong nhận thức lẫn và thực

luật sáng tạo nghệ thuật mới cho phép tôi chuyển hoá khối lượng vốn sống khá dày

tiễn, bên cạnh đấy là tình trạng suy thoái về kinh tế, tệ nạn xã hội phát triển… Để

dặn sau nhiều năm tích luỹ, cho phép tôi phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, cho


đưa đất nước thoát ra khỏi cơn khủng hoảng và tình trạng bế tắc đó, Đảng ta đã lựa

phép tôi gửi gắm vào đó những suy nghĩ, những tình cảm, những kinh nghiệm của

chọn con đường đổi mới, có thể nói đây là con đường phát triển tất yếu, có ý nghĩa

cá nhân tôi" [30]. Như vậy, có thể thấy Ma Văn Kháng đã biến tất cả những cái mà

sống còn của đất nước. Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta

mình đã thu lượm được, thành năng lượng tâm hồn và trào chảy ra đầu ngọn bút để

đã kêu gọi "Đổi mới tư duy" trên tất cả mọi phương diện và "Nhìn thẳng vào sự

tạo dựng cho mình một cái nhìn riêng đầy phong cách của một cây bút hiện thực,

thật". Sự đổi mới ấy đã đem đến cho văn học một không khí mới - không khí dân

cảm thương, từng trải, tinh tế, gan ruột mà đằm thắm.

chủ hoá, nói như PGS Nguyễn Văn Long "Dân chủ hoá đã thấm sâu và được thể

Nằm trong dòng chảy của văn học thời kỳ Đổi mới, các sáng tác của Ma Văn

hiện ở nhiều cấp độ bình diện của đời sống văn học" [42]. Các nhà văn được viết

Kháng cũng có những thay đổi đáng kể với những bước đột phá về tư duy nghệ

những gì họ nhìn thấy, cảm thấy kể cả những mặt trái của đấu tranh, mặt trái của


thuật. Nếu như những trang viết của Ma Văn Kháng trước thập kỷ 80 thể hiện cái

cuộc sống. Có thể nói, dân chủ hoá đã tạo điều kiện cho văn học đề cập đến hiện

nhìn mang tính sử thi, thì ở giai đoạn sau nhà văn đã chuyển sang cái nhìn thế sự

thực trong và sau chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc hơn ở nhiều khía cạnh.

đời tư. Cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của ông giờ đây không còn đơn tuyến mà

Các nhà văn đã nhấn mạnh tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật vì "Sự

đa tuyến, nhiều chiều, cái xấu xen lẫn cái tốt, ma quỷ chen lẫn với thánh thần. Ông

thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính" [43].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






14

15

Thực tế công cuộc đổi mới của văn học diễn ra không hoàn toàn đơn giản một


1.3. Cái nhì n nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ

chiều mà hết sức phức tạp, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược

Đổi mới

nhau nhưng cũng chính điều này lại làm cho đời sống văn học sau Đại hội Đảng VI

1.3.1. Cái nhìn hiện thực sắc sảo hướng thẳng vào những vấn đề nhức nhối

trở nên náo động hơn. Xét cho cùng, yếu tố quan trọng nhất để quá trình đổi mới

trong cuộc sống

văn học thành công là cái tâm trong sáng và trách nhiệm của người cầm bút. Nói

Khi chuyển hướng ngòi bút sáng tác của mình, Ma Văn Kháng đã nhanh chóng

như Hà Xuân Trường: "Đổi mới văn học, điều quan trọng nhất, quyết định là cái

tiếp cận một hiện thực phong phú, ngổn ngang, bộn bề, phải trái trắng đen lẫn lộn,

nhìn và cái tâm của lòng trong sáng nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ và chức trách

xen cài trong đó biết bao biến động.

cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình. Không
có những cái đó thì không có đổi mới" [dẫn theo72,27].


Quả thực, nhiều chục năm nay, khi nói đến hiện thực trong văn học bên cạnh
những mặt tích cực, phấn chấn hào hùng luôn được các nhà văn miêu tả một cách hào

Xuất phát từ một cảm hứng mới, tiểu thuyết thời kỳ này cũng có những thay

phóng, thì những mảng tối, những bóng đen nhiều khi còn quá gượng nhẹ, hoặc né

đổi cơ bản về phương diện nghệ thuật. Từ chỗ lấy sự kiện làm đối tượng hàng đầu

tránh. Trong khi cái xấu, cái ác không biết từ lúc nào từ bóng tối đã lấn dần ra ánh

để miêu tả hiện thực xã hội, tiểu thuyết đã hướng vào tâm hồn, tính cách số phận

sáng và biết bao con người lao động lương thiện đã lâm vào đau khổ, thậm chí tuyệt

con người để soi chiếu trở lại lịch sử và xã hội. Cái nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết

vọng. Cũng như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn… Ma Văn

có những bước chuyển biến rõ rệt, tiểu thuyết đã trở thành thể loại đóng vai trò chủ

Kháng đã "vục" vào cái sự thật tối tăm, oan khổ trong hầu hết các sáng tác của mình.

đạo trong đời sống văn học. Đây chính là thể loại thích hợp, uyển chuyển và giàu

Đất nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nay trở về cuộc sống

khả năng nhất trong việc bám sát hiện thực cuộc sống và khám phá số phận, tính

đúng với quy luật bình thường của nó, nhưng thực tế đó không hề diễn ra bình yên.


cánh con người. "Con mắt" tiểu thuyết trở thành công cụ soi chiếu cả bề rộng những

Vốn đã quen với đời sống trong chiến tranh, nơi chỉ có mục tiêu duy nhất là đấu

vấn đề xã hội và bề sâu với từng số phận con người.

tranh giành độc lập tự do, giờ đây trước cuộc sống mới con người trở nên bỡ ngỡ,

Nếu điểm những gương mặt tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới,

khó bề hoà nhập ngay được với cơ chế mới, hoàn cảnh sống mới. Đời sống của nền

Ma Văn Kháng phải là một trong những người được ghi công hàng đầu. Cùng với

kinh tế thị trường lúc này là một thứ thuốc thử về năng lực và phẩm hạnh con

Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn... Ông đã dũng

người. Con người phải đứng trước những thử thách nghiệt ngã của cuộc sống mà

cảm tiên phong mở đường cho sự đổi mới của văn học Việt Nam. Đúng như đánh

cuộc đấu tranh với chính bản thân là cuộc đấu tranh nhiều cam go nhất. Thử thách

giá của PGS - TS Lã Nguyên "Trước làn sóng đổi mới dâng lên mạnh mẽ trong đời

này không chỉ diễn ra với đại bộ phận người dân mà còn diễn ra ngay trong bộ máy

sống tinh thần của dân tộc, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn của đất nước,


chính quyền, quản lý Nhà nước. Trước thực tế không ít những kẻ được Đảng và

sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn…đã đốt lên nhiệt

Nhà nước giao trách nhiệm quản lý, giúp đỡ nhân dân đã thừa cơ hội "đục nước béo

tình tìm kiếm chân lý. Hứa hẹn khả năng đổi mới văn học Việt Nam khi nó dám

cò", đục khoét của Nhà nước, chèn ép, hành hạ những người dân lương thiện, Ma

sòng phẳng với quá khứ, bất chấp mọi thế lực ngăn cản" [49,158]. Sự đổi mới trong

Văn Kháng đã nhanh chóng đưa hiện tượng đó lên từng trang sách của mình. Với

tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng và trong sáng tác của ông nói chung đều

cái nhìn sắc sảo và mới mẻ nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc sống ở tầm vĩ mô để

bắt đầu bằng cái nhìn nghệ thuật.

phát hiện nguyên nhân của sự thật đau lòng đấy chính là sự bất cập trong việc lựa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





16

17

chọn cán bộ chủ chốt ở từng cơ quan, công sở, trường học. Ma Văn Kháng đã đưa

một Bí thư Thị uỷ - kẻ có quyền hành tuyệt đối bao trùm lãnh địa, thực hiện quyền

ra ánh sáng sự ấu trĩ của xã hội ta một thời, đó là lý lịch hoá trong việc lựa chọn cán

lực vào tất cả ngõ ngách của đời sống. Chính vì thế, ông càng tỏ uy quyền bao nhiêu

bộ lãnh đạo. Hơn thế, nhà văn còn nhìn thấu để leo lên được vị trí, để có được chức

thì lại càng thể hiện sự ấu trĩ, vô văn hoá bấy nhiêu. Hãy nghe ông phát biểu trong

quyền, không ít người đã dùng thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn trắng trợn, bỉ ổi nhất.

buổi khai giảng năm học đầu tiên của một trường Trung học: "Hôm nay, thị xã ta

Trước những thói hư tật xấu đang hoành hành ngang nhiên tồn tại và ngày

khai giảng trường cấp 3, rồi đây chúng ta sẽ mở trường cấp 4, cấp 5, cấp 6. Cũng

càng nảy nở, sinh sôi trong đời sống xã hội, làm tha hoá biến chất biết bao con

giống như Tỉnh ta có giống lợn lai kinh tế nhiều nạc, tăng trọng nhanh " [21,101-


người, đặc biệt là những hiện tượng tiêu cực của Cán bộ, Đảng viên trong một số cơ

102]. Công việc mở mang dân trí, khai sáng văn minh lại được Bí thư Thị uỷ ví như

quan Nhà nước có thể trở nên nguy hiểm như "những tổ mối tiềm tàng trong lòng

việc phát triển những giống lợn, khiến cho học sinh và những người thầy đứng ra

những con đê mà không trừ được tận gốc". Ma Văn Kháng cảm thấy lo âu, trăn trở

gánh vác cái trọng trách to lớn ấy phải tủi hổ. Chưa hết, cực điểm của màn bi hài là

và muốn cất lên lời kêu cứu khẩn thiết cần phải chấn chỉnh lại cơ chế cũ của một

ông đã hùng hồn tuyên bố trước toàn thể giáo viên và học sinh "Trí thức không

nhà văn có cái tài, cái tâm trong sáng, có trách nhiệm với cuộc đời trên những

bằng cục cứt chó khô đâu các người hãy nhớ lấy" [21,103] và tầng lớp trí thức tiểu

trang văn của mình.

tư sản chỉ là "cái sinh thực khí tức là cái của thằng đàn ông. Nghĩa là xung trận thì

Trong Mưa mùa hạ bằng mọi thủ đoạn hèn hạ và bất nhân, Hưng leo lên được

nó được kích thích thì nó cương cứng lên. Rồi sau đó lại ỉu xìu như thằng đã chết

quyền trưởng phòng. Có quyền Hưng hiện nguyên hình là một kể tha hoá. Toàn bộ


trôi" [21,103]. Làm sao có thể tưởng tưởng được những lời mạt sát vừa vô học, vừa

động cơ sống của con người này toát lên mục đích thực dụng vị kỷ. Trước mặt đồng

bỉ ổi đó lại được phát ngôn từ một người đại diện cho Đảng. Đó quả thật là một thảm

nghiệp ở cơ quan, Hưng đã trơ trẽn tuyên bố rằng: "Con người ta, anh quái nào

kịch cho một nền văn hoá mới.

chẳng vụ lợi… và nói chung ai cũng chính vì mình mà thôi" [25]. Biết Trọng là một

Dưới cái nhìn sắc sảo và mới mẻ của Ma Văn Kháng, chân dung của ông

kỹ sư giỏi, giầu nhiệt huyết, đầy hứa hẹn trong công tác chuyên môn, nghiên cứu

"quan Lại" được hiện lên một cách sống động, chân thực và sắc nét. Chân dung đó

khoa học và biết chắc một điều những thành công của Trọng là một điều vô cùng

một lần nữa lại đươc tái hiện một cách rõ ràng hơn qua cuộc đối thoại giữa ông với

bất lợi đối với mình. Hưng đã lợi dụng quyền trưởng phòng để trù dập, để cản bước

thầy giáo dạy giỏi văn Đặng Trần Tự tại trường trung học số 5:

tiến của Trọng. Kết cục Trọng phải ở lại cơ quan chờ án kỷ luật. Hành vi thấp hèn
của Hưng đã đẩy một con người tự tin, yêu đời đầy lý tưởng sống, một tâm hồn
trong sáng nhiệt thành, một ý chí vươn lên mạnh mẽ rơi vào bi kịch xót xa khiến
anh có lúc thầm chua chát "Nam đã chết còn anh đang chết mòn…".

Ông Lại, vốn là đồ tể ở cái ba toa cuối phố, vì "có công" "chạy ra đón bộ đội

"- Anh có được người ta dạy chủ nghĩa Mác không? Có hiểu linh hồn chủ
nghĩa Mác là gì không?
- Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo hoàn thiện, là chủ nghĩa tự nhiên
hoàn bị. Lịch sử là một dòng chảy tự nhiên, ở ngoài ý chí cá nhân. Là dòng chảy vô
thức xã hội.

vào giải phóng thị xã" [21,102] thế là đương nhiên ông trở thành một người đã tham

- Ngu! linh hồn chủ nghĩa Mác là chuyên chính!

gia cách mạng. Đó là xuất thân và cũng là "thành tích" của Bí thư Thị uỷ của một

- Người xưa nói: Ngựa vì buộc nó bằng giàm, ách nên nó mới lồng lên hung

thị xã miền cao trong Đám cưới không có giấy giá thú. Chỉ là một gã đồ tể, đi theo
cách mạng có hai năm, tức hơn bảy trăm ngày cũng đã đủ vốn liếng để trở thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



hăng. Trị người như trị ngựa, làm trái nhân tính sẽ gây rối loạn.
- Im đi! vừa phong kiến mà sặc mùi tư bản là anh! Cút! " [21,107-108].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





18

19

Có thể nói đây rõ ràng là một cuộc quyết đấu giữa quyền lực và tri thức, nhưng

[21,176]. Dương còn một thói xấu nữa là nhân danh cán bộ Đảng, tự cho mình có

đây là một cuộc chiến không cân sức khi tri thức và nhân cách chỉ là số ít mà quyền

quyền bóc thư người khác để xem trộm. Thật là một hiện tượng kỳ quặc, một sự

lực vừa đông, vừa mạnh lại có cả cái gan làm liều, do tự thị và vô học, để rồi đi đến

thiếu văn hoá lạ lùng. Đặc điểm của người ít học, kém trí tuệ được ông "phát huy"

một kết cục đau thương, khi cái đẹp, cái tốt, cái cao cả bị chà đạp.

một cách triệt để. Ông hay quan trọng hoá và lên mặt cường điệu về vai trò của

Cái nhìn sắc sảo của Ma Văn Kháng còn nhận thấy hậu quả khôn lường của sự

mình…Tiếc thay công tác Đảng, các động lực vĩ đại của cộng sản, cái linh hồn sống

ấu trĩ và bất cập ấy. Nhà văn nhìn rõ khi cái dốt, cái ác nắm quyền lực thì hậu quả

động của sự phát triển, thông qua ông Dương đã biến thành một chuỗi công việc đối

của nó thật khôn lường. Thầy giáo Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) còn khốn


phó vặt vãnh, ngờ nghệch. Có những khi ông Dương được miêu tả là một ông lão cổ

đốn vì Bí thư Dương và Hiệu trưởng Cẩm. Từ một bí thư Đoàn xã trình độ văn hoá

hủ, dốt nát, lúc lại hiện nguyên hình là một gã cảnh sát chỉ nhằm phạt vi cảnh người

lớp 7, nhờ sức vóc, đạt giải chạy 1000 mét ở Huyện, Cẩm được đề bạt làm cán bộ

bộ hành, lại có lúc hành tung của một tên mật thám quỷ quyệt.

Đoàn, và được mời vào dạy thể dục ở một trường cấp II. Do có một vài năm thâm
niên trong nghề, Cẩm được cử đi học Đại học theo ý đồ vạch sẵn.

Đó là những kẻ "bất tri" nhưng lầm tưởng là "tri" và tự giao cho mình cái
quyền dạy cách làm người cho giáo viên và học sinh. Ấy thế mới nảy sinh ra những

Lợi dụng kẽ hở trong quản lý cùng với năng lực "chạy", Cẩm nghiễm nhiên trở

nghịch lý, cái xấu ngồi trên cái tốt, cái vô văn hoá dẫm đạp lên cái có văn hoá, cái

thành một hiệu trưởng trường cấp III. "Cẩm là loại trí thức giả danh dốt nát và bần

ngu dốt ngự trị tài năng. Sự đảo ngược các giá trị đó đã làm cho những người tâm

tiện". Hiệu trưởng Cẩm của cái trường cấp III bất hạnh ấy, "chính là sản phẩm của

huyết như Ma Văn Kháng dằn vặt đến đau đớn. Viết về nhà trường đấy nhưng thực

một thời lấy lý lịch ba đời nghèo khổ, lấy tấn phân xanh phân chuồng làm thước đo


ra Ma Văn Kháng muốn đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Câu chuyện

giá trị của mỗi con người". Với lối đề bạt như vậy, lại thêm cái thói tham lam vô độ,

tiêu cực ở trường Trung học số 5 này, mang dấu ấn và là sản phẩm của một giai

bần tiện, liều lĩnh và luôn thèm khát địa vị, Cẩm đã làm điêu đứng, tổn thương biết

đoạn xã hội mang nặng tính chất giáo điều, máy móc áp đặt, lối làm việc chạy theo

bao nhiêu người chân chính như ông Thống, như Tự…

thành tích giả dối trong công việc, trong quan hệ đối xử giữa con người với con

Cũng như Cẩm, Dương đã đạt lên tới đỉnh cao của danh vọng, tuy nhiên con
đường tiến thân của Dương nhanh gọn hơn. Trình độ văn hoá mới chỉ là lớp nhì

người. Những kẻ nắm quyền lực đã tỏ ra không xứng đáng với trách nhiệm của
mình và là những kẻ tồi tệ, không thể chấp nhận được.

năm thứ nhất nhưng Dương tốt nghiệp lớp lý luận cấp cao nên ông ta được Bộ Giáo

Hướng thẳng cái nhìn sắc sảo, tinh vi của mình vào những vấn đề nhức nhối

dục đưa sang làm giáo viên dạy chính trị - Bí thư chi bộ nhà trường. Là giáo viên

trong cuộc sống, Ma Văn Kháng còn chỉ ra cái ác, cái xấu không chỉ tồn tại ở một

dạy chính trị nhưng ông Bí thư chi bộ của nhà trường này đã trở nên bất hủ với lời


cá nhân mà là một liên minh những kẻ cầm quyền tha hoá, lợi dụng chức quyền

giải thích: Mác xít là tên gộp của hai vị lãnh tụ cộng sản C.Mác và Xíttalin ghép lại.

hãm hại người dân lương thiện. Trong Chó Bi - đời lưu lạc, liên minh đó bao gồm;

Ông còn đồng hoá với chức vụ và càng thâm niên đảm nhiệm chức vụ ông càng xa

Viễn cụt, mụ Lên, Xuân Chương và gã y sỹ nửa mùa… Viễn là chủ tịch phường,

cách con người bình thường tự nhiên, càng bộc lộ rõ trình độ văn hoá cấp I của

Lên là chủ nhiệm cửa hàng kinh doanh tổng hợp, Xuân Chương được phân công

mình. Ông cho rằng: "Văn chương tự cổ vô bằng cứ. Văn chương là tư tưởng. Mà tư

chuyên trách tư tưởng của cả phường. Cả ba đều thuộc diện ưu đãi của chính sách.

tưởng thì nó như con lươn rúc bùn, như anh chàng Tôn Ngộ Không bảy mươi hai

Viễn khai là thương binh què chân, Xuân Chương khai là thương binh loại nhẹ, lý

phép biến hoá thần thông, sai đấy, đúng cũng đấy, lập lờ phản trắc cũng là ở đấy…"

lịch ghi có thời đi thanh niên xung phong tuyến lửa, còn mụ Lên khai là vợ liệt sĩ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







20

21

Nhưng thực chất Viễn chính là một tên lưu manh đảo ngũ, đã tự chặt ngón tay để

được càng nhiều tiền của cho bản thân mình càng tốt cho dù phải dùng thủ đoạn gì

khỏi phải ra chiến trường. Vốn là một anh lính bị kỷ luật trong chiến tranh do giết

chăng nữa. Ông Luông - Chủ tịch phường Ngọc Sinh, vốn sống trong một ngôi nhà

bạn, rồi do ăn cắp lý lịch của bạn mà Viễn được thăng tiến… Còn mụ Lên "tính khí

"kín cổng cao tường, qua ba lớp cửa sắt mới vào được tới sân. Mảnh chai tua tủa sắc

hoa nguyệt đến mức gây rối loạn chức sắc địa phương" phải tha hương lên thành

rợn trên vòng tường vi, trên nữa là giây thép gai đan lưới mắt cao. Ông có một

phố. Xuân Chương thì là một tướng khỉ, không nghề nghiệp, bỏ quê ở miền Trung

chùm chìa khoá hai mươi mốt chiếc… vào đến buồng ngủ phải qua bẩy lần cửa


đi làm phu hồ ở công trường xây dựng nhà ở của phường. Được ví là "gã trai đàng

khoá nổi khoá chìm" [23,35] là những người như thế. Ma Văn Kháng đã để cậu bé

điếm" nên chẳng bao lâu hắn đã nhanh chóng quen hơi bén tiếng với mụ đàn bà

Duy, mười năm tuổi nhìn lại cái thời thơ ấu của mình mà ghê sợ nhận ra rằng: "Thì

"hừng hực bản năng giống cái" để trở thành "cô cháu" rồi ở cùng một nhà. Cả ba

ra con người ta là vậy, nó, chính nó nhiều khi lại là thủ phạm gây bao nỗi oan khổ

người, nắm ba mặt quan trọng nhất của đời sống: chính quyền, kinh tế, văn hoá…

đau đớn cho đồng loại. Con người mang tiếng là con người mà sao nó lại có thể

và cả ba đều cùng một duộc, kết bè kết đảng với nhau để đục khoét, vơ vét, của cải

nhẫn tâm, đểu cáng thế" [23,134]. Không chỉ ông Luông mà tên Hứng cũng không

của người dân lương thiện về tay mình, về nhà mình. Những kẻ lãnh đạo như thế,

từ thủ một đoạn nào để cướp đoạt tài sản của ba bà cháu đang sống trong cảnh đau

bộ mặt của phường và đời sống nhân dân được chăm lo như thế nào là điều ai cũng

buồn, tuyệt vọng. Khi một bà lão già nua gần 70 tuổi do hoàn cảnh đưa đẩy phải

có thể tưởng tượng ra.


chăm lo nuôi dạy hai đứa trẻ côi cút. Cuộc sống của ba bà cháu đã phải trải qua

Trước một cái nhìn sâu sắc, đa diện, Ma Văn Kháng nhận thấy nạn nhân của

những ngày nguy khốn, tuyệt vọng, phải đem bán cả đồ đạc, ăn bữa rau bữa cháo,

liên minh ma quỷ này không ai khác là gia đình ông Thuần, một gia đình vốn rất

bữa đói bữa no… Quả thật, nếu ai đã từng đọc và chứng kiến tình cảnh đau thương

hạnh phúc, vui vẻ, đầm ấm. Vợ ông Thuần là giáo viên ở một trường Trung học, là

này không khỏi không xót xa, đau đớn. Thế mà hắn hàng ngày sống và chứng kiến

người đôn hậu, hiền lành hết lòng vì chồng vì con. Họ có hai cậu con trai thông

tình cảnh đó lại không sẻ chia, giúp đỡ mà ngược lại còn lợi dụng chức quyền, lợi

minh, học giỏi, ngoan ngoãn. Một gia đình tuyệt vời như thế lại trở thành cái gai

dụng gia cảnh của ba bà cháu để chèn ép, để vơ vét cho mình. Chúng đã liên minh lại

trong mắt những kẻ độc ác, bất nhân như Viễn, Lên, Xuân Chương... Hơn nữa ông

với nhau để thực hiện dã tâm chiếm đoạt ngôi nhà của ba bà cháu, chỉ để lại cho một

Thuần lại có một "trọng tội" là thủ trưởng cũ của ông Chủ tịch phường, người đã kỷ

bà già và hai đứa trẻ côi cút một căn buồng vẻn vẹn 6m vuông. Càng không ai có thể


luật và nắm rõ sự tích ngón tay cụt của lão, điều mà xưa nay ông Chủ tịch Phường

ngờ, một người giàu có như Chủ tịch phường Luông, đã từng công tác trong ngành

không muốn ai biết. Vì lẽ đó, lão ta đã báo cáo ngầm lên trên để vu oan ông, khiến

ngoại giao 30 năm, lại có thói quen "ăn bẩn" khi ăn chặn, ăn quỵt của trẻ con từng

cho gia đình ông Thuần - một trí thức tiếng tăm và được trọng vọng bỗng chốc đã

đồng từng hào mà mẹ chúng gửi về. Ông ta đã trắng trợn cướp đi từng miếng cơm

tan nát, lâm vào cảnh khốn đốn: Chồng con bị tù tội; vợ bị xúc phạm kỳ thị của

manh áo của con trẻ, thậm chí cả sinh mệnh chúng. Không những tham lam, độc ác,

hàng xóm và sự bức hiếp của những kẻ cầm quyền đến nỗi đau ốm suy sụp.

ăn bẩn một cách vô độ, ông Chủ tịch phường Ngọc Sinh còn là một kẻ cửa quyền độc

Đa dạng trong cái nhìn, nếp cảm, lối nghĩ, Ma Văn Kháng đã nhìn rõ chân

ác và ngu dốt. Ông ta cho rằng mình là người nắm "công tắc điện", cho ai sáng người

dung của những nhà cầm quyền một thời. Họ không hề có ý thức vì dân, phục vụ

ấy được sáng. Ngu dốt đến mức cho rằng Tây du ký là cuốn sách viết về chuyện Đặng

dân. Trái lại, họ lợi dụng chức quyền để bóc lột và chèn ép người dân. Mục đích


Tiểu Bình đi Mỹ, cấm mọi người đọc, rồi ông ta căn cứ vào hai cái họ: họ Lã (nhà

duy nhất của những nhà cầm quyền trong Côi cút giữa cảnh đời là làm sao vơ vét

Duy) và họ Đổng (mẹ Duy) để ngang nhiên buộc tội dân lành, ông còn cố tình cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






22

23

rằng cái món tiền hàng tháng được bí mật gửi cho bà cháu Duy là tiền của bọn gián

Ma Văn Kháng vốn là một cây bút đầy nhiệt thành, tâm huyết và trách nhiệm.

điệp nó trá hình cấp cho cụ (mà sau này xác minh được đó là tiền mẹ Duy gửi). Và

Vì vậy, những chuyện tiêu cực trong các sáng tác của ông không toát ra sự thoả

tất nhiên là ông ta giữ luôn số tiền hàng tháng đó vào trong túi mình, biến thành tài

thuê, cay cú mà nổi bật lên là thiên hướng nhạy cảm với mặt trái của cuộc sống, là


sản của mình…

khả năng đồng cảm của tác giả với nỗi đau của đồng loại. Nhân loại vượt qua không

Đặc biệt là Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Phô trong Ngược dòng nước lũ - vốn
là một học sinh nổi tiếng dốt nát và bỉ tiện, quá kém cỏi nên bị thầy Khiêm (lúc ấy

ít đắng cay và tồn tại đến ngày nay, trước hết là nhờ ở đó có những con người chưa
bao giờ đánh mất đi khả năng đồng cảm với nỗi đau của đồng loại.

là hiệu trưởng) đuổi học, đi làm công nhân bốc vác ở nhà ga xe lửa, rồi "nhảy tót lên

Trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới, Ma Văn Kháng đã không hề cường điệu khi

ghế cục trưởng". Cũng leo lên bằng cơ chế lý lịch hoá, Tổng cục trưởng Phô không

nhìn thấy không ít kẻ tha hoá mục ruỗng trong bộ máy quản lý nhà nước, không ít

cần học hành, không mất xương máu, chỉ cần có một lai lịch nghèo khó, một vẻ

những kẻ lợi dụng chức quyền "tích cực" tham ô, bóc lột vơ vét của nhân dân.

ranh mãnh trên đường đời, đã khiến cho con đường thăng tiến của Phô trở nên dễ

Chính cái nhìn ấy đã thức tỉnh những người có lương tri để cải tạo xã hội. Lênin đã

dàng. Nhưng càng đứng ở vị trí cao thì sự kém cỏi về năng lực càng được bộc lộ.

từng khẳng định: "Chỉ khi nào chúng ta không thừa nhận những thiệt hại, và những


Từ diện mạo "lạnh lẽo cô hồn, vừa nham hiểm" [26,158]. Khi có quyền lực tối cao

thiếu sót của mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thật đáng

hắn "ỷ vào quyền hành... hay trả thù cá nhân". Để giữ được cái địa vị tối cao, Phô

buồn nhất đi nữa - chỉ khi đó ta mới học được cách chiến thắng". Có thể khẳng định

luôn tìm cách loại bỏ những đồng nghiệp không tuân phục cách quản lý của mình.

Ma Văn Kháng đã học được cách chiến thắng để nhìn thẳng vào hiện thực của đời

Đặc biệt là khi phát hiện ra Khiêm là thầy giáo cũ - người biết quá rõ lai lịch mình

sống lúc bấy giờ.

lại xuất sắc và cao đẹp trong nhân cách đạo đức, vì lẽ đó hắn luôn tìm mọi cách để

Trong giới phê bình, nghiên cứu văn học có nhiều ý kiến khác nhau xung

loại bỏ Khiêm. Phô thực hiện triệt để chủ trương "tôi không cần người có tài, tôi chỉ

quanh cái nhìn hiện thực của nhà văn Ma Văn Kháng. Có ý kiến cho rằng, Ma Văn

cần đoàn kết" [26,159], không cần người có tài và biết làm việc, mà chỉ cần những kẻ

Kháng có một cái nhìn quá bi đát về hiện thực. Ý kiến ấy không phải không có cơ

biết tuân phục nên hắn đã đạo diễn hết màn kịch này đến màn kịch khác hòng dồn đẩy


sở, bởi nhà văn có cái nhìn ở nhiều góc khuất cuộc sống và chuyển tải lên trang văn

những con người như Khiêm đến tận cùng bi kịch đau xót.

của mình. Có điều như đã trình bày, nhà văn đưa cái xấu, cái ác không ngoài mục

Trong Ngược dòng nước lũ không chỉ có Phô mà Ma Văn Kháng còn nhìn thấu
đến tâm can sự đen tối của những kẻ hám danh, hám lợi đến cạn tình ráo máng như

đích để mỗi chúng ta nhìn thẳng vào sự thật của cuộc sống dũng cảm đối diện với
nó, cải tạo nó để cuộc sống này có ý nghĩa hơn.

Đức, Hiển, Quanh lé... Khi biết Khiêm bị Phô đánh bật ra khỏi vị trí công tác của

Bằng cái nhìn sâu sắc, bằng lương tri và trách nhiệm của người cầm bút, Ma

mình, Quanh xum xoe nịnh nọt Phô để hòng được cân nhắc lên ghế chủ nhiệm thay

Văn Kháng không chỉ nhìn thấu sự ấu trĩ và những điều bất cập bất ổn trong cơ

Khiêm. Kẻ a dua này theo lệch chủ phản bội lại Khiêm không từ thủ đoạn nào. Cái

quan quản lý, mà ông còn thấy rõ những tôn ti trật tự trong các mối quan hệ xã hội

đám đông bất tài vô nghĩa lý ấy, được Phô dựng lên bằng quyền lực, động cơ cá

và gia đình đang chao đảo trước nền kinh tế thị trường hôm nay.

nhân của mình để giữ bằng được cái chỗ ngồi của mình, Phô đã dựng quanh mình


Xuất phát từ một trái tim nặng trĩu ưu tư, Ma Văn Kháng luôn lo lắng cho

một liên minh ma quỷ, những kẻ dốt nát, vô đạo đức, nhằm chống lại Khiêm và

những giá trị văn hoá và đạo đức truyền thống đang bị đảo lộn và dần bị mai một.

củng cố địa vị của mình.

Ma Văn Kháng đã có cái nhìn khá mới mẻ, đa diện trong việc khám phá và đào sâu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




24

25

các vấn đề của đời sống gia đình trước cơ chế mới đang có nguy cơ lung lay, bật rễ,

chồng, anh em, những quy tắc luân lý bất thành văn, bám rễ sâu vào huyết mạnh,

chao đảo.


tâm cảm, giằng níu mọi người trong những giao kết, liên hệ vừa nghiêm chỉnh vừa

Khác với cái nhìn của Nguyễn Khắc Trường trong Mảnh đất lắm người nhiều

thân mật" [22,87]. Tự hào về gia đình mình, ông Bằng cũng rất hy vọng những ngày

ma, Ma Văn Kháng không đi sâu tìm hiểu các vấn đề bộn bề của gia đình, dòng họ

cuối đời mình sẽ trôi qua trong hạnh phúc đầm ấm của gia đình. Thế nhưng sở

ở mảnh đất nông thôn vốn bình yên nay cũng đang chao đảo, mà ông hướng cái

nguyện của ông giờ đây trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết, bởi gia đình ông không

nhìn của mình về khu đô thị, nơi lâu nay vẫn được coi là tiến bộ, là văn minh.

còn là một vùng yên ổn nữa, nó đã phản chiếu tất cả cuộc sống ở ngoài đời "cái

Ngay từ những năm đầu của nghiệp cầm bút, Ma Văn Kháng đã tái hiện đời

vùng tưởng là tĩnh lặng, cái vùng hay bị lãng quên trong mối quan tâm hàng ngày,

sống trong gia đình Việt Nam hiện nay, bởi gia đình vốn là một mắt lưới cơ bản của

có ai ngờ lại là nơi khơi thuỷ, chung cục của lắm điều bất hạnh" [22,345]. Những

xã hội, là nền tảng vững chắc cho xã hội phát triển. Gia đình cái vùng tưởng như

điều bất hạnh đó là do sự tác động của đời sống xã hội đang ngày một đổi thay, là


yên ổn, cái mà có lúc tác giả gọi đó là "vùng an lạc" trong vòng xoáy của cơ chế thị

do sức mạnh của đồng tiền chi phối mà con người không làm chủ được.

trường và đời sống xã hội thời hiện đại có ai ngờ lại là vùng chứa nhiều sóng gió

Trước hết là Cừ con trai ông Bằng, vì không chịu hấp thu nền giáo dục truyền

nhất. Lối sống ích kỷ buông thả theo những dục vọng thấp hèn, coi đồng tiền là trên

thống gia đình, nên đã bị những cám dỗ xấu xa của xã hội lôi kéo ra khỏi nề nếp gia

hết, bất chấp những nguyên tắc, luật lệ của truyền thống lan toả vào từng gia đình

phong. Cừ coi thường tất cả những giá trị tinh thần cao quý, coi đạo đức và các mối

làm đảo lộn cả những giá trị truyền thống thiêng liêng cao cả.

quan hệ tình cảm thiêng liêng với tổ quốc, gia đình, bố mẹ, anh chị… là con số

Về vấn đề này, Lê Lựu trong Thời xa vắng cũng đã đề cập. Nhưng dường như

không vô nghĩa. Với Cừ cuộc đời là một sự lừa lọc "đạo đức giả cả thôi". Quay lưng

cái nhìn của nhà văn vẫn chưa soi tỏ được hết hiện thực cuộc sống trên tất cả các

lại với những lời dạy của bố mẹ, lại bị bạn bè xấu lôi kéo, Cừ đã bỏ mặc gia đình, từ

bình diện. Với Ma Văn Kháng, thành thị đã thực sự trở thành một môi trường mà


bỏ quê hương xứ sở ra nước ngoài sinh sống, để rồi phải chấp nhận một kết cục bi

mở ra cho ông một tầm quan sát và khả năng bao quát rộng lớn trên nhiều bình diện.

thảm nơi đất khách quê người. Khi đã nhận thức ra thì đã quá muộn "Xa rời những

Qua cái nhìn của nhà văn, cuộc sống nơi thành thị lẽ ra là cái nôi của nền văn minh,

tiêu chuẩn đạo đức con người thành thú dữ tàn bạo ngay. Đó là điều giờ đây con

nhưng nó cũng chính là cái tổ của những thói hư tật xấu, thói hám tiền, hám danh,

mới hiểu" [22,224]. Trong sự tuyệt vọng, Cừ đã kết thúc cuộc đời mình bằng một

tham quyền lực... Nơi đây, đồng tiền có sức mạnh vạn năng. Có thể làm thay đổi

liều thuốc ngủ.

nhân cách, lối sống của không ít gia đình, con người ở nhiều giai tầng khác nhau.

Đặc biệt là Lý con dâu ông Bằng. Là một người phụ nữ xinh đẹp, giỏi giang,

Ma Văn Kháng nhìn rõ sự chao đảo trong gia đình ông Bằng trong tác phẩm

đảm đang tháo vát khi không thắng nổi sự cám dỗ, vì muốn theo đuổi những ham

Mùa lá rụng trong vườn. Vốn là gia đình xưa nay nổi tiếng mẫu mực gia giáo, đạo

muốn vật chất nhất thời, chị đã trở thành người hoàn toàn khác. Để chạy theo những


đức, với năm anh con trai, năm hòn ngọc quý, các cô con dâu đều là những con

ham muốn và khát vọng làm giàu, Lý đã khước từ trách nhiệm làm dâu, thiên chức

người đảm đang, hết lòng vì chồng con và gia đình. Vậy mà, những quan niệm về

làm vợ, làm mẹ để sống một cuộc sống buông thả với gã trưởng phòng xấu trai giầu

lối sống mới lại đang từng ngày, từng giờ xâm nhập vào cái gia đình giầu truyền

có, làm gia đình tan nát, công việc dang dở… Lý đã trở thành nạn nhân của chính

thống đó. Với ông Bằng, mỗi gia đình là một tế bào nhỏ nhoi của xã hội "nhỏ nhoi

mình và phải đón nhận một kết cục bất hạnh. Cùng với nó là cuộc sống khó khăn

là vậy mà là nền móng, mà kết hợp nó trong bao quan hệ: Tình cha con, tình vợ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




26

27


của vợ con Cừ, tất cả những biến động dồn dập đến với gia đình ông Bằng, khiến

gia đình do không làm chủ được bản thân mà tan nát, hoặc phần lớn là do khách

ông không thể trụ vững được và đã ra đi.

quan đem lại.

Gia đình vốn là tổ ấm, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để mỗi người trong tổ

Gia đình bà cụ Lãng (Côi cút giữa cảnh đời), gia đình ông Thuần (Chó Bi - đời

ấm đó được trú ngụ, được che chở, được nâng niu, an ủi mỗi khi gặp bất trắc tai

lưu lạc) vốn là hai gia đình hạnh phúc ấm êm theo đúng nghĩa. Nhưng rồi cuộc sống

ương trong cuộc sống. Vậy mà, nhiều lúc gia đình lại đẩy chính mình vào những bi

với đầy rẫy những bất công, những thâm hiểm đã lấy đi tất cả hạnh phúc họ đáng

kịch đau thương, tan tác.

được hưởng. Trong gia đình ông Thuần những giờ phút vui vẻ, tràn ngập tiếng cười

Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) và Khiêm (Ngược dòng nước lũ) chính

giờ đây đã thiếu vắng, thay vào đó là sự chờ đợi nhớ mong. Mọi biến cố xảy đến

gia đình để lại trong họ biết bao vết thương lòng. Trước kia căn nhà này của họ


với gia đình đã làm thay đổi số phận của mỗi thành viên, dẫn đến sự phân tán chia

cũng đã là nơi yên ấm, vậy mà giờ đây nó luôn phơi bày mọi mâu thuẫn vợ chồng.

ly. Do sự hèn hạ của những kẻ chức quyền ông Thuần phải vào tù và bặt vô âm tín,

Đau xót hơn là nơi ấy lại diễn ra những cuộc tình bất chính của những người vợ mà

sự nghiệp, ước mơ đành dang dở; người con cả giỏi giang cũng phải chịu cảnh tù

họ đã từng yêu thương. Không biết bao nhiêu lần Tự phải nằm trên gác xép, giả

tội, nỗi đau đó đã khiến cho người mẹ tê liệt, rơi vào những cơn giao động khủng

câm, giả điếc để tránh phải nghe những lời chì chiết của vợ vì cái tội không làm ra

hoảng tinh thần. Gia đình bà cụ Lãng vốn tràn ngập niềm vui ấm áp trong tình mẹ

tiền và để tránh cho mình khỏi phải chứng kiến cảnh dâm ô bỉ ổi của vợ với Quỳnh

con, bà cháu, giờ đây là sự ly tán với bao nỗi khó khăn, vất vả cực nhọc, thậm chí

ma cô (Quỳnh đĩ đực). Cũng như Tự, gia đình trở thành một nỗi đau đời lớn với

có cả những phút giây mà sinh mệnh con người cũng mong manh như sợi tóc bởi

Khiêm. Thoa, vợ anh, "người đàn bà có cấu trúc sinh học vô cùng hám chuyện mây

những mưu sâu kế hiểm của bao kẻ gian ác, tham lam như lão Luông, tên Hứng…


mưa" chỉ cần một người chồng là một thằng đàn ông dồi dào sức lực và kiếm được

Khám phá mối quan hệ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, mọi quan hệ

nhiều tiền nên với Khiêm, chị ta không thoả mãn. Đó là nguyên nhân để chị không

cá nhân - gia đình - xã hội, nhà văn đã đặt ra được những vấn đề bức thiết "mỗi con

ngần ngại cùng với lão thầy thuốc Lang băm làm những chuyện bỉ ổi ngay bên cạnh

người, mỗi gia đình phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm như thế nào?

giường bệnh của chồng mình. Thoa đã quên đi cái tình nghĩa vợ chồng gắn bó bấy

Đọc xong những trang văn của ông, mỗi con người phải tự nhìn lại mình, nhìn lại gia

lâu nay chỉ vì lạc thú của bản thân. Trong lúc ốm dài nằm trên giường bất động như

đình mình, nhìn ra xã hội với ý thức trách nhiệm và sự lo lắng nghiêm túc." [44]

thế không ai hết, Khiêm cần được nương tựa vào gia đình, cần được những người

Có thể khẳng định vấn đề gia đình là vấn đề xuyên suốt trong tiểu thuyết của

yêu thương chăm sóc biết bao, nhưng oái oăm thay đó lại là những ngày khổ hình,

Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới. Ông thể hiện lên trang văn của mình niềm mong

cực nhục nhất đời của mình.


ước cao cả, sao cho "Gia đình, cái hình thái kết hợp lạ nhất của loài người, nơi thu

Ma Văn Kháng đã nhìn vào thẳng cuộc sống của từng gia đình, của mỗi nhà để

nhỏ của đời sống của xã hội, rồi đây có nhiều sắc thái mới mà trong các mối quan

suy nghĩ về những vấn đề khẩn thiết đang đặt ra trước mỗi con người. Theo ông

hệ, những ước mong yên vui cho mọi gia đình sẽ là mong muốn muôn thủa, mong

"Rác rưởi không chờn vờn ngoài cửa mà đã vào tận buồng, làm bụi bặm bầu không

cho con người mỗi ngày một phong phú về cá tính, được phát triển trong môi

khí trong lành, yên ấm của mọi gia đình". Sự chao đảo của từng gia đình trong cái

trường lành mạnh, thuận lợi, ngày càng giỏi giang, một tốt đẹp lên, dẫu còn gian

nhìn của Ma Văn Kháng có nhiều nguyên nhân, hoặc là do chính thành viên trong

nan nhọc nhằn, dẫu kẻ thù còn độc ác, còn kế hiểm mưu sâu" [44]. Như vậy, Ma

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







28

29

Văn Kháng đã nhìn rất rõ sự chao đảo của mỗi gia đình trong xã hội hôm nay và

cái thiện. Trong thực tế có cái ác thuộc về bản chất, có cái ác, cái xấu lại được sinh

nhà văn cũng nhận thấy vai trò của gia đình trong sự phát triển chung của xã hội.

ra từ sự tác động của môi trường, hoàn cảnh… hoàn cảnh nhiều khi chi phối và tạo

1.3.2. Cái nhìn con người tinh tường nghiêng về những giá trị văn hoá truyền thống

ra bi kịch cho con người.

Cũng như các nhà văn thời kỳ đổi mới, tự nhận thấy dòng văn học chỉ hướng

Thế giới con người trong cái nhìn của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới đông đủ

tới quần chúng để phát hiện ra con người mới với những phẩm chất công dân, phẩm

các giai tầng trong xã hội và vì thế kiểu nhân vật cũng vô cùng phong phú, đa dạng

chất cách mạng vì cái "ta" chung lúc này không còn phù hợp nữa nên Ma Văn

và phức tạp. Với cái nhìn đầy trách nhiệm của mình, trước hết Ma Văn Kháng đã


Kháng đã có sự đổi mới tư duy nghệ thuật để bắt kịp với xu thế chung của thời đại.

thấy rõ con người trước mọi bão táp vẫn giữ được giá trị đạo đức, văn hoá truyền

Trong thời kỳ Đổi mới, nếu Nguyễn Mạnh Tuấn tạo dựng hình mẫu người cán

thống, đó là những con người trí thức chân chính, những con người thị dân chân

bộ tương lai trong bối cảnh cực kỳ sôi động; Nguyễn Khải có ý thức đi tìm vẻ đẹp

chính. Cái nhìn tinh vi sắc sảo, nhà văn cũng đã phát hiện không ít những con người

của con người trong mỗi cuộc lựa chọn…thì Ma Văn Kháng lại săn tìm vẻ đẹp của

bị tác động của cơ chế thị trường đánh mất đi nhân cách làm người của mình…

con người trong các giá trị đạo đức truyền thống. Để rồi trong thập kỷ chuyển mình

Xuất phát từ cái nhìn nhân đạo, mong tìm kiếm những điều tốt đẹp cho sự phát

của văn học Việt Nam đương đại, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã ẩn chứa dấu hiệu

triển nhân cách con người, Ma Văn Kháng đã đặt con người trong mối quan hệ

đổi mới, mở ra những bình diện mới trong phương thức chiếm lĩnh hiện thực, trong

nhiều chiều, nhiều bình diện đó là con người của đời sống riêng tư, của xã hội, của

sự lý giải và thể hiện con người.


tự nhiên. Cái nhìn đó thể hiện một tư duy rất mềm dẻo, linh hoạt của Ma Văn

Kể từ Mưa mùa hạ (1982) "tác phẩm là kết quả của những cơn ngẫu hứng dài

Kháng. Ông đã thể hiện một tư duy nghệ thuật về con người của riêng mình.

chứa chan thi vị và hạnh phúc làm người". Ma Văn Kháng đã chuyển từ cái nhìn sử

Đọc các tác phẩm của Ma Văn Kháng có một điều dễ nhận thấy là, ông

thi từ các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi sang cái nhìn thế sự, đời tư, miêu tả con

nghiêng hẳn về những giá trị tinh thần cội nguồn của truyền thống dân tộc mà phân

người ở chiều sâu tâm hồn với những ước vọng tốt lành và cả những toan tính tầm

loại đánh giá con người. Có thể nói, ngay từ đầu sự nghiệp văn chương, Ma Văn

thường, nhỏ nhen ích kỷ. Với Ma Văn Kháng cuộc sống hôm nay không hề đơn

Kháng đã ý thức được sứ mệnh ngòi bút của mình viết là để khẳng định, bảo vệ giá

giản, nó chứa đựng bao nhiêu bất cập, phức tạp và bất trắc ngay từ những việc nhỏ

trị chân chính của con người. Không ngừng tìm tòi, đổi mới ngòi bút của mình

nhặt xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Cái nhìn sắc sảo đã hướng Ma Văn Kháng

nhưng tất cả sự đổi mới ấy đều được dựa trên những giá trị nhân văn chân chính.


vào từng ngõ ngách của đời sống hiện thực để soi rọi, phân tích lẽ đời, thói đời với

Bởi vậy, trong sáng tác của Ma Văn Kháng người đọc nhận thấy có không ít nhân

tất cả các cung bậc của tình cảm và các mối quan hệ ở mọi góc cạnh, mọi phương

vật biết vượt qua mọi bão táp cuộc đời để gìn giữ những giá trị ấy.
Ngay trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã dành

diện, nhất là thế giới nội tâm trong mỗi con người.
Khác với cái nhìn sử thi về con người, con người lúc này không chỉ đơn thuần

nhiều tâm huyết, tình cảm để xây dựng những con người trí thức chân chính. Nhân

có nghĩa vụ công dân đối với đất nước mà còn có nghĩa vụ đối với gia đình, với mọi

vật Trọng trong Mưa mùa hạ - vốn là một trí thức trẻ, tài năng, tâm hồn trong sáng

người và với chính bản thân mình. Ma Văn Kháng nhìn thấu con người trong cuộc

được kế thừa những đức tính tốt đẹp của người cha. Tốt nghiệp Đại học "loại xuất

sống hôm nay nhiều khi cái xấu, cái tốt, cái thiện, cái ác đan xen vào nhau khó tách

sắc", giỏi chuyên môn, rất thông thái và năng động, say mê đến cuồng nhiệt với

bạch, thậm chí cái xấu, cái ác còn ẩn náu sau cái thiện, cái tốt để phá hoại cái tốt,

khoa học nhưng lại bị "va vấp liên tục" bởi lẽ lúc bấy giờ cuộc sống có một luồng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






30

31

gió độc từ bên ngoài thổi vào, len lỏi từng góc cạnh của gia đình, thậm chí của từng

trạng rối bời, u ám, ngọn lửa niềm tin hắt hiu muốn tắt, nhìn cuộc đời như một bức

con người. Trước những thói tệ tầm thường, đang ghen ghét, vây bủa và vùi dập

tranh xám xịt. Lương tâm trong sạch và ý thức dân tộc vẫn còn chưa nguội lạnh đã trào

nhưng anh vẫn vững vàng để thực hiện khát vọng và hoài bão của mình. Là người

lên trong ông những trăn trở triền miên để phản ứng lại những cái xấu xa ngoài đời.

con của sông nước, Trọng đến với ngành thuỷ lợi bằng tất cả niềm say mê, nhiệt

Những mẫu hình nhân vật này còn được Ma Văn Kháng tiếp tục khám phá ở

tình và tâm huyết. Yêu những con đê xanh có hàng ngàn năm tuổi, Trọng gắn bó


các cấp độ cao hơn, với cái nhìn đa diện hơn, trong sáng tác của mình sau này. Đó

với nó như máu thịt của đời mình. Ma Văn Kháng thực sự rung động khi miêu tả

là những mẫu người như ông Bằng, Luận (Mùa lá rụng trong vườn); thầy giáo Đặng

nhân vật Trọng, miêu tả cuộc chiến đấu của anh và đồng đội để bảo vệ con đê, hay

Trần Tự (Đám cưới không có giấy giá thú); Khiêm (Ngược dòng nước lũ); và kiểu

nói đúng hơn là để bảo vệ đạo lý, nền văn minh dân tộc.

người lý tưởng như ông Thuần (Chó Bi - đời lưu lạc)…Họ là những trí thức chân

Trước những bủa vây của tệ nạn tiêu cực và sự bức bách của vấn đề cơm áo

chính suốt đời theo đuổi lý tưởng cao đẹp nhưng lại bị ném chìm vào một xã hội

hàng ngày, Ma Văn Kháng đã nhìn thấy sự hoài nghi, phân vân ở mỗi người, nếu

thực dụng, trong sự băng hoại về đạo đức và nhân cách nhưng vẫn cố gắng dùng

chỉ một thoáng do dự, hoặc không tỉnh táo, quyết đoán là con người có thể sa ngã.

sức lực nhỏ bé của mình để giữ gìn những giá trị đạo đức tốt đẹp của truyền thống

Ý thức sâu sắc được điều này, Trọng đã lấy niềm say mê của mình, lấy công việc

dân tộc Việt.


làm vui, vật lộn với mưa gió bão lụt, chiến đấu với quỷ thần không một chút đắn đo

Là một trí thức cũ sống hết mình với đạo đức truyền thống, ông Bằng (Mùa lá

do dự. Gặp biết bao khó khăn, trở ngại trong quá trình nghiên cứu và tham gia trực

rụng trong vườn) luôn ung dung tự tại, ý chí nghị lực một cách thâm trầm, lấy sự

tiếp vào cuộc đấu tranh giữa cái xấu, cái tốt người kỹ sư trẻ tuổi này nhận ra rằng:

bình ổn cân bằng làm căn bản, dùng thiện tâm để đối xử, bằng sự giúp ích cho đời

"Cuộc đấu tranh trên những con đê có cái gì để gần gũi lắm với đời sống hiện nay".

để hiện diện. Ông sống theo phương châm "Coi trọng đạo lý, rời xa phù phiếm, kết

Bởi vậy, anh đã trực tiếp xuống hiện trường, tìm hiểu nguyên nhân, nghiên cứu gốc

hợp với đạo đức cuộc sống và tinh hoa của cha ông" [22,51]. Với cốt cách và chí

rễ của vấn đề để từ đó tìm ra hướng giải quyết, khắc phục hòng tiêu diệt lũ mối đục

hướng ấy, cả đời ông là một quá trình phấn đấu không mệt mỏi. Ông đã từng sống

khoét trong lòng đê. Biết Hưng đố kỵ và lợi dụng quyền hành để loại anh ra khỏi

những ngày tháng hào hùng của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở thành Nam, đã

công việc mà anh hằng say mê, gián tiếp phủ nhận công trình khoa học của mình,


từng gương cao lá cờ đỏ sao vàng vác ba lô đi kháng chiến ở Yên Bái, Tuyên

Trọng đã không đầu hàng. Không chỉ vậy, lá đơn xin vào Đảng bị kẻ xấu cố tình

Quang, rồi cũng đã có lúc hai vợ chồng phải xay lúa giã gạo thuê kiếm thêm tiền lưng

xuyên tạc, đặt điều nhưng Trọng không nản chí, anh đã trả lời thẳng với ông Chánh:

gạo nuôi con… Hành trình của ông trên cõi đời lắm chông gai là thế nhưng cốt cách

"Tôi sẽ tiếp tục công việc của tôi, cũng như tôi sẽ vào Đảng" [25,280].

tinh thần riêng của ông không vì gặp khó khăn trở ngại mà nao núng, lu mờ.

Ở Trọng luôn thể hiện một lý tưởng sống đứng đắn, một tâm hồn trong sáng

Không phải là người có tài năng xuất chúng nhưng ông Bằng luôn chỉnh chu,

nhiệt thành, một ý chí vươn lên mạnh mẽ đối lập hoàn toàn với những con người

đức độ và luôn có tinh thần cầu thị, được đồng nghiệp và mọi người nể trọng và tin

tiêu cực, những thấp hèn đang hoành hành trong xã hội.

cậy. Đối với gia đình, ông luôn lấy đạo đức, nhân cách, tình yêu và niềm tin của bản

Cũng như Trọng, ông giáo Cần - cha Trọng trong Mưa mùa hạ, một trí thức tài

thân đối với văn hoá, đạo đức truyền thống của dân tộc để giáo dục con cái: "Phải


năng và tâm huyết, vì bị thói đời chèn ép, vì cảnh ngộ riêng phải xin nghỉ hưu sớm.

giữ gìn các con ạ. Giữ gìn từ những cái nho nhỏ, vì từ cái nho nhỏ cộng lại thành

Trước những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội, ông đã sống những ngày đêm tâm

văn hoá, nền tảng đạo lý đấy…" [22,60]. Suốt cuộc đời, ông vẫn luôn giữ được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






32

33

phẩm giá cao ngạo, cứng cỏi cho mình mà không một thế lực hay thói hư tật xấu

phải sống với một thực trạng cay đắng về sự phản trắc của vợ - một người đàn bà

nào có thể làm ông lung lay chao đảo, ngược lại, như ngày càng được củng cố một

chỉ biết chạy theo đồng tiền và quên đi thiên chức làm vợ, làm mẹ, thậm chí cả


cách vững chắc hơn. Ông dường như chính là hiện thân của ý thức hướng về cội

những đạo lý trên đời.
Tìm hiểu kỹ về vấn đề này chúng tôi thấy, Nam Cao cũng đã hướng cái nhìn

nguồn dân tộc và giữ gìn truyền thống.
Nếu như ông Bằng là hình mẫu của lớp trí thức cũ thì Luận là hình mẫu của

của mình vào tầng lớp trí thức như Hộ trong Đời thừa, suốt đời ôm mộng văn

lớp trí thức hôm nay. Là một nhà báo, Luận luôn tỏ ra năng nổ, thông minh, trí tuệ

chương những mong "chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel và

sắc sảo, có lý tưởng, có trách nhiệm, có tình yêu thương tận tuỵ và biết xây dựng

dịch ra mọi thứ tiếng trên toàn cầu" nhưng mộng không thành vì miếng cơm manh

hạnh phúc gia đình trong điều kiện đời sống còn nhiều khó khăn. Vốn coi nhẹ giá trị

áo ghì sát đất. Cũng như Hộ, Thứ trong Sống mòn khát khao hoài bão và khát vọng

vật chất, Luận chỉ chăm lo đến việc bồi bổ giá trị tinh thần, bồi dưỡng kiến thức để

về lý tưởng nghề nghiệp. Bao nhiêu mơ ước, mộng tưởng đẹp đẽ là thế, vậy mà rốt

hoàn thiện kho tàng học vấn của anh và phục vụ cho nghề nghiệp. Luận "mê say

cuộc, Thứ cũng chỉ là một ông giáo sống lay lắt mà đến không khí để thở cũng phải


đuổi theo sự làm giàu về một phương diện khác: Trí tuệ, tình cảm, đạo đức (…)

dè xỉn. Như vậy, Thứ và Hộ đều là những trí thức giàu nghị lực, lắm khát vọng

hướng hoàn toàn về vẻ đẹp tinh thần, vẻ đẹp bên trong" [22,158]. Ta thấy, dường

nhưng rốt cuộc cũng chỉ là những kẻ sống mòn, sống trong đời thừa, ngay cả khi

như không lúc nào Luận được nghỉ ngơi thực sự, anh làm việc cả khi đang ngủ, cả

chết vẫn chưa làm được gì.

khi đang ăn. Trằn mình vào cuộc sống, ý thức được mối quan hệ cá nhân - gia đình-

Khác với Nam Cao, bằng cái nhìn tinh tế sâu sắc và mới mẻ về người trí thức,

xã hội, ở nhà báo Luận luôn toả sáng một vẻ đẹp truyền thống với lòng nhân hậu,

Ma Văn Kháng không những thấy Tự nghèo, mà còn phải đối mặt với biết bao bỉ ổi,

đằm thắm bao dung. Trước sự xói mòn khá nghiêm trọng về đạo đức trong nền kinh

thô bạo và độc ác tinh quái cả trong gia đình và nơi công sở. Mặc dù phải sống

tế thị trường, những con người như Luận là một phần nhỏ để ngăn chặn những cơn

trong những môi trường nhố nhăng đồi bại ấy, Tự vẫn có ý thức giữ gìn nhân cách

sóng dữ không cho nó len lỏi vào từng cá nhân trong gia đình.


người thầy để trở thành một tấm gương sáng về đạo đức trước biết bao thế hệ học

Với một nhãn quan tinh tường, Ma Văn Kháng đã hướng cái nhìn của mình

sinh. Hết lòng truyền tải kiến thức và chăm lo vun xới những mầm xanh tương lai

vào số phận con người ở những cảnh đời khác nhau, để bầy tỏ sự xúc động chân

của tổ quốc, Tự đã dũng cảm lên tiếng để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các em

thành trên mỗi trang văn của mình. Là một thầy giáo tài năng và tâm huyết, đã có

để rồi bị quy chiếu là phần tử về tư tưởng có vấn đề. Đó là điều mà không phải bất

hai mươi năm thâm niên trong nghề dạy học, Tự (Đám cưới không có giấy giá thú)

kỳ người thầy nào cũng làm nổi. Thuật giáo viên dạy toán cùng trường với Tự đã

chính là hình ảnh của một nhà giáo lý tưởng "Mô phạm mà vẫn không mờ nhạt lòng

nói: "Thầy phải ra thầy, khẩu hiệu hay tuyệt, nếu vậy, ở đây, anh Tự ở lại trường.

nhiệt thành nhiệt thành, tinh thần triệt để, cùng chiều sâu tri thức, sự phong phú của

Còn thì: tôi cút, ông cút, ông Dương cút, bà Thảnh cút". Chưa hết Thuật cũng từng

tình cảm và sức lan toả của tư duy đã tạo nên một anh giáo Tự mực thước mà vẫn

nói trước hội đồng nhà trường rằng: "Thầy Tự đây được 10 điểm, tôi chỉ đáng 5, bà


sâu sắc, đôn hậu mà vẫn uyển chuyển, đa cảm mà vẫn rắn rỏi, không dễ uốn mình,

Thảnh 2. Còn ông, ông Cẩm điểm1 hay là dêzô". Như vậy, ở cái trường Trung học

cảm thông với mỗi sa sảy, yếu đuối của học trò" [70]. Thế nhưng Tự lại bị thói đời

số 5 này, chỉ có một mình Tự mới xứng đáng được gọi là thầy mà thôi.

ngu dốt, vụ lợi và thói tham quyền cố vị của những kẻ đội lốt trí thức như Bí thư

Không chỉ ở người thầy chân chính, Ma Văn Kháng còn nhận thấy phẩm chất

Dương, Hiệu trưởng Cẩm… chèn ép, trù dập không một lối thoát. Hơn nữa Tự còn

của tầng lớp trí thức chân chính trong nhiều lĩnh vực. Là người lãnh đạo giỏi, ông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






34

35

Thuần (Chó Bi - đời lưu lạc) đã mạnh dạn cải cách trong sản xuất kinh doanh, đưa


chấp nhận hoàn cảnh. Tự, Khiêm, ông Thuần đều là những người như thế. Bi kịch

xí nghiệp vào con đường lớn. Chính vì thế những kẻ bảo thủ, bất lương đã ghen

của cuộc đời họ một phần cũng là do sự nhu nhược của chính họ tạo nên. Qua

ghét tìm cách hãm hại ông, dẫn đến quãng đời bảy năm tù tội chất chứa bao oan

những nhân vật trí thức này, Ma Văn Kháng muốn gửi tới một thông điệp, người trí

khốc cay đắng. Nhưng ông vẫn tỏ thái độ tự tin bình tĩnh, bởi ông tin vào lẽ sống

thức lý tưởng không chỉ cần có cái tài, cái tâm mà còn phải biết hành động, dám

của mình cũng như đã tin vào chân lý vĩnh cửu. Trước sự nghi vấn của cơ quan

hành động để tự khẳng định mình trong mọi hoàn cảnh.

chức trách, ông còn là con người thấu tình đạt lý, hiểu được đến tận cùng lẽ đời khi

Không chỉ tập chung khám phá tìm hiểu, con người và cuộc sống của tầng lớp

thường khi biến, thế nên cái thất bại của ông cũng chỉ là nhất thời thất thế của người

trí thức chân chính, cái nhìn đa chiều của Ma Văn Kháng thấy cả những tri thức tha

quân tử trước kẻ tiểu nhân mà thôi. Vì xác định cho mình có một cách sống, ông

hoá, tri thức lưu manh. Thuật giáo viên dạy Toán của trường Trung học số 5 đại


luôn giữ được một phong thái đàng hoàng tự tin.

diện tiêu biểu cho giới trí thức tha hoá. Được xếp vào bậc tài trí trong giáo giới

Cùng với Tự, Trọng, ông Thuần, nhà văn Khiêm trong "Ngược dòng nước lũ"

trong thành phố. Thuật vốn là một tài năng đích thực nhưng cuộc đời Thuật lại rơi

cũng chất chứa trong mình bao phẩm chất tốt đẹp. Sống giữa đám đông tầm thường

vào vết trượt dài trên con đường tha hóa và bị lôi cuốn vào vòng xoáy đời thường

giả dối Khiêm đã biết tự vượt lên để bảo toàn khí tiết. Anh đã trải đời mình trên

với lối sống thực dụng, coi trọng lợi ích vật chất. Thuật đã ngang nhiên tuyên bố

những trang viết để cho ra đời cuốn tiểu thuyết "Bến bờ". Nghiệt ngã thay khi "Bến

rằng: "Tôi không có động cơ khác nào là… tiền! Tiện đây, tôi xin công khai tô i dạy

bờ" hoàn thành thì cũng là lúc Khiêm bị cách chức, bị tước đoạt, do sự trả thù cá

thêm một cua năm mươi giờ, bất kể giá cả trượt lên, hay trượt xuống, chỉ biết thu về

nhân hèn hạ của những kẻ vô học nắm quyền lực. Nhưng với cách sống thanh cao,

đúng một chỉ" [21,152]. Học trò đã đặt biệt hiệu cho anh "Thuật… chó" không chỉ

trong sáng, luôn coi nhẹ địa vị quyền lực, anh đã tỉnh táo đề nhìn thấu đáo sự đốn


bởi Thuật nuôi và kinh doanh chó giống mà còn có một nguyên nhân khác xuất phát

mạt, bán rẻ nhân cách, tham lam quyền hành của một đám đông hỗn loạn trong cơ

từ tư cách của anh. Cái biệt danh này vô tình đã khái quát sự tha hoá của Thuật.

quan văn hoá.

Thuật đã đánh mất nhân cách, từ bỏ tư cách của một người thầy, anh ta thông thuộc

Bằng cái nhìn tinh tế và mới mẻ, nhân vật trí thức lý tưởng của Ma Văn Kháng

chuyện buôn bán chó hơn là nghiệp vụ giảng dạy. Kể cả cô giáo Thảnh, là một trí

đều có những nhân cách đáng trân trọng. Họ không bị tiền bạc danh lợi cám dỗ,

thức nhưng đã để những khát vọng vật chất, những khát vọng tầm thường lôi cuốn,

không bị cuốn vào xu thế thực dụng của số đông, luôn đấu tranh vượt lên hoàn cảnh

trở thành trơ tráo, không còn nhân cách. Cũng như tầng lớp trí thức, tầng lớp thị dân

số phận, để bảo toàn nhân phẩm. Họ không bị tha hoá, không chịu nhuộm đen, dù

trong cái nhìn của Ma Văn Kháng gồm đủ loại người tốt có, xấu có và những kẻ tha

phải một mình "ngược dòng nước lũ". Họ dường như vượt lên trên mọi toan tính

hoá cũng có.


tầm thường.

Tiếp cận hiện thực, nghiên cứu khám phá hiện thực và con người nhiều tầng,

Với một nhãn quan tinh tường Ma Văn Kháng không chỉ thấy ở tầng lớp trí

ngòi bút của Ma Văn Kháng đã phát hiện ra vẻ đẹp của những giá trị đạo đức truyền

thức chân chính hôm nay có những cái tốt, cái cao cả, mà nhà văn còn nhìn thấy mặt

thống. Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới ta còn thấy xuất hiện

hạn chế, nhược điểm ở họ, điều đó cho thấy cái nhìn của Ma Văn Kháng rất đa diện,

rất nhiều những người tốt, những công dân lương thiện luôn quan tâm đến mọi

đa chiều. Nhìn chung những trí thức của Ma Văn Kháng đều là những người có lý

người, sẵn sàng sẻ chia và cứu giúp nhau trong những lúc khó khăn như bà Lãng, cô

tưởng, có nhân cách cao thượng, nhưng đôi khi họ lại nhu nhược, dễ đầu hàng và

Quyên, cô Đại Bàng…(Côi cút giữa cảnh đời). Cuộc đời của hai đứa trẻ côi cút

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







36

37

tưởng chừng sẽ chìm vào vực sâu của sự thất vọng nếu không có bàn tay, không có

Ở gần cuối tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện đôi bạn trẻ Cần - Vân.

tấm lòng che chở của người bà cũng như sự cưu mang giúp đỡ của cô giáo Quyên,

Tác giả đã dành những dòng tâm sự yêu thương, niềm tin tưởng vào đôi bạn trẻ này,

của cô Đại Bàng và những người dân chân chính của phường Ngọc Sinh. Họ đã

bởi họ mang tính cách truyền thống của một dân tộc. Nếu như Đông ù ì, bất lực

dang tay ra cứu giúp số phận bi thảm, côi cút của Duy và Thảm, trong khi chính

trước những biểu hiện tiêu cực của đời sống, thì Cần nhìn mọi việc một cách thanh

cuộc sống của họ cũng có lúc khốn khó tưởng chừng không qua nổi. Ma Văn Kháng

thoát, không thờ ơ nhưng cũng không bi quan. Anh cho rằng: "Công nghiệp hoá

đã xây dựng thành công một câu chuyện cổ tích giữa đời thường, mà phép mầu


xong thì sẽ thanh toán hàng loạt cái xấu" [22,354]. Còn Vân là người biết trân trọng

nhiệm lại được xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của những con người chân chính ấy.

những tập tục của dân tộc, nhưng cũng kiên quyết chối bỏ việc sắp xếp hôn nhân vì

Họ như là những vị tiên giáng trần dang cánh tay của mình cứu giúp linh hồn ngây

đồng tiền của cha, mẹ để bảo vệ tình yêu đến cùng. Đó là những hình tượng nhân

thơ của những đứa trẻ như bé Duy, bé Thảm. Đồng thời đây cũng chính là nơi tác

vật mà nhà văn Ma Văn Kháng đã thể hiện mong ước và tình cảm nồng hậu của

giả muốn ấp ủ tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

mình vào thế hệ trẻ hôm nay.

Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã thấu tỏ nhiều chân dung

Với cách nhìn nhận sáng suốt và công bằng, cùng với tâm huyết của mình, Ma

cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nổi bật lên

Văn Kháng đã dồn vào, đã xây đắp cho mỗi nhân vật, mỗi con người, mỗi cảnh đời

giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật bà lang Chí, chị Hoài, Phượng, Vân…

trên trang viết đầy ắp sự chân thành xúc động của mình


trong Mùa lá rụng trong vườn hay chị Trang trong Chó Bi - đời lưu lạc. Bà lang

Không chỉ nhìn rõ những con người trước mọi bão táp của cuộc đời vẫn giữ

Chí, một đời thiệt thòi mà vẫn nhân hậu. "Coi việc nâng đỡ người khác như một nhu

được những giá trị đạo đức văn hoá truyền thống. Ma Văn Kháng còn nhìn thấy cả

cầu tự thân"; chị Hoài nết na thuỳ mị sống có trách nhiệm với mọi người; Phượng

những con người tha hoá về đạo đức và nhân phẩm trước sự tác động của cơ chế thị

hiền từ, chân thật, hài hoà đầy lòng thương yêu, sẵn sàng chia sẻ mọi niềm vui với

trường. Tiêu biểu là những kẻ vụ lợi cơ hội như Hướng, Liệu, Tý Hợi, Hiển…

người khác, làm tất cả những gì có thể để mọi người vui vẻ sung sướng, ở Phượng

những kẻ "luôn theo đóm ăn tàn", chúng ton hót, nịnh nọt lấy lòng để mong được

dường như có một "cơ chế" chịu đựng. Bao nhiêu điều không may, thiệt thòi dồn

chú ý cân nhắc che chở.

xuống vai chị: công tác không như ý, mất cắp xe dạp, rồi phải chịu đựng tính đồng

Hiển (Ngược dòng nước lũ) nguyên là một lái xe do ngủ gật làm xe đổ, bị hỏng

bóng của bà trưởng phòng, cưu mang vợ con Cừ… Vậy mà, Phượng chịu đựng


mắt, được điều về làm cán bộ Đoàn thanh niên, mắc tội nhìn trộm nữ công nhân

được hết, chịu đựng với sự tự nguyện gần như là bản năng. Không một khó khăn

thay quần áo, bị mọi người khinh bỉ, nhưng vì giỏi nịnh nọt, giỏi cơ hội nên Hiển

nào, một biểu hiện xấu nào của cuộc sống có thể khiến Phượng đánh mất lòng tin

được Phô quét cho một lớp sơn mới bằng trang lý lịch viết lại rồi đưa lên làm

yêu, lòng thương người ở chị. Phượng đã từng nói "tôi yêu tất cả mọi người", điều

Trưởng ban điều hành. Lợi dụng chức quyền, hắn luôn trù dập, hạ bệ người tài giỏi

đó khiến nhiều người băn khoăn về việc Phượng có phải là nhân vật hiện thực

mặc cho đó là những người đã từng dìu dắt nâng đỡ mình.

không? Nhà văn đã khẳng định Phượng chính là nhân vật hiện thực. Trong Phượng

Cái Tý Hợi (Ngược dòng nước lũ) một kẻ xấu xí về ngoại hình, luôn là đối

có bóng dáng những người thân yêu nhất của nhà văn. Phượng chính là sự nối tiếp

tượng soi mói của bất cứ ai trong cơ quan. Cảm thương với kẻ tật nguyền, hơn ai

những truyền thống trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.

hết Khiêm rất thương nó, anh thường che chở cho nó trước mọi người. Ấy vậy mà,
khi chỉ mới nghe tin Khiêm thôi giữ chức chủ nhiệm, nó liền trở mặt ngay với chính


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




38

39

người đã từng dang tay cứu vớt, yêu thương, chở che cho nó. Nó luồn cúi, nịnh nọt,

Xuất phát từ một tấm lòng nặng trĩu ưu tư trước những nỗi bất công, tha hoá

ô hợp với lũ người sâu mọt chống lại Khiêm. Chưa hết, nó đã tọc mạch về chuyện

trong cuộc đời thực tại cái nhìn của Ma Văn Kháng chưa dừng lại, nhà văn còn rất

Hoan với Khiêm, hậu quả là Hoan bị sỉ nhục, bị rạch mặt, bị mất việc làm và rơi

nhức nhối khi tầng lớp thị dân còn không ít người đang tự đánh mất mình, đang

vào bi kịnh, trong khi Hoan luôn quan tâm, bao dung nó, coi nó như là em mình.

trượt dài trên con đường tha hoá. Tiêu biểu là Lý, Xuyến, Thoa, Trình…


Cũng như Tý Hợi, trước đây Hiển đã từng coi Khiêm là người anh tin cậy nhất của

Lý (Mùa lá rụng trong vườn) là sản phẩm điển hình của lối sống kinh tế thị

mình. Vậy mà giờ đây cái đám đông này được sống trong "vương quốc quyền hành"

trường, vị kỷ, hám lợi…, là một người phụ nữ đẹp trẻ trung, rực rỡ đầy sức sống

đã quên đi tất cả. Họ trở nên tự tung tự tác, tỏ ra lạnh lùng vô cảm với Khiêm. Càng

"khuôn mặt tròn, hồng nõn… cặp gò má cao được san đều về phía dưới, má ửng lên

ngày cái đám đông này càng toả ra một sức mạnh áp đảo, nó hình thành như một

một sắc hồng đẫm… Hai con mắt lá răm sắc, nhóng nhánh sáng, đong đưa một cái

cơn lũ nhấn chìm Khiêm - kẻ ngược dòng. Ta thấy, ở đây mỗi con người đều mang

nhìn vừa vui tươi vừa lẳng" [22,69]. Vốn là một phụ nữ thông minh đảm đang tháo

một vẻ, nhưng đều là những kẻ dị hình, dị tướng, vì quyền lợi của bản thân, họ có

vát và đầy ý chí tự lập. Suốt những năm tháng chiến tranh, Lý đã là một người vợ

thể bán rẻ cả lương tâm và tình nghĩa thiêng liêng của con người.

tốt, người mẹ hiền, một cô con dâu đảm đang theo đúng nghĩa "lấy chồng gánh cả

Ma Văn Kháng đã có một cái nhìn trực diện, thẳng thắn vào những con người


giang sơn nhà chồng". Chị đã một mình nuôi dạy con ngay từ khi nó còn trứng nước

này, họ đã đánh mất chính mình cũng như đang dần làm mất đi những truyền thống

và không hề nhờ cậy bố mẹ chồng. Chị làm dâu, làm mẹ dù vất vả vì thiếu vắng

quý báu của dân tộc chỉ vì quyền lợi và danh vọng. Không chỉ dừng lại ở khía cạnh

chồng nhưng với tài tháo vát của chị, mọi việc đều rất suôn sẻ. Hiếu thuận với cha

ấy, Ma Văn Kháng còn cho chúng ta thấy trong hiện nay còn có một loại người cậy

mẹ chồng, nuôi dạy con cái, chăm lo, lo lắng cho em chồng rất chu đáo, chị thực sự

quyền, cậy thế hoành hành ngang dọc, đại diện cho những kẻ này không ai khác là

là trụ cột trong gia đình và là hậu phương vững chắc cho chồng nơi tiền tuyến.

Tuẫn - con trai Bí thư Thị uỷ Lại trong Đám cưới không có giấy giá thú. Khi còn

Nhưng ở chị, cái tốt cái xấu pha trộn vào nhau. Chị lo toan chăm sóc mọi người

ngồi trên ghế nhà trường, Tuẫn đã ngang nhiên đóng vai trò là một thằng phá đám

trong gia đình nhưng lại cũng có thể ích kỷ, tham lam nhỏ nhen với mọi người. Có

"là tên Juđa phản nghịch", và là nhân tố trực tiếp làm hỏng đời thầy giáo Tự. Vì

những lúc chị như bỗng hoá thân, biến thành một kẻ khác hết sức giữ tợn, kiêu ngạo


Tuẫn cậy mình là con "quan lớn" nên tác oai tác quái không coi ai ra gì. Hãy nghe

và thách thức, chị đã thay đổi "vì thiếu nền tảng, dễ bị kích động tức hứng nhất thời

hắn ngang nhiên bộc lộ thái độ trong giờ dạy văn với một nhà giáo tâm huyết với

bởi các ý tưởng cuồng nhiệt hoang đường" [22,314]. Là "nạn nhân của lửa đèn

nghề như Tự "Ôi, chó chết hết chuyện. Chứ có đếch gì mà cao cả với vĩnh hằng!

thành phố", Lý đã chênh vênh bên ngưỡng cửa giữa cái xấu và cái tốt.

Lằng nhằng!" [21,208]. Với một thầy giáo tâm huyết, điều đó không thể chấp nhận

Trong cái thời buổi mà cuộc sống đang ở vào thời kỳ xây dựng với muôn vàn

và Tự đã nổi giận. Nhưng có ngờ đâu lời nói của một học trò vô giáo dục kia, lại mở

những thiếu thốn và khó khăn này, có thể làm ngời lên những phẩm chất anh hùng

đầu cho bi thảm cuộc đời anh chỉ vì anh dám tát con "quan Lại": "Ông Tự! Còn ông

của những con người anh hùng, dũng cảm chiến dấu với chính nó, nhưng cũng rất

thì hết đời chó chết cũng không được làm Đảng viên dự bị đâu!" [21,209]. Và quả

dễ là tác nhân kích thích mạnh mẽ tâm lý hưởng thụ vật chất, thói ích kỷ vô luân.

thật lời nói của một học trò hư đốn đã trở thành hiện thực. Dựa vào quyền lực của


Lý lao xuống bờ vực của lầm lẫn. Chị nhìn thấy "đời bây giờ tệ lắm", "Có tiền là

cha mình Tuẫn đã đánh mất tư cách của một học sinh, và làm cho cuộc đời của thầy

xong hết". Chị quan niệm "Đời chỉ là một chữ T thôi" từ đó Lý bất chấp tất cả,

giáo Tự trượt dài, trên con đường đời đầy đau khổ.

buông thả mình theo những dục vọng thấp hèn. Tính tháo vát, sự táo bạo, sắc sảo, ở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




40

41

chị giờ đây đã biến thành thói lừa bịp dối trá, điêu toa, mặc sức cho dục tình thiêu

trong vườn); Hứng và chị em Vàng Anh, Vành Khuyên…(Côi cút giữa cảnh đời);

đốt. Mang trong mình những đặc tính cần thiết của con người ở thời kỳ lắm sự biến

Thoa và lão tình nhân Lang băm trong Ngược dòng nước lũ…" tiền" là câu nói cửa


động, thiếu sự bảo trợ của những giá trị tinh thần, Lý đã dần khước từ bản chất tốt

miệng của những con người này. Vì tiền chị em sẵn sàng đánh chửi nhau, vì tiền

đẹp vốn có của mình để trở thành kẻ xa lạ.

con sẵn sàng chửi rủa, thậm chí còn đuổi mẹ ruột của mình, vì tiền vợ chồng coi

Đất nước đang trên đà phát triển, nền kinh tế thị trường đang mở ra môi trường

thường khinh rẻ nhau… Họ không có ý thức bảo vệ, giữ gìn đạo đức, gia đình.

lớn lao và tạo cơ hội, động lực thúc đẩy để mỗi cá nhân trong xã hội có thể thực

Trong quan niệm của họ đạo đức chính là "cái gì hợp với mình" và cuộc đời "chỉ là

hiện khát vọng làm giàu, được thực hiện ước muốn ăn ngon mặc đẹp rất chính đáng

chữ T thôi". Đồng tiền quả thật làm cho cuộc sống con người đầy đủ hơn, sung túc

của mình. Bản chất của con người vốn đã phong phú, phức tạp, cuộc sống lại nhiều

hơn nhưng nó còn có sức mạnh làm tha hoá con người một cách ghê gớm. Xa rời

biến động và bất ngờ, bởi thế, ngòi bút của Ma Văn Kháng đã hướng tới việc nghiên

những tiêu chuẩn đạo đức, họ đã biến thành những con thú dữ. Đồng tiền và nhục

cứu, phát hiện con người phức tạp, đa chiều "con người không trùng khít với chính


dục đã khiến Thoa cùng gã tình nhân Lang băm trong Ngược dòng nước lũ trở thành

mình". Ma Văn Kháng đã không nhìn con người một cách đơn giản cứng nhắc như

những con thú đích thực "Bữa tiệc của những con quỷ dâm đãng" diễn ra hết lần

giai đoạn trước, mà ở thời kỳ này ông đã đi sâu phân tích mổ xẻ con người trong

này đến lần khác, bất chấp Khiêm đang nằm trên giường bệnh - đau đớn đến tê liệt

từng nỗi niềm, từng bước ngoặt cuộc đời họ. Điều đó thể hiện một cách nhìn khá

cả thể xác và tâm hồn.

linh hoạt, uyển chuyển về con người của nhà văn Ma Văn Kháng.

Nhãn quan của nhà văn không chỉ phát hiện thấu đáo nhiều loại người trong xã

Lý không phải là sản phẩm tiêu cực duy nhất, cá biệt của đời sống kinh tế thị

hội - người tốt, kẻ xấu, người bằng mọi giá bảo vệ cho được nhân phẩm, kẻ vì nhu

trường, mà sản phẩm của nó là cả một lớp người chạy theo đời sống vật chất và

cầu vật chất tầm thường làm băng hoại đạo đức xã hội, mà ông còn quan tâm khẳng

hưởng thụ. Cũng như Lý, Xuyến (Đám cưới không có giấy giá thú) đã nhảy cóc

định bản năng và nhu cầu tự nhiên với khát vọng chân chính của con người đó là


sang một bước phát triển nguy hiểm về phương diện đạo đức. Là một phụ nữ bản

nhu cầu tình dục.

năng kém thích ứng trước đời sống, sống thực dụng, nhanh chóng bị loá mắt trước

Trong văn học, vấn đề dục vọng cá nhân đã ít nhiều được đề cập, nhưng phải

sự cám dỗ của vật chất, Xuyến đã trở nên tàn nhẫn, chà đạp nên hạnh phúc gia đình,

thực sự đến giai đoạn văn học sau 1975, nhất là sau thời kỳ đổi mới (1986), khi con

coi thường chồng, khinh rẻ đời sống gia đình và từ chỗ phản bội chồng Xuyến đã

người là đối tượng phản ánh của văn học nên không có gì thuộc về con người lại xa

trơ tráo tố cáo chồng là người phản bội và tự huỷ đi nhân cách làm người của mình.

lạ với văn học, nhu cầu về dục vọng của con người tự nhiên mới thực sự được quan

Với cái nhìn tinh tường của mình, Ma Văn Kháng còn nhận thấy rằng con

tâm thể hiện một cách chân thực, đầy đủ.

người ta trong hoàn cảnh ngặt nghèo, ít tình người thì sẽ trở nên lưu manh hoá hoặc

Tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của văn hoá, văn học nhân loại và

chí ít khái niệm đạo đức cũng trở nên xa xỉ đối với họ. Cho nên cô nữ sinh Trình


văn học dân tộc, vấn đề bản năng tính dục đã được thể hiện nổi bật trong một cái

(Đám cưới không có giấy giá thú) vốn ngoan ngoãn, vì bệnh tật, vì bị bỏ rơi, vì bị

nhìn mang đầy tính nhân bản sâu sắc của Ma Văn Kháng về con người. Ma Văn

nghèo đói… bỗng trở nên đáo để, cong cớn, chụp giật để trả thù đời…

Kháng là nhà văn đầu tiên viết được những cảm xúc hả hê, sung sướng, khoái hoạt

Nghiên cứu tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới, chúng ta còn có

nhất về lòng ái dục của con người. Theo ông, con người là sản phẩm của tự nhiên

thể kể ra hàng loạt những nhân vật tương tự như gã tình nhân của Lý (Mùa lá rụng

luôn biết hướng đến và theo đuổi những trạng thái sung sướng, vui vẻ và cố gắng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






42


43

tránh xa, vượt lên mọi đau khổ, nhọc nhằn của cuộc sống bằng đời sống tình dục,

Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) cuộc ái ân với Xuyến đã để lại cho anh

mà tình dục lại là một niềm đam mê, một mạch sống thầm kín của con người. Tuy

một khí vị đặc biệt không thể nào quên, cho dù ngọn lửa tình ấy được khơi gợi

là lĩnh vực vẫn bị coi là "vùng cấm kỵ" nhưng Ma Văn Kháng đã mạnh dạn và

trong cái ổ rơm nhặm nhuội rối bời. Lúc ấy anh cảm thông và thương cô xiết bao,

thành công khi đưa vấn đề này vào trong sáng tác của mình với một tần số lớn. Ông thể

anh thấy cô là đàn bà thực sự, cô yêu thích nhục dục, cũng khao khát làm mẹ, làm

hiện chúng một các tự nhiên không lộ liễu, sống sượng mà phản ánh một cách chân

vợ như bao người phụ nữ khác…

thực những trạng thái, cảnh huống khác nhau của tâm lý thực, xuất phát từ đáy sâu bản

Tất nhiên, đề cập đến vấn đề này nhà văn không ngợi ca hay khích lệ mà muốn

thể, từ nhu cầu tự nhiên, chính đáng của con người. Ma Văn Kháng là một trong số

nhìn nhận nó như bản chất thực đang tồn tại trong cõi đời này, qua đó nhà văn


không nhiều các nhà văn hiểu và ý thức sâu sắc, triệt để, toàn diện vấn đề này.

muốn người đọc nhìn nhận thấy mặt tự nhiên, của con người và nhu cầu cần được

Ở Ma Văn Kháng, ông đã phát hiện trong bản năng đời sống tình dục của con

thoả mãn của cuộc sống đời thường mà xưa nay người ta vẫn che đậy, giấu giếm.

người thể hiện rõ hai mặt của cuộc sống. Đối với những con người chân chính dục

Đó là những quan niệm đúng, biểu hiện tốt đẹp, lành mạnh mà Ma Văn Kháng đã đi

vọng khiến cho họ người hơn, tình dục như một vẻ đẹp thể hiện mặt văn hoá, đạo

sâu khám phá, thể hiện đời sống bản năng này của con người. Chính cái nhìn đa

đức xã hội. Nhưng bên cạnh đó, Ma Văn Kháng còn khám phá, phát hiện mặt bi hài

chiều, sâu sắc, về mọi phương diện của con người khiến vấn đề tình dục được quan

của cuộc sống, sự thô tục tham lam, nhếch nhác, dâm ô của những kẻ vô đạo đức,

tâm đúng đắn, tự nhiên. Nó không hề gây cảm giác phản thẩm mỹ, phản giáo dục

thiếu văn hoá xoay quanh vấn đề dục vọng cá nhân của con người.

mà còn thấm đẫm tính nhân văn trong cái nhìn mang chiều sâu nhân bản về con

Bản chất cuộc sống vốn đa chiều phức tạp, nên ngay từ những tác phẩm viết về


người của nhà văn.

đề tài mền núi trong cảm hứng sử thi, Ma Văn Kháng đã đề cập vấn đề này. Có thể

Phát hiện đời sống tình dục ở nhiều cung bậc, Ma Văn Kháng tỏ thái độ phê

nói đây là cái nhìn nhất quán của tác giả về con người. Ma Văn Kháng đã viết khá

phán những hiện tượng dâm ô, đồi bại như Xuyến (Đám cưới không có giấy giá

nhiều về hiện tượng này trong hầu hết các sáng tác của mình. Nếu như đứng ở góc

thú), Thoa (Ngược dòng nước lũ), Lý (Mùa lá rụng trong vườn)… và trân trọng

độ luân lý đạo đức thì những chuyện tình kiểu "ngoài luồng" không thể chấp nhận

những tình cảm mặn nồng của Khiêm - Hoan, Luận - Phượng…

được, nhưng khi đặt chúng vào từng hoàn cảnh, từng con người cụ thể thì những

Xuyến (Đám cưới không có giấy giá thú), đã ngoại tình với "Quỳnh đĩ đực"

trường hợp này rất đáng được cảm thông. Bởi chính cuộc tình "ngoài luồng" này đã

ngay trong nhà của mình. Xuyến đã chà đạp lên mối quan hệ vợ chồng thiêng liêng

đem đến cho Khiêm (Ngược dòng nước lũ) niềm hạnh phúc thực sự. Với Khiêm,

để quan hệ xác thịt với những kẻ trơ tráo đồi bại như Quỳnh. Với những kẻ chỉ biết


tình yêu mà Hoan dành cho anh đã đẩy lùi được cơn đau ốm do làm việc quá sức,

có tiền thì giữa họ làm gì có tình yêu. Chúng trao cho nhau thể xác như kiểu mua

giúp anh vượt qua cái thực tế nặng nề cố hữu với Thoa trong gia đình. Hoan như là

bán một thứ hàng hoá, theo thói quen buôn bán mà thôi. Chúng đến với nhau không

người tri âm, tri kỷ của đời anh, hiểu tận sâu thẳm, tâm hồn cá tính, nâng đỡ tâm

hề xuất phát từ sự ngưỡng mộ, trân trọng cái đẹp hay từ một tình yêu chân thành mà

hồn anh và là nguồn vui sống vô tận của anh giữa cuộc đời đầy đen bạc, trắc trở.

chỉ để thoả mãn nhu cầu nhục dục, thói dâm ô. Vì thế chúng bộc lộ hành vi sàm sỡ

Hơn ai hết Hoan chính là nguồn động lực giúp Khiêm vượt qua được những khó

buông tuồng, vô đạo đức. Không chỉ những thế, khi bị chồng phát hiện cô ta còn cất

khăn của cuộc sống và hoàn thành ước nguyện của đời mình.

lên những lời chửi rủa tai ác, thể hiện rõ sự vô văn hoá.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





44

45

Còn Lý (Mùa lá rụng trong vườn), một phụ nữ tháo vát đảm đang nhưng lại dễ

trang sách của nhà văn cho thấy Ma Văn Kháng là nhà văn có một nhãn quan sắc sảo,

thay đổi vì thiếu sự bảo trợ của những giá trị truyền thống. Lý đã phản bội chồng -

tinh tường. Nó thể hiện ý thức sâu sắc của ông về chất liệu của thứ nghệ thuật mà ông đã

người sỹ quan mà chị đã từng yêu tha thiết để chạy theo tiếng gọi của đồng tiền, của

"đặt cược" cả đời mình. Đồng thời chính cái nhìn linh họat, sâu sắc của Ma Văn Kháng

một lối sống buông thả… Để thoả mãn dục vọng của riêng mình, Lý đã chà đạp lên

trước hiện thực cuộc sống và con người là nhân tố quan trọng chi phối và làm nên giọng

những truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc.

điệu và ngôn ngữ trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới của ông. Vấn đề này, sẽ được chúng

Cũng như Lý, Xuyến, Thoa trong Ngược dòng nước lũ là một người đàn bà liều

tôi nghiên cứu kỹ ở những chương sau.


lĩnh, luôn ham muốn nhục dục, đã phản bội chồng một cách công khai. Thoa đã từng
quan hệ với một gã phụ trách nhà ăn ở xí nghiệp, một gã phóng viên nhiếp ảnh, một tên
lang băm. Năm năm xa chồng, ở nhà Thoa ba lần đi nạo thai. Thật sự Thoa là người
không biết hề biết đến liêm sỉ, cô ta sẵn sàng quan hệ xác thịt với một lão lang băm ngay
cả khi người chồng ốm yếu nằm bên cạnh.
Ma Văn Kháng đã phơi bày mặt trái của tình dục, ông đã nghiêm khắc lên án
những kẻ chà đạp lên đạo lý truyền thống. Đối với những con người này, dục vọng là
khoái thú bất tận, dục vọng đã biến chúng trở thành những con quỷ dâm đãng đội lốt
người. Tình dục vốn thiên về yếu tố tố bản năng, là một nhu cầu sinh lý nhưng cũng là
một mặt của tình yêu đôi lứa, đời sống vợ chồng. Nó phải được xuất phát trên cơ sở
của tình yêu chân chính, bình đẳng tôn trọng giữa con người với con người. Khi đó, nó
mới thực sự mang lại niềm hạnh phúc cho con người và mới thực sự thấm nhuần chất
văn hoá.
Như vậy, Ma Văn Kháng đã nhìn nhận và biểu hiện vấn đề này ở mọi khía cạnh,
mọi phương diện, xem dục vọng không chỉ là bản năng tự nhiên mà còn là hành vi biểu
hiện thái độ văn hóa, nhân tính của con người. Cái nhìn, sự thể hiện ấy không phải chỉ là
sự kế thừa và phát huy văn hoá dân tộc mà còn thể hiện được những vấn đề có tính thời
đại mang tính dân chủ, nhân bản sâu sắc.
Là một trong những người khơi đường cho văn học trở về với cuộc sống hàng
ngày, quan tâm đến đời sống riêng tư, cá nhân, Ma Văn Kháng lấy chủ nghĩa nhân bản
làm nền tảng để khám phá con người ở những vấn đề, những khía cạnh mới. Đó thật sự
là một đóng góp nổi bật, độc đáo, đặc sắc của Ma Văn Kháng về cái nhìn nghệ thuật
trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới. Mọi mặt của đời sống, con người hôm nay đi vào

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





×