MỤC LỤC
Trang
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH TỰ VỆ CỦA NÔNG DÂN YÊN THẾ........................2
(1884-1913)................................................................................................................. 2
MỞ ĐẦU......................................................................................................................2
1. ĐỊA ĐIỂM YÊN THẾ.............................................................................................2
2. HOÀN CẢNH..........................................................................................................3
3. PHƯƠNG THỨC TÁC CHIẾN...............................................................................4
4. LÃNH ĐẠO.............................................................................................................4
a. Tiểu sử Hoàng Hoa Thám.......................................................................4
b. Các thành phần khác...............................................................................6
5. CĂN CỨ YÊN THẾ.................................................................................................7
6. TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG...............................................................................9
a. Về phía ta................................................................................................9
b.Về phía Pháp.........................................................................................12
7. DIỄN BIẾN............................................................................................................15
A. Giai đoạn thứ nhất ( 1884-1892)...........................................................................15
B. Giai đoạn thứ 2 (1893-1897).................................................................................17
C. Giai đoạn thứ ba 1898-1908..................................................................................21
D. Giai đoạn thứ tư (1909-1913)................................................................................23
8. KẾT QUẢ...............................................................................................................26
9. Ý NGHĨA...............................................................................................................32
10. NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI.............................................................................32
11. ĐÁNH GIÁ...........................................................................................................33
12. TƯ LIỆU VÀ HÌNH ẢNH THAM KHẢO.........................................................39
1
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH TỰ VỆ CỦA NÔNG DÂN YÊN THẾ
(1884-1913)
MỞ ĐẦU
Trong phong trào dân tộc cuối thế kỉ XIX, Song Song với các quộc đấu
tranh Cần Vương còn có các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân và đồng bào
miền núi.
Theo bước chân xâm lược của thực dân pháp, phong trào khánh chiến
của nhân dân ta nổ ra từ đồng bằng, rồi lan dần lên trung du, miền núi. trong
hàng loạt cuộc nổi dậy của nông dân cuối thế kỉ XIX, nổi bật nhất là phong
trào nông dân Yên Thế
Phong trào nông dân Yên Thế là phong trào đấu tranh vũ trang lớn và
kéo dài nhất trong phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX, sang hơn 10 năm
đầu thế kỉ XX.
1. ĐỊA ĐIỂM YÊN THẾ
Căn cứ Yên Thế ở Bắc Giang, có diện tích rộng chừng 40 đến 50 km 2,
gồm đất đồi là chủ yếu,có cây cối rậm rạp, gò bụi um tùm. Từ đây có thể đi
thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên.
Yên Thế có địa hình đồi núi trung du, giáp với hai tỉnh Thái Nguyên và
Lạng Sơn. Địa hình thấp dần theo hướng Đông Nam, phía bắc là vùng núi
thấp dưới chân dãy núi Bắc Sơn, mà dãy núi này được biết đến với cái tên
cánh cung Bắc Sơn chạy từ Lạng Sơn sang Thái Nguyên. Phía đông nam giáp
huyện Lạng Giang, ranh giới tự nhiên là con sông Thương một sông lớn trong
hệ thống sông Thái Bình, phía nam và tây nam giáp huyện Tân Yên, đều của
tỉnh Bắc Giang. Phía tây và phía bắc giáp các huyện của tỉnh Thái Nguyên, kể
từ tây lên bắc lần lượt là: Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai. Toàn bộ phía Đông
Yên Thế giáp với huyện Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn. Chảy qua giữa huyện,
2
theo hướng Đông Nam là con sông Sói, một nhánh nhỏ đầu nguồn của sông
Thương. Diên tích tự nhiên của Yên Thế là 301 km2
Địa bàn
Yên Thế
Lược đồ: Vùng đất Yên Thế (2)
2. HOÀN CẢNH
Tình hình suy sụp của nông nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn đã làm
cho nông dân nhiều vùng đồng bằng miền Bắc buộc phải bỏ làng mạc đi nơi
khác kiếm sống, trong đó có một số người đã lên Yên Thế. Từ giữa thế kỉ
XIX, họ bắt đầu lập ra một số làng mạc và tổ chức làm ăn, chống lại các thế
lực đe dọa từ bên ngoài tới.
Khi thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ra Bắc Kì,Yên Thế trở
thành đối tượng bình định đầu tiên của chúng. Để bảo vệ của sống của mình,
nông dân Yên Thế đã nổi dậy chống Pháp. Phong trào bắt đầu bùng nổ từ năm
1884 và kéo dài mãi tới năm 1913.
3
3. PHƯƠNG THỨC TÁC CHIẾN
Đánh du kíck lấy ít đánh nhiều.Nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ,
dựa vào địa hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh, rồi
rút lui nhanh.
Tiến sĩ quan thực dân Galiêni trong cuốn”Ba binh đoàn ở Bắc Kỳ” đã
nhận xét”Nghĩa quân Yên Thế tất cả đều can đảm, thiện chiến, tuyệt đối phục
tùng người chỉ huy, xuất sắc trong cách đánh phục kích và đánh trong rừng,
hiểu một cách thuận lợi của địa hình để vận dụng trong chiến đấu”.
Nhờ chiến thuật đánh du kích mà nghĩa quân Yên Thế đã có thể duy trì
được cuộc chiến đấu trong 30 năm ròng rã.
4. LÃNH ĐẠO
a. Tiểu sử Hoàng Hoa Thám
Hoàng Hoa Thám (tên thật Trương Văn Thám, còn gọi là Đề Thám;
1858 – 10 tháng 2 năm 1913) là người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế
chống Pháp (1885–1913).
Hoàng Hoa Thám quê ở làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên;
sau di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi đến Yên Thế (Bắc Giang).
Năm 1885, ông tham gia khởi nghĩa của Cai Kinh (Hoàng Đình Kinh) ở
Lạng Giang. Sau khi Cai Kinh chết, Đề Thám tiếp tục hoạt động, lập căn cứ ở
Yên Thế và trở thành thủ lĩnh danh tiếng nhất của phong trào nông dân chống
Pháp. Trong gần 30 năm lãnh đạo đã tổ chức đánh nhiều trận, tiêu biểu là các trận
ở thung lũng Hố Chuối (tháng 12 năm 1890) và Đồng Hom (tháng 2 năm 1892).
Pháp phải hai lần giảng hoà với Đề Thám vào năm 1894 và 1897.
Những năm 1898-1908, Hoàng Hoa Thám xúc tiến việc xây dựng Phồn
Xương thành căn cứ kháng chiến, đồng thời bí mật liên hệ với lực lượng yêu
nước ở bên ngoài. Nhiều sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm
Văn Ngôn, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên... đã gặp gỡ Hoàng Hoa Thám
và bàn kế hoạch phối hợp hành động.
4
Đầu 1909, Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn nhằm tiêu diệt nghĩa
quân. Đề Thám vừa tổ chức đánh trả, vừa phải rút lui khỏi Yên Thế, đến Thái
Nguyên, Tam Đảo. Lực lượng nghĩa quân giảm sút dần và tới cuối 1909 bị
tan rã. Đề Thám phải sống ẩn náu trong núi rừng Yên Thế. Ông bị tay sai của
Pháp sát hại ngày 10 tháng 2 năm 1913
HOÀNG HOA THÁM
(ảnh của VNTTX)
5
b. Các thành phần khác.
Đa số là nông dân như Cả Dinh, Cả Huỳnh, Cai Dờ, Cả Trọng (con Đề
Thám).Những người có công và đóng vai trò lớn hơn cả là Lương Văn Nắm(Đề
Nắm) và tiếp đó là Hoàng Hoa Thám(Đề Thám).Trong hàng ngũ chỉ huy còn
phải kể đến nhiều nhân vật khác, đặc biệt có bà Ba Cẩn( vợ Ba Đề Thám).
(Vợ ba Đề Thám) (1)
6
5. CĂN CỨ YÊN THẾ
(Phía trong căn cứ Yên Thế)(1)
7
8
6. TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG
a. Về phía ta
(Nghĩa quân của Đề Thám)(1)
9
10
(Lực lượng của nghĩa quân)(1)
11
b.Về phía Pháp
(Pháp chuẩn bị xây dựng đồn bốt quanh căn cứ Yên Thế)(1)
12
(Giao thông hào của Pháp)(1)
13
(Lính Pháp kiểm tra lại súng trước khi tấn công quân ta)(1)
14
7. DIỄN BIẾN
Phong trào khởi nghĩa của nông dân Yên Thế bắt đầu bằng việc chống
trả cuộc hành binh của quân Pháp tháng 6-1884 vào căn cứ Yên Thế, do
tướng Bờrie đờ Litxlơ chỉ huy. Trong cuộc hành binh này quân Pháp đã bị các
đội quân của Đề Nắm, Đề Thám chặn đánh quyết liệt buộc chúng phải rút lui.
Khởi nghĩa Yên Thế diễn ra qua bốn giai đoạn:
A. Giai đoạn thứ nhất ( 1884-1892)
Giai đoạn này, các toán nghĩa quân còn hoạt động riêng lẻ, chưa
có sự phối hợp và chỉ huy, thống nhất.Lúc bấy giờ xuất hiện hàng chục
toán nghĩa quân của Đề Nắm, Bá Phức, Thống Luận, Tổng Tài, Đề
Thuật, Đề Chung…Mỗi thủ lĩnh cầm đầu một toán quân và làm chủ
một vùng.
Trong giai đoạn này, tuy phong trào chưa được thống nhất vào một
mối nhưng nghĩa quân vẫn hoạt động hiệu quả. Tháng 11 /1890, nghĩa
quân của Đề Thám đã giành thắng lợi trong trận chống càn ở Cao
Thượng. Từ đầu đến cuối tháng 12 / 1890, ba lần quân Pháp tấn công vào
Hố Chuối, nhưng cả ba lần chúng đều bị nghĩa quân Đề Thám đánh bại.
Đến cuối năm 1891, nghĩa quân đã làm chủ hầu hết vùng Yên
Thế, mở rộng hoạt động sang cả Phủ Lạng Thương.
Năm 1891, quân Pháp lại tấn công phố Chuối, nghĩa quân Đề
Thám phải rút lên Đồng Hom.Tranh thủ thời cơ, chúng tiến nhanh vào
vùng Nhã Nam, rồi vừa tổ chức các cuộc càn quét, vừa xây dựng các
đồn bốt để bao vây nghĩa quân .
Nhằm ngăn chặn các cuộc hành quân, càn quét của địch, nghĩa
quân đã lập một cụm cứ điiểm gồm 7 hệ thống công sự ở phía bắc Yên
Thế do Đề Nắm, Đề Thám, Bá Phức, Đề Tâm, Đề Tuất, Đề Chung,
Tổng Tài chỉ huy.Lúc này, Đề Nắm là một trong những thủ lĩnh có uy
tín nhất của nghĩa quân Yên Thế.
15
Tháng 3-1892 , Pháp huy động hơn 2200 quân bao gồm nhiều
binh chủng (công binh, công pháo…) do tướng Voarông chỉ huy ào ạt
tấn công vào căn cứ nghĩa quân. Do tương quan lực lượng quá chênh
lệch, nghĩa quân sau nhiều trận kịch chiến đã phải rút khỏi căn cứ. Lực
lượng nghĩa quân bị suy yếu rõ rệt. Khó khăn ngày càng nhiều, một số
thủ lĩnh ra hàng, một số khác hi sinh trong chiến đấu, trong đó có Đề
Nắm bị giết vào tháng 4-1892.
Để cứu vãn tình thế, Đề Thám đã đứng ra tổ chức lại phong trào
và trở thành thủ lĩnh tối cao của nghĩa quân Yên Thế.
(Tướng giặc bị thương)(1)
16
B. Giai đoạn thứ 2 (1893-1897)
Trong giai đoạn này,nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, lần thứ
nhất vào tháng 10-1894, lần thứ hai vào tháng 12-1897.
Sau khi Đề Nắm hi sinh, Đề Thám đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào
Yên Thế.Ông đã khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các
17
vùng xung quanh rồi tiếp tục hoạt động. So với giai đoạn trước, số lượng
nghĩa quân tuy có giảm, nhưng địa bàn hoạt động lại được mở rộng.
Năm 1894, nghĩa quân trở về Yên Thế tiến hành xây dựng lại căn cứ
Hố Chuối, đồng thời mở rộng hoạt động ra các vùng thuộc Bắc Ninh,
Bắc Giang.
Lúc này, các phong trào Bãi Sậy, Ba Đình, cũng như các đội quân
kháng chiến của Đốc Ngữ, Đề Kiều đều đã tan dã, nên thực dân Pháp
có điều kiện tập trung lực lượng đàn áp khởi nghĩa Yên Thế.
Về phía nghĩa quân tuy có giành được một số thắng lợi, nhưng lực
lượng cũng suy yếu rõ rệt. Trong tình hình đó, Đề Thám thấy cần phải
hòa hoãn với Pháp để tranh thủ thời cơ củng cố lực lượng. Tháng 101894 cuộc thương lượng giữa nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp
kết thúc. Kết quả quân Pháp phải rút khỏi khu vực Yên Thế, giao các
tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng cho nghĩa quân kiểm
soát.Nhưng thời gian hòa hoãn chưa được bao lâu, quân Pháp đã bội
ước, lại tổ chức tấn công. Nghĩa quân Đề Thám đã chống đỡ quyết
liệt. Để tránh những cuộc đụng độ lớn với địch, Đề Thám chủ trương
chia nghĩa quân thành những toán nhỏ phân tán hoạt động trong rừng
và các làng mạc. Nghĩa quân phải di chuyển hoạt động trong bốn tỉnh:
Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên.
Trước sự truy lùng và vây quét ráo riết của quân Pháp, lực lượng nghĩa
quân ngày càng suy yếu. Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám lại xin giảng hòa
với Pháp lần thứ hai. Thực dân Pháp lúc này cũng muốn chấm dứt xung đột
để tiến hành khai thác thuộc địa. Vì vậy tháng 12-1897, hiệp ước hòa hoãn
giữa thực dân Pháp và nghĩa quân Đề Thám đã được kí kết với những điều
kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, nghĩa quân phải nộp cho Pháp tất cả vũ khí và
phải bãi binh. Đề Thám bề ngoài tỏ ra phục tùng, nhưng bên trong vẫn ngầm
củng cố lực lượng.
18
(Lược đồ: Căn cứ hoạt động của nghĩa quân)(2)
19
20
C. Giai đoạn thứ ba 1898-1908
Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫn giữ vững tinh
thần chiến đấu. Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc
lương ăn, vừa tăng cường sắm sửa vũ khí, ra sức tập luyện. Nhờ vậy,
lực lượng nghĩa quân ở Phồn Xương tuy không đông (khoảng 200
người), nhưng rất thiện chiến. Đồng thời, Đề Thám còn mở rộng quan
hệ giao tiếp với các nhà yêu nước ở Bắc Kì và Trung Kì.
Tại Yên Thế, nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám đã hai lần đón tiếp nhà
yêu nước Phan Bội Châu. Giữa năm 1906, Phan Châu Trinh cũng lên
Yên Thế gặp Đề Thám. Đề Thám còn lập một căn cứ gọi là đồn Tứ
Nghệ giành cho các nghĩa sĩ miền Trung ra huấn luyện quân sự.
Về phía Pháp, trong thời gian này chúng đã ráo riết lập đồn, bốt, mở
đường giao thông…, tạo mọi điều kiện cần thiết để đánh đòn quyết
định vào căn cứ nghĩa quân Yên Thế.
Lược đồ: khởi nghĩa giai đoạn 3(1898-1908)(2)
21
22
D. Giai đoạn thứ tư (1909-1913)
Giữa năm 1908, xảy ra vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội có sự tham
gia của Đề Thám. Nhân cơ hội này, thực dân Pháp chủ trương tập trung
lực lượng tiêu diệt nghĩa quân, Tháng 1 năm 1909, dưới quyền chỉ huy
của đại tá BaTay, khoảng 15000 quân cả Pháp vào ngụy tấn công vào
Yên Thế. Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừa chuyển dần xuống Phúc Yên,
Vĩnh Yên, Bắc Ninh, rồi rút sang Tam Đảo, Thái Nguyên. Trên đường di
chuyển, nghĩa quân vẫn tổ chức đánh trả quyết liệt, gây cho địch những
thiệt hại nặng nề, điển hình là trận chặn giặc ở đồn Hom, Yên Thế (30-11909); Trận núi Hàm Lợi ở Tam Đảo, Phúc Yên (15-3-1909).
Trước các cuộc vây quét tiêu diệt gắt gao của quân Pháp, lực lượng
nghĩa quân ngày càng giảm sút. Đến cuối năm 1909, hầu hết các tướng
lĩnh đã hi sinh, hoặc sa vào tay giặc, như Cả Trọng, Cả Huyền, Cả
Tuyển (con trai của Nguyễn Thiện Thuật), Ba Biều, bà Ba Cẩn… có
một số người ra hàng như Cả Dinh, Cai Sơn… Đến đây phong trào coi
như đã thất bại về cơ bản. Ngày 10-2-1913, Đề Thám bị giết hại tại một
khu rừng cách chợ Gồ 2km. Sự kiện này đánh dấu sự thất bại hoàn toàn
của phong trào nông dân Yên Thế.
23
(Pháp đàn áp nghĩa quân)(1)
24
(nghĩa quan bị Pháp giam giữ)(1)
25