Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Hệ nội tiết là một mạng lưới các tuyến của cơ thể sản xuất hơn 50 loại hoocmon
hoặc chất dẫn truyền để duy trì và điều hòa các chức năng cơ bản của cơ thể. Nó là một hệ
thống kiểm soát toàn bộ cơ thể lớn thứ hai (sau hệ thần kinh). Các quá trình sống trong cơ
thể như lớn lên, phát triển, sinh sản, miễn dịch, cân bằng nội môi đựoc điều hòa bởi tuyến
nội tiết. Điều này đảm bảo tính toàn vẹn thống nhất của cơ thể và thích nghi với môi
trường sống của động vật.
Hệ nội tiết là hệ thống các tuyến trong cơ thể. Để hiểu sự rối loạn của hệ nội tiết thì
phải thông qua sự rối loạn của các tuyến nội tiết.
Để biết thêm về cấu tạo, vị trí, chức năng của các tuyến trong hệ nội tiết, sự rối loạn
các tuyến nội tiết, một số bệnh do sự rối loạn các tuyến nội tiết gây ra cũng như các biện
pháp giữ các tuyến nội tiết hoạt động bình thường, nhóm chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu
chủ đề: “Sự rối loạn các tuyến nội tiết”.
1
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TUYẾN NỘI TIẾT
1. Định nghĩa
Tuyến nội tiết là tuyến không có ống dẫn. Chất tiết mang tính chất đặc hiệu và có
hoạt tính sinh học cao, được đổ trực tiếp vào máu qua hệ thống mao mạch. Người ta gọi
chất tiết của tuyến là hormone.
Ở động vật bậc thấp trong quá trình phát triển, cấu tạo và chưc năng của hệ nội tiết
chưa hoàn chỉnh, chỉ có một vài tuyến ở sâu bọ và côn trùng, chất tiết chủ yếu là các
pheromone.
Ví dụ:
- Tuyến gian não nằm trên bề mặt hạch não của sâu bọ tiết ra một chất, chất này lại
thúc đẩy tuyến truớc ngực tiết ra Erdison có bản chất là lipit có tác dụng trong quá trình
lột xác.
- Tuyến Corpora allata ở côn trùng tiết ra juvenil thúc đẩy sự lột xác.
- Ở bướm cái của tằm có Feromon bombicon và bướm cái sâu róm có giplur nhằm
quyến rũ bướm đực.
- Kiến tiết ra Feromon đánh dấu đường đi tìm mồi và báo động nguy hiểm.
- Ong thợ đánh dấu đường đi bằng Feromon geranion. Ong chúa tiết ra axit– 9xetodecanic nhằm ức chế quá trình phát triển buồng trứng của ong thợ và quyến rũ ong
đực khi giao phối.
- Mối chúa, mối đực và mối lính đều tiết ra những Feromon đặc trưng nhằm ngăn
cản không cho mối thợ biến thành mối chúa, mối đực và mối lính mới.
Ở động vật bậc cao và đặc biệt là ở người hệ thống nội tiết có cấu tạo hoàn chỉnh,
gồm các tuyến chính sau: Tuyến tùng ( chỉ tồn tại ở giai đoạn ấu thơ ). Tuyến yên. Tuyến
cận giáp. Tuyến giáp. Tuyến ức. Tuyến thượng thận. Tuyến tụy. Tuyến sinh dục.
Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới sự rối loạn các tuyến nội tiết ở người mà thôi.
2
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
2. Vài nét sơ lược về hormone
2.1. Định nghĩa
Hormone là những chất hóa học do một nhóm tế bào hoặc một tuyến nội tiết bài tiết
vào máu rồi được máu đưa đến các tế bào hoặc các mô khác trong cơ thể và gây ra các tác
dụng sinh lý tại đó.
2.2. Phân loại
Các hormone đa dạng về mặt cấu trúc hóa học và có nguồn gốc khác nhau. Dựa vào
bản chất của chúng người ta chia làm hai nhóm:
- Các hormone có bản chất lipit còn gọi là các steroid như hormone của phần vỏ
tuyến trên thận (cortison), của tinh hoàn (testosterone), của buồng trứng (oestrogen).
- Các hormone có bản chất protêin. Trong nhóm này tùy mức độ cấu trúc mà người
ta có thể phân thành:
+ Hormone là các axit amin như adrenalin,noradrenalin của phần tủy tuyến trên thận
và các sợi thần kinh giao cảm tiết ra.
+ Hormone là các chuỗi peptit ngắn như oxytocin, vasopressin do các tế bào thần
kinh tiết của hypothalamus tiết ra và tích tụ ở phía sau tuyến yên. Chúng là những peptit
ngắn, gồm 9 axit amin.
+ Hormone là các chuỗi polypeptit như insulin của tuyến tụy, gồm hai mạch. Một
mạch chứa 21 axit amin còn mạch kia chứa 30 axit amin. Glucagon cũng của tuyến tụy
gồm 29 axit amin.
+ Hormone là một protein. Ví dụ hormone sinh trưởng (STH) của tuyến yên có trọng
lượng phân tử lớn, thay đổi tùy loài, chẳng hạn ở người và linh trưởng là 21.500 gồm 191
axit amin, ở lợn 42.500…
* Các hormon của tuyến nội tiết chính là :
+ Tuyến tùng: Bài tiết melatonin
+ Tuyến yên: Thuỳ trước bài tiết GH, ACTH, TSH, FSH, LH, Prolactin.
+ Tuyến giáp: Bài tiết T3, T4 và Calcitonin.
+ Tuyến cận giáp: Bài tiết parathormon (PTH).
3
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
+ Tuyến ức: Bài tiết timozin
+ Tuyến tuỵ nội tiết: Bài tiết insulin, glucagon, somatostatin.
+ Tuyến thượng thận: Vỏ thượng thận bài tiết cortisol, aldosteron và
androgen.Tuỷ thượng thận bài tiết adrenalin và noradrenalin.
+ Tuyến sinh dục:
Tuyến sinh dục cái: bài tiết estrogen và progesteron
Tuyến sinh dục đực: bài tiết testosteron.
2.3. Tác dụng của hormone
2.3.1. Tác dụng chung
Đặc tính sinh học của các hormone trong cơ thể cũng giống như các enzym và
vitamin được tạo thành rất ít vì chúng chỉ tác dụng với liều lượng rất nhỏ nhưng có hoạt
tính sinh học cao và đặc hiệu.
Các hormone do quá trình sinh tổng hợp tạo ra. Tuy nhiên hiện nay người ta cũng đã
tổng hợp được một số hormone, nhất là nhờ kỹ thuật gen và công nghệ sinh học trong thời
gian gần đây. Ví dụ insulin đã được tổng hợp rất sớm và được sản xuất hàng loạt bằng
công nghệ sinh học.
Các hormone sinh ra đổ trực tiếp vào máu nhưng chỉ có tác dụng đặc hiệu với một số
cơ quan, một chức năng hay một quá trình sinh học nhất định trong cơ thể. Ví dụ:
Hormone kích noãn tố (FSH) của tuyến yên chỉ có tác dụng kích thích quá trình phát triển
và chín của bao noãn trong buồng trứng… Cơ quan tiếp nhận sự tác dụng của hormone
được gọi là cơ quan đích hay mục tiêu.
Các hormone tác dụng thông qua hệ enzym như một chất xúc tác của phản ứng sinh
học nhưng không tham gia trực tiếp vào các phản ứng đó.
Hầu hết các hormone không có tính đặc trưng cho loài nghĩa là hormone của loài
này cũng có tác dụng cho loài khác và cho người, chẳng hạn hormone insulin của tuyến
tụy có thể dùng cho nhiều loài. Một vài hormone chỉ có tác dụng riêng cho loài đó, ví dụ
hormone sinh trưởng.
4
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
2.3.2. Tác dụng sinh lý của hormone
- Hormone tham gia điều hòa quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể như
hormone kích thích sự phát triển STH, hormone kích thích tuyến giáp (TSH) của tuyến
yên và hormone thyroxin của tuyến giáp. Sự phát triển bình thường, nhất là về mặt hình
dạng, kích thước của cơ thể phụ thuộc vào các hormone này.
- Hormone tham gia vào quá trình trao đổi chất và năng lượng như: hormone kích
thích sự phát triển (STH) của tuyến yên, thyroxin, glucocorticoit, ínulin, glucagon,
parathormon.
- Hormone tham gia điều hòa sự cân bằng nội môi của dịch nội và ngoại bào như
vasopressin (ADH), kích tố tuyến trên thận (ACTH) của tuyến yên…
- Hormone tham gia sự điều tiết sự thích nghi của cơ thể với môi trường như
thyroxin, adrenalin, noradrenalin.
- Hormone tham gia điều tiết quá trình sinh sản ở động vật. Sinh sản nhất là sinh sản hữu
tính ở động vật và người là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự có mặt của các hormone sinh dục đực
và cái như nhóm androgen và oestrogen, đảm bảo sự phát triển duy trì giới tính, sự phát sinh
giao tử, sự thụ tinh, thai nghén, đẻ và nuôi con.
2.3.3.. Cơ chế tác dụng của hormone
Cơ chế tác dụng của các hormone đối với các quá trình sinh học trong cơ thể hiện
đang còn tiếp tục được nghiên cứu. Các hormone được tiết ra từ các tế bào tuyến nội tiết
theo máu tác dụng lên tế bào đích, ở tế bào đích thường có ba giai đoạn kế tiếp nhau xảy
ra như sau:
+ Hormone được nhận biết bởi một thụ cảm thể (receptor) đặc hiệu trên màng tế bào
đích hay của nhân tế bào.
+ Phức hợp hormone- thụ cảm thể vừa hình thành được kết hợp với một cơ chế sinh
tính hiệu.
+ Tín hiệu sinh ra (chất truyền tin thứ hai) gây ra tác dụng đối với quá trình nội bào
như thay đổi hoạt tính, nồng độ các enzym thay đổi tính thấm của màng để tăng cường
hấp thu hay đào thải các chất, gây tiết hormone ở các tuyến đích khác, gây co hoặc giãn
cơ, tăng cường tổng hợp protein…
5
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TUYẾN NỘI TIẾT CHÍNH
1. Tuyến tùng
1.1. Cấu tạo và vị trí
Tuyến tùng nằm trong não trung gian giữa củ não trước và củ não sinh tư. Có liên quan đến
cơ quan đỉnh (mắt đỉnh) của một số cá và bò sát, ở cá miệng tròn tuyến tùng còn giữ ở mức độ mắt,
lưỡng cư không đuôi bị tiêu giảm dưới lớp da đầu.
Ở người, tuyến tùng có hình quả thông nhỏ, nặng khoảng 0,2g có cấu tạo gồm tế bào
tùng, tế bào thần kinh đệm xếp thành dây xen kẽ với các vi mạch.
1.2. Chức năng
Tuyến tùng tiết melantonin có chức năng điều khiển hoạt động của tuyến giáp, tuyến
sinh dục và có ảnh hưởng đến những thay đổi về điện não đồ.
2. Tuyến yên
2 .1. Cấu tạo và vị trí
Tuyến yên nhỏ nằm trong hố yên của xương bướm ở nền (đáy) sọ não và có liên
quan mật thiết với vùng dưới đồi (hypothalamus). Tuyến yên được chia làm ba thùy: thùy
trước, thùy giữa và thùy sau. Thùy trước và thùy giữa phát triển từ túi Rathke có tổ chức
tuyến điển hình. Thùy sau hình thành từ lá phôi ngoài gồm những tế bào thần kinh và thần
kinh đệm.
2.1.1. Thùy trước tuyến yên
Thùy trước tuyến yên tiết ra các hormone có tác động đến sự trao đổi protein, gluxit,
lipit, sự sinh trưởng của cơ thể và tác động đến chức năng của nhiều tuyến nội tiết.
- Kích tố phát triển STH (samato Trophin Hormone): thúc đẩy sự phát triển của cơ
thể. STH tác dụng chủ yếu vào sự phát triển sụn liên hợp, tăng sinh về khối lượng và phát
triển về thể tích của hệ thống xương. STH có tác dụng phối hợp với thyroxin của tuyến
giáp (hormone tuyến sinh dục kìm hãm STH).
- Kích tố tuyến giáp TSH (Thyroid Stimalating Hormone): có chức năng chính là
kích thích tuyến giáp, nếu cắt bỏ tuyến yên thì tuyến giáp cũng teo lại.
6
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
- Kích tố tuyến trên thận ACTH ( Adrenocorticotrophic Hormone): có chức năng là
kích thích phần vỏ tuyến trên thận, cắt bỏ tuyến yên gây teo phần vỏ tuyến trên thận, làm
tăng tiết hormone vỏ tuyến. ACTH cũng tham gia chuyển hóa gluxit, lipit, protein, nước
và muối khoáng. Khi giảm tiết ACTH thùy trước tuyến yên gây bệnh Addison, tăng tiết
ACTH gây bệnh Cushing
- Kích tố nang trứng FSH (Follicule Stimulating Hormone):
Ở nữ giới gây kích thích sự phát triển của nang trứng và kích thích nang trứng tiết ra
oestrogen, tác dụng này kết hợp với LH (kích tố thể vàng).
Ở nam giới kích thích sự phát triển của ống sinh tinh, tăng trọng lượng tinh hoàn,
duy trì sự tăng tinh trùng nhưng không kích thích làm tăng tiết hormone sinh dục đực.
- Kích tố thể vàng LH ( Luteinising Hormone):
Ở nữ LH cùng với FSH kích thích sự phát triển của nang trứng và thúc đẩy sự phát
triển của bao não de Graaf và làm rụng trứng. LH còn có tác dụng duy trì thể vàng khi
trứng được thụ tinh, làm tăng tiết oestrogen (cùng với FSH). LH kích thích thể vàng gây
tăng tiết progesterone.
Ở nam kích thích sự phát triển ống sinh tinh và dinh dưỡng tinh hoàn, LH kích thích
các tế bào kẽ tuyến (tế bào Lyedig) phát triển, làm tăng tiết testosterone.
- Kích tố tiết sữa (Prolactin): kích thích sự phát triển của tuyến vú và làm tăng tiết
sữa. Ở nam giới hormone có tác dụng kích thích sự phát triển của tuyến tiền liệt.
2.1.2.. Thùy giữa tuyến yên
Là một dải nhỏ nằm giữa thùy trước và thùy sau.
Thùy giữa bài tiết một hormone là kích hắc tố (MSH). Ở người tuy MSH không có
tác dụng rõ ràng nhưng khi nhược năng tuyến yên ở người thì MSH giảm và da trở nên
nhợt nhạt.
2.1.3. Thùy sau tuyến yên
Còn gọi là thùy thần kinh, là nơi tích trữ và giải phóng hai hormone do các nơron tiết
của hypothamus dẫn xuống: vasopressin và oxytocin.
7
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
+ Vasopressin (ADH): có tác dụng chủ yếu là bài xuất nước tiểu, làm tăng huyết áp,
co cơ trơn.
+ Oxytocin: gây co bóp cơ trơn tử cung làm cơ trơn tử cung tăng cường co bóp gây
hiện tượng thúc đẻ.
3. Tuyến giáp
3.1. Cấu tạo và vị trí
Tuyến giáp được tìm thấy ở cổ, ngay bên dưới mức ngang của khí quản, nằm trước sụn
giáp gồm hai thùy bên và một eo thắt ở giữa. Hai thùy nằm ngang phía trước và ở hai bên của khí
quản khi nó đi xuống phía trước cổ, ở người trưởng thành tuyến nặng khoảng 25g.
Tuyến giáp nằm trong một bao gắn chặt vào sụn giáp, trong bao có nhiều tuyến nang, đây
là đơn vị chức năng của tuyến. Xung quanh nang là lớp tế bào nang tuyến, bên trong có chất keo.
Chất keo có chứa thyroglobulin là một glycoprotein. Tế bào nang tuyến bình thường có hình dẹp,
khi tuyến hoạt động các tế bào căng to làm lòng nang hẹp lại, chất keo được đẩy ra ngoài qua các
lỗ nhỏ. Xung quanh nang là các tế bào cận nang nằm trong tổ chức liên kết (còn gọi là tế bào C).
3.2. Chức năng
Tuyến giáp sản xuất ra hai hormone chính là: thyroxin do tế bào nang tuyến tiết ra
calcitonin do tế bào C tiết ra.
+ Thyroxin gồm thyroxin (T4) và Triiodthyroxin (T3): tác dụng của hai loại này là
chuyển hóa iod, phát triển cơ thể tham gia điều hòa thần kinh thực vật, tăng khả năng
hưng phấn của hệ thần kinh.
+ Calcitonin có tác dụng làm giảm calci và photphat máu.
4. Tuyến cận giáp
4.1. Cấu tạo và vị trí
Tuyến cận giáp là một tuyến nhỏ nặng không quá 0,5g gồm bốn tuyến nhỏ nằm ở hai
cực trên và dưới của hai thùy tuyến giáp.
Tuyến cận giáp được cấu tạo từ hai loại tế bào là tế bào chính và tế bào ưa axit.
8
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
4.2. Chức năng
Tế bào chính tiết parathormon làm tăng axit huyến và giảm photphat huyến, nó tác
dụng qua ruột làm tăng hấp thu canxi ở ruột, cùng với vitamin D3 tác dụng lên xương qua
các hủy cốt bào để giải phóng canxi. Đối với photphat thì huy động từ xương vào máu
nhưng lại tăng cường bài xuất qua nước tiểu, do đó làm giảm photphat máu.
5. Tuyến ức
5.1. Cấu tạo và vị trí
Nằm trong mô lỏng lẻo phía sau lồng ngực gồm hia thùy phía dưới cổ và trên ngực.
Tuyến ức chứa đựng nhiều lymphô bào loại bạch cầu được chứa trong máu, tủy
xương, các tuyến bạch huyết và lách. Lớp ngoài của tuyến ức là vỏ có nhiều lyphô bào,
bên trong lớp là tủy cũng chứa các lyphô bào, ngoài ra còn một số tế bào khác. Tuyến ức
có kích thước thay đổi theo tuổi, ở giai đoạn trưởng thành tuyến ức nặng 30-40g. Sau 1620 tuổi bắt đầu quá trình thái hóa tuyến ức, nó bị mô mỡ bao quanh đến 70 tuổi.
5.2. Chức năng
Chỉ thể hiện trước giai đoạn trưởng thành sinh dục. Tuyến ức tiết ra hormone
timozin có khả năng kích thích hoặc ức chế quá trình sinh trưởng.
6. Tuyến thượng thận
6.1. Cấu tạo và vị trí
Gồm hai tuyến nhỏ, nằm úp trên hai quả thận.
Tuyến thượng thận có hình tam giác 1 thân 2 cánh có chiều dài 3-6cm, rộng 2-3cm,
dày 0,2- 0,6cm. Tuyến gồm hai tuyến nhỏ, trong mỗi tuyến nhỏ lại có hai phần riêng biệt
là phần vỏ và phần tủy có nguồn gốc và chức năng khác nhau.
6.1.1. Phần vỏ tuyến thượng thận
- Nguồn gốc: có nguồn gốc từ lá phôi giữa (mesoderme), có tổ chức tuyến điển hình
tiết ra nhiều hormone quan trọng được gọi chung là các corticoid.
- Chức năng: Hormone phần vỏ tuyến có nguồn gốc cholesteron và thuộc nhóm
steroid gồm 21 cacbon và chia làm ba nhóm:
9
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
+ Nhóm điều hòa muối: điều hòa chuyển hóa nước và muối khoáng, đó là các steroid
không có oxi ở vị trí C. Hormone chính của nhóm là desoxycorticosteron và aldosteron.
+ Nhóm điều hòa đường: còn gọi là nhóm 11 bao gồm các hormone là corticosteron,
cortisone, cortisol. Tác dụng chính của nhóm này là tăng dự trữ glycogen ở gan, tăng
đương glucose và giảm việc sử dụng đương ở ngoại vi.
+ Nhóm điều hòa sinh dục nam tính do tế bào lớp dưới của vỏ tiết ra. Do có nguồn gốc phôi
thai giống tế bào sinh dục nên hormone aldrogenes có tác dụng giống hormone nam.
Tác dụng chính là kích thích các đặc tính sinh dục phụ ở nam giới. Chúng còn tham
gia vào quá trình tổng hợp protein, giảm bài xuất nitơ qua nước tiểu, giữ nước và muối
NaCl, là tăng thể trọng. Ngoài ra, cũng có một ít hormone sinh dục nữ như oestrogenes
nhưng có tác dụng không đáng kể.
6.1.2.. Phần tủy tuyến thượng thận
- Nguồn gốc: có nguồn gốc phôi thai từ lá ngoại bì, cùng nguồn gốc với thần kinh
giao cảm. Đó là những tế bào thần kinh ưa crom, không có sợi trục và trở thành các tế
bào tiết, tiết ra các catecholamine bao gồm adrelanin và noradrelanin.
- Chức năng:
+ Adrelanin: tác dụng trực tiếp lên cơ tim làm tăng nhịp, tăng cường độ co bóp, tăng
hưng phấn cơ tim và tăng khả năng dẫn truyền. Đối với mạch nó gây co ở những động
mạch nhỏ, mao mạch ở da, co mạch lách nhưng làm giản mạch nuôi cơ tim. Làm tăng
huyết áp, tác dụng chuyển hóa glycogen thành đường glucose nên làm tăng đương huyết,
làm giảm đồng tử.
+ Noradrenalin: có tác dụng giống như adrelanin nhưng tác dụng tăng huyết áp
mạnh hơn còn tác dụng chuyển hóa lại kém hơn.
Điều hòa hoạt động của phần tủy tuyến thượng thận là vùng dưới đồi, các trung khu
giao cảm ở tủy sống. Phần cao nhất là vỏ não và hệ limpic cũng có tác dụng điều hòa
thông qua các cảm xúc, các stress.
7. Tuyến tụy
10
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
7.1. Cấu tạo và vị trí
Tuyến tụy nằm ngang phần trên bụng, phía trước xương ống và phía trên động mạch
chủ cùng tĩnh mạch chủ. Tá tràng được bao quanh đầu bởi tuyến tụy. Phần còn lại của tá
tràng gồm có thân và đuôi, chúng kéo dài qua cột sống và bên trái.
- Tuyến tụy là một tuyến pha bao gồm phần tụy ngọai tiết tiết ra dịch tụy trong tiêu
hóa và phần tụy ngoại tiết tiết ra insulin, glucagons và một vài hormone khác.Các tế bào
phần tụy nội tiết gồm tế bào anpha (chiếm 25%), bêta (chiếm 70%) và các tế bào khác.
Các tế bào này tập trung thành đảo tụy (gọi là đảo langerhans), trong đảo tế bào bêta ở
giữa tiết ra insulin, tế bào anpha ở xung quanh tiết ra glucagons, tế bào khác rải rác tiết ra
somatostatin và gastrin.
- Các cấu trúc căn bản trong tuyến tụy là chùm nang, các tập hợp tế bào tiết ra xung
quanh đầu bị kín của một ống nhỏ, mỗi ống liên kết với các ống từ chùm nang khác cho
đến khi tất cả chúng nối liền với ống chính chạy xuống trung tâm của tuyến tụy. Giữa
chùm nang là các tế bào nhỏ được gọi là các tiểu đảo: các nhóm tế bào này tạo thành toàn
bộ cột sống khác của tuyến tụy như một cơ quan nội tiết ra insulin. Các tiểu đảo cùng sản
xuất một loại hormone được gọi là glucagons.
7.2. Chức năng
- Tác dụng của insulin
+ Tham gia chuyển hóa gluxit, cụ thể là làm giảm hàm lượng đường glucose trong
máu. Nó thúc đẩy sự vận chuyển tích cực đường glucose qua màng và nội bào nhờ các
enzyme, ATP và sự có mặt của ion Mg2+.
+ Làm tămg axit béo và mỡ trung tính.
+ Làm giảm nồng độ axit amin trong máu, tăng tổng hợp protein, giảm sự phân giải
protein ở gan và cơ nếu thiếu insulin, cơ thể phải huy động protein và tăng cường dị hóa
chúng, làm teo cơ, sút cân, gầy mòn, cân bằng nitơ âm.
+ Đối với nước và muối khoáng, giúp cho sự thấm ion K+ qua màng vào trong tế bào dễ
dàng và ion Na+ ra ngoài dễ dàng hơn. Có tác dụng giữ nước cho cơ thể.
+ Insulin còn ức chế sự tiết kích thích tố phát triển (STH) của thùy trước tuyến yên để giải
phóng hexokinase trong quá trình photphoryl hóa đường glucose.
11
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
- Tác dụng của glucagon
+ Chuyển hóa gluxit bằng cách chuyển ngược glucogen dự trũ thành đường glucose
trong máu, nghĩa là làm tăng đường huyết, cơ chế này thông qua việc hoạt hóa enzyme
phosphorylase.
+ Tăng phân giải lipit.
+ Tăng cường dị hóa protein làm tăng urê máu.
+ Trong hệ nội tiết, glucagons kích thích phần tủy tuyến trên thận làm tăng tiết adrenalin,
kích thích chính đảo tụy tăng tiết insulin, nhằm luôn duy trì sự cân bằng đường huyết.
- Các hormone khác
+ Ngoài ra người ta còn tách chiết được một vài hormone từ phần tụy nội tiết .Chúng
có tác dụng với quá trình trao đổi lipit, ngăn chặn sự tích mỡ ở gan hoặc có tác dụng làm
tăng trương lực thần kinh mê tẩu (dây số X) nghĩa là tăng cường phó giao cảm (gọi là
Vagolonin) hay có tác dụng kích thích trung khu hô hấp, làm giãn phế quản, tăng sự kết
hợp giữa O2 và Hb, giúp O2 lưu chuyển dễ dàng trong máu, giúp cơ thể thích nghi trong
tình trạng thiếu O2.
8. Tuyến sinh dục
8.1. Tuyến sinh dục đực
8.1.1. Cấu tạo và vị trí
Là hai tinh hoàn nằm trong hốc bụng ở giai đoạn bào thai và đến tháng thứ 8 thì nằm
trong hốc bìu cho đến suốt đời.
Mỗi tinh hoàn có màng xơ bao quanh, màng này chia thành nhiều vách ngăn ( 300
ngăn), trong mỗi ngăn có các ống sinh tinh dài uốn khúc, các ống này tập trung về ống
dẫn tinh rồi chạy lên mào tinh hoàn và đi lên bờ chậu, vòng tới bàng quang. Ở đây ống
dẫn tinh phân nhánh, một nhánh vào túi tinh, một nhánh vào tuyến tiền liệt phía dưới bàng
quang, cuối cùng nhập vào niệu đạo. Xen kẽ các ống sinh tinh trong các ngăn của tinh
hoàn là các tế bào kẽ. Thành ống sinh tinh là lớp liên bào sản xuất ra tinh trùng, còn tế
bào kẽ sản xuất ra hormone.
Các hormone sinh dục đực gọi chung là androgens: gồm các tế bào sản xuất ra
testosterone và một số khác như androsteron, androstadiol…
12
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
8.1.2. Chức năng của tuyến sinh dục đực
- Kích thích sự phát triển giới tính ngay từ trong bào thai và hình thành giới tính đực
ở thai nhi.
- Tham gia quá trình chuyển hóa làm phát triển cơ thể. Tăng tổng hợp protein, cân
bằng nitơ dương.
- Tăng dị hóa lipit và huy động lipit.
- Tăng tổng hợp glycogen ở cơ.
- Ngoài ra còn có tác dụng giữ muối NaCl và nước, làm tăng chuyển hóa cơ sở.
8.2. Tuyến sinh dục cái
8.2.1. Cấu tạo và vị trí
Là hai buồng trứng hình trái xoan, kích thước khoảng 3 x 1,5 x 1 cm.
Trong buồng trứng có nhiều nang trứng, mỗi nang có chứa một trứng. Nang có các
tế bào hạt tiết ra hormone sinh dục là oestrogen, trong đó gồm ba loại là Oestron, Oestriol
và Osetradiol. Một lượng nhỏ các hormone này cũng còn được tiết ra từ các tế bào thể
vàng, nhau thai, vỏ tuyến thượng thận và tinh hoàn.
8.2.2. Chức năng của tuyến sinh dục cái
Tác dụng chính của hormone sinh dục Osetrogen :
+ Là những hormone giới tính gây động dục, phát triển các cơ quan sinh dục và các
đặc điểm sinh dục thứ cấp.
+ Tăng cường chuyển hóa, với gluxit thì tăng phân giải làm giảm đường huyết. Với
lipit làm tăng dự trữ mỡ dưới da một cách vừa phải. Với protein, kích thích tổng hợp
protein làm cơ thể phát triển nhất là vùng mông, chậu hông. Tăng tổng hợp ARN nhất là
mARN.Ngoài ra còn có tác dụng giữ nước và muối khoáng.
13
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
CHƯƠNG III: SỰ RỐI LOẠN CÁC TUYẾN NỘI TIẾT
A. SỰ RỐI LOẠN CÁC TUYẾN NỘI TIẾT
Có hai hội chứng lớn của tình trạng rối loạn trong hoạt động của tuyến nội tiết là ưu
năng và nhược năng.
- Ưu năng tuyến nội tiết: Đó là tình trạng tăng cường hoạt động của tuyến.
- Nhược năng tuyến nội tiết: Đây là tình trạng tuyến không tiết hay tiết không đủ
hormone cần thiết cho cơ thể hoạt động bình thường.
Cụ thể ở các tuyến như sau:
1. Tuyến tùng
- Ưu năng tuyến tùng ở trẻ em gây nên hiện tượng chín sinh dục trước tuổi.
- Tuyến tùng có thể bị vôi hóa, u (thường là ác tính) với một số biểu hiện thường
gặp: tăng áp lực dịch não tủy, rối loạn vận động não cầu, đái tháo nhạt, suy tuyến yên.
2. Tuyến yên
- Ưu năng: Tế bào ưa axit hoạt động quá mức hoặc u tế bào ưa axit làm tăng bài tiết GH :
+ Trước dậy thì gây bệnh khổng lồ (Gigantism) kèm biểu hiện đái đường, nếu không
điều trị 10% biểu hiện suy toàn bộ tuyến yên và tử vong. Nếu được chẩn đoán kịp thời
bệnh có thể khỏi nhờ vi phẫu thuật bóc khối u hoặc tia xạ.
+ Xảy ra sau dậy thì gây bệnh to đầu ngón (Acromegaly), các sụn liên hợp đã cốt hóa nên
xương không dài ra nhưng GH vẫn tác động lên các mô mềm, các xương dẹt và xương nhỏ làm
dày lên. Bệnh nhân có thể có biểu hiện mặt to, cằm bạnh, ngực bụng to, bàn chân bàn tay to...U
tăng tiết prolactin. Hội chứng Cushing (u tăng tiết ACTH)
- Nhược năng:
Nguyên nhân do u hoặc do chèn tuyến yên hoặc do huyết khối mạch máu ở phụ nữ
sau sinh gây hoại tử tế bào tuyến yên.
+ Nếu xảy ra trước dậy thì gây lùn yên (Dwarfism), lùn cân đối, giảm mức độ phát triển,
đứa trẻ 10 tuổi chỉ bằng 4-5 tuổi. Những người này không có dậy thì, chức năng sinh dục không
phát triển như người bình thường. Tuy nhiên, 1/3 ltrường hợp lùn yên do thiếu GH đơn độc, nên
các hormon khác vẫn được tiết đầy đủ.
14
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Ở người lùn Pyrmy, lượng GH được tiết bình thường nhưng không có khả năng tạo
somatomedin C.
+ Bệnh xảy ra ở người trưởng thành gây suy các tuyến phía dưới, biểu hiện nhược
năng giáp, giảm corticoid, GnRH giảm, người bệnh gầy đét, giảm hoạt động sinh dục,
lông tóc rụng. Ngoại trừ chức năng sinh dục, các rối loạn khác có thể được điều trị khỏi
nhờ hormon tuyến giáp và vỏ thượng thận.
Phụ nữ từ tuổi 40 trở đi, sự đáp ứng của buồng trứng đối với nội tiết của tuyến yên
giảm dần, làm các chức năng sinh dục cũng bắt đầu thay đổi và đi theo chiều hướng lão
suy. Tình tạng này gây nên những rối loạn về nội tiết (estrogen, progesterone và
testosterone), dẫn đến sự suy giảm sinh lý, làm người nữ giảm ham muốn, khó đạt khoái
cảm khi quan hệ, âm đạo không đủ chất nhờn.
3. Tuyến giáp
- Ưu năng:
Ở tuổi chưa trưởng thành, cơ thể lớn nhanh và tăng chuyển hóa về mọi mặt, chuyển
hóa cở sở tăng 50- 100%, nitơ niệu tăng, giảm dự trữ lipit và gluxit, tim đập mạnh, thần
kinh tăng hưng phấn, dễ xúc động, khó ngủ.
Ở tuổi trưởng thành, tuy không làm tăng trưởng kích thước nhưng hoạt động thần
kinh và chuyển hóa tăng mạnh.
- Nhược năng:
Trước tuổi trưởng thành, làm ngưng sự phát triển của cơ thể, các chi ngắn, đầu to,
thân nhiệt và hoạt động thần kinh giảm sút, không trưởng thành sinh dục.
Nếu tiếp tục nhược năng ở tuổi trưởng thành thì phát sinh chứng bướu cổ địa phương
do thiếu iot, tuyến giáp nở to, kèm theo là bệnh phù niêm dịch và bệnh đần do thiếu
enzyme chuyển hóa phenilalanin hay bệnh đần độn, trí tuệ kém phát triển, không trưởng
thành sinh dục.
4. Tuyến cận giáp
- Ưu năng: Canxi được huy động nhiều vào máu làm xương mềm yếu, dễ gãy.
15
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
- Nhược năng: Ngược lại canxi chuyển từ máu vào xương làm xương đòn, dễ gãy. Canxi
huyết giảm còn gây rối loạn hoạt động của thần kinh và xuất hiện các cơn co giật, thường
co cứng ở chi trên.
6. Tuyến thượng thận
a. Phần vỏ tuyến
- Ưu năng:
Trong nước tiểu, hàm lượng Na và Cl giảm nhưng K và urê tăng, nặng có thể gây
phù phổi do ứa nước, làm dậy thì sớm. Xuất hiện bệnh Cushing khi có u ở tế bào vỏ
tuyến. Bệnh nhân béo dị dạng: béo ở mặt, cổ,thân, bụng nhưng ở các chi thì gầy. Tăng
huyết áp, đái tháo đường.
- Nhược năng:
Cơ thể xuất hiện các rối loạn nghiêm trọng và có thể chết sau vài ngày. Các triệu chứng như
rối loạn tiêu hóa, bỏ ăn, nôn mửa, đi lỏng; rối loạn thần kinh như co giật,co cứng. Giảm thể trọng
nhanh. Ngoaì ra còn gây rối loạn chuyển hóa nước, muối khoáng, protein, gluxit. Giảm chuyển
hóa cơ sở 15-30%, giảm sức đề kháng.
b. Rối loạn phần tủy tuyến
Nhược năng phần tủy tuyến thượng thận: ít gặp
Ưu năng phần tủy tuyến thượng thận: tăng huyết áp, thiểu năng mạch
vành, phù phổi, rung tâm thất.
7. Tuyến tụy
- Ưu năng: Do insulin được bài tiết nhiều, nguyên nhân u tụy, bệnh tự miễn...Đặc trưng
bởi sự hạ đường huyết, các cơn hạ đường huyết thường xuất hiện với mạch nhanh, vả mồ
hôi, mệt mỏi. Khi mức đường huyết giảm dưới 2mmol/l (0,35g/l) dẫn đến những rối loạn
chức năng não với hôn mê và có thể tử vong.
- Nhược năng: Gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protein, sút cân mặc dù ăn nhiều,
uống nhiều. Đường huyết tăng cao đến 5-6% hàm lượng đường trong nước tiểu cũng tăng
gây bệnh đái tháo đường.
16
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Rối loạn chuyển hóa gluxit và lipit làm thiếu năng lượng cung cấp cho cơ thể, cơ thể
phải huy động protein để bù đắp, làm teo cơ, gầy, cân bằng nitơ âm.
B. NGUYÊN NHÂN GÂY RA SỰ RỐI LOẠN CÁC TUYẾN NỘI TIẾT
1. Ưu năng: Nguyên nhân có thể ngay tại tuyến hay ngoại tuyến.
+ Nguyên nhân tại tuyến: do tăng sinh tổ chức tuyến (phì đại nhu mô, u lành), tuyến
tăng hormone gây trạng thái ưu năng nội tiết.
+ Nguyên nhân ngoài tuyến: Một tuyến tăng cường hoạt động do bị kích thích từ
ngoài tuyến quá nhiều. Một ví dụ điển hình là hội chứng Cushing, trong đó vỏ thượng
thận trở nên phì đại do tuyến yên tiết quá nhiều ACTH.
2. Nhược năng: Nguyên nhân cũng như trong ưu năng nội tiết, nguyên nhân gây thiểu
năng nội tiết có thể ở ngay tại tuyến hay ở ngoài tuyến.
+ Nguyên nhân tại tuyến có thể là:
Rối loạn tuần hoàn tại tuyến: tắc mạch, huyết khối…
Tổ chức tuyến bị tổn thương do chấn thương, viêm, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, nhiễm
phóng xạ…
Rối loạn hoạt động tuyến do suy dinh dưỡng: như thiếu iod ở những vùng cao gây
thiểu năng tuyến giáp, thiếu ăn gây rối loạn tuyến sinh dục (tắc kinh, nhược tinh trùng…).
Rối loạn do quá trình tự mẫn cảm: vì những nguyên nhân chưa rõ, tổ chuác của
tuyến hay bản thân hormone được tiết ra trở thành kháng nguyên và có thể tạo ra kháng
thể chống lại dẫn tới thiểu năng nội tiết. Đôi khi do dùng hormone điều trị lấy từ các sinh
vật khác (lợn, bò) dù đã có tác dụng song cấu trúc khác nhau nên gây ra hiện tượng mẫn
cảm chéo.
+ Nguyên nhân ngoài tuyến:
Hoạt động một tuyến nội tiết có thể giảm do những nguyên nhân bên ngoài, thí dụ
thiểu năng thượng thận thứ phát do rối loạn tuyến yên thường gặp kèm thiểu năng các
tuyến khác ( như tuyến sinh dục, tuyến giáp…) Kích thích từ trên xuống có thể chủ yếu là
do ức chế phản hồi quá mạnh. Trường hợp này hay gặp khi dùng hormone tổng hợp để
điều trị: như khi dùng nhiều hydrococtanxyl, hay các loại steroit tổng hợp khác, đậm độ
hormone trong máu cao sẽ ức chế tuyến yên tiết ACTH dẫn tới giảm hoạt động của vỏ
17
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
thượng thận. Đó là lý do tại sao không nên ngừng điều trị đột ngột mà phải giảm liều dần
dần nhằm phục hồi lại hoạt động của tuyến.
C. HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN GIẢ
1. Ưu năng tuyến giả
Có những trường hợp bệnh nhân có triệu chứng bên ngoài của trạng thái ưu năng,
song thực sự tuyến vẫn hoạt động bình thường. Có thể là do:
a. Tăng độ nhạy cảm của cơ quan thụ cảm với hormone: thí dụ nhiều trạng thái tăng
chuyển hóa cơ bản mà không có ưu năng tuyến giáp, thường được gọi là ưu năng tuyến
giáp giả.
b. Giảm tốc độ phân hủy hormone: làm cho lượng hormone hoạt động tích lại trong cơ thể,
không khác gì trong ưu năng thực. Trong suy gan, do không kịp thời phân hủy aldosteron,
ADH,estrogen nên hay có biểu hiện lâm sàng như ứ nước, rụng lông, da mịn…
2. Nhược năng tuyến giả
Cũng như ưu năng giả đó là những trường hợp có biểu hiện thiểu năng nhưng tuyến
vẫn bình thường có thể là do:
a. Tăng thoái biến hormone: Gây giảm đậm độ hormone trong máu, có thể do có
nhiều chất chống hormone hoặc kháng hormone. Thí dụ như đái tháo đường do tăng hoạt
động của insulinaza hay do kháng thể chống insulin.
b. Giảm nhạy cảm của cơ quan thụ cảm với hormone: Bệnh đái tháo nhạt có thể xảy
ra do ống thận giảm cảm thụ đối với ADH. Bệnh đái đường còn có thể do tổ chức kém
nhạy cảm với insulin.
Nói tóm lại, ngày nay nhờ những thử nghiệm động về chức năng của tuyến nội tiết
cùng với những tiến bộ về phương pháp định lượng phóng xạ miễn dịch các hormone
trong máu, nên đã chuẩn đoán chính xác hơn các trạng thái ưu năng và thiểu năng tuyến
nội tiết.
D. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP DO SỰ RỐI LOẠN CÁC TUYẾN NỘI TIẾT
18
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
1. Bệnh to cực hay bệnh không lồ
Bệnh to cực là một rối loạn trong đó thùy trước tuyến yên tiết ra quá nhiều hormon
tăng trưởng (GH) làm gia tăng sự phát triển của xương và mô mềm, đặc biệt là ở những
vùng xa, chẳng hạn như mũi, hàm, các ngón tay và các ngón chân. Nếu rối loạn này xảy
ra ở trẻ em là đối tượng mà cơ thể vẫn chưa phát triển đầy đủ thì sự gia tăng nồng độ GH
còn làm cho sự phát triển khác thường xảy ra ở các xương dài. Tình trạng này là một biến
thể của bệnh to cực còn được gọi là bệnh khổng lồ.
Khoảng 80% trường hợp to cực chi có nguyên nhân từ các u lành tính phát triển bên
trong tuyến yên. Các khối u này làm thùy trước tuyến yên từ chối tác động của hormon ức
chế hormon tăng trưởng (GHIH - Growth hormone inhibiting hormone), là một loại
hormon điều hòa được chế tiết từ vùng dưới đồi có chứng năng ngăn không cho tuyến yên
sản xuất ra GH. Do đó, GH sẽ được chế tiết ra mà không có cơ chế làm ngừng lại.
Bước đầu tiên trong quá trình điều trị to cực chi là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Sau đó,
một số bệnh nhân sẽ cần phải sử dụng thuốc
để làm giảm chế tiết GH. Nếu được điều trị,
bệnh nhân to cực chi có thể sống một cuộc
sống bình thường đến cuối đời. Nếu không
được điều trị, bệnh nhân có nhiều khả năng sẽ
chết sớm do những tác dụng bất lợi của bệnh
trên tim, phổi, và não.
Bệnh to cực là một rối loạn trong đó
thùy trước tuyến yên sản xuất ra quá nhiều
hormon tăng trưởng dẫn đến tăng phát triển
xương
và
mô
mềm.
Hình 3.1:Bệnh to cực
2. Cường giáp
19
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Cường giáp là một rối loạn trong đó tuyến giáp tăng hoạt sản xuất quá nhiều
thyroxine. Thông thường nguyên nhân là do có khối u ở tuyến giáp. nó cũng có thể là do
một rối loạn tự miễn trong đó các kháng thể nối kết với các tế bào của tuyến giáp, thúc
đẩy chúng sản xuất thyroxine với một lượng dư thừa, dạng này còn được gọi là bệnh
Graves (hay còn gọi là bệnh Cushing). Bất kể bệnh nhân đang ở thể bệnh nào, cường giáp
đều gây ra một số triệu chứng tương tự nhau: sụt cân và tăng cảm giác thèm ăn, khó thở,
căng thẳng và lo âu, nhịp tim nhanh, yếu cơ, không chịu được nóng, và khó khăn trong
việc thư giãn và ngủ. Ngoài ra, mắt có thể bị lồi ra và tuyến giáp có thể phì đại đến mức
nhìn thấy rõ (bướu cổ).
Điều trị cường giáp có thể là phẫu thuật cắt bỏ khối u giáp (nếu có) hoặc một phần
tuyến giáp. Do tuyến giáp là bộ phận duy nhất của cơ thể hấp thu được iod, nên bệnh
nhân có thể được tiêm iod phóng xạ vào người để tiêu diệt các tế bào sản xuất hormon và
làm tuyến giáp bị phì đại thu nhỏ lại. Những loại thuốc làm giảm hoặc ngăn chặn sự sản
xuất thyroxine cũng có thể được sử dụng. Với cách điều trị đúng đắn, hầu hết bệnh nhân
bị cường giáp có thể sống được một cuộc sống bình thường.
3. Nhược giáp
Nhược giáp là một rối loạn trong đó tuyến giáp giảm hoạt không thể sản xuất hoặc chế tiết
hormon thyroxine để đáp ứng đủ với nhu cầu của cơ thể. Do thyroxine là loại hormon cơ bản cho
quá trình phát triển cơ thể và chuyển hóa, nên nếu nguồn cung cấp của loại hormon này giảm có hể
làm giảm những quá trình duy trì sự sống và làm tổn thương các cơ quan và mô trong tất cả các
phần của cơ thể.
Đây là một trong những bệnh mạn tính thường gặp nhất ở Hoa Kỳ. Có khoảng 11 triệu người
lớn và trẻ em có thể bị nhược giáp. Phụ nữ bị gấp đôi nam giới.
Nhược giáp thường là hậu quả của bệnh Hashimoto. Đây là một loại bệnh trong đó
hệ thống phòng thủ của cơ thể không thể nhận biết được tuyến giáp là một mô bình
thường của cơ thể nên tấn công nó như thể nó là một vật thể lạ xâm nhập cơ thể. Đôi khi
tuyến giáp bị tiêu hủy trong quá trình này. Nhiễm trùng do virus và vi khuẩn cùng với chế
độ ăn thiếu iod có thể dẫn đến nhược giáp.
20
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Các triệu chứng của nhược giáp có thể không xuất hiện cho đến những năm sau khi
tuyến giáp ngừng hoạt động, chúng bao gồm: mệt mỏi, giảm nhịp tim, tăng cân, trầm
cảm, đau cơ hoặc yếu ớt, da khô, tăng nhạy cảm quá mức với cảm giác đau, và phù mặt.
Nếu nhược giáp xảy ra sớm ở trẻ em có thể dẫn đến chứng trì độn. Tình trạng này có
thể dẫn đến còi cọc: đầu và thân, có chiều dài ngang với chân ở những người bình thường,
ở những bệnh nhân này có chiều dài lớn hơn gấp rưỡi. Những bệnh nhân này có tóc mọc
ít và da rất khô, chậm phát triển về tinh thần. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm và được
điều trị bằng cách dùng thuốc thay thế thyroxine, có thể ngăn ngừa được tình trạng chậm
phát triển tâm thần và những triệu chứng khác.
Những loại thuốc hormon tổng hợp cũng có thể được sử dụng dể điều trị cho những
người trưởng thành bị nhược giáp. Cách điều trị này chủ yếu nhằm duy trì nồng độ
hormon giáp bình thường, giúp cho bệnh nhân có thể sống được 1 cuộc sống bình thường.
4. Bệnh Addison
Bệnh Addson là một rối loạn trong đó vùng vỏ thượng thận chế tiết ra quá ít cortisol
và aldosterone dẫn đến sự ngừng trệ của nhiều chức năng của cơ thể. Khoảng 4/100.000
người gặp loại rối loạn này. Nó có thể xuất hiện ở cả nam lẫn nữ ở mọi độ tuổi.
Nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh Addison là sự phá hủy hoặc co nhỏ lại của vỏ
thượng thận. Khoảng 70% trường hợp bệnh có nguyên nhân là do rối loạn tự miễn, là một tình
trạng cơ thể sản xuất ra các kháng thể tấn công và tiêu diệt các mô của chính cơ thể thay vì tiêu
diệt những tác nhân lạ xâm nhập chẳng hạn như virus và vi khuẩn. Trong trường hợp bệnh
Addison, các kháng thể tấn công và tiêu diệt các tế bào của vỏ thượng thận.
Bệnh Addison có khuynh hướng phát triển chậm, từ từ. Vào thời điểm phát hiện ra
các triệu chứng thì khoảng 90% các tế bào của vỏ thượng thận đã bị tiêu hủy. Những triệu
chứng thường gặp nhất là mệt mỏi và mất năng lượng, chán ăn, buồn nôn, nôn, tiêu chảy,
đau bụng, yếu cơ, chóng mặt khi đứng, và mất nước. Xuất hiện những vùng da bị đen và
tàn nhang bất thường. Phụ nữ bị bệnh này có thể không còn có kinh như bình thường nữa.
Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng cũng trở nên nặng hơn: nhịp tim bất thường, nôn và
buồn nôn không kiểm soát được, huyết áp tụt mạnh, suy thận, và mất ý thức.
21
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Những bệnh nhân bị bệnh Addison được điều trị bằng thuốc corticoid để thay thế
cortison và aldosterone trong cơ thể. Nếu sử dụng thuốc liên tục, những bệnh nhân này có
thể hy vọng sống được một cuộc sống bình thường trong suốt khoảng đời còn lại.
5. Hội chứng Cushing
Hội chứng Cushing là một rối loạn gây ra bởi sự chế tiết quá mức corticoid - chủ yếu
là cortisol - của vỏ thượng thận dẫn đến béo phì và yếu cơ. Rối loạn này xảy ra khoảng 15
phần triệu người mỗi năm. Nó thường xảy ra ở người trưởng thành (cả nam lẫn nữ) giữa
độ tuổi từ 20 đến 50.
Hội chứng Cushing có thể có nguyên nhân từ khối u ở tuyến yên hoặc tuyến thượng
thận. Thùy trước tuyến yên chế tiết ra ACTH kích thích vỏ thượng thận chế tiết cortisol.
Khối u ở tuyến yên có thể làm ACTH được sản xuất quá nhiều dẫn đến hậu quả là cortisol
được sản xuất quá mức. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Một khối u ở tuyến thượng
thận cũng có thể dẫn đến tình trạng cortisol được vỏ thượng thận sản xuất quá mức.
Dưới đây là một số triệu chứng có thể xuất hiện khi cortisol được sản xuất quá mức:
tăng cân một cách bất thường (đặc biệt theo hình tròn hoặc
mặt trăng), dải màu tía và hồng xuất hiện dọc theo bụng và
hông, tăng huyết áp, yếu xương và cơ, năng lượng thấp,
cảm xúc bất ổn và trầm cảm, mọc lông mặt bất thường ở
phụ nữ.
Cách điều trị hội chứng Cushing bao gồm phẫu thuật
cắt bỏ khối u ở tuyến yên hoặc tuyến thượng thận. Sau khi
phẫu thuật, một số bệnh nhân cũng có thể được cho thuốc
để giúp làm giảm sản xuất cortisol. Nếu phải cắt bỏ toàn bộ
tuyến thượng thận, bệnh nhân sẽ phải sử dụng thuốc
corticoid suốt phần đời còn lại.
Hình 3.2: Một phụ nữ bị hội chứng Cushing, là một rối loạn gây ra bởi sự sản
xuất quá mức corticoid.
6. Đái tháo đường
22
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Đái tháo đường là một rối loạn trong đó các tế bào của cơ thể không thể hấp thu
được glucose. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do tụy không thể sản xuất đủ
insulin được nữa hoặc có thể do các tế bào không đáp ứng được với tác dụng của insulin.
Xấp xỉ 14 triệu người Hoa Kỳ - khoảng 5% dân số - bị đái tháo đường, và gần 50% trong
số họ không biết được rằng mình đang bị bệnh. Khoảng 300.000 người Hoa Kỳ tử vong
mỗi năm do đái tháo đường.
Những triệu chứng thường gặp của đái tháo đường bao gồm: tiểu nhiều, khát nước
nhiều, mệt mỏi, sụt cân, đói, và chậm lành vết thương. Những tác động lâu dài của đái
tháo đường bao gồm giảm thị lực, giảm máu đến cung cấp cho tay và chân, và đau. Nếu
không được điều trị, bệnh có thể dẫn đến suy thận, bệnh tim, đột quỵ, hôn mê, và tử vong.
Có 2 loại đái tháo đường là đái tháo đường type I và đái tháo đường type II.
Đái tháo đường type I, đôi khi còn được gọi là đái tháo đường ở tuổi vị thành niên,
thường bắt đầu xuất hiện ở trẻ em hoặc tuổi mới lớn. Ở dạng đái tháo đường này, tụy tiết
ít hoặc hoàn toàn không tiết ra insulin. Các nhà khoa học tin rằng đái tháo đường type I có
thể có nguyên nhân là do một loại virus hoặc vi sinh vật kích thích phản ứng tự miễn: các
kháng thể khi bình thường có chức năng tiêu diệt những tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể
bây giờ lại tấn công vào các tiểu đảo Langerhans, là các tế bào tụy chế tiết insulin.
Rối loạn này có thể được kiểm soát bằng cách tiêm insulin mỗi ngày (dùng kim tiêm và
ống bơm nhỏ) và ăn theo chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Ăn quá ít thức ăn (hoặc ăn quá trễ (để
phù hợp với quá trình tiêm insulin), uống rượu, hoặc tăng tập thể dục đều có thể dẫn đến hạ
đường huyết. Bệnh nhân đái tháo đường có thể trở nên cáu kỉnh, bối rối, mệt mỏi, vã mồ hôi, và
run rẩy. Nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể mất ý thức và tai biến. Trước khi diễn tiến
bệnh trở nên quá xấu, người bệnh nên được ăn hay uống đồ ngọt, chẳng hạn như kẹo, viên
đường, nước trái cây, hoặc những loại snack có nồng độ đường cao để làm cân bằng lại đường
huyết.
Đái tháo đường type II, đôi khi còn gọi là đái tháo đường khởi phát ở tuổi trưởng
thành, là một dạng đái tháo đường thường gặp hơn. Hơn 90% bệnh nhân đái tháo đường
tại Hoa Kỳ thuộc thể bệnh này. Nó thường xảy ra nhất ở những bệnh nhân thừa cân và
23
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
những người không tập thể dục. Nó thường gặp nhiều ở dân Mỹ gốc, dân Mỹ La tinh, và
dân Mỹ gốc Phi.
Trong đái tháo đường type II, tụy có thể sản xuất đủ insulin, nhưng các tế bào của cơ thể trở
nên đề kháng với tác dụng của insulin. Tuổi tác, béo phì (nặng hơn 20% cân nặng lý tưởng), và có
người thân trong gia đình bị đái tháo đường là những yếu tố có vai trò trong nguyên nhân gây bệnh.
Các triệu chứng của đái tháo đường type II có thể bắt đầu một cách từ từ nên người bệnh có thể
không biết rằng mình đang mắc bệnh. Đôi khi các triệu chứng có thể xuất hiện trong vài năm ở
những người trưởng thành thừa cân trên 40 tuổi.
Cũng như đái tháo đường type I, bệnh đái tháo đường type II cũng không có cách
điều trị khỏi hẳn. Quá trình điều trị tập trung vào mục đích giữ nồng độ đường huyết
trong giới hạn bình thường. Đối với nhiều bệnh nhân đái tháo đường type II, giảm cân là
một mục tiêu quan trong trong việc giúp kiểm soát đái tháo
đường trong đó thì tập thể dục vừa phải và ăn uống hợp
dinh dưỡng, cân bằng là những bước chính. Để giữ nồng độ
đường trong máu không tăng quá cao, nên chia bữa ăn ra
làm nhiều lần ăn nhỏ trong ngày. Có một số loại thuốc giúp
những bệnh nhân bị đái tháo đường type II làm giảm đường
huyết.
Hình 3.3: Loét chân do đái tháo đường
E. CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ HỆ NỘI TIẾT LUÔN HOẠT ĐỘNG TỐT
Các tuyến nội tiết và những hormon mà chúng chế tiết ra đóng vai trò trong hầu hết
các chức năng bình thường của cơ thể. Do chúng khá phức tạp nên hệ thống hoạt động
dựa trên sự cân bằng rất nhạy cảm. Nếu nó bị rối loạn, sẽ có rất nhiều vấn đề cả lớn lẫn
nhỏ sẽ xảy ra.
Do đó, việc theo dõi sự hoạt động của hệ thống này và tìm kiếm cách điều trị thích
hợp nếu các rối loạn bắt đầu xuất hiện là rất quan trọng. Có thể thực hiện những biện pháp
phòng ngừa để bảo vệ hệ nội tiết. Các hệ thống của cơ thể đáp ứng tốt với một bữa ăn hợp
dinh dưỡng và tập thể dục thường xuyên, hệ nội tiết không phải là một ngoại lệ.
24
Sù rèi lo¹n c¸c tuyÕn néi tiÕt
Một số rối loạn nội tiết có liên quan đến bữa ăn. Béo phì có thể dẫn đến đái tháo đường type
II, là một rối loạn nội tiết thường gặp nhất ở Hoa Kỳ. Thiếu iod trong bữa ăn có thể dẫn đến bướu
cổ, hoặc phì đại tuyến giáp. Ăn một bữa ăn giàu dinh dưỡng, hợp lý, cân bằng và giữ cơ thể ở
một cân nặng lý tưởng sẽ làm giảm nguy cơ bị một số bệnh nội tiết.
Stress là một gánh nặng đối với toàn bộ các hệ thống trong cơ thể. Bất kỳ tình huống
nào đe dọa đến sự cân bằng nội môi hoặc tình trạng vững chắc của cơ thể đều là một dạng
của stress. Các tình huống gây stress có thể từ thực thể, từ tâm lý hoặc từ môi trường. Một
trong những chức năng chính của một số tuyến nội tiết là tiết ra các hormon giúp cơ thể
đáp ứng với các tình huống stress. Tuy nhiên, chức năng này chỉ kéo dài trong một thời
gian ngắn. Nếu stress kéo dài hơn vài giờ, cơ thể phải cần có một nhu cầu về năng lượng
cao hơn. Khi đó nhiều loại hormon sẽ được chế tiết ra để đáp ứng nhu cầu đó, nhưng với
một cái giá phải trả. Chúng có khuynh hướng làm suy yếu hệ miễn dịch, làm cho cơ thể
dễ bị nhiễm trùng hơn.
Stress diễn ra trong một khoảng thời gian dài có thể dẫn đến tăng huyết áp và thiếu
cortisol và những loại hormon corticoid khác được chế tiết ra bởi vỏ thượng thận. Tất cả
những hiện tượng này đều có thể dẫn đến tổn thương và suy các cơ quan. Kết hợp giữa
tập luyện với ngủ vừa phải, những kỹ thuật thư giãn, và suy nghĩ tích cực sẽ giúp làm
giảm stress và giữ nồng độ hormon được cân bằng
25