MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học Nga thế kỷ XIX là một trong những thành tựu rực rỡ nhất
của lịch sử văn học thế giới. Đặc biệt vào nửa sau của thế kỷ, văn học giai
đoạn này được coi là một “phép lạ”, nó không chỉ phong phú về số lượng mà
còn giàu có về chất lượng với những “tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa,
tinh thần nhân đạo cao cả và lòng yêu nước nhiệt thành” [8,6]. Thời đại đó đã
sản sinh ra những tên tuổi nổi tiếng thế giới như A. Puskin, Iu. Lecmôntôp,
Đôtxtôiepxki, L. Tônxtôi… Trong đó, không thể không nói đến A. Sêkhôp
(1860 -1904), một cây bút thiên tài, nhà cách tân nghệ thuật vĩ đại trong lĩnh
vực truyện ngắn và kịch. Là đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa hiện thực
Nga cuối thế kỷ XIX, Sêkhôp được giới thiệu ở Việt Nam khá sớm.
1.2. Sinh thời Sêkhôp thường tự đánh giá rất khiêm tốn những cống
hiến văn chương của mình. Không lâu trước khi mất, ông lo âu rằng công
chúng sẽ chỉ đọc ông dăm bảy năm nữa. Thế nhưng, những tác phẩm của
Sêkhôp hơn trăm năm qua vẫn gây ấn tượng mãnh liệt với độc giả mặc dù đó
dường như chỉ là những chuyện bình thường, tưởng như chẳng có gì để viết
với những con người tẻ nhạt và với vô số khuyết tật tinh thần. Ẩn sau mỗi câu
chuyện không có cốt truyện ấy là những vấn đề nhân sinh sâu sắc. Sêkhôp đã
thấu hiểu được chất bi kịch của những chuyện đơn giản, vặt vãnh trong cuộc
sống hàng ngày, từ đó ông dựng lên bức tranh xã hội và những chân dung con
người đương thời đầy sức ám ảnh tâm trí của hàng triệu độc giả.
1.3. Hôn nhân được coi là hạnh phúc cả đời của mỗi con người. Gia
đình là hạt nhân của xã hội, là nơi hình thành nên nhân cách con người và
cũng là điểm bình yên để con người hướng ra xã hội. Martin Luther từng nói
“Không có mối quan hệ, sự đồng cảm hay đồng hành nào đáng yêu, thân thiện
và quyến rũ hơn một cuộc hôn nhân tốt đẹp”. Hôn nhân và cuộc sống gia đình
luôn là đề tài quen thuộc trong rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Với Sêkhôp cũng
1
vậy, ông viết về hôn nhân và cuộc sống gia đình từ góc nhìn của một người
trân trọng nó, khao khát những điều tốt đẹp. Khảo sát những truyện của
Sêkhôp được dịch ra tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy nhiều truyện có đề cập
đến chuyện hôn nhân. Tuy nhiên, cho đến nay, đề tài này vẫn chưa được khai
thác nghiên cứu. Đó chính là một trong những lý do chúng tôi mạnh dạn lựa
chọn nghiên cứu đề tài này.
1.4. Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực đối với chúng tôi.
Trước hết, việc tìm hiểu sâu hơn đề tài hôn nhân, một vấn đề hết sức nhân
văn, sẽ giúp chúng tôi hiểu hơn những cách tân nghệ thuật của Sêkhôp – nhà
văn của những chuyện vặt vãnh hàng ngày. Không những thế, việc thực hiện
đề tài sẽ giúp chúng tôi hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng
cao kỹ năng, thao tác phân tích tác phẩm, góp phần hữu ích vào việc giảng
dạy Sêkhôp trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Từ lâu trên thế giới đã có khoa “Sêkhôp học”. Hàng năm, có rất nhiều
công trình nghiên cứu về Sêkhôp ở khắp nơi trên thế giới. Nhà văn Baranốp
từng cho rằng Sêkhôp là cả một trường đại học thực thụ cho những người viết
văn. Tuy nhiên do trình độ ngoại ngữ hạn chế, trong quá trình thực hiện đề
tài, chúng tôi chỉ có thể tham khảo những công trình, bài nghiên cứu được
dịch ra tiếng Việt và của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Hơn nữa, trong phạm
vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin nêu những ý kiến có liên quan ít nhiều
trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hôn nhân trong truyện Sêkhôp.
Trong cuốn“Sáng tạo nghệ thuật hiện thực con người”, M.
Khrapchenko nhấn mạnh đối tượng sáng tác của Sêkhôp là “những con người
bị cuốn hút bởi những lo âu vĩnh viễn về những nhu cầu cấp bách cơ bản nhất,
bị cuộc sống lăng nhục và những con người hài lòng với cuộc sống đó, những
kẻ hãnh tiến, tìm mọi cách đạt được điều chúng muốn…”. Nhà nghiên cứu
2
cũng đã chỉ ra một cách cụ thể: đó là cô giáo Maria trong truyện “Trên xe thổ
mộ” quanh quẩn với những suy nghĩ về cuộc sống mưu sinh, là bác sĩ Xtarxep
(“Ionưt”) càng thành đạt càng trở nên xám xịt, buồn tẻ, trống rỗng. Đời sống
hôn nhân của vật Nikitin (“Thầy giáo văn chương”) cũng được tác giả đề cập
đến như một ví dụ trong cuộc sống “phàm tục”: “Đối với nhà giáo trẻ Nikitin,
cuộc sống tựa hồ phơi bày những khía cạnh tốt đẹp của nó… Sự dư dật yên
tĩnh, cảnh phong lưu ngự trị trong nhà anh. Vợ anh không ngừng lo toan tới
sự yên ấm của gia đình, lo cho bản thân anh… Anh ta cảm thấy ngột ngạt vì
không khí nặng nề trong nhà…” [29, 61]. Ở một chỗ khác, nhà nghiên cứu đã
đưa ra một ví dụ: đó là cuộc hôn nhân của người bán quan tài Yakop trong
truyện ngắn “Cây vĩ cầm của Rothchild”. Từ đó, tác giả khái quát: “Sự phàm
tục vây bọc các nhân vật của Sêkhôp là cái thường ngày cổ hủ được nâng lên
hàng những giá trị chân chính của thế giới sống phàm tục, không suy
nghĩ”[29,70]. Khi quan tâm đến tính hủy diệt của cái phàm tục, tác giả đã
nhận thấy những dấu hiệu đó trong một số câu chuyện hôn nhân và gia đình
của Sêkhôp. Đây cũng là điều mà chúng tôi rất quan tâm.
Trong bài viết “Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm Sêkhôp”, La Côn
nhấn mạnh cảm giác “ngao ngán” của tác giả khi nhìn sâu vào xã hội “thượng
lưu và trung lưu” đó. Tác giả bài viết trích dẫn lại lời của chính Sêkhôp:
“Nước Nga toàn những kẻ tham lam lười biếng! Chúng ăn uống cho đẫy, rồi
ban ngày cũng ngủ cho đẫy, ngủ ngáy ầm ĩ. Chúng lấy nhau để cho có vẻ trật
tự trong gia đình, và đi chim chuột bắt nhân tình để khoe khoang với mọi
người. Tâm lý chung là tâm lý của những con chó: bị đánh thì chúng ư ử rền
rĩ và chúi đầu vào chuồng; được vuốt ve thì chúng nằm lăn ra, chổng chân lên
giời, ve vẩy đuôi…” [26,68]. Từ khía cạnh đó, La Côn đi vào phân tích một
số nhân vật. Viên công chức Nicôlai trong “Khóm phúc bồn tử” đã “làm một
việc táng tận lương tâm là cưới một người đàn bà góa chồng, luống tuổi, xấu
3
xí nhưng nhiều tiền rồi đầy đọa cho vợ chết đi…”. Acxinhia trong “Trong
khe núi” lấy một người chồng vừa điếc vừa đần, nhưng “điều đó không làm
cho Acxinhia buồn vì ả đã có nhiều chồng khác”… Những cuộc hôn nhân
hình thức là thứ mà La Côn gọi là “vỏ ngoài choáng lộn, lừa dối. Khi bị tuột
ra, những cuộc hôn nhân đó hiện nguyên hình “xấu xa bẩn thỉu”. Có thể nói,
những chi tiết này là những gợi ý rất quý đối với chúng tôi.
Bài báo “Trekhov và Nam Cao nhìn từ hai nền văn học” của Phong Lê
đã so sánh đối chiếu sự gần gũi về tiến trình, nội dung cũng như ý thức nghệ
thuật của hai nhà văn lớn. Tác giả khẳng định nét tương đồng giữa Sêkhôp và
Nam Cao là “không bao giờ tự tiện bịa đặt ra một cái gì, không bao giờ mô tả
một cái gì không có trên cuộc đời này”. Tác giả phân tích thêm, đối tượng của
Sêkhôp chính là nước Nga “mênh mông nhưng khi được soi vào cận cảnh ống
kính thì lại là một cuộc sống thực chật chội và khủng khiếp. Quẩn quanh
trong các trang ấp lớn hoặc nhỏ vẫn chỉ là bấy nhiêu gương mặt trong thế giới
quý tộc, viên chức, tri thức, sĩ quan, nghệ sĩ, sinh viên… tất cả đều lười biếng,
tẻ nhạt; họ đi lại, ăn uống, chuyện trò, cãi vã, chim chuột với nhau, tìm thú
vui trong những cuộc ngoại tình giấu giếm hoặc công khai; bỏ nhau mà đi rồi
lại tìm về với nhau; muốn thoát khỏi nhau nhưng lại vẫn cứ phải sống với
nhau; hiện tại quá ư là buồn chán mà tương lai cũng chẳng hứa hẹn chút sinh
thú gì…” [26,97]. Trong bài viết này, Phong Lê cũng đã đề cập đến những
vấn đề của hôn nhân và gia đình.
Trong “Lịch sử văn học Nga” (Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Kim Đính,
Nguyễn Hải Hà…), các tác giả cũng đã khẳng định: “Nội dung truyện Sêkhôp
phong phú, sâu sắc, có dung lượng lớn, hình thức lại giản dị tinh tế, tiết kiệm
từ ngữ , lời ít mà ý nhiều, cô đọng như thơ. Có thể nói là truyện ngắn lớn hơn
truyện ngắn, nội dung nhiều hơn văn bản lời văn”[8,135 ]. Theo các tác giả,
cuộc sống mà Sêkhôp miêu tả là một hiện thực “mòn mỏi, han rỉ, đầy lo âu,
sợ sệt”. Ở đó, một em bé “không có địa chỉ trong cuộc đời”, một ông già
4
“chưa kịp sống, chưa kịp yêu thương thì đã muộn, đã lỡ”, có những nhân vật
“khi đạt được mọi ước muốn nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn…thì bỗng
dưng một sớm một chiều nào đấy chợt nhận ra mình đã lầm lẫn và trốn chạy
hạnh phúc, nếu không rời bỏ ngay sẽ phát điên mà chết”[8,143]. Các tác giả
cũng nhấn mạnh giá trị nhân đạo của Sêkhôp là ở chỗ: Ông đã “bền bỉ vắt kiệt
dòng máu nô lệ, khuyến khích con người dứt ra khỏi cuộc sống tủn mủn,
trống rỗng để đấu tranh cho nhân phẩm, tình yêu, hạnh phúc chân
chính”[8,145]. Các tác giả cũng cho rằng “tình yêu, hạnh phúc” của đời người
là nỗi băn khoăn trăn trở của Sêkhôp.
Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn “Sung sướng”, Đỗ Hồng Chung đã
nêu một đặc điểm của thể loại truyện Sêkhôp, đó là ít miêu tả cặn kẽ “diễn
biến tâm lý, quá trình hình thành và phát triển, những lúc quanh co, những
bước ngoặt, những sắc thái tâm lý” mà để cho hành động nhân vật tự bộc lộ:
“Nhà văn thông qua diễn biến của sự việc, lời nói và hành động của nhân vật,
những độc thoại nội tâm, những tưởng tượng, hồi ức mà soi sáng mọi diễn
biến tâm trạng của con người một cách tế nhị, thâm trầm, không ồn ào khoa
trương”. Ở một chỗ khác ông cho rằng: tâm trạng của nhân vật trong truyện
Sêkhôp có khi bộc lộ qua những nét phong cảnh như nhân vật Nađia: “Cô
Nađia – “Người vợ chưa cưới” cảm nhận bằng toàn thân “tháng năm – mùa
xuân”, những rung động khẽ khàng của cây cỏ đất trời đang vào xuân, giữa
một đêm trăng rằm lồng lộng, cảm nhận mùi vị âm thanh đời thường lọt qua
cửa sổ nhà bếp, rồi cô mơ hồ nhận ra hôn nhân không đem lại điều gì tốt lành,
cuộc sống tự do lành mạnh cô hằng khao khát…” [7,8]. Như vậy, trong khi
phân tích nét nghệ thuật của truyện Sêkhôp, tác giả Đỗ Hồng Chung đã chú ý
đến những dự cảm không tốt đẹp của nhân vật trong cuộc hôn nhân của mình.
Trong bài viết “Chất nhân bản trong truyện Sêkhôp”, Vương Trí Nhàn
đã nhấn mạnh cách cảm thụ và triết lý về cuộc đời của nhà văn được diễn tả
5
một cách từ tốn mà thấm thía tự nhiên thông qua hệ thống nhân vật “thường
nhật”. Tác giả đồng tình với quan điểm của S. Maugham cho rằng nhân vật
trong truyện Sêkhôp “không có những hành động anh hùng. Họ không lên
Bắc cực để đánh nhau với hải cẩu, mà họ ở nhà để ăn súp bắp cải và cãi nhau
với vợ” [33,167]. Chất bi thảm thể hiện đằng sau cái vẻ “nhì nhằng, lặt vặt, xô
bồ, thầm lặng” ấy. Vương Trí Nhàn đã dẫn chứng câu chuyện tưởng như
không có gì của bác thợ tiện: “Trong cơn bão tuyết bác thợ tiện nọ một mình
đưa vợ lên bệnh viện. Rồi thì cũng chả có gì cứu vãn được tình thế người vợ
chết cứng trước khi chạm mặt thày thuốc. Điều đáng nói ở đây là những đau
đớn dội lên trong lòng người còn sống. Hàng ngày vốn thô lỗ cục cằn với vợ,
lúc này người đàn ông kia chợt tỉnh”. Từ đó, tác giả bài viết cho rằng nhân vật
trong truyện Sêkhôp “sống trong trần gian này với không biết bao nhiêu lỗi
lầm, ngớ ngẩn. Trong khi làm khổ mình, mỗi người đã làm khổ vợ con, bạn
bè…”[33,172].
Trong “Lịch sử văn học Nga thế kỷ 19” (của các tác giả Nguyễn Hải
Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh), một chủ đề khá nổi bật trong truyện
Sêkhôp đã được đề cập tới, đó là thói dung tục, cuộc sống tiểu tư sản ngột
ngạt và ngưng đọng với ảnh hưởng độc hại của nó đến đời sống cá nhân con
người. Đó cũng là “tình trạng nghèo nàn, tối tăm, bẩn thỉu, đói khát và man rợ
của những người nông dân trong hoàn cảnh bị áp bức, bóc lột quá sức tưởng
tượng [12,135]”. Để chứng minh điều này, tác giả đã dẫn chứng những câu
chuyện gia đình đổ vỡ do ảnh hưởng trực tiếp của hoàn cảnh xã hội. Chẳng
hạn: gia đình nhân vật Nicôlai (“Những người Mugich”) - người chồng ốm
chết, người vợ cùng đứa con bỏ làng ra đi; gia đình lão Sưbukin (“Trong khe
núi”) sống bằng sực bóc lột và lừa bịp dân nghèo, người con dâu thứ lấy nước
sôi giết chết cháu trai và đuổi người mẹ xấu số đi. Ở đây, trong khi đề cập đến
tình trạng tối tăm của gia đình những người nông dân trong xã hội Nga đương
6
thời, vấn đề mà chúng tôi quan tâm cũng đã được động chạm đến: những cuộc
hôn nhân đổ vỡ hay tục ép gả hôn nhân của nông thôn Nga bấy giờ.
Đặc biệt đáng chú ý là ý kiến của GS. Nguyễn Hải Hà. Trong bài viết
“Cái mới trong truyện Sêkhôp”, ông khẳng định: “Tính chân thực là nét nổi
bật mà mọi người nhận thấy trong truyện Sêkhôp” [13,85]. Theo như tác giả,
trong thời buổi đau ốm của nước Nga thì sự thật chính là “thân phận nô lệ,
đầu óc nô lệ của con người biểu hiện qua vô vàn dạng thức”, là “thói quỵ lụy
trước quyền uy, chức tước”, “thói nô lệ đồng tiền, của cải”, “sự tác oai tác
quái của hoàn cảnh vô nhân đạo”, “sự khuất phục hoàn cảnh, tâm lý bạc
nhược, ngụy biện”. Tác giả cũng nhấn mạnh: “Sêkhôp mô tả tình yêu, hôn
nhân và thân phận nô lệ của người phụ nữ trong rất nhiều truyện như
“Người đàn bà phù phiếm”, “Huân chương Anna nhị đẳng”, “Vôlôđia lớn
và Vôlôđia bé”, “Một chuyện tình yêu”, “Đêm Noel”, “Câu chuyện của phu
nhân N.N”, “Một chuyện đùa nho nhỏ”, “Que diêm Thụy Điển”,
“Vêrơsca”, “Vận xấu”, “Chị bếp lấy chồng”, “Người vợ chưa cưới”.... Có
những cô gái trẻ bị ép duyên hoặc vì tiền phải lấy chồng già. Không ai có
hạnh phúc: “có tất cả mọi thứ, duy chỉ có tình yêu là chưa đến” (“Người đàn
bà có con chó nhỏ”). Con người vẫn chưa được tự do trong tình yêu và hôn
nhân” [13,89]. Như vậy, tác giả Nguyễn Hải Hà cũng đã rất quan tâm đến
vấn đề phụ nữ trong hôn nhân nói riêng, tự do hôn nhân nói chung. Đây là
một phần “sự thật” lớn lao trong các tác phẩm của Sêkhôp.
PGS. TS Đỗ Hải Phong trong bài “Mạch ngầm văn bản trong truyện
ngắn và truyện vừa của A.P.Chekhov” đã đi sâu khám phá tín hiệu văn bản
- “sự lặp lại các thành tố liên kết các tín hiệu của mạch ngầm văn bản ẩn
sau sự lặp lại dường như “tình cờ”, “tự nhiên” của cuộc sống”. Những tín
hiệu văn bản đó tưởng như tình cờ nhưng có ý nghĩa rất lớn: “Những thành
tố được lặp lại trong văn xuôi Chekhov để tạo mạch ngầm văn bản có thể
không phải chỉ là những lời nói, âm thanh, mà là những chi tiết về đồ vật,
7
sự vật đời thường… Trong hệ thống nghệ thuật của Chekhov những chi tiết
này có sức gợi rất lớn”. Tác giả đã dẫn chứng biểu tượng chiếc ô trong
truyện ngắn“Ba năm”: “Chi tiết về chiếc ô “không còn mới, được quấn
chẳng chịt bởi những sợi dây chun đã cũ, tay cầm làm bằng xương trắng
thông thường, rẻ tiền” trong truyện vừa “Ba năm” được lặp lại năm lần ở
các thời điểm khác nhau của mạch cốt truyện, nó kết nối các thời điểm này
lại và chỉ ra mạch ngầm trớ trêu ẩn dưới câu chuyện về tình yêu và hôn
nhân trong khoảng thời gian ba năm này”[35,6]. Theo như tác giả, chiếc ô
trở thành tín hiệu để người đọc thấy được sự chuyển biến về mặt tình cảm
của các nhân vật trong trong khoảng thời gian kết hôn. Đây cũng là những
gợi ý để chúng tôi thực hiện đề tài.
PGS. TS Lê Huy Bắc trong bài “Chekhov: nghệ sĩ và bác sĩ” đã nhận
ra ở truyện Sêkhôp hai trạng thái tâm lý thường xuất hiện trong đời sống nhân
vật là “cô đơn và tẻ nhạt”. Tác giả khẳng định: “Biểu hiện rõ nét của hai đặc
tính này là nhân vật thường tồn tại riêng lẻ. Rất nhiều nhân vật trong truyện
Sêkhôp sống đơn độc. Nếu họ lập gia đình thì gia đình ấy không mang lại
hạnh phúc. Sự đổ vỡ là kết quả không tránh khỏi”. Tác giả viết tiếp: “Hạnh
phúc xã hội thực sự chỉ được dựa trên hạnh phúc đích thực của mỗi một cá
nhân, sẽ không có mẫu số chung cho hạnh phúc bởi ước vọng của con người
thì chẳng ai giống ai. Và mọi sự cực đoan đều dẫn đến độc tài, phi nhân
bản”[5,29]. Chúng tôi rất chú ý đến phát hiện của tác giả về mô típ đổ vỡ hôn
nhân trong truyện Sêkhôp.
Khi viết về Sêkhôp, trong “Văn học Nga trong nhà trường”, PGS. TS
Hà Thị Hòa cho rằng: Sêkhôp đã chiếm lĩnh một lĩnh vực hiện thực mà các
nhà văn Nga trước đó chưa khai thác hết, đó là:“cuộc sống hàng ngày với
muôn vàn những biểu hiện phong phú, đa dạng, phức tạp”, trong đó đầy rẫy
những thói đời phàm tục: tính ích kỷ, háo danh, thói phù phiếm, nỗi sợ hãi
khiếp nhược… những thứ ăn mòn giá trị con người”[21,160]. Khi viết về
8
nhân vật Kôvơrin trong “Tu sĩ vận đồ đen”, tác giả nhận xét: “Sêkhôp đã phát
hiện ra chứng bệnh vĩ cuồng. Nó không chỉ đẩy Kôvơrin xa rời thực tại, xa rời
người thân mà còn gây nên nỗi đau khổ cho chính những người hết lòng yêu
thương anh ta: cô Tania là vợ anh và ông Êgô bố vợ anh”. Tác giả cho rằng
những thói tật đó tác động không nhỏ đến cuộc sống hôn nhân của nhân vật.
Bênh cạnh những thói tật tâm hồn ấy, tác giả khẳng định vẫn có những tâm
hồn lành mạnh trong truyện Sêkhôp. Ví dụ: nàng Xôphia Lôvôpna (“Vôlôđia
lớn, Vôlôđia bé”) “mặc dù gặp bi kịch trong hôn nhân nhưng vẫn khao khát
“Tôi muốn được làm một người trung thực, trong trắng không biết lừa dối,
sống có mục đích” [21,163]. Và theo tác giả, xu hướng của ngòi bút Sêkhôp
là “chẩn bệnh”. Đặc điểm này đã chi phối cách mà nhà văn chiếm lĩnh, mổ xẻ
hiện thực nói chung, cuộc sống hôn nhân của con người nói riêng. Đây là
những gợi ý giúp người viết nghiên cứu đề tài luận văn: Hôn nhân được nhìn
từ góc độ chẩn bệnh, từ đó khám phá vấn đề lớn lao của hiện thực con người.
Vấn đề hôn nhân trong truyện của Sêkhôp đó đây cũng được động
chạm đến trong các luận văn, khóa luận. Chẳng hạn, Tạ Thị Thu Huyền trong
luận văn “Tình yêu trong truyện A.P.Sêkhôp” đã viết về khá nhiều cuộc hôn
nhân thiếu vắng tình yêu như cuộc hôn nhân của nàng Palađi trong “Chị bếp
lấy chồng”, Pêlaghêya trong truyện “Người thợ săn”, hôn nhân của những
người phụ nữ trong “Những người đàn bà”….
Trong luận văn “Nhân vật viên chức trong truyện Sêkhôp”, Lê Thị
Thanh cũng chỉ ra nhiều thói tật của con người là nguyên nhân gây lên những
bi kịch hôn nhân như trong các truyện ngắn “Mưa dầm”, “Vôlôđia lớn,
Vôlôđia bé”: “Ở truyện “Vôlôđia lớn, Vôlôđia bé”, Sêkhôp lại nói tới một
kiểu viên chức có thể thờ ơ với hạnh phúc của người khác và của chính mình.
Chuyện yêu đương của Vôlôđia bé chỉ có ý nghĩa khi anh ngoại tình với vợ
của một quan chức cấp cao…”.
9
Trong luận văn “Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện
Sêkhôp”, Nguyễn Thị Hoa cũng nhấn mạnh những thói hư tật xấu của người
phụ nữ khiến họ bỏ lỡ mất cuộc hôn nhân hạnh phúc của mình như Onga
trong “Người đàn bà phù phiếm”. Tác giả cũng nhắc đến những người phụ nữ
đáng thương trong hôn nhân như người phụ nữ trong truyện ngắn “Chai rượu
sâmpanh”, “Trong khe núi”…
Có thể nói, số lượng những bài viết về Sêkhôp ở Việt Nam ngày một
nhiều. Những đặc điểm nổi bật của truyện Sêkhôp: Đặc trưng thể loại, nghệ
thuật tự sự, phong cách truyện ngắn, thế giới nhân vật, quan niệm của nhà
văn, chất nhân bản, những thủ pháp nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật,
… đã được đề cập đến trong các giáo trình, các bài báo, bài viết và một số tài
liệu tham khảo. Vấn đề hôn nhân, theo chúng tôi rất quan trọng, tuy đã được
nhiều tác giả đề cập đến nhưng mới chỉ ở mức độ tản mạn, thoáng qua, chưa
được đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống. Song, đó chính là những chỉ
dẫn, gợi ý quý báu giúp cho chúng tôi đi vào khám phá đề tài này một cách
sâu hơn.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Lựa chọn đề tài “Hôn nhân trong truyện Sêkhôp”, chúng tôi hi vọng
phần nào làm rõ phong cách nghệ thuật của Sêkhôp: Ông thường viết về cái
hàng ngày và phát hiện cái bi kịch đời thường từ những điều tưởng như vặt
vãnh, nhàm tẻ. Trên cơ sở đó, chúng tôi mong muốn có thể làm rõ hơn những
cách tân nghệ thuật tài năng của Sêkhôp.
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những truyện ngắn có liên quan
đến vấn đề hôn nhân, trên cơ sở phân loại những câu chuyện hôn nhân, phân
tích những bi kịch hôn nhân và làm rõ một vài nét nghệ thuật đặc sắc trong
cách kể chuyện hôn nhân của Sêkhôp.
Về phạm vi khảo sát, chúng tôi tập trung vào những bản dịch như sau:
1. Phan Hồng Giang, Cao Xuân Hạo (dịch): A.TSÊKHỐP truyện ngắn.
Nxb Văn học, 1979.
10
2. Phan Hồng Giang, Cao Xuân Hạo (dịch): A.TSÊKHỐP truyện ngắn.
Nxb Cầu Vồng Maxcơva, 1988.
3. Nhiều người dịch: Anton Sekhov tuyển tập tác phẩm tập 2, Nxb Văn
học, 1999
4. Phan Hồng Giang, Cao Xuân Hạo (dịch): Truyện ngắn Sêkhôp, Nxb
Văn hóa thông tin, 2001.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi áp dụng phương pháp tiếp cận hệ
thống và phương pháp của thi pháp học.
Để triển khai giải quyết vấn đề, chúng tôi kết hợp sử dụng phương pháp
cụ thể như khảo sát thống kê, phân tích tổng hợp.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn triển khai ba chương:
Chương 1. Những câu chuyện hôn nhân
Chương 2. Hôn nhân và những bi kịch gia đình
Chương 3. Nghệ thuật kể chuyện hôn nhân – vài nét đặc sắc
NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG CÂU CHUYỆN HÔN NHÂN
Hôn nhân là sự khởi đầu của “gia đình” – tế bào của xã hội, nhằm thực
hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng… Với ý
nghĩa lớn lao đó, hôn nhân luôn là vấn đề cần được quan tâm ở mọi thời đại.
1.1 . Chuyện hôn nhân – đề tài lớn trong truyện Sêkhôp
1.1.1. Hôn nhân – câu chuyện muôn thuở
Hôn nhân là vấn đề hạnh phúc cả đời của một con người. Mỗi nền văn
hóa có những điểm khác biệt trong cách nhìn nhận hôn nhân, quan niệm về
hôn nhân. Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” thì “Hôn nhân là thể chế xã
hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều
người thuộc hai giới tính khác nhau (nam hoặc nữ), được coi nhau là chồng và
11
vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con
cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần
mang đến những yếu tố mới” [11,1886]. Cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Nhà
xuất bản Từ điển Bách Khoa lại giải thích một cách khá đơn giản: hôn nhân là
“việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”[23,72].
Trong lịch sử nhân loại, hôn nhân và gia đình đã trải qua nhiều hình
thái khác nhau, gắn liền với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Giai đoạn
đầu, loài người sống từng bầy đàn, dựa vào săn bắn và hái lượm, chưa có
phân công lao động, quan hệ tính giao còn tự do mà lịch sử gọi là quần
hôn. Đây là thời kỳ của chế độ thị tộc, thời kỳ này, theo các sử gia xác định,
có thể đã kéo dài hàng chục vạn, thậm chí hàng triệu năm. Khi tư tưởng tư
hữu phát triển, thị tộc nhường chỗ cho gia đình cá thể (gia đình một vợ một
chồng). Hình thái hôn nhân này cũng mang những đặc điểm khác nhau trong
các chế độ xã hội khác nhau. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ một vợ
một chồng bắt đầu mang tính giả tạo đối với chủ nô và nó chỉ tuân thủ đối với
đàn bà. Các nữ nô lệ đã thuộc về người chủ nô cả về thể xác lẫn tâm hồn, do
đó vai trò của người vợ các chủ nô cũng chỉ như là một nô lệ, một công cụ
giải trí và sinh đẻ đơn thuần.
Sang chế độ phong kiến, xuất phát từ sự tôn thờ và duy trì chế độ đẳng
cấp, trọng nam khinh nữ mà chế độ một vợ một chồng bị biến dạng : Xã hội
hà khắc với phụ nữ (chỉ có một chồng) còn đàn ông được luật pháp cho phép
có nhiều vợ (đa thê), điển hình là trong xã hội phong kiến phương Đông (Việt
Nam, Trung Quốc và các nước theo đạo Hồi). Thực tế lịch sử thế giới đã
chứng minh, hôn nhân và gia đình xây dựng trên nền tảng đạo đức phong kiến
là trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của đàn ông, hôn nhân theo
đẳng cấp (đòi hỏi phải môn đăng hộ đối), bảo vệ và duy trì tông tộc phong
12
kiến. Ngày nay, về hình thức, thì nhà nước duy trì chế độ một vợ một chồng,
tức là hôn nhân một vợ một chồng trên nền tảng luật pháp, còn trong thực tế
vẫsn tồn tại đầy rẫy sự phóng túng của đàn ông và đàn bà về quan hệ ngoài
hôn nhân (ngoại tình). Hiện nay quan niệm về hôn nhân đã có những thay đổi
lớn. Trên thực tế, pháp luật thế giới tồn tại rất nhiều các chế định khác nhau,
thấp hơn hoặc tương tự như hôn nhân. Kết đôi có đăng ký là hình thức kết đôi
có đăng ký với nhà nước, được cấp giấy chứng nhận “có quan hệ gia đình”.
Chế định này thường dành riêng cho những cặp cùng giới; nhưng một vài
quốc gia cũng cho phép những cặp khác giới đăng ký theo hình thức này.
Sống chung không đăng ký là hình thức kết đôi tự nguyện giữa hai người,
không đăng ký với nhà nước. Chế định này áp dụng cho cả cặp cùng giới và
khác giới, tự động phát sinh khi hai người đã chung sống thực tế với nhau một
thời gian theo luật định. Như vậy, trên thực tế, khái niệm về hôn nhân đã thay
đổi khá nhiều, phù hợp với nhu cầu và quyền lợi của con người trong sự phát
triển của xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, hình thức hôn nhân phổ biến nhất
vẫn là hôn nhân khác giới một vợ một chồng, được luật pháp công nhận.
Trong quan niệm Triết học, tình yêu là cơ sở nền tảng của hôn nhân.
Mỗi con người là một cá thể riêng biệt, tồn tại tách rời nhau, nhưng khi yêu,
giữa họ đã có sự tác động qua lại lẫn nhau. Khi tình yêu đã đi đến một cái
ngưỡng nhất định, đủ điều kiện thì nó hướng đến một cuộc hôn nhân. Tình
yêu chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng một cuộc sống gia đình thuận hoà,
hạnh phúc, là điều mà mỗi người đều mong có được.
Kinh Thánh lại coi hôn nhân là một “bí tích”, hôn nhân lúc này vượt
qua cả vấn đề của hai người, trở thành sự kết nối kì diệu từ bàn tay của Chúa.
Hôn nhân là sự kết hợp của một người nam và một người nữ như hai vợ
chồng. Ý nghĩa và giá trị của hôn nhân có trước và vượt trên bất kỳ xã hội,
13
chính phủ, hoặc cộng đồng cụ thể nào. Nó là một ích lợi phổ quát và là cơ chế
nền tảng của tất cả mọi xã hội. Nó đi liền với bản chất của con người như nam
và nữ, và với nhiệm vụ quan trọng là cưu mang và nuôi dưỡng con cái.
Hôn nhân đã đi vào văn học từ rất sớm và luôn là đề tài hấp dẫn cho
các nhà văn, nhà thơ sáng tác. Trong văn học, tình yêu và hôn nhân được nói
đến nhiều và trở thành những điển cố đầy thú vị. Điển cố về hôn nhân và cuộc
sống gia đình có mặt khắp các tác phẩm văn học phương Đông lẫn phương
Tây, khắp các thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch đến thơ. Khi nhắc đến
Kinh Thánh, nhiều người sẽ nhớ ngay đến câu chuyện tình yêu trong Vườn
địa đàng, câu chuyện mà cho tới giờ vẫn là nguồn cảm hứng của nhiều loại
hình nghệ thuật. Adam và Eva không chỉ là những người đầu tiên trên trái đất,
cuộc hôn nhân của họ cũng là cuộc hôn nhân đầu tiên của loài người. Trong
văn hóa Trung Quốc, cuộc sống hôn nhân và gia đình của người cổ đại cũng
thể hiện khá rõ qua những truyền thuyết về tổ tiên của họ là Nữ Oa và Trạng
Hy. Tương truyền rằng vào thời đó, lũ lụt triền miên, tất cả người dân đều bị
những dòng nước lũ cuốn trôi, chỉ còn sống sót hai anh em Trạng Hy và Nữ
Oa. Hai người đã kết duyên vợ chồng, giúp cho nhân loại được tái sinh. Ở
Việt Nam, câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ kết hôn với nhau sinh ra bọc
trăm trứng đã trở thành truyền thuyết lý giải cho sự ra đời của dân tộc.
Hôn nhân và cuộc sống gia đình cũng luôn là đề tài quen thuộc trong
rất nhiều tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Cuộc hôn nhân của Scarlett O’Hara
và Rhett Butler trong tác phẩm “Cuốn theo chiều gió” của Margaret Mitchel
đã để lại bao ấn tượng trong lòng người đọc. Tình yêu và hôn nhân của
Tachiana trong tiểu thuyết bằng thơ “Epghênhi Ônêghin” của Puskin cũng để
lại trong lòng người đọc nhiều cung bậc cảm xúc. Tác phẩm “Chiến tranh và
hòa bình” được coi là một trong những thành quả lao động đưa tên tuổi
Tônxtôi lên hàng ngũ những nhà văn vĩ đại của văn học Nga và thế giới. Tác
14
giả đã đưa vào đó những vấn đề như cha và con, quan hệ hôn nhân, gia đình,
giải phóng phụ nữ - những vấn đề lớn trong văn học những năm 60 – 70 thế
kỷ XIX. “Tônxtôi đã nhận thấy trong những cuộc khủng hoảng gia đình có
dấu hiệu của biến đổi xã hội” [19,38]. Tác phẩm nổi tiếng “Anna Karênina”
- một tác phẩm mẫu mực của thể loại tiểu thuyết – thì được đánh giá “không
chỉ là một cuốn tiểu thuyết về gia đình mà còn về tâm lý xã hội”[21,38]. Còn
biết bao tác phẩm khác lôi cuốn bạn đọc cũng bởi những câu chuyện về hôn
nhân và tình yêu của con người.
Như vậy, từ xa xưa, hôn nhân đã là đề tài đáng chú ý của văn học,
nghệ thuật. Đó là hình thức gắn bó những con người xa lạ, nó có thể mang
lại hạnh phúc cho con người, cũng có thể đưa người ta đến sự bất hạnh.
Hôn nhân gắn liền với hạnh phúc đời người, là một trong những khát vọng
muôn thủa của nhân loại.
1.1.2. Hôn nhân - câu chuyện đời thường
Hôn nhân có ý nghĩa lớn lao, qua đó có thể thấy sự phản chiếu của hệ
tư tưởng thời đại, mức độ coi trọng và giải quyết vấn đề con người của mỗi xã
hội. Đến Sêkhôp, hôn nhân trở thành một đề tài lớn trong các truyện ngắn của
ông. Trong 50 truyện được khảo sát thì có đến 28 truyện xoay quanh vấn đề
hôn nhân và gia đình phức tạp. Điều này phù hợp với phong cách nghệ thuật
của Sêkhôp – nhà văn của những chuyện đời thường.
Sêkhôp viết về những vấn đề lớn lao của thời đại, xã hội trong phạm vi
hiện thực khá đặc biệt: nếp sống, sinh hoạt hàng ngày. Chủ đề chính trong
truyện Sêkhôp là thói tầm thường dung tục, cuộc sống tiểu tư sản ngột ngạt và
ngưng đọng với ảnh hưởng của nó. Cuộc sống ấy ngột ngạt, nhợt nhạt trong
giai đoạn xã hội khủng hoảng trầm trọng: “Đọc truyện Sêkhôp, sẽ thấy ông ít
miêu tả những biến cố lớn lao, những sự kiện tầm cỡ thường tạo nên những
biến động trong đời sống lịch sử, xã hội. Ngòi bút của ông hướng vào lĩnh
15
vực hiện thực mà các nhà văn Nga đương thời chưa khai thác hết, đó là cái
cuộc sống hàng ngày muôn vàn những biểu hiện phong phú, đa dạng phức tạp
của nó” [21,49]. Cuộc sống như vậy, các nhân vật của Sêkhôp mãi loay hoay
với những vấn đề hàng ngày, những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống
của họ: mối quan hệ với người bạn đời, quan hệ gia đình nhỏ bé, những lo
toan vật chất. Viết về cái thường nhật hàng ngày không thể bỏ qua những vấn
đề của hôn nhân, bởi đây là một phần lớn lao ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống tinh thần của mỗi người. Sêkhôp viết những câu chuyện hôn nhân bằng
ngòi bút khách quan nhất có thể. Thế nhưng bằng “ngòi bút chẩn bệnh” (chữ
dùng Hà Thị Hòa), đoán bệnh tài tình ấy, bao giờ người đọc cũng nhận ra
được phía sau đó là một khát vọng thay đổi. Sêkhôp không ngần ngại vạch ra
những phần mục ruỗng nhất trong vấn đề hôn nhân. Tác giả chỉ ra những tình
huống xấu nhất có thể xảy ra, những tình huống đó có thể xảy ra bất cứ lúc
nào và với bất cứ ai. Dù không viết về những cuộc hôn nhân kiểu mẫu (trên
thực tế không có cuộc hôn nhân nào mẫu mực), toát lên từ mỗi trang văn của
Sêkhôp là sự khao khát thoát khỏi những “dị tật” của hôn nhân để vươn tới
hạnh phúc đích thực.
Nhiều tác phẩm của Sêkhôp lấy hôn nhân làm chủ đề chính, cả câu
chuyện xoay quanh vấn đề hôn nhân, cuộc sống gia đình của một hay một vài
nhân vật. Hôn nhân trong truyện Sêkhôp được đặt vào những tình huống khác
nhau, với những màu sắc khác nhau, muôn hình muôn vẻ. Truyện ngắn
“Dusechka” là câu chuyện dài về con đường hôn nhân trắc trở của một người
phụ nữ. Mỗi cuộc hôn nhân của Ôlenka bắt đầu và kết thúc theo những cách
khác nhau và đều tạo nên những thay đổi lớn trong tâm hồn, cách suy nghĩ,
tinh thần cũng như cuộc đời cô. Nếu như Dusechka là câu chuyện về hôn
nhân và cuộc đời của một người phụ nữ thì “Những người đàn bà” là bi kịch
hôn nhân của nhiều người phụ nữ đáng thương trong cùng hoàn cảnh: Nàng
16
Xôphia hiền lành, Vacvara cá tính mạnh mẽ hay Masenka ngang ngạnh đều là
những người bất hạnh trong cuộc sống gia đình. Truyện “Thày giáo dạy văn”
lại khai thác một cách tinh tế và sâu sắc đời sống tâm hồn của một người viên
chức từ khi yêu đến khi bước vào cuộc sống hôn nhân. Tác phẩm bắt đầu
bằng niềm hạnh phúc vô bờ, tình yêu thương vợ của Nikitin, rồi sau đó xuất
hiện những chuyển biến trong tâm hồn nhân vật, hạnh phúc rạn nứt, cảm xúc
tiêu cực, hoài nghi hạnh phúc dần hình thành trong cuộc sống vợ chồng. Cảm
nhận và suy nghĩ của nhân vật về hôn nhân đã được miêu tả hết sức cụ thể.
Truyện ngắn “Tu sĩ vận đồ đen” là câu chuyện hôn nhân có kết cục buồn của
chàng thạc sĩ Anđơrây. Trong truyện vừa “Cuộc đấu súng”, thông qua mối
quan hệ “như vợ chồng” của Laevski và Nadezda, Sêkhôp đặt ra nhất nhiều
vấn đề cơ bản của hôn nhân như quan hệ, tình cảm và trách nhiệm giữa người
vợ và người chồng, vấn đề hạnh phúc; Sêkhôp cũng đưa vào sáng tác của
mình câu chuyện “Chị bếp lấy chồng”, chuyện người thợ đóng quan tài lo ma
chay cho người vợ vốn bị lãng quên (“Cây vĩ cầm của Rothschild”), chuyện
buồn chán và ngoại tình của một anh chàng trông coi ga tàu ở một vùng xa
xôi hẻo lánh (“Chai rượu Sâmpanh”)…Trong nhiều truyện của Sêkhôp, hôn
nhân không phải nội dung chính như “Chuyện đời vặt vãnh”, “Ở nơi đày
ải”… Chuyện ngoại tình của bà vợ trong “Hai kẻ thù” là một chi tiết nhỏ
nhưng là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của hai nhân vật chính.
Truyện ngắn viết về hôn nhân của Sêkhôp hết sức đa dạng, phong phú.
Đó có thể là câu chuyện hôn nhân của một người, cũng có thể là hôn nhân của
nhiều gia đình trong một hoàn cảnh, hoặc nhiều người trong nhiều hoàn cảnh
khác nhau. Tất cả tạo nên một không gian hiện thực Nga đậm đặc. Viết về vấn
đề hôn nhân, Sêkhôp đã lựa chọn một góc nhìn từ đó soi sáng các vấn đề xã
hội. Qua mối quan hệ giữa người vợ và người chồng, người đọc có thể nhận
diện được mối quan hệ giữa người với người trong xã hội, sự thật và giả dối,
17
những thói hư tật xấu của một loại người, một giai cấp, những quan niệm, tư
tưởng, cuộc sống, xã hội lúc bấy giờ.
Trong truyện của Sêkhôp, có thể nhận thấy ông hay kể về chuyện
hôn nhân trong những gia đình tri thức và chuyện hôn nhân trong những
gia đình nông thôn.
1.2. Chuyện hôn nhân của những gia đình tri thức
Sêkhôp đã xây dựng bức tranh muôn màu về cuộc sống hôn nhân
của những con người bình dị. Mỗi gia đình một hoàn cảnh, nhân vật người
chồng, người vợ trong chuyện hôn nhân của Sêkhôp có vị trí xã hội, tính
cách và hoàn cảnh sống khác nhau. Trong truyện Sêkhôp, cuộc hôn nhân
của những người tri thức chiếm khoảng 10 truyện. Như vậy, chuyện hôn
nhân của những người tri thức là một đề tài khá phổ biến trong các sáng
tác của Sêkhôp.
1.2.1. Chuyện về những ông chồng
Khi kể chuyện hôn nhân trong những gia đình trí thức, Sêkhôp kể khá
nhiều chuyện về những ông chủ gia đình. Cùng là nhân vật tri thức nhưng
những ông chồng trong truyện ngắn của nhà văn hiện lên mỗi người một vẻ,
không ai giống ai. Họ làm đủ mọi ngành nghề khác nhau: giáo viên, bác sĩ,
luật sư,… Họ có thể sống ở các huyện lị, tỉnh lẻ, thành phố. Mỗi người một
kiểu cách, số phận, tuy nhiên họ vẫn có những điểm chung rất dễ nhận thấy.
Trong những câu chuyện hôn nhân, Sêkhôp miêu tả những ông chủ gia
đình với những thông tin về tuổi tác, nghề nghiệp khá đầy đủ. Điều này không
phải ngẫu nhiên. Trong truyện “Người đàn bà phù phiếm”, nhân vật người
chồng là Oxip Stêpanưtr Đưmôp 31 tuổi, một bác sĩ ăn lương bậc 9, “làm việc
tại hai bệnh viện: ở một nơi anh làm bác sĩ trợ lý khoa ngoại ngạch còn ở nơi
kia thì làm bác sĩ khoa đại thể”[40,270]. Công việc hàng ngày của nhân vật
được miêu tả rất cụ thể: “Hàng ngày, từ 9 giờ sáng đến giữa trưa anh khám
bệnh và nghiên cứu tại phòng riêng của mình, buổi chiều thì lên ngựa đi đến
18
bệnh viện khác, nơi anh chuyên mổ xẻ thi thể người chết. Số tiền anh kiếm
được thật là nhỏ mọn: một năm chỉ khoảng chừng 500 rúp”[40,271]. Những
nhân vật nam trong truyện “Người đàn bà có con chó nhỏ” cũng là những
người đàn ông tri thức: “Gurôp kể rằng anh là người Mátxcơva, tốt nghiệp
khoa Ngữ văn nhưng lại làm việc ở nhà băng, đã có lúc định hát cho một gánh
hát tư nhưng sau lại bỏ, anh có hai ngôi nhà ở Mátxcơva”[40,500]. Gurôp
“chưa đầy 40 tuổi”, có một đứa con gái 12 tuổi và hai đứa con trai đang đi học
ở trường. Chồng Anna cũng là một viên chức, qua lời kể của người kể chuyện
thì:Xécghêépna hẳn là người có vị trí, vì ông ta “sống sung túc, có xe ngựa
riêng và cả thành phố đều biết đến”. Ông chồng của Anna trong “Huân
chương Anna nhị đẳng” cũng được Sêkhôp nhấn mạnh: là một ông viên chức
52 tuổi “một bậc viên chức bề thế lại chẳng trẻ trung gì”. Luganôvít, chồng
của Anna trong truyện “Một chuyện tình yêu” tuy chỉ là nhân vật phụ, được
miêu tả như một người sống cuộc sống mờ nhạt cũng được giới thiệu là bạn
thân của ông chánh án tòa án quận “một người rất đáng yêu”. Sêkhôp nhấn
mạnh: so với Anna, Luganôvít quá chênh lệch về tuổi tác “người chồng đã
ngoài 40 tuổi”, “chẳng mấy chốc mà thành cụ già”. Luganôvít có nhiều mối
quan hệ giao tiếp trong giới thượng lưu của mình: “Trong các buổi khiêu vũ,
dạ hội ông ta luôn đứng gần bên những người có vai vế”[40,372]. Nhân vật
Nicôlai trong “Câu chuyện tẻ nhạt” cũng được giới thiệu cụ thể: 62 tuổi, là
một giáo sư công huân, một vị cố vấn cơ mật và được thưởng huân chương
(“Ông ta là thành viên của tất cả những trường Đại học Nga và ba trường ở
nước ngoài”)….
Bằng việc xây dựng nhiều nhân vật tri thức với nghề nghiệp khác nhau,
Sêkhôp đã vẽ những bức tranh muôn màu về cuộc sống hôn nhân gia đình.
Trước Sêkhôp, Tônxtôi thường miêu tả công việc, đời sống (bao gồm cả đời
sống hôn nhân) của tầng lớp quý tộc thượng lưu, những con người được bao
19
bọc trong sự giàu sang quyền quý. Sêkhôp ít quan tâm đến đời sống hôn nhân
của những quan chức bậc cao. Nhân vật trong hầu hết các trường hợp của ông
không phải những con người “quá khổ” mà là các viên chức bậc trung “con
người của đại chúng với lối sống và hành động điển hình cho số đông”.
Những người chồng tri thức trong truyện Sêkhôp là người làm công ăn lương
rất bình thường trong xã hội Nga bấy giờ, có địa vị đáng kể, thu nhập đủ sống.
Đó là những mẫu người rất gần với cuộc sống mà Sêkhôp đã từng gặp, thậm
chí có thể giao tiếp với họ. Những nhân vật này có tri thức, hiểu biết và đang
ở độ tuổi chín chắn, độ tuổi mà con người nhận thức và có những trải nghiệm
nhất định về cuộc đời. Lẽ ra với những điều kiện như vậy, họ có thể xây dựng
một cuộc sống hôn nhân và gia đình, hạnh phúc. Tuy nhiên trong truyện của
Sêkhôp, người đọc nhận thấy hầu hết những nhân vật ông chồng tri thức này
thường bị rơi vào những trạng thái bi kịch của hôn nhân.
Nhấn mạnh những thông tin về tuổi tác, nghề nghiệp, mức sống của
nhân vật, Sêkhôp cũng không quên phác họa dáng vẻ bên ngoài của những
ông chồng tri thức. Nhà văn thường lựa chọn cho nhân vật của mình những
chi tiết đặc trưng, và chỉ qua một vài nét vẽ cũng làm nổi bật thần thái của
nhân vật: có người xấu xí, thô kệch, có người luôn giữ vẻ đạo mạo, bệ vệ, béo
tốt, sang trọng, có người toát lên vẻ tự ti, sợ sệt.
Một số nhân vật người chồng tri thức trong truyện Sêkhôp được khắc
hoạ với vẻ bề ngoài xấu xí, thô kệch, lôi thôi, thậm chí cử chỉ lóng ngóng,
vụng về. Nhân vật Nicôlai trong “Câu chuyện tẻ nhạt” được miêu tả: “Đầu
hói, răng giả và bị bệnh động kinh nan y”, đầu và tay thì “run rẩy vì sức
yếu”, cổ “như cổ của một nữ nhân vật Tuốcsghênep, giống như cái cần đàn
côngtơbát”, “ngực lép, lưng còng”, khi nói hay đọc, miệng “méo xệch”, khi
mỉm cười, mặt “dúm lại những nếp nhăn”, “chẳng có gì oai vệ trong cái thân
hình thảm hại”[41,273]. Tuy là một người tri thức, song vẻ ngoài đó toát lên
20
sự khắc khổ, méo mó, đáng thương, thảm hại. Tương tự, bác sĩ Đưmôp
(“Người đàn bà phù phiếm”) được miêu tả là một anh chồng lóng ngóng
vụng về, không biết bày tỏ tình yêu sao cho lãng mạn: “Trong anh ấy có một
cái gì chắc, khỏe như một con gấu”, “anh cao lớn, vạm vỡ”, “người ta cứ
tưởng rằng bộ cánh lịch sự mà anh đang mặc kia là của người khác và cái bộ
râu cằm kia làm anh trông giống như kẻ bán hàng thuê", “nét mặt của anh ấy
có cái vẻ của con hổ xứ Began, vừa có cái vẻ hiền lành của một con nai”,
“cười một cách ngây ngô, hiền hậu”. Những nhân vật này thường ít chăm lo
đến vẻ bề ngoài của mình, đời sống vật chất không dư dả nhưng lại biết lo
toan và chăm lo cho cuộc sống gia đình.
Đối lập với những người chồng có hình dáng thô kệch và giản dị ấy là
những nhân vật bóng bẩy, béo tốt, đạo mạo. Alêchxây trong “Huân chương
Anna nhị đẳng” hiện lên với tất cả sự no nê thừa thãi: “Dáng người tầm
thước, hơi đẫy đà, mặt phinh phính vẻ no nê phè phỡn, hai bên má để hai
chỏm tóc mai rất dài, không có ria. Cái cằm cạo nhẵn thín, tròn trĩnh, sắc nét
của ông trông giống cái gót chân, nét tiêu biểu nhất trên mặt ông là cái
khoảng trên mép không để ria, cạo nhẵn lì, một khoảng da trần trụi dần dần
chuyển tiếp với đôi má phinh phính rung rung như miếng thịt di
động”[41,286]. Ở con người này toát ra vẻ nhàn hạ của đời sống viên chức
tầm thường. Tuy nhiên dáng đi vẫn mang những nét của người tri thức: “Ông
đi đứng chững chạc, cử động của ông đủng đỉnh khoan thai, phong thái của
ông mềm mỏng dịu dàng”. Phục trang trên người là “tấm huân chương trên
cổ, áo ngoài, áo ghilê”. Nicôlai trong “Khóm phúc bồn tử” cũng “đẫy đà, xộc
xà xộc xệch, má, mũi, môi trệ xuống, làm như chúng có thể rớt xuống chiếc
mền bất kì lúc nào nữa”, “ăn khỏe” và “trở nên phì nộn”. Riêng đối với những
nhân vật này, qua hình dáng cũng có thể thấy được họ có một cuộc sống gia
đình đầy đủ, vật chất dư thừa. Nhưng bên trong tâm hồn của họ, đang có phần
21
nào đó già cỗi. Vật chất bao bọc họ, sẵn sàng làm hư hỏng họ. Người ta dễ
dàng nhận thấy những người chồng này có phần nào thỏa mãn với cuộc sống
vật chất hiện tại.
Còn một kiểu nhân vật người chồng cũng khá phổ biến trong truyện
Sêkhôp là những viên chức rụt rè, rúm ró. Họ làm những công việc có vị trí
nhất định trong xã hội, là một phần của xã hội thượng lưu, mặc những trang
phục sang trọng nhưng vẻ bề ngoài vẫn tạo nên cảm giác nhu nhược. Người
chồng của Anna trong truyện “Người đàn bà có con chó nhỏ” được miêu tả
với một vài chi tiết sơ lược nhưng gây ấn tượng lớn. Bản thân Anna không
biết anh ta làm gì, chỉ biết luôn hầu hạ người khác. Phù hợp với công việc có
tính xu nịnh, hầu hạ người khác, là một dáng vẻ nô bộc “dáng người dài
ngoẵng, bộ râu quai nón và cái trán hơi bị hói cũng có vẻ ngoan ngoãn, nhún
nhường. Anh cười ngọt ngào, bên dưới cổ áo, chiếc cổ áo, chiếc huy hiệu
chứng nhận bằng cấp nào đó lấp lánh hệt như mảnh số đeo của người hầu
phòng”. Luganôvít trong truyện “Một chuyện tình yêu” được Paven nhận xét
“dáng trông uể oải, không cần thiết cho ai cả, vẻ mặt ngoan ngoãn vô vị, hệt
như mọi người đã dẫn ông ta đến đây để bày bán”. Tính cách tốt bụng nhưng
phần nào thể hiện một con người thiếu suy nghĩ riêng “tốt bụng, vô tâm và tẻ
nhạt, con người luôn suy nghĩ theo lối lành mạnh, chính thống một cách nhạt
nhẽo”[41,138]. Ở Luganôvít, người đọc nhận thấy ít nhiều chất “nô lệ” xuất
hiện trong nhiều nhân vật khác của Sêkhôp.
Qua cách kể chuyện của Sêkhôp, chỉ một vài nét giới thiệu về tên, tuổi,
công việc và ngoại hình, phong thái bề ngoài, ta thấy hiện lên trong truyện
ngắn của ông là ba dạng nhân vật những ông chồng tri thức. Có những người
vẻ ngoài không hấp dẫn nhưng có nội tâm sâu sắc (như bác sĩ Đưmôp, giáo sư
trong “Câu chuyện tẻ nhạt”). Nhưng đa phần là những nhân vật có vẻ bề
ngoài đạo mạo, đĩnh đạc thì nội tâm tẻ nhạt, tầm thường (điển hình là
22
Alêchxây trong “Huân chương Anna nhị đẳng”). Còn có một loại thứ ba méo
mó, rúm ró cả về vẻ bên ngoài lẫn bên trong (Luganôvít). Đối với những nhân
vật có tri thức, hiểu biết này, người đọc thường kì vọng họ có những quan
điểm, những suy nghĩ về cuộc sống hôn nhân gia đình một cách sâu sắc, đúng
đắn. Thế nhưng tất cả đều không tránh khỏi việc lâm vào những bi kịch hôn
nhân ẩn sau bề mặt đời thường.
Chuyện về những ông chồng tri thức trong truyện Sêkhôp mặc dù khá đa
dạng nhưng khi so với chuyện về những bà vợ thường có phần mờ nhạt hơn.
Sêkhôp khá chú tâm kể chuyện kể về các bà vợ trong gia đình trí thức.
1.2.2. Chuyện về những bà vợ
Khi kể về những bà vợ trong gia đình tri thức, khác với việc phác họa
chân dung nhân vật những ông chồng, Sêkhôp ít đề cập tới công việc mà
thường miêu tả tuổi tác, vẻ đẹp trẻ trung thượng lưu và tính cách của họ. Vẻ
bề ngoài ấy phần nào thể hiện phong cách của người có địa vị trong xã hội.
Là một cây bút hiện thực, Sêkhôp luôn tái tạo hiện thực như nó vốn
có, không tô vẽ, không thêm bớt những gam màu sáng hay giảm thiểu màu
sắc tăm tối. Khi miêu tả phụ nữ, Sêkhôp cũng rất chú ý miêu tả tuổi tác với
những con số cụ thể, giúp người đọc hình dung nhân vật khá rõ nét. Nhân
vật Onga trong “Người đàn bà phù phiếm” cưới chồng khi nàng chừng 20
tuổi, khi ấy chồng nàng ngoài 30 tuổi. Ở độ tuổi trẻ trung như vậy, không
khó hiểu khi nhân vật dễ dàng bị cuốn hút vào cuộc sống phù phiếm, không
nhận thức được đâu là giá trị thật, đâu là giá trị ảo. Nàng Anna (“Huân
chương Anna nhị đẳng”) là một cô gái vừa tròn 18 tuổi, ở cái tuổi trẻ trung
ngây thơ và khao khát yêu đương nhất, nàng quyết định gắn bó cả đời với
viên chức 52 tuổi giàu có. Nàng Xôfia trong truyện “Vôlôđia lớn, Vôlôđia
bé” và chồng có sự chênh lệch tuổi tác rất lớn: “nàng nhớ lại khi nàng
mười tuổi, đại tá Iagich, người bây giờ là chồng nàng đã theo đuổi tán tỉnh
người cô của nàng”[40,307]. Giờ đây, khi chồng nàng đã già thì Xôfia còn
23
rất trẻ đẹp. Anna trong “Người đàn bà có con chó nhỏ” cũng là một thiếu
phụ trẻ lấy chồng khi mới 20 tuổi. Khi đến Ianta và gặp Gurôp, nàng mới
22 tuổi, vẫn trẻ trung và đầy khao khát, nàng đã tìm thấy hạnh phúc với
cuộc tình bãi biển của mình. Nàng Anna trong truyện “Một chuyện tình
yêu” cũng là một phụ nữ đã có gia đình những vẫn trẻ trung. Nàng không
quá 22 tuổi, sống bên người chồng già tẻ nhạt. Cuộc sống nhàm chán khiến
nàng thầm yêu Paven và khao khát tình yêu, tự do, hạnh phúc.
Không phải ngẫu nhiên mà Sêkhôp miêu tả nhân vật phụ nữ trong cuộc
hôn nhân tri thức với những con số tuổi tác cụ thể như vậy. Ở lứa tuổi trên
dưới 20, phụ nữ thường chưa có con. Họ suy nghĩ cho bản thân mình nhiều
hơn, mang trong mình nhiều ước mơ, khao khát về cuộc sống hôn nhân. Ở
tuổi trẻ trung đó, phụ nữ cũng dễ lý tưởng hóa hôn nhân. Do vậy, khi ước mơ
va chạm với cuộc sống thực tế, họ dễ rơi vào khủng hoảng tâm lý, khao khát
bứt ra càng mạnh mẽ, mãnh liệt. Sự chênh lệch tuổi tác quá lớn cũng có thể là
một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.
Chú trọng đến tuổi tác, Sêkhôp cũng thường miêu tả vẻ ngoài và cách
sống của những bà vợ trong gia đình trí thức. Phần lớn họ là những phụ nữ trẻ
trung, xinh đẹp. Nàng Onga (“Người đàn bà phù phiếm”) mang vẻ đẹp tinh
tế: “với bộ áo cưới, trông nàng như một cây hoa anh đào thon thả, mà khi mùa
xuân về nở đầy hoa mềm dịu nắng trong”. Vẻ đẹp của nàng dịu dàng, nữ tính
một cách thanh tao. Onga cũng là người biết cách lựa chọn trang phục cho
mình, nàng và người thợ may “khéo léo chữa lại những bộ váy áo cũ”, “nhiều
khi, từ những bộ váy áo cũ qua nhiều lần nhuộm, những đoạn vải, nhung, tơ,
đăng ten… bỏ xó, người thợ may đã làm ra những bộ váy áo tuyệt đẹp, đáng
thán phục, đẹp như trong mơ”. Trang phục của nàng khá cầu kì: “hai ống tay
áo bồng lên, những cuộn vải vàng trên ngực và những đường sọc khác thường
trên váy”… Việc quan tâm đến váy áo quá nhiều của Onga một mặt bộc lộ
24
tính cách thích thay đổi, coi trọng vẻ bề ngoài của nhân vật, nhưng mặt khác
cũng cho thấy nàng ích kỉ, chỉ quan tâm đến bản thân mình.
Anya trong “Huân chương Anna nhị đẳng” cũng là một người phụ nữ
biết tự làm đẹp. Trước khi lấy chồng, Anya sống cảnh túng thiếu, người cha
nghiện ngập, bị lôi ra tòa, hai em đói rách không có ủng và giày bọc ngoài,
thế nhưng nàng đã được khen là trẻ, đẹp và thanh nhã. Sau khi lấy chồng,
Anya luôn nổi bật và vẻ đẹp của nàng càng trở bí ẩn, gây tò mò khi đi cạnh
một ông chồng già. Anya luôn biết tận dụng và thể hiện khả năng thẩm mĩ
được thừa hưởng từ mẹ: “Cũng như mẹ nàng, Anna biết lấy một chiếc áo cũ
làm thành một chiếc áo mới, dùng xăng rửa bít tất tay, đi thuê bijoux về đeo”.
Cô tạo cho mình vẻ bề ngoài sang trọng không chỉ về phục trang mà còn từ cử
chỉ, điệu bộ: “Anya biết lim dim đôi mắt, nói giọng đơn đớt như trẻ con, biết
đứng ngồi trong tư thế đẹp mắt, biết say sưa hoan hỉ đúng vào lúc cần thiết,
biết nhìn người ta một cách u buồn, bí ẩn. Còn của cha nàng thì nàng đã thừa
hưởng được cái mầu sắc đậm đà của mái tóc và đôi mắt, cái tính sôi nổi và cái
phong thái lúc nào cũng đỏm dáng…”[41,308]. Bước vào giới thượng lưu,
Anna nhanh chóng hòa nhập và tạo phong thái quý bà thực thụ khiến người
chồng cũng phải tự hào: “Ông đã mê mẩn trước sắc đẹp của nàng và vẻ đẹp
lộng lẫy của cách phục sức tươi mát nhẹ nhàng của nàng”. Chỉ qua vài nét
miêu tả, Sêkhôp đã tạo nên chân dung một người đàn bà dễ bị cuốn theo chiều
gió của sự đua đòi, đánh mất nét đẹp ngây thơ ban đầu và dần trở nên ích kỷ,
chỉ biết nghĩ đến bản thân, dần quên đi trách nhiệm đối với gia đình.
Anna trong truyện ngắn “Người đàn bà có con chó nhỏ” cũng là một
người phụ nữ trẻ đẹp, điều này toát ra ngay từ ấn tượng lần đầu tiên người
khác trông thấy nàng: “Người đàn bà đội mũ bêrê ấy chậm rãi bước tới ngồi
xuống bên chiếc bàn cạnh đó. Nhìn nét mặt, dáng đi, kiểu tóc và xống áo nàng
mặc, có thể đoán được rằng nàng thuộc loại người khá giả, con nhà gia giáo,
25