i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
NGUYỄN HỮU PHÚC
giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp. Trước
hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản
lý đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM DIOXIN
DO CHIẾN TRANH TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TỒN LƢU Ô NHIỄM
Ở VIỆT NAM
Anh Tuấn đã hết lòng tận tụy hướng dẫn tôi thực hiện đề tài đã giúp đỡ tôi hoàn thành
tốt đề tài của mình.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiên, động
viên và cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập.
Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng
Thái Nguyên, ngày
Mã số: 60 44 03 01
tháng
năm 2012
Học viên
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Nguyễn Hữu Phúc
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
TS. Nguyễn Anh Tuấn
Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
iii
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................... 2
3. Yêu cầu ........................................................................................................................... 3
Thái Nguyên, ngày
tháng
năm 2012
Học viên
4. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................................... 3
Chƣơng 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ......................................................................................... 4
1.2. Cơ sở pháp lý .............................................................................................................. 5
Nguyễn Hữu Phúc
1.3. Cơ sở lí luận ................................................................................................................ 6
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ................................ 16
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 16
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................... 19
Chƣơng 2 : NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 24
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 24
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 24
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................... 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 24
Chƣơng 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 27
3.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu ... 27
3.1.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam ................................ 27
3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa ........ 33
3.2. Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ............................................. 38
3.2.1. Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ..................................................... 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
iv
DANH MỤC CÁC TỪ - CỤM TỪ VIẾT TẮT
3.2.2. So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích ................ 49
3.3. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu ................................ 52
3.3.1. Khái quát về mô hình đánh giá rủi ro đối với ô nhiễm môi trường .............. 52
3.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin
............................................................................................................................................. 54
3.4. Một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ............................................ 57
AND
: Acide deoxiribo nucleic
AhR
: Aryl nuclear Translocator
ARN
: Acide ribo nucleic
BVMT
: Bảo vệ môi trường
BVTV
: Bảo vệ thực vật
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3.4.1. Những hạn chế liên quan đến quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh .......... 57
CP
: Chính phủ
3.4.2. Một số giải pháp để quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin ....... 58
EPA
: Environment program of America
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 60
ER
: Estrogen Receptor
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 62
FAO
: Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc
GEMS
: Hệ thống chương trình giám sát đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu
HxCDD
: Hexa chloro dibenzo dioxin
HpCDD
: Hepta chloro dibenzo dioxin
HPLC
: High-performance liquid chromatography
HxCDF
: Hexa chloro dibenzo furan
HpCDF
: Hepta chloro dibenzo furan
IARC
: Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư
IOM
: Viện Y tế Hoa kỳ
ODA
: Officical Development Assistantl
PeCDD
: Penta chloro dibenzo dioxin
PCP
: Penta chloro phenol
PCDFs
: Polycholro dibenzo furans
PCDDs
: Polycholro dibenzo dioxins
PeCDF
: Penta cholro dibenzo furan
PCBs
: Poly chlorbiphenyls
POPs
: Persittant organic pollutants
PVC
: Poly vinyl chlororua
OCDD
: Otor chloro dibenzo dioxin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
OCDD
: Otor chloro dibenzo furan
TCDD
: Tetra chloro dibenzo dioxin
TCDF
: Tetra chloro dibenzo furan
TeCB
: Tetra chloro benzen
TEF
: Total Equipment Failure
TEQ
: Toxic Equivalents
TW
: Trung ương
UB 10 – 80
: Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất hóa học trong chiến tranh
UNDP
: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP
: Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
UNESCO
: Tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc
VN
: Việt Nam
WHO
: Tổ chức Y tế Thế giới
Bảng 1.1. Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người
Việt Nam (1991 - 1992) ..................................................................................13
Bảng 1.2. Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin .................14
Bảng 1.3. Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá
rủi ro đối với con người ..................................................................................15
Bảng 1.4. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã
nhập khẩu ở Việt Nam ....................................................................................20
Bảng 1.5. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ ................21
Bảng 2.1. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng ..............................25
Bảng 2.2. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa .............................26
Bảng 3.1. Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam ...........................28
Bảng 3.2. Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang ................................................30
Bảng 3.3. Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa
dioxin theo địa phương ...................................................................................32
Bảng 3.4. Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam
trong thời gian chiến tranh Việt Nam, từ 1961 - 1971 ................................34
Bảng 3.5. Lượng các loại chất phát quang được quân đội Mỹ lưu giữ và trung
chuyển tại sân bay Biên Hòa ..........................................................................37
Bảng 3.6. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng ........40
Bảng 3.7. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại sân bay Đà
Nẵng ..................................................................................................................44
Bảng 3.8. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Biên Hòa ............46
Bảng 3.9. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại các khu vực
lân cận ...............................................................................................................48
Bảng 3.10. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô
nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay
Đà Nẵng ............................................................................................................50
Bảng 3.11. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô
nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay
Biên Hòa ...........................................................................................................51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
1
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
Hình 1.1. Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin ................................................ 7
Hình 1.2. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD ............................................... 9
Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor .................................................... 13
Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào .................................................. 13
Hình 3.1. Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam ..................... 28
Hình 3.2. Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác
giả ............................................................................................................ 31
Hình 3.3. Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ
và trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt
Nam 1961 -1971 ...................................................................................... 34
Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát
quang tại sân bay Đà Nẵng ...................................................................... 35
Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua
sân bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam ........................................ 38
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD,
PCDF, WHO - TEQ ............................................................................... 41
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay
đổi nồng độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng ................ 42
Hình 3.8. Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường ........ 53
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nhưng những hậu quả để lại cho đến hiện
nay vẫn rất nặng nề. Một trong những hậu quả đó là vấn đề ảnh hưởng của dioxin có
trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Cuộc chiến tranh
hóa chất ở Việt Nam diễn ra từ năm 1961 đến năm 1972 đã, đang và tiếp tục gây tác
động đặc biệt nghiêm trọng đối với môi trường và con người ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố năm 2007 [39], trong
khoảng thời gian tiến hành cuộc chiến tranh hóa chất ở Việt Nam từ năm 1961 đến
năm 1972, quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ và thực hiện
khoảng 6000 chuyến bay để phun rải xuống các khu vực ở miền Nam Việt Nam.
Trong đó, những khu vực được xác định bị phun rải nhiều nhất gồm có: Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Sài Gòn, Đồng Nai và Cà Mau. Bên cạnh những khu
vực này, tại một số sân bay mà Không quân Mỹ đã sử dụng làm căn cứ để tập kết,
lưu giữ và trung chuyển hóa chất diệt cỏ như: Sân bay Đà Nẵng, sân bay Phù Cát –
Bình Định và sân bay Biên Hòa – Đồng Nai thì nồng độ dioxin trong môi trường
đặc biệt cao.
Dioxin chứa trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh
đã gây nên hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho hàng triệu người Việt Nam bị phơi
nhiễm, cũng như là các vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Cho đến nay, đã có
những nghiên cứu với mục đích xác định số lượng người bị phơi nhiễm dioxin ở
nước ta; tuy nhiên, có thể nhận các thấy số liệu đưa ra chưa có sự thống nhất. Theo
Hoàng Đình Cầu [5], số lượng nạn nhân bị phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam khoảng 1
triệu người, trong đó có khoảng 150.000 trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh có liên
quan đến dioxin. Theo Stellman 2003 [34], trong quá trình nghiên cứu đã căn cứ
vào đặc điểm phân bố dân cư và diện tích bị phun rải, cho rằng có khoảng 2,1 – 4,8
triệu người bị phơi nhiễm dioxin trực tiếp; còn theo Hội nạn nhân chất độc màu da
cam Việt Nam thì số lượng đó là khoảng 3 triệu người. Vì tính phức tạp của dioxin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
3
và những lý do khác có liên quan, cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định được
chính xác số lượng người bị phơi nhiễm dioxin trong chiến tranh Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với nhiều cơ quan khác
3. Yêu cầu
- Thông tin, số liệu thu thập được phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và
khách quan;
nhau có liên quan trong và ngoài nước tiến hành các nghiên cứu với mục đích xác
- Các phương pháp nghiên cứu áp dụng cho đề tài phải đảm bảo tính khoa học;
định mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin; tác động sinh thái và đề xuất các biện pháp
- Đánh giá đầy đủ, chính xác nồng độ dioxin tồn lưu đất trầm tích;
ngăn chặn sự lan truyền trong môi trường cũng như xử lý triệt để các điểm tồn lưu ô
- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro ban đầu đối với môi trường do tồn lưu ô
nhiễm dioxin với nồng độ cao.
nhiễm dioxin có nguồn gốc từ chiến tranh;
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy giải quyết các vấn đề liên quan đến tồn lưu ô
nhiễm dioxin là vấn đề đặc biệt phức tạp. Đánh giá mức độ ô nhiễm, xác định mức
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất phải có tính thực tế, khả thi.
4. Ý nghĩa của đề tài
độ ảnh hưởng, rủi ro sinh thái và tác động đến sức khỏe con người là cơ sở đặc biệt
- Ý nghĩa khoa học:
quan trọng đối với hoạt động phòng ngừa, cải thiện ô nhiễm, xử lý triệt để - phục
+ Cung cấp các căn cứ khoa học để tiếp tục có những định hướng cho việc
hồi môi trường và hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của dioxin đối với con người.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đủ các điều kiện đáp ứng được những yêu cầu,
nghiên cứu tồn lưu ô nhiễm dioxin ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tế:
cần thiết về trang thiết bị, nguồn lực,...để phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề
+ Xác định được mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong đất và trầm tích tại
liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin do vậy những dữ liệu khoa học mà chúng ta có
các điểm sân bay trước đây là nơi lưu giữ và trung chuyển dioxin trong chiến
được vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí để quốc tế công nhận. Vì vậy, để đáp ứng
tranh Việt Nam.
những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô
nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và
đóng vai trò vị trí, quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục ô
nhiễm, giảm thiểu rủi ro sinh thái, rủi ro cho sức khỏe của con người cũng như giải
quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám
hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được
sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến
tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng ô nhiễm và bước đầu đề xuất mô hình đánh giá rủi ro
và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường do dioxin có nguồn gốc từ
chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo các Bộ: Mơi trường, Giao thơng vận tải, Năng lượng và Truyền thơng
Thụy Sỹ thì “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là những điểm bị ơ nhiễm mà dẫn tới những tác
hại hoặc tổn thất, hoặc tiềm tàng nguy cơ gia tăng tác hại”.
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Luật Bảo vệ Mơi trường năm 1990 của Anh định nghĩa: “Điểm ơ nhiễm là mọi
* Khái niệm mơi trường
khu vực có chứa các loại chất được xác định gây ra những tổn thương nghiêm trọng
Theo Luật Bảo vệ mơi trường Việt Nam năm 2005: Mơi trường bao gồm các
hoặc có tiềm năng gây ra các tổn thương, hoặc gây ra ơ nhiễm hoặc có thể gây ra ơ
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [11].
Theo UNESCO, mơi trường được hiểu là “ tồn bộ các hệ thống tự nhiên và
các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và
bằng lao động của mình đã khai thác các tài ngun thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm
thỏa mãn những nhu cầu của con người”.
nhiễm cho các nguồn nước được kiểm sốt”
Ở Việt Nam, theo Đặng Kim Chi “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là khu vực đã và
đang tồn tại những chất ơ nhiễm, có khả năng hoặc tiềm ẩn khả năng gây nhiễm độc
mơi trường khí, nước, đất và sinh vật cũng như tới sức khỏe con người” (Hội thảo
xử lý ơ nhiễm tồn lưu Việt- Đức năm 2007).
- Rủi ro mơi trường: “Rủi ro" là "sự kết hợp các xác suất, hoặc tần suất xẩy
* Một số khái niệm liên quan
Theo Luật Bảo vệ Mơi trường Việt Nam năm 2005 [11], các khái niệm về ơ
nhiễm mơi trường, suy thối mơi trường và chất thải được trình bày như sau :
- Ơ nhiễm mơi trường là sự biến đổi của các thành phần mơi trường, khơng
phù hợp với các tiêu chuẩn mơi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
ra của một mối nguy hiểm (hazard) xác đònh và mức độ hậu quả xẩy ra [31].
Do vậy, có thể hiểu rủi ro mơi trường là xác suất tác động có thể có của các
yếu tố nguy hại tồn tại hoặc tiềm ẩn trong mơi trường (chất ơ nhiễm…) và mức độ
tác động của các yếu tố nguy hại đó.
"Rủi ro" = "Nguy hại" + "Tiếp xúc" [31].
- Suy thối mơi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành
phần mơi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Đánh giá rủi ro mơi trường: là một kỹ thuật nhằm đánh giá một cách có hệ
thống các tác động có hại thực tế hay tiềm tàng của các chất ơ nhiễm lên thực vật,
động vật và tồn bộ hệ sinh thái [9].
- Tồn lưu ơ nhiễm mơi trường:
- Quản lý rủi ro mơi trường: Quản lý rủi ro mơi trường là thiết lập và thực hiện
Theo định nghĩa của Bộ Mơi trường New Zealand: “Điểm ơ nhiễm
chính sách phản ứng lại rủi ro và giảm bớt rủi ro sao cho chi phí kinh tế nhất. Quản
(contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó chất nguy hại xuất hiện ở nồng
lý rủi ro là cung cấp các thơng tin nguy cơ cho các nhà quản lý dự án để phục vụ
độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro
cho việc ra quyết định [9]. Do vậy, có thể nói đó là một q trình thực thi các quyết
trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và mơi trường”
định về lựa chọn hay chấp nhận rủi ro.
Theo nhóm Quản lý tồn lưu ơ nhiễm của Canada thì “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là
vị trí/khu vực mà chất ơ nhiễm xuất hiện ở nồng độ cao hơn nồng độ thơng thường
và gây ra, hoặc có thể gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn
hoặc dài hạn đến mơi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc vượt q tiêu chuẩn cho
1.2. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ
Chính trị về bảo vệ mơi trường trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghệ hóa hiện đại hóa
đất nước;
phép trong luật”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Ngun
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Ngun
6
7
- Căn cứ luật BVMT 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thành như một phụ phẩm của các quá trình hoá học, từ những hiện tượng tự nhiên
khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày
như núi lửa phun, cháy rừng đến các quá trình nhân tạo như sản xuất hoá chất, thuốc
01/07/2006;
trừ sâu, thép, sơn, giấy, quá trình thiêu và toả khói... Dioxin là sản phẩm phụ của
- Căn cứ Quyết định số 33/1999/QĐ - TTg ngày 01 tháng 3 năm 1999 của Thủ
nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống
tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất
đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất
độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
giấy [20]. Trong những năm chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 20 loại chất
- Quyết định số 67/2004/QĐ - TTg ngày 27 tháng 4 năm 2004 của Thủ tướng
Chính phủ về kế hoạch hành động giai đoạn 2004 - 2010 khắc phục hậu quả chất
diệt cỏ có chứa hàm lượng dioxin cao để phun rải xuống nhiều vùng thuộc miền
Trung và Nam nước ta [34].
độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Quyết định số 251/2005/QĐ - TTg ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc
hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Căn cứ Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 theo Quyết định số 256/2003/QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2003 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Quyết định 184/2006/QĐ - TTg về việc thực hiện Công ước
Stockholm tại Việt Nam về quản lý các hợp chất POPs;
- Căn cứ Kế hoạch số 70 - KH/TU ngày 28 tháng 04 năm 2005, thực hiện
Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước.
1.3. Cơ sở lí luận
* Giới thiệu chung về dioxin
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại
bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác.
Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này, dioxine có
Hình 1.1. Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin
* Tính chất hóa lý
75 đồng phân PCDD (poly-chloro-dibenzo-dioxines) và 135 đồng phân PCDF (poly
Dioxin rất bền vững không bị phận hủy dưới tác dụng của axit mạnh, kiềm
- chloro -dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Theo Công ước Stockhoml năm
mạnh, các chất [O]... Dioxin rất ít bay hơi ở t0 thường tan tốt trong các dung môi ko
1972, dioxine còn bao gồm nhóm các PCBs (polyclobiphenyles), là các chất tương tự
phân cực như n - hexane, tan rất ít trong dung môi phân cực như acetone và hầu như
dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm. Trong số
ko tan trong nước (khoảng ~ 0.2 microgam /l nước)... Chu kỳ bán hủy của dioxin từ
các hợp chất dioxin, TCDD là nhóm độc nhất. TCDD và các dioxin khác được hình
5 - 7 năm và có thể lên đến 12 năm. Dioxin là các hợp chất hữu cơ không mùi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
9
không màu, chứa cacbon, hidro, oxi và clorin. Có khoảng 210 hợp chất dioxin khác
tính nồng độ khoảng 2ppm. Dioxin chủ yếu được tạo ra là do sản phẩm phụ phát
nhau,tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử nà, dioxin
thải của các quá trình sản xuất công nghiệp nhưng cũng có thể là kết quả của quá
có 75 đồng phân PCDD (poly - chloro -dibenzo - dioxines) và 135 đồng phân PCDF
trình tự nhiên, như vụ phun trào núi lửa và cháy rừng có liên quan đến clo. Dioxin
(poly - chloro - dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Dioxine còn bao gồm
là sản phẩm phụ không mong muốn của một loạt các quy trình sản xuất bao gồm
nhóm các PCB (poly-chloro-biphenyles), là các chất tương tự dioxin, bao gồm 419
nấu chảy, clo tẩy trắng bột giấy và sản xuất của một số chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu.
chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm , nhưng chỉ có 17 hợp chất là
Ngày nay, các lò đốt rác thải công nghệ cũ, lạc hậu thường là những nguồn phát thải
độc. Tiêu biểu và độc hại nhất là: dioxin 2,3,7,8 -tetra-clorodibenzen-p-dioxin, viết
dioxin phổ biến, do quá trình đốt cháy phản ứng cháy không có đủ nhiệt độ để diễn
tắt là 2,3,7,8 –TCDD [20]. Đối với môi trường đất thì chu kỳ bán hủy của dioxin
ra hoàn toàn. Dù là công nghệ đã cho phép để thiêu đốt chất thải được kiểm soát với
trong đất là khoảng 10 năm. Theo những nghiên cứu của D.Pautenbach (1992) và
lượng khí thải thấp.
R.Puri (1989,1990), trên lớp đất bề mặt thì chu kỳ bán hủy của dioxin dao động
trong khoảng từ 9 đến 25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn thì chu kỳ đó dao động
Đặc điểm tạo thành dioxin của các nguồn phát thải từ hoạt động công nghiệp
và dân sinh cụ thể như sau [10]:
trong khoảng từ 25 đến 100 năm [23]. Dioxin khó tan trong nước nên hầu như được
- Sự tạo thành dioxin đặc thù trong chất da cam do quân đội Mỹ sử dụng
đi vào cơ thể con người qua chuỗi thức ăn. Dioxin tan một phần trong chất béo
trong chiến tranh Việt Nam: Theo đó quy trình sản xuất chất da cam theo công
(dung môi ko phân cực hoặc ít phân cực) và tan mạnh trong các dung môi hữu cơ
nghệ trước đây cần phải sử dụng tiền chất là tetra-chlorobenzen (TeCB) đã tạo ra
như dầu hỏa, diezen... Chúng gắn với các chất hữu cơ và được hấp thụ vào mô mỡ
một lượng đáng kể dioxin, trong đó thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-TCDD. Đối
của tế bào sinh vật. Khi đã vào cơ thể con người dioxin nhanh chóng gắn với những
với quá trình này quân đội Mỹ đã đẩy nhiệt độ tổng hợp lên cao hơn nhằm mục
phân tử protein trong màng tế bào. Sau khi kết hợp với các thụ thể này dioxin nhanh
đích tạo ra lượng dioxin lớn hơn.
chóng được di chuyển và bào tương và nhân tế bào. Theo các quá trình sinh lý, hóa
sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thì dioxin tích lũy và tồn lưu trong thời gian dài.
Dioxin có áp suất bay hơi rất thấp, chỉ bằng 1,7.10-6 mmHg ở 25oC, dioxin có điểm
nóng chảy cao khoảng 305oC và khả năng tan trong nước khoảng 0,2 µg/l. Về mặt ổn
định nhiệt thì hợp chất này ổn định nhiệt đến khoảng 750oC. Ngưỡng nhiệt độ để
phân hủy hoàn toàn dioxin khoảng 1000 - 1300 oC.
* Nguồn phát thải dioxin
Đầu thế kỷ 20, khi công ty Dow Chemical Midland ở Mỹ thành công trong
việc nghiên cứu và tách chiết khí clo từ dung dịch muối ăn. Từ thời điểm đó clo đã
được sử dụng để tổng hợp nên các loại hóa chất như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
các hợp chất dẻo-polyvinyl. Việc tổng hợp thành công và đưa vào sử dụng những
hợp chất này được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại thời điểm
đó. Trong các hợp chất là thuốc diệt cỏ thì dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Hình 1.2. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD
- Các quá trình có sử dụng nhiệt và phản ứng cháy: Hình thành theo 3 cơ chế;
Thứ nhất, do sự phân hủy không hoàn toàn các hợp chất dioxin có sẵn trong
thành phần tham gia phản ứng cháy, nguyên nhân là do quá trình đốt hiệu quả thấp,
công nghệ đốt và hệ thống kiểm soát ô nhiễm trong quá trình đốt kém.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
11
Thứ hai, dioxin hình thành trong lò thông qua các phản ứng hóa học giữa các
hợp chất hydrocacbon có cấu trúc nhân thơm với các hợp chất có chứa clo.
Trong môi trường đất dioxin được tìm thấy nhiều nhất trong một số loại đất,
cặn lắng. Các vùng tồn lưu dioxin ở nồng độ cao sau 30 năm thường là các vùng đất
Thứ ba, phản ứng tổng hợp từ dầu hình thành dioxin từ carbon đơn giản và
ngập nước, đất có pH<3,5 (đất rất chua, phèn) vì vậy khó có thể tìm thấy loại vi
clo vô cơ, đây thực chất là quá trình phân nhỏ và biến đổi của các phân tử có cấu
sinh vật nào tồn tại, thích nghi và phát triển hữu hiệu trong điều kiện này. Như vậy,
trúc carbon lớn sang các hợp chất vòng (aromatic) [26].
có thể nhận thấy tại các vùng đất này thì dioxin tồn lưu với hàm lượng rất cao và
- Các quá trình công nghiệp khác: Một số ngành công nghiệp khác có khả
trong thời gian dài. Quá trình tồn tại trong môi trường đất, vì tính tương thích cao
năng phát thải ra dioxin là các ngành công nghiệp ximăng - tận dụng các nguyên
với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin có khả năng liên kết với các hợp chất hữu
liệu đốt như dầu cặn, dầu thải, vỏ lốp xe...; dệt nhuộm và may mặc - do sử dụng các
cơ trong đất, đặc biệt là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và đối với các loại đất có
hóa chất nhuộm đa số có chứa các nhóm chức hữu cơ và các công đoạn tẩy trắng
hàm lượng mùn cao. Ở Việt Nam, một số vùng dioxin đã và đang thấm sâu vào
thường sử dụng hóa chất tẩy có chứa clo; ngành công nghiệp sản xuất giấy - quy
các tầng đất phía dưới khiến cho việc phân tích, xác định gặp rất nhiều khó khăn.
trình sản xuất giấy sử dụng hợp chất chlorophenols, hợp chất này được coi là chất
Hàm lượng dioxin trong đất tại các vùng này rất cao do vậy làm gia tăng khả năng
tiền dioxin.
phơi nhiễm. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho vấn đề ô nhiễm dioxin
* Sự tồn tại, phân bố và lan truyền của dioxin trong môi trường
Các hợp chất POPs nói chung và dioxin nói riêng, khi tồn tại trong môi
trường, chúng dễ dàng luân chuyển giữa không khí, đất và nước.
trở nên phức tạp.
Đối với môi trường đất và dinh dưỡng cây trồng thì sự có mặt của dioxin sẽ
thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy dinh dưỡng ở các lớp đất màu mỡ trên bề mặt,
Trong môi trường không khí, dioxin tồn tại ở cả 2 trạng thái: hơi (pha khí) và
làm thay đổi thành phần và tính chất thổ nhưỡng của đất. Chính điều này đã dẫn đến
hấp phụ vào các hạt rắn (pha rắn) lơ lửng trong không khí. Trong môi trường nước,
hậu quả là sự phục hồi của thảm thực vật tại các khu vực bị ô nhiễm diễn ra một
dioxin được gắn vào các hạt rắn lơ lửng và các hạt trầm tích. Sự phân bố dioxin
cách chậm chạp và bị biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến phá hủy cân bằng sinh thái của
giữa các môi trường không khí, đất và nước không ổn định. Như vậy, có thể thấy do
môi trường đất [6]. Trong môi trường nước, do đặc tính vật lý ít tan trong môi trường
khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,2 microgram/lít) cho nên trong môi
nước (<0,2µg/l) cho nên dioxin ít được tìm thấy ở dạng hòa tan trong nước. Các phần
trường dioxin chủ yếu tồn tại ở pha rắn và pha khí.
tử dioxin chủ yếu tồn tại ở trạng thái lơ lửng, bám vào các loại rong rêu, tồn tại trong
Các hợp chất dioxin di chuyển vào không khí do sự phát thải trực tiếp hoặc do
sự phát tán bụi từ mặt đất. Sau một thời gian dioxin sẽ được đưa trở lại đất và nước
các dạng trầm tích, bùn ở đáy của các thủy vực hoặc ngấm vào lòng đất, do vậy tồn
lưu lâu hơn trong môi trường.
bởi sự lắng đọng qua bụi, mưa và tuyết. Trong nước, dioxin có thể được di chuyển
Trong môi trường không khí, tương tự như các hợp chất POPs khác dioxin tồn tại
bởi dòng nước, tích lũy ở trầm tích hoặc đáy các thủy vực hoặc gắn với các phần tử
chủ yếu ở hai pha là pha khí (dạng hơi) và pha rắn (bám vào các hạt bụi) có trong môi
lơ lửng trong nước, một phần bay hơi vào không khí.
trường không khí. Một ví dụ cụ thể liên quan đến ô nhiễm dioxin trong môi trường
Do có tính tương thích cao với các chất hữu cơ nên dioxin sẽ tập trung chủ
không khí là: Vào năm 1976, một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy hóa chất
yếu ở các khu vực có hàm lượng hữu cơ cao. Hàm lượng clo trong phân tử càng
ở Seveso, Ý, tai nạn này đã làm cho một lượng lớn dioxin được phát tán vào môi
cao thì càng dễ phân bố vào trong đất, trầm tích và chất hữu cơ. Tính tương thích
trường không khí, tạo nên đám mây hóa chất độc hại với thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-
với các hợp chất hữu cơ của dioxin tăng lên khi số lượng nguyên tử clo trong
Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, gây ô nhiễm một diện tích khoảng 15 km2, ảnh hưởng
phân tử dioxin tăng lên.
đến 37000 người [17]. Đây được xem là thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trong
Trong môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, thì thông qua
lịch sử nước Ý.
chuỗi thức ăn lượng dioxin sẽ được khuyếch đại sinh học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
13
* Ảnh hưởng của dioxin đến con người và động vật
Bảng 1.1. Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người Việt
Dioxin có khả năng di chuyển và tích lũy trong thực phẩm, quá trình đó còn
làm gia tăng các hiệu ứng sinh học của dioxin trong chuỗi thức ăn. Thông qua chuỗi
thức ăn, dioxin sẽ được tích lũy với khả năng khuyếch đại theo cấp số nhân ở các
bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn. Đối với cơ thể động vật và con người,
dioxin có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, nhau thai và
sữa mẹ [24]. Tuy nhiên, đối với thực vật thì rất hiếm khi phát hiện thấy sự có mặt của
dioxin trong thực vật do đặc tính ít hòa tan trong nước và vì thế không thể hút lên bởi
hệ rễ ở thực vật.
Trong cơ thể động vật và con người, khi xâm nhập vào cơ thể do đặc tính
tương thích với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin chủ yếu tồn tại ở dạng tích lũy
tại các mô mỡ [37]. Tiếp xúc với dioxin ở nồng độ cao có thể gây tổn thương da và
thay đổi chức năng gan ở người. Tiếp xúc trong thời gian dài gây nên các thay đổi
đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, các hệ thống của tuyến nội tiết và ảnh
hưởng tới hệ thống cũng như chức năng sinh sản. Do tính chất dễ tan trong các mô
Nam (1991 - 1992)
Vùng lấy mẫu
n
TCDD
TEQ
Miền Bắc Việt Nam
168
1,2 - 2,9
12,0 - 18,0
Miền Trung Việt Nam
490
2,9 - 19
23 - 118
Miền Nam Việt Nam
2062
1,0 - 33
8,7 - 105
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
Đối với hệ thống di truyền ở cơ thể động vật nói chung thì một thí nghiệm trên
chuột cho thấy: dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào, đây chính là
nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc tế bào, hủy hoại các protein quan trọng
và có thể gây nên đột biến gen trên phân tử ADN. Đối với hoocmon sinh dục nữ thì
dioxin liên kết với các thụ thể ER là thụ thể hoocmon sinh dục nữ làm rối lọan chức
năng sinh sản, tăng khả năng ung thư buồng trứng, ung thư tử cung, ung thư vú và
gây biến đổi giới tính đối với các thế hệ tiếp theo [25].
mỡ cho nên khi xâm nhập vào cơ thể bằng con đường tiêu hóa, hô hấp dioxin dễ
dàng thấm qua màng ruột và phổi vào hệ tuần hoàn; tuy nhiên thời gian tồn lưu của
dioxin trong máu tương đối ngắn do máu sẽ trực tiếp đưa dioxin đến các mô mỡ của
các cơ quan trong cơ thể. Quá trình chuyển hóa dioxin trong cơ thể diễn ra dưới tác
động oxi hóa của men gan, cơ chế oxi hóa này sẽ cắt vòng của phân tử dioxin tại vị
trí nhóm thế clo 1,6 để tạo nên các sản phẩm dễ tan hơn và đào thải chúng ra khỏi
cơ thể qua nước tiểu.
Bên cạnh đó, khi tồn tại trong tế bào động vật dioxin còn có khả năng tạo phức
với các AhR (Aryl nuclear Translocator) để tạo nên phức dioxin - AhR - tARN (ARN
Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor
thông tin) [13], [25]. Phức này càng bền thì độ độc của đồng phân dioxin đó càng cao,
phức hợp này có khả năng kết hợp với các protein vận chuyển để xâm nhập vào nhân tế
bào tại đây dioxin sẽ tự động can thiệp vào quá trình đóng mở một số gen giải độc quan
trọng của tế bào. Khi tồn tại trong nhân tế bào, dioxin sẽ tác động lên các gen quy định
cấu trúc của phân tử protein trên phân tử ADN. Sự tác động đó sẽ làm rối loạn quá
trình sinh tổng hợp và thay đổi cấu trúc của một số protein quan trọng như: Protein sửa
chữa lỗi sai trong quá trình tự sao tổng hợp nên các phân tử ADN mới, các protein
đóng vai trò điều chỉnh quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào, emzim tham gia
chuyển hóa các độc tố dẫn đến khả năng gây đột biến gen và ung thư của các độc tố
Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào
khác có trong môi trường [22].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
15
Năm 1996, tổng thống Mĩ đương nhiệm lúc đó là Bill Clinton đã chính thức
Bảng 1.3. Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá rủi ro
thừa nhận chất độc da cam gần như là nguyên nhân của 13 chứng bệnh nan y ở
người là: Ung thư tuyến tiền liệt, ung thư máu, ung thư thận, ung thư não, ung thư
đường tiêu hóa...tiểu đường loại 2 và bệnh thần kinh ngoại biên.
Bảng 1.2. Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin
TT
Tên tiếng việt
Tên tiếng anh
đối với con người
Chất đồng dạng
Giá trị
Dibenzo-p-dioxins
(PCDDs)
TEF
PCBs + Mono-ortho PCBs
Ung thư phần mềm
Soft tissue sarcoma
2
U lympho không Hodgkin
Non – Hodgkin’s lymphoma
3
U lympho Hodgkin
Hodgkin’s disease
4
Ung thư phế quản - phổi
Lung and Bronchus cancer
1,2,3,6,7,8-HxCDD
0,1
5
Ung thư khí quản
Trachea cancer
6
Ung thư thanh quản
Larynx cancer
1,2,3,7,8,9-HxCDD
0,1
7
Ung thư tiền liệt tuyến
Prostate cancer
8
Ung thư gan nguyên phát
Primary liver cancers
Kahler’s disease
0,01
9
Bệnh đa u tủy xương ác tính
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD
OCDD
0,0001
10
11
Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính
Acute and subacute peripheral neuropathy
và bán cấp tính
Tật gai sống chẻ đôi
Spina Bifida
12
Bệnh trứng cá do clo
Chloracne
13
Bệnh đái tháo đường type 2
Type 2 Diabetes
14
Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm
Porphyria cutanea tarda
15
Các bất thường sinh sản
Unusual births
17
Giá trị
"dioxin-like" PCBs Non-ortho
1
16
Chất đồng dạng
TEF
2,3,7,8-TCDD
1
1,2,3,7,8-PeCDD
0,5
Non-ortho PCBs
1,2,3,4,7,8-HxCDD
0,1
PCB 77
0,0001
PCB 81
0,0001
PCB 126
0,1
PCB 169
0,01
Dibenzofurans (PCDFs)
Mono-ortho PCBs
2,3,7,8-TCDF
0,1
1,2,3,7,8-PeCDF
0,05
PCB 105
0,0001
PCB 114
0,0005
2,3,4,7,8-PeCDF
0,5
Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa
1,2,3,4,7,8-HxCDF
0,1
PCB 118
0,0001
học/dioxin)
1,2,3,6,7,8-HxCDF
0,1
PCB 123
0,0001
1,2,3,7,8,9-HxCDF
0,1
PCB 156
0,0005
2,3,4,6,7,8-HxCDF
0,1
PCB 157
0,0005
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF
0,01
PCB 167
0,00001
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF
0,01
OCDF
0,0001
PCB 189
0,0001
Rối loạn tâm thần
Mental disorders
(Nguồn: Bộ Y tế, 2008)
Các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con
người. Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã
công bố 2,3,7,8-TCDD là chất gây ung thư nhóm 1 (nghĩa là nhóm đã được công
nhận là gây ung thư) [38]. Đồng thời, tháng 1 năm 2001, chương trình Độc học
Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm "các chất gây ung thư cho người".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
17
Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng
định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì
tính chất vô cùng nguy hại của dioxin mà nó được đưa vào chương trình quản lý
hóa chất độc hại ưu tiên của hầu hết các nước trên thế giới.
không gây ung thư. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù
Nhận thức được những rủi ro lớn mà dioxin gây ra, hầu hết các nước trên thế
lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư. Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã
giới đều xây dựng kế hoạch quốc gia về dioxin. Chính phủ Úc công bố Kế hoạch
ban hành danh mục các bệnh có liên quan đến dioxin nhằm phục vụ công tác giải
quốc gia về dioxin vào năm 2001 [18], để giảm dioxin và các chất giống dioxin
quyết hậu quả do chiến tranh hóa chất tại mà quân đội Mĩ tiến hành tại Việt Nam
trong môi trường. Một trong những chương trình ưu tiên là nâng cao kiến thức
(1961 -1971). Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy
cộng đồng về dioxin. Chính phủ Úc đã tiến hành một loạt các nghiên cứu (2001 -
hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không
2004), để đo lượng khí thải từ các nguồn như cháy rừng, mức độ dioxin trong thực
Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng
phẩm, môi trường và khu dân cư. Những phát hiện của các nghiên cứu này đã
trí tuệ, chửa trứng (ở nữ)... Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ
được sử dụng để xác định nguy cơ rủi ro dioxin gây ra cho sức khỏe của con người
thể người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Thời gian bán phân huỷ
và môi trường.
của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn. Thông thường,
Những báo cáo đánh giá rủi ro đã được thực hiện: dioxin phát thải từ các vụ
dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm
cháy rừng, dioxin phát thải từ phương tiện cơ giới; Kiểm kê phát thải dioxin tại Úc,
có tên là AhR (Aryl hydrocarbon Receptor). Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với
2004, dioxin trong không khí xung quanh, dioxin trong đất, dioxin trong các môi
protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân
trường thủy sản, dioxin ở động vật, dioxin trong hàng hóa nông nghiệp, dioxin trong
tế bào [13]. Tại đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế
con người: mức độ dioxin trong máu, trong sữa người, đánh giá rủi ro sinh thái của
bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin
dioxin, đánh giá rủi ro sức khỏe của dioxin [18].
làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào. Điều này, có thể là làm phá huỷ
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc giám
các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột
sát nồng độ dioxin có trong thực phẩm. Các giám sát này đã phát huy được hiệu quả
biến trên phân tử AND [25]. Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề
khi phát hiện được nhiều sự cố ô nhiễm dioxin trong thực phẩm.
chính sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về dioxin tổ chức tại Berlin, 2004,
Tại Hà Lan năm 2004, phát hiện được nồng độ dioxin gia tăng trong sữa bò,
nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức đã đưa ra kiến nghị không có
nguyên nhân được xác định là do đất sét bị nhiễm dioxin được sử dụng trong quá
mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép. Theo WHO thì mức
trình sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc. Vụ việc tương tự cũng đã xảy ra và được
phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg đương lượng độc
phát hiện năm 2006, nguyên nhân là do sử dụng mỡ động vật nhiễm dioxin trong
(TEQ)/ngày [38].
sản xuất thức ăn chăn nuôi. Năm 2008 tại Ireland, chương trình kiểm soát ô nhiễm
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
trong thực phẩm của quốc gia này đã phát hiện hàng trăm tấn thịt lợn bị nhiễm
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
dioxin với nồng độ cao gấp 200 lần so với ngưỡng an toàn cho phép theo tiêu chuẩn
Các nghiên cứu về dioxin đã được tiến hành rất nhiều trong thế giới về đặc
của WHO. Các nghiên cứu sau đó cho thấy, nguyên nhân ô nhiễm có nguồn gốc từ
tính, mức độ phơi nhiễm, ảnh hưởng phơi nhiễm, đánh giá rủi ro môi trường... Do
thức ăn chăn nuôi bị nhiễm dioxin [24]. Đây chính là những minh chứng quan trọng
về sự phơi nhiễm dioxin thông qua chuỗi thức ăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
19
Những nghiên cứu trên thế giới về dioxin trong thời gian gần đây chủ yếu tập
Cho đến nay, điểm ô nhiễm tồn lưu vẫn là một trọng tâm của các chiến lược
trung vào vấn đề giảm nhiễm độc hay phơi nhiễm dioxin ở người. Tổ chức Y tế thế
môi trường quốc gia hoặc các chương trình môi trường ở châu Âu và Bắc Mỹ. Toàn
giới (WHO) đã xác định giảm nhiễm độc dioxin là một trong những mục tiêu quan
bộ các vấn đề về điểm ô nhiễm tồn lưu, hoặc các chương trình quốc gia về quản lý
trọng trong các mục tiêu của y tế cộng đồng. Từ năm 1976, WHO đã chủ trì và chịu
điểm ô nhiễm tồn lưu mới chỉ được luật hóa trong những năm cuối thế kỷ 20 và
trách nhiệm đối với Hệ thống chương trình giám sát và đánh giá ô nhiễm thực phẩm
những năm đầu của thế kỷ 21, cho thấy chúng không phải là những vấn đề có thể
toàn cầu (GEMS) [24], trong hệ thống này thì dioxin là một phần quan trọng của
được giải quyết dễ dàng. Trong công tác quản lý hóa chất độc hại và quản lý các
chương trình giám sát và đánh giá. Thông qua hệ thống mạng lưới các phòng thí
điểm ô nhiễm tồn lưu, đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro đã trở thành công cụ quản lý
nghiệm tham gia chương trình của hơn 70 quốc gia, chương trình đã thu thập, tổng
ngày càng quan trọng, việc sử dụng các đánh giá rủi ro môi trường đóng vai trò
hợp, phân tích, đánh giá và cung cấp những thông tin quan trong về mức độ và xu
quan trọng trong việc ra các quyết định chính sách và quy định trong quản lý môi
hướng diễn biến của các chất ô nhiễm có trong thực phẩm, trong đó có dioxin.
trường: Thiết kế các quy định, ví dụ xác định mức độ rủi ro được xã hội chấp
Năm 1987, WHO cũng đã bắt đầu triển khai chương trình nghiên cứu định kỳ
nhận, nó có thể là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn môi trường; Cung cấp cơ sở cho
về mức độ ô nhiễm dioxin, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở các nước châu
việc ra quyết định về địa điểm dự án, ví dụ quy hoạch sử dụng đất hoặc lựa chọn
Âu. Thông qua việc đánh giá định kỳ về hàm lượng dioxin có trong mẫu sữa người,
địa điểm lắp đặt nhà máy xử lý chất thải nguy hại; Xác định các rủi ro môi
những nghiên cứu này đã cung cấp những đánh giá quan trọng cho vấn đề phơi
trường ưu tiên; So sánh các rủi ro, ví dụ so sánh giữa các nguồn tài nguyên, giữa
nhiễm dioxin ở người từ tất cả các nguồn tiếp xúc. Trong đó, các biện pháp kiểm
các loại rủi ro hoặc giữa các quyết định về rủi ro. Hiện nay, WHO đang phối hợp
soát tiếp xúc với dioxin và tránh phơi nhiễm được áp dụng tại một số quốc gia được
với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc trong vấn đề thực hiện các cam kết
đánh giá là phát huy hiệu quả đáng kể. Trong những hoạt động gần đây nhất, Ủy
của Công ước Stockholm về kiểm soát các hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền vững
ban chuyên gia về phụ gia thực phẩm của FAO/WHO đã thực hiện việc đánh giá rủi
POPs, trong đó có dioxin.
ro toàn diện đối với PCDDs, PCDFs và các chất giống dioxin [38]. Mục đích của
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
hoạt động này là nhằm xác định một ngưỡng nồng độ dioxin an toàn khi bị phơi
nhiễm mà không phát hiện được những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người.
Trong chiến tranh hóa chất ở Việt Nam, quân đội Mĩ đã sử dụng một số loại
hóa chất diệt cỏ với tên gọi như sau [2], [3]:
Về ô nhiễm tồn lưu, điểm ô nhiễm tồn lưu có thể được coi là một khái niệm
- Chất da cam: là một hỗn hợp có tỉ lệ 1/1 của các chất 2,4-D (2,4-
không còn mới mẻ đối với cả các nước phát triển. Ví dụ như tại Đức, đã có hơn
diclorophenoxyaxeticaxit) và 2,4,5-T (2,4,5- Triclorophenoaxeticaxit). Trong suốt
50.000 điểm ô nhiễm do công nghiệp được xác định. Tại Mỹ, có khoảng hơn
cuộc chiến tranh, quân đội Mĩ đã sử dụng tới 44,338 triệu lít (64%) tổng lượng chất
100.000 điểm nghi ngờ ô nhiễm với khoảng 10.000 điểm được xếp hạng ưu tiên
độc đã được sử dụng, tương đương với 170 kg dioxin chất cực độc phát sinh trong
xem xét. Vì vậy, nếu như những năm 80, phục hồi môi trường và giải quyết hậu quả
quá trình sản xuất 2,4,5-T.
môi trường là ưu tiên được đặt lên hàng đầu, thì đến nay, mặc dù việc bảo vệ ô
nhiễm đất và nước ngầm đã được quy định thành luật, nhưng chiến lược quản lý các
điểm ô nhiễm tồn lưu đã chuyển dần sang hướng tìm kiếm phương cách sử dụng
phù hợp hơn là tập trung mọi phương tiện kỹ thuật và kinh tế để phục hồi điểm ô
nhiễm tồn lưu đến nồng độ thông thường, hoặc ở mức có thể chấp nhận được với
mọi hình thức sử dụng đất.
- Chất trắng: là một hỗn hợp gồm 2,4-D và picloran được sử dụng tới 12,835
triệu lít.
- Chất xanh lam: là một hỗn hợp của natrietylmetyl arsenat (Na.cacodylate) và
dimetylarsenataxit (acodylic) được sử dụng tới 8,182 triệu lít.
- Các thuốc diệt cỏ loại clorophenoxy có: 2,4,5-triclophenoxyaxeticaxit (2,4,5T) và 2,4- diclophenylaxeticaxit (2,4-D) đã được sản xuất và sử dụng trên phạm vi
rộng để diệt cỏ dại, một số loại thực vật và chất làm rụng lá sử dụng trong quân sự.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
21
- TCDD (2,3,7,8) – Tetraclodibenzo-p-dioxin được tạo ra trong quá trình sản
1.000.000 ppt [2]. Theo kết quả nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Việt
xuất một số hợp chất thơm và các hợp chất hữu cơ halogen có chứa oxy như các
Nam, Mĩ, Đức về kết quả nghiên cứu về dioxin từ năm 1970 đến nay [2], hàm lượng
chất diệt cỏ clorophenoxy và hexaclophen mà cho đến những năm 1960 người ta
TCDD có trong mẫu sữa người lấy tại Việt Nam và Mĩ được biểu thị cụ thể như sau:
vẫn còn sử dụng quá trình sản xuất này.
Bảng 1.5. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ
- Các hợp chất dioxin có thể có tới 75 dẫn xuất khi thay thế từ 1- 8 nguyên tử
n
Năm
Hàm lƣợng (ppt, lipid)
Khu vực sông Đồng Nai
1
1970
1832
Khu vực sông Đồng Nai
1
1970
1465
Huyện Cần Giờ
1
1970
732
những năm 1970 đến nay. Có thể tổng hợp các kết quả nghiên cứu theo từng giai
Khu vực sông Sài Gòn
1
1970
257
đoạn như sau [2]:
Boston, MA, Mỹ
1
1970
ND (LD=29)
42 (Trung bình)
1980
3,3
clo vào vị trí của các nguyên tử hydro trong cấu trúc phân tử .... trong đó đáng chú ý
nhất là TCDD (2,3,7,8 - TCDD), là một trong những chất độc nguy hiểm nhất trong
tất cả các chất tổng hợp đối với một số động vật kể cả con người.
Các nhà khoa học thế giới và Việt Nam đã hợp tác nghiên cứu về dioxin từ
* Giai đoạn 1962-1971
Trong giai đoạn 1962 - 1971, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã
phun rải chất diệt cỏ trong đó có dioxin làm ô nhiễm một số khu vực miền Nam
Nơi lấy mẫu
Binghamton, NY, USA và
Los Angeles, CA, USA
Việt Nam với mục đích làm rụng lá để phá huỷ những khu rừng có thể làm nơi ẩn
Hà Nội
28 (Trung bình)
1980
2,2
nấp và cung cấp lương thực cho kẻ thù.
Tp. Hồ Chí Minh
38 (Trung bình)
1980
7,1
Khoảng 85% chất da cam được coi là có nguồn gốc từ những vụ phun rải bằng
máy bay trong chiến dịch Ranch Hand. Lượng còn lại là từ các vụ phun rải bằng
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
* Giai đoạn 1982 - 1998
tay, bằng trực thăng hay bằng tàu chiến của hải quân.
Bảng 1.4. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã
Rất nhiều nghiên cứu đánh giá phơi nhiễm dioxin và dịch tễ học trong giai
đoạn 1982 - 2008 được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam như: Lê Cao Đài,
nhập khẩu ở Việt Nam
Loại thực phẩm
Năm
Nơi lấy mẫu
Tôm
1970
Cần Giờ
Nồng độ TCDD
ppt/kg
14
Cá trê
1970
Sông Đồng Nai
1020
Mẫu tai siêu thị
1990
Dallas, Texas
< 0,1
Mẫu tai siêu thị
1990
California
< 0,1
Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Hoàng Trọng Quỳnh cùng các cộng
sự trong nhiều bệnh viện; Uỷ ban 10-80 chuyên nghiên cứu về hậu quả chất diệt cỏ
sử dụng trong thời gian chiến tranh; cùng toàn thể các nhà khoa học từ nhiều quốc
gia Mỹ, Đức, Canada, Pháp, Nhật, Nga [2].
Mẫu phân tích dioxin trong tế bào người được thực hiện bởi Tiến sĩ John Jake
Ryan cho thấy sự tăng hàm lượng dioxin trong tế bào người và các mẫu sinh học
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
khác. Kết quả cũng tương tự như phân tích của Olaf Paepke tại phòng thí nghiệm
Hàm lượng TCDD trung bình cho phép có trong chất da cam là khoảng 3 ppm.
ERGO Humburg, Đức. Đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này được tổ
Năm 1970, các nhà khoa học đã tiến hành lấy mẫu sữa và cá tại các khu vực bị phun
chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh dưới sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế,
rải. Kết quả phân tích đã tìm thấy hàm lượng TCDD có nguồn gốc từ chất da cam cao
các chuyên gia về môi trường và Chính phủ Việt Nam.
nhất là 1.850 ppt/g mỡ trong sữa, trong mẫu đất lấy ở khu vực Biên Hoà lên tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
23
Nhóm chuyên gia về môi trường Hatfield của Canada đã thực hiện nghiên cứu
đánh giá ô nhiễm dioxin TCDD trong đất, trầm tích, thực phẩm và con người tại
một số vùng ở Việt Nam.
tàn phá của chất độc đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người tại ba vùng nóng:
sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa (Đồng Nai), sân bay Phù Cát (Bình Định).
Trong thực tế, rất nhiều các nhà khoa học Mỹ, Việt Nam cũng như các nhà khoa
* Giai đoạn 1998 – 2000
học khác trên thế giới đã nghiên cứu về chất độc da cam – dioxin sử dụng trong chiến
Giáo sư Hoàng Trọng Quỳnh đã thực hiện tiếp nghiên cứu cùng với Arnold
tranh ở Việt Nam, mức độ tồn dư của dioxin trong môi trường và ảnh hưởng của nó
Schecter, John Constable và Olaf Paepke [2]. Nghiên cứu này đã chỉ ra hàm lượng
đến sức khỏe người dân Việt Nam sống ở nhưng khu vực có khả năng bị phơi nhiễm
TCDD trong mẫu máu và mỡ của người dân quanh khu căn cứ và khu chứa lên tới
cũng như các thế hệ con cháu của họ sau này. Cũng như có nhiều nghiên cứu đã được
400 ppt. Trong mẫu cá, vịt và nhiều động vật khác được sử dụng làm thực phẩm đều
tiến hành ở nhóm đối tượng là các cựu binh Mỹ và các nước đã từng tham chiến ở
có hàm lượng TCDD khá cao. Nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng những thực
Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu đó đều khẳng định về những tác hại lâu dài và vô
phẩm bị ô nhiễm có nguồn gốc từ động vật càng làm tăng ô nhiễm TCDD có nguồn
cùng nghiêm trong của dioxin có trong chất độc da cam đối với môi trường và con
gốc từ chất da cam trong cơ thể người. Trầm tích và nước là hai nguồn ô nhiễm đầu
người. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã sử
tiên, tiếp theo là các loài động vật khiến cho những sinh vật này bị nhiễm độc.
dụng các quy trình nghiên cứu khác nhau nên hầu hết mối liên hệ trực tiếp giữa chất
Tương tự dioxin sẽ vào trong cơ thể người qua chuỗi thức ăn. Nhóm chuyên gia của
độc da cam và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người dân Việt Nam đều chưa
Hatfield Canada đã tìm thấy sự tăng hàm lượng TCDD trong cơ thể người, trong
được công nhận một cách rõ ràng. Điển hình là theo Viện Y tế Hoa Kỳ (IOM) [2] ước
thực phẩm, trong môi trường xung quanh sân bay gần các điểm ô nhiễm.
tính thì lượng dioxin - TCDD có trong 19,5 triệu thùng chất da cam mà quân đội Mĩ
* Giai đoạn 2000 - 2008
đã sử dụng để phun rải trong chiến tranh Việt Nam chỉ tương đương 170 kg dioxin –
Trọng tâm của hướng nghiên cứu trong giai đoạn này là giảm thiểu ô nhiễm
TCDD; trong khhi đó theo cách tính của Stellman và cộng sự (2003) thì khối lượng
dioxin tại các điểm nóng và những khu vực có hàm lượng dioxin cao tại các sân
đó ước tính khoảng 700 kg [34]. Các kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan đến
bay. Quỹ Ford, dưới sự chỉ đạo của ngài Charles Bailes và các cộng sự đầu tư cho
dioxin ở Việt Nam vẫn tiếp tục là những minh chứng cho hậu quả nặng nề của dioxin
hướng nghiên cứu này. Trong giai đoạn hiện nay , Tổng cục Môi trường đã có nhiều
mà quân đội Mĩ sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và con người Việt
hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý các điểm ô nhiễm môi trường mà điển hình là
Nam. L.Wayen Dwernychuk cùng các cộng sự Canada và Việt Nam 2002 [29], đã
dự án hợp tác với Cục Bảo vệ môi trường Đức về quản lý các điểm ô nhiễm tồn lưu
công bố những kết quả nghiên cứu về sự tồn dư của dioxin trong các mẫu đất, mẫu
ở Việt Nam. Tuy nhiên, tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam là vấn đề
sinh phẩm tại các vùng trước đây là căn cứ quân đội Mĩ dùng làm kho chứa chất độc
có tính phức tạp bậc nhất trong số các vấn đề liên quan đến hiện trạng môi trường
da cam. Nghiên cứu đã khẳng định chất độc dioxin tồn dư trong đất đã làm ô nhiễm
Việt Nam hiện nay. Do vậy, để giải quyết triệt để được vấn đề này, đòi hỏi phải có
nguồn nước thông qua đó xâm nhập vào chuỗi thức ăn để có mặt trong cơ thể con
sự chung tay góp sức và phối hợp giữa Chính phủ, các cơ quan trực thuộc Chính
người. Từ các kết quả nghiên cứu của mình L.Wayen Dwernychuk [29] cũng đã từng
phủ, các cơ quan tổ chức có liên quan và của toàn xã hội.
khẳng định cần phải tôn trọng các thông tin mới về ảnh hưởng của dioxin đến sức
Dự án "Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt Nam" đã được Bộ Tài
khỏe của cựu binh Mĩ và người dân Việt Nam, những người đã, đang và sẽ tiếp tục
nguyên và Môi trường mà cụ thể là Văn phòng Ban chỉ đạo 33 phối hợp với Quỹ
phải đối mặt với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng do dioxin sử dụng trong chiến
Môi trường Toàn cầu và UNDP. Dự án được thực hiện từ năm 2010 đến 2014 nhằm
tranh gây ra.
giải quyết hậu quả của hóa chất độc hại trong chiến tranh Việt Nam, giảm thiểu sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
25
- Phương pháp đánh giá rủi ro: Nhận dạng các mối nguy hại, đánh giá độc
Chƣơng 2
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
tính, đánh giá phơi nhiễm, mô tả đặc tính rủi ro, biện pháp giảm thiểu rủi ro;
- Phương pháp lấy mẫu:
+ Loại mẫu thu thập: Mẫu đất và mẫu trầm tích tại các địa điểm nghiên cứu;
2.1. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
+ Số lượng mẫu: Đối với sân bay Đà Nẵng số lượng mẫu đất lấy 13 mẫu, mẫu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng tồn lưu ô nhiễm dioxin do quân
đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam ở một số khu vực lựa chọn (Sân bay Đà
trầm tích lấy 9 mẫu; Đối với sân bay Biên Hòa lấy 11 mẫu đất và 12 mẫu trầm tích.
+ Vị trí lấy mẫu:
Nẵng và Sân bay Biên Hòa).
Bảng 2.1. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Sự tồn lưu của dioxin trong đất và trầm tích.
Vị trí
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 11/2010 đến tháng 9 /2012
STT
Đất
Ký hiệu
Trầm tích
Ký hiệu
* Địa điểm: Một số điểm tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh: Sân bay Đà
Nẵng, Sân bay Biên Hòa – Đồng Nai.
1
Khu trộn nạp
VN58
Hồ Sen A
VN30
2.3. Nội dung nghiên cứu
2
Khu trộn nạp
VN59
Hồ Sen A
VN31
3
Khu trộn nạp
VN63
Hồ Sen A
VN32
4
Khu trộn nạp
VN68
Hồ Sen A
VN32
5
Khu trộn nạp
VN69
Hồ Sen A
VN52
6
Khu chứa vỏ thùng
VN75
Hồ Sen A
VN53
7
Khu chứa vỏ thùng
VN78
Hồ Sen A
VN55
8
Khu chứa vỏ thùng
VN83
Hồ Sen C
VN21
9
Khu chứa vỏ thùng
VN70
Hồ Sen C
VN23
thông tin có liên quan. Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý số liệu và thông tin thu
10
Khu chứa vỏ thùng
VN74
thập được.
11
Khu lan truyền
VN43
12
Khu lan truyền
VN47
13
Khu lan truyền
VN48
- Nghiên cứu về nguồn nhân ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các
địa điểm nghiên cứu;
- Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường đất, trầm tích tại các địa
điểm nghiên cứu;
- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm
dioxin trong chiến tranh đến môi trường tại khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ảnh hưởng do tồn
lưu ô nhiễm dioxin.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, thống kê: Thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp
- Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu liên quan đến
dioxin chiến tranh. Tham khảo, kế thừa các tài liệu trong nước và quốc tế có
liên quan đến ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam cũng như tại các địa
điểm lựa chọn nghiên cứu. Tài liệu về nguồn ô nhiễm dioxin, mức độ ô nhiễm,
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)
phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
TT
26
27
Bảng 2.2. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Vị trí
Đất
Ký hiệu
Trầm tích
Khu để bồn chứa
Ký hiệu
Trầm tích hồ Biên Hùng và ruộng
1
Phía Nam sân bê tông
BH-S1
Bùn bề mặt thuộc khu
SR1
2
Phía Bắc sân bê tông
BH-S2
vực ruộng giữa sân bay
SR2
3.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam
Trong thực tế, có hai nguồn chính gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam. Thứ nhất,
nguồn ô nhiễm dioxin do chiến tranh tập trung ở các khu vực thuộc miền Nam. Thứ
3
Phía Nam hố chôn lấp
BH-S3
SSM1
4
Giữa hố (-3,3m)
BH-S4
SSM2
5
Bùn ở bể nước thải
BH-S5
SSM3
phát thải khác từ các hoạt động dân sinh và nguồn ô nhiễm dioxin từ các nguyên
6
Đáy bồn chứa (0-30cm)
BH-S6
SSM4
nhân tự nhiên như cháy rừng tự nhiên, các hoạt động của núi lửa... Những nguồn
7
Đáy bồn chứa (2,5m)
BH-S7
Trầm tích bề mặt khu
SSM5
này không phải là nguồn đóng vai trò chủ yếu gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam.
8
Đáy bồn chứa (3,0m)
BH-S8
vực hồ Biên Hùng
SSM6
9
Đất bề mặt
BH-S9
SSM7
10
Đất bề mặt
BH-S10
SSM8
11
Đất bề mặt
BH-S11
SSM9
lượng lớn các chất phát quang để phun rải trên một diện tích rộng lớn thuộc chiến
SSM10
trường miền Nam Việt Nam. Mục đích chính là làm rụng lá cây ở những khu vực do
hai, nguồn ô nhiễm dioxin phát sinh từ các nguồn phát thải công nghiệp, phân bố
trên địa bàn cả nước. Bên cạnh các nguồn ô nhiễm dioxin nói trên còn có các nguồn
Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm rõ hai nguồn chính
gây ô nhiễm dioxin là nguồn ô nhiễm do chiến tranh và nguồn ô nhiễm do phát
12
thải công nghiệp.
Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1961 - 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng một
quân giải phóng kiểm soát nhằm đạt được những ưu thế về mặt chiến lược quân sự
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)
trên chiến trường; phá hoại mùa màng, làm suy giảm năng suất lương thực, hạn chế
nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ cho quân giải phóng; tạo ra các vành đai nhằm
bảo vệ các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ và đồng minh ở miền Nam Việt Nam.
* Về loại chất phát quang có chứa dioxin
Nghiên cứu của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy [15]: Từ năm 1961 - 1966,
quân đội Mỹ sử dụng chủ yếu phương tiện vận chuyển và phun rải là máy bay với
tần suất 4 lần/ngày. Đến năm 1969, mức độ phun rải tăng lên 36 lần/ngày và lượng
máy bay sử dụng được thống kê là 24 máy bay lên thẳng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
28
29
Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau để làm rõ
lượng chất phát quang có chứa dioxin được được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến
tranh Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu thống nhất được
công nhận về lượng chất phát quang có chứa dioxin được sử dụng trong chiến tranh
Việt Nam (1961-1971). Các số liệu thống kê hầu hết đều xác định lượng chất phát
quang mà quân đội Mỹ đã sử dụng vào khoảng hơn 70 triệu lít bao gồm nhiều loại
chất khác nhau như: chất xanh, chất hồng, chất tím, chất trắng, chất da cam. Các số
liệu thống kê cụ thể về lượng chất phát quang phun rải ở chiến tranh Việt Nam của
một số tác giả nghiên cứu có được tổng hợp qua bảng 4.1. Qua bảng này chúng ta
nhận thấy: số liệu thống kê được công bố đầu tiên về dioxin sử dụng trong chiến
tranh Việt Nam là của tác giả Westing năm 1976 trong đó ghi nhận sự có mặt của
(Nguồn: Chicago Tribune, 2009)
Hình 3.1. Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam
chất xanh, chất trắng và chất da cam với số lượng 73.390.000 lít - đây cũng là con số
thống kê lớn nhất từng được ghi nhận; Còn theo tác giả Lindsey công bố năm 1999
Tài liệu thống kê về chiến dịch Ranch Hand còn cho thấy cụ thể hơn, từ tháng
thì có sự ghi nhận thêm các chất xanh mạ, hồng và tím với tổng thể tích là 73.
8/1965 - tháng 2/1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 6.542 chuyến bay rải chất phát
314.495. Tuy nhiên, đến năm 2005 tác giả Young đã công bố số liệu được thu thập từ
quang xuống 32/46 tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam. Ước tính tổng lượng dioxin
Bộ Quốc phòng Mỹ và con số thống kê ghi nhận sự có mặt của 6 loại chất màu khác
được sử dụng trong chiến tranh ít nhất là 366 kg.
nhau, với tổng thể tích là 71.542.640 lít trong đó chất da cam chiếm tỉ lệ 61,35 %
Bảng 3.1. Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam
Nguồn
tổng thể tích chất hóa học được sử dụng.
Westing
Lindsey
UB 10-80
Stellman
Young
(1976)
(1999)
(2000)
(2003)
(2005)
Cho đến nay, vấn đề ước tính tổng lượng dioxin có trong chất phát quang được
Xanh mạ (Green)
-
31.026
-
31.026
31.200
quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi. Để
Hồng (Pink)
-
464.154
-
50.312
347.360
xác định chính xác khối lượng chất dioxin có trong hóa chất diện cỏ mà quân đội
Tím (Purple)
-
548.100
-
1.892.773
1.580.800
Xanh (Blue)
8.182.000
8.189.960
4.672.171
4.741.381
4.372.160
dioxin trung bình/đơn vị thể tích. Nồng độ dioxin có trong các chất phát quang theo
Trắng (White)
19.835.000
19.806.644
20.636.766
20.556.525
21.320.000
nghiên cứu của Không quân Mỹ ước tính là 1,77 ppm; theo ước tính của Viện Y
Da cam (Orange)
44.373.000
44.274.611
44.723.096
45.677.937
43.891.120
Do vấn đề ước tính về nồng độ dioxin khác nhau trong các chất phát quang cho nên
Tổng (lít)
72.390.000
73.314.495
72.450.734
72.949.954
71.542.640
việc tính toán và đưa ra số liệu về khối lượng dioxin được phun rải cũng không có
Tên chất
* Về nồng độ và khối lƣợng dioxin
Mỹ đã sưe dụng trong chiến tranh Việt Nam thì cần phải xác định chính xác thể tích
sử dụng và nồng độ dioxin/đơn vị thể tích có trong từng loại chất hoặc nồng độ
khoa Mỹ là 13,25 ppm; còn theo ước tính của Lindsey, 1999 là 1,77 - 40 ppm [39].
(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
sự thống nhất.Theo Stellman, 2003 [34]: lượng chất dioxin được phun rải cùng với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
30
31
các chất phát quang là 336 kg; Viện Y khoa Mỹ là 167 kg. Tuy nhiên, theo nghiên
cứu của các nhà khoa học Việt Nam thì con số này là 1000 kg [14].
* Về diện tích và khu vực bị phun rải
Trong các nghiên cứu được tiến hành thời gian trước đây, theo ước tính của
các nhà nghiên cứu thuộc Viện Y khoa Mỹ, tổng diện tích không quân Mỹ và Nam
Việt Nam rải là 1,5 triệu ha. Nhưng qua sử dụng hệ thống kiểm tra dân số thôn ấp
do quân đội Mỹ phát triển trong thời chiến, các nhà nghiên cứu đại học Columbia Mỹ cho thấy tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hóa chất khai quang là 2.631.297 ha.
Trong số này, có đến 86% bị rải hai lần trở lên. Khoảng 11% bị rải hơn 10 lần.
Trong số diện tích ảnh hưởng, có đến 1.679.734 ha bị ảnh hưởng bởi chất diệt cỏ,
và trong số đó, có đến 80% bị rải hai lần trở lên [2], [39].
(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)
Bảng 3.2. Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang
Số lần rải
Diện tích (ha) bị ảnh
Diện tích (ha) bị ảnh
hƣởng của chất diệt cỏ
hƣởng dioxin
Hình 3.2. Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác giả
Qua bảng số liệu thống kê ước tính diện tích bị phun rải chất phát quang có
chứa dioxin theo các tác giả khác nhau nhận thấy: diện tích ước tích giữa các tác giả
1 lần
368.556
343.426
2 lần
369.844
332.249
3 lần
361.862
275.770
4 lần
341.037
236.232
5 lần
272.709
153.192
6 lần
216.724
119.127
7 lần
153.391
75.062
8 lần
138.610
51.371
và Môi trường là 3.893500 ha. Có một số nguyên nhân gây nên sự chênh lệch số
9 lần
115.103
32.988
liệu thống kê về diện tích bị phun rải như sau:
>=10 lần
293.461
60.316
Tổng
2.631.297
1.679.734
(Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn, 2006 và Young AL, 2007)
Tuy nhiên, nghiên cứu tổng hợp của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy diện
tịch bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin được thống kê cụ thể theo các tác
giả qua biểu đồ số liệu sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nước ngoài và nghiên cứu của Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn.
Theo Bộ Quốc phòng Mỹ là 2.233.600 ha; theo Westing là 2.574.000 ha; theo
Lindsey là 2.611.900 ha ; còn theo Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ UBTCTACT thì con số này là 5.802.000 ha. Bên cạnh những nghiên cứu nói trên,
còn có một số các kết quả nghiên cứu khác nhau đã được công bố như: năm 2003
trong nghiên cứu của Stellman và cộng sự thì diện tích phun rải ước tính là
2.631.297 ha, còn số liệu gần đây nhất của Văn phòng chỉ đạo 33 - Bộ Tài nguyên
- Do sử dụng nhiều loại phương tiện phun rải khác nhau chẳng hạn như sử
dụng máy bay, xe ô tô, phun rải bằng tay, rò rỉ...;
- Theo bảng thống kê tần suất bị phun rải, có nhiều khu vực bị phun rải nhiều
lần do vậy gây nên sự sai khác về số liệu thống kê;
- Quá trình phun rải (đặc biệt là sử dụng máy bay) chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố khác nhau như: tốc độ gió, áp lực dòng phun, tốc độ di chuyển của thiết bị
vận chuyển trong quá trình phun, tốc độ gió,...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
32
33
Từ những kết quả phân tích nêu trên, việc đưa ra một số liệu thống kê chính
Nghiên cứu của tác giả Vũ Chiến Thắng còn cho thấy đối với diện tích rừng ở
xác nhất về diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin trong thực tế rất
miền Nam Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất phát quang có chứa dioxin thì có đến
khó thực hiện do có nhiều nguồn số liệu sơ cấp khác nhau và phương pháp tính toán
124.000 ha (chiếm tỉ lệ 41%) diện tích rừng ngập mặn và 27.000 ha (chiếm tỉ lệ
có sự khác biệt. Do vậy, về diện tích phun rải có thể ước lượng trong khoảng 2,5 -
13%) diện tích rừng tràm bị phun rải; Đối với đất nông nghiệp ước tính có khoảng
3,0 triệu ha.
260.000 ha đất nông nghiệp thuộc miền Nam Việt Nam bị ảnh hưởng [15]...
Theo nguồn số liệu của UB 10 - 80 và căn cứ vào tính toán của tác giả, tỉ lệ
diện tích bị ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa dioxin đối với tài
nguyên rừng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.3. Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa
dioxin theo địa phương
Tổng diện tích
tự nhiên (ha)
Tỉnh
Tỉ lệ
%
Đồng
Tháp,
Tiền
Các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay đều khẳng định ô nhiễm dioxin tại
sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa có nguồn gốc từ chất phát quang có chứa
dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (1961 - 1971). Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là cần xác định chính xác hoạt động cụ thể nào đã gây ô
Diện tích bị phun
rải (ha)
nhiễm, lượng chất phát quang có chứa dioxin được phát tán ở thời điểm nào, thể
tích là bao nhiêu.
An Giang, Vũng Tàu, Kiên
Giang,
3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa
1.773.010
<10%
<177.301
Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1961 - 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng
Giang
khoảng 76 triệu lít chất phát quang các loại để phun rải trên chiến trường miền Nam
Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hậu
Việt Nam. Phương tiện mà quân đội Mỹ sử dụng để phun rải chủ yếu là máy bay.
Do vậy, sân bay chính là địa điểm tập kết, trung chuyển, nạp lên máy bay, tẩy rửa
Giang, Long An, Gia Lai,
Quảng Nam - Đà Nẵng,
7.517.900
10-20%
751.790 - 1.503.580
Khánh Hòa, Thuận Hải, Minh
Theo số liệu Bộ Quốc phòng Mỹ mới công khai về chiến tranh Việt Nam, do
Hải, Cửu Long
Quảng Ngãi, Bến Tre, Phú
Yên, Quảng Trị, Bình Định
Thừa Thiên - Huế, Tây Ninh
Sông Bé, Tp.Hồ Chí Minh,
Đồng Nai
máy bay sau khi phun rải...các chất phát quang có chứa dioxin [8].
tác giả Young (2005), trình bày tại hội thảo Việt - Mỹ do Bộ Quốc phòng Việt Nam
2.336.010
20-30%
467.202 - 700.803
911.180
40-50%
364.472 - 455.590
1.651.830
>50%
>751.790
tổ chức tại Hà Nội tháng 8/2005, các sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa là địa
điểm tàng trữ chính các chất phát quang [15]. Hoạt động nạp chất phát quang có
chứa dioxin lên máy bay chủ yếu được thực hiện tại các sân bay này.
Như vậy, nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa
được xác định là: phát sinh từ các kho chứa chất phát quang có chứa dioxin; phát
Qua bảng số liệu 3.3 có thể tính được tổng diện tích bị phun rải các chất phát
sinh từ quá trình rò rỉ chất phát quang trong quá trình nạp các chất phát quang lên
quang có chứa dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam dao
máy bay, rò rỉ trong quá trình lưu giữ, bảo quản tại các kho chứa, bể chứa; phát sinh
động từ 2.586.680 ha đến 2.659.973 ha. Như vậy, so sánh số liệu tính toán trong
từ quá trình tẩy rửa máy bay, tẩy rửa dụng cụ phun rải sau mỗi chuyến bay; phát
phạm vi nghiên cứu này với số liệu thống kê của các tác giả khác thể hiện trong
sinh từ các sự cố xảy ra trong quá trình vận chuyển, lưu giữ các chất phát quang.
hình 3.2 chúng tôi thấy có những điểm tương đồng nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
34
35
Bảng 3.4. Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam trong
thời gian chiến tranh Việt Nam, từ 1961 - 1971
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Sân bay Tân Sơn Nhất
1961 - 1966
Số phuy chứa
(thùng)
67.745
Sân bay Đà Nẵng
1965 - 1971
105.460
23.935.680
Sân bay Biên Hòa
1966 - 1971
195.855
40.737.840
Sân bay Phù Cát
1968 - 1971
-
-
Sân bay Nha Trang
1968 - 1971
-
-
369.060
76.764.480
Địa điểm
Thời gian
Tổng
3.1.2.1. Sân bay Đà Nẵng
Thể tích (lít)
14.090.960
Ghi chú: Thể tích của 1 phuy chứa = 208 lít; - Không có số liệu thống kê
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)
Qua bảng 3.6 trình bày những số liệu thống kê về lượng lưu giữ chất phát
quang có chứa dioxin nhận thấy: Lượng chất phát quang được lưu giữ chủ yếu tại
các sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa; các sân bay còn lại
không có sự ghi nhận số liệu thống kê về hoạt động này. Trong đó, lượng lưu giữ tại
sân bay Biên Hòa lớn nhất, thống kê cho thấy có 40.737.840 lít chất phát quang
được lưu giữ và trung chuyển qua sân bay này. Sân bay Đà Nẵng lưu giữ và trung
chuyển 23.935.680 lít xếp sau sân bay Biên Hòa về thể tích lưu giữ và trung
chuyển. Trong đó, tỉ lệ lưu giữ lần lượt tại các địa điểm lưu giữ và trung chuyển
Thuộc quận Hải Châu ở vị trí trung tâm thành phố Đà Nẵng, sân bay quốc tế
Đà Nẵng là một trong 3 sân bay lớn nhất cả nước, sau sân bay Tân Sơn Nhất và sân
bay Nội Bài, được xây dựng từ năm 1940. Tổng diện tích sân bay khoảng 892,5 ha.
Khu vực sân bay Đà Nẵng tiếp giáp với nhiều khu dân cư có mật độ dân số khá cao,
xung quanh khu vực sân bay tiếp giáp với một số thủy vực là các hồ nước nằm rải
rác xen kẽ các khu dân cư của thành phố Đà Nẵng. Đây chính là một trong những
yếu tố tác động tới mức độ lan truyền và tồn lưu ô nhiễm dioxin, làm gia tăng mức
độ rủi ro do tiếp xúc với môi trường có nồng độ dioxin cao của người dân. Đà Nẵng
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, lượng mưa trung bình hàng
năm khá cao khoảng 2.504,57 mm/năm. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa lượng
mưa cao là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lan truyền của dioxin trong môi
trường. Đặc biệt là nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong các thủy vực được xác
định là khu vực tiếp nhận ô nhiễm thứ cấp.
* Đặc điểm nguồn gây ô nhiễm dioxin
Như đã phân tích ở bảng số liệu 3.6, lượng chất phát quang chứa dioxin được
quân đội Mỹ lưu giữ, nạp lên máy bay tại sân bay Đà Nẵng là 23.935.680 lít, tập
trung chủ yếu từ năm 1965 - 1971.
chính chất phát quang trong chiến tranh Việt Nam lần lượt là: sân bay Biên Hòa 53%, sân bay Đà Nẵng 30% và sân bay Tân Sơn Nhất là 17% (hình 3.3).
(Nguồn: Young AL, 2007)
Hình 3.3. Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ và
trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam 1961 -1971
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát
quang tại sân bay Đà Nẵng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
36
37
Sân bay Đà Nẵng chính là điểm nạp chất phát quang và cất cánh của máy bay
quân đội Mỹ thuộc chiến dịch khai quang Ranch Hand phun rải chất phát quang trên
rỉ từ các diện tích ô nhiễm dioxin trong sân bay. Trong đó, hồ Biên Hùng được
đánh giá là nơi tiếp nhận ô nhiễm dioxin (thứ cấp) chủ yếu tại sân bay Biên Hòa.
địa bàn các tỉnh miền Trung [7]. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Bộ Quốc
* Đặc điểm nguồn gây ô nhiễm dioxin
phòng Mỹ [39], trong chiến dịch thu gom và đóng lại các chất phát quang có tên là
Theo số liệu thống kê trong báo cáo tại Hội thảo Việt - Mỹ của Bộ Quốc
Pacer Ivy được tiến hành từ tháng 12/1971 - 3/1972 tại sân bay Đà Nẵng, quân đội
phòng Mỹ [39], lượng chất phát quang được lưu giữ và trung chuyển qua sân bay
Mỹ đã thu gom được 8.220 thùng chất phát quang tương đương 1.709.760 lít. Như
Biên Hòa là 195.855 thùng tương đương 40.737.840 lít (bảng 4.4). Trong đó có:
vậy, thực tế từ điểm lưu giữ này đã có 22.225.920 lít chất phát quang chứa dioxin
98.000 thùng chất da cam, tương đương 20.384.000 lít, chiếm tỉ lệ 50,04%; 45.000
đã được phun rải và bị rò rỉ ra môi trường.
thùng chất trắng, tương đương 9.360.000 lít, chiếm tỉ lệ 22,97%; 16.000 thùng
Về tỉ lệ loại chất phát quang: Trong tổng số 105.460 thùng chất phát quang tại
địa điểm này, có 50% là chất da cam, 27% chất xanh, 5% chất trắng và còn lại 18%
chất xanh, tương đương 3.390.000 lít, chiếm tỉ lệ 8,17%; còn lại là 36.855 chất
khác, chiếm tỉ lệ 18,82% (bảng 3.7).
là các chất phát quang khác. Diện tích đất bị ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng
Bảng 3.5. Lượng các loại chất phát quang được quân đội Mỹ lưu giữ và trung
ước tính khoảng 141.900 m2, lượng đất bị nhiễm dioxin ước tính khoảng 72.900 m3.
chuyển tại sân bay Biên Hòa
Đây là diện tích tiếp nhận nguồn dioxin từ các hoạt động tẩy rửa dụng cụ, máy bay
sau phun rải, rò rỉ trong quá trình lưu giữ và nạp lên máy bay các chất phát quang.
Trong thực tế, để quản lý, ngăn ngừa sự phát tán ô nhiễm dioxin đối với một diện
Loại chất
Số thùng
Thể tích (lít)
Tỉ lệ (%)
Chất da cam
98.000
20.384.000
50,04
Chất trắng
45.000
9.360.000
22,97
Chất xanh
16.000
3.390.000
8,17
Chất khác
36.855
7.407.840
18,82
195.855
40.737.840
100
tích lớn, cũng như là thực hiện công tác xử lý dioxin với khối lượng đất lớn như trên
gặp rất nhiều khó khăn. Đây cũng là một yếu tố làm gia tăng tính rủi ro môi trường
do ô nhiễm dioxin.
3.1.2.2. Sân bay Biên Hòa
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Sân bay Biên Hòa là sân bay quân sự dược quân đội Mỹ xây dựng và sử dụng
Tổng
trong chiến tranh Việt Nam, thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh
(Nguồn: Young AL, 2007)
Đồng Nai. Sân bay có tọa độ địa lý: 10o58'33'' vĩ độ Bắc, 106o49'6' độ kinh Đông,
nằm ở phía Tây Bắc của thành phố. Về điều kiện khí hậu Biên Hòa là khu vực có
Lượng chất phát quang tại sân bay Biên Hòa trong chiến tranh rất lớn. Tuy
lượng mưa lớn, tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa
nhiên, trong chiến dịch thu hồi Pacer Ivy tiến hành tại đây từ tháng 4/1970 -
chiếm 80%, mùa khô 20%. Về điều kiện địa hình, sân bay Biên Hòa thuộc khu vực
03/1972, quân đội Mỹ đã thu gom và đóng lại được 11.000 thùng chất phát quang
có địa hình bằng phẳng, đọ cao so với mặt nước biển là 24m. Trong khu vực sân
các loại, tương đương 2.288.000 lít. Vậy đã có khoảng 184.855 thùng chất phát
bay và vùng lân cận có khoảng 5ha diện tích mặt nước là các hồ nước tự nhiên
quang đã được sử dụng để phun rải trên chiến trường hoặc bị rò rỉ ra môi trường tại
như hồ Biên Hùng... Các hồ này là nơi lắng đọng trầm tích dioxin bị phát tán và rò
khu vực sân bay Biên Hòa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
38
39
- Đối với vùng ô nhiễm ở phía Nam sân bay: Đây là khu vực chỉ mới được
quan tâm và có sự điều tra khảo sát trong những năm gần đây. Khu vực này là nơi
tập kết, thu gom và đóng thùng các chất phát quang trong chiến dịch thu gom chất
này đưa về Mỹ tiêu hủy. Do vậy, bước đầu có thể đánh giá khu vực này chỉ lưu giữ
chất phát quang trong thời gian ngắn cho nên có thể nồng độ dioxin tại các vị trí bị
ô nhiễm ở đây ở mức độ thấp và trung bình.
- Đối với vùng ô nhiễm phía Bắc sân bay: Đây là khu vực trong chiến dịch
Rach Hand diễn ra các hoạt động nạp, rửa dioxin; hoạt động lưu giữ dioxin; do vậy
bước đầu có thể đánh giá đây là khu vực cần tập trung nghiên cứu vì nồng độ ô
nhiễm dioxin có thể tập trung hơn và ở mức độ cao hơn so với các khu vực khác.
(Nguồn: Young AL, 2007)
Tại khu vực này, có thể chia khu ô nhiễm thành các phân khu như sau: Phân khu
Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua sân
nạp rửa nằm cạnh đường dẫn vào của sân bay hiện nay, nhiều nghiên cứu cho thấy
bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam
đây là phân khu ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Phân khu bãi chứa - phân khu này cách
Ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa theo chúng tôi có nguyên nhân chủ yếu
là do sự rò rỉ và phát tán ở mức độ lớn dioxin vào môi trường. Vì theo báo cáo của
Bộ Quốc phòng Mỹ, đã có sự ghi nhận về sự rò rỉ chất phát quang tại đây do một số
phân khu nạp rửa 200m về phía Bắc. Hiện trạng cho thấy không có thực vật trên lớp
đất mặt ở đây. Khu vực hồ Sen (7,3 ha) là nơi tiếp nhận nước từ các phân khu ô
nhiễm nói trên, đánh giá sơ bộ đây là khu vực trầm tích bị ô nhiễm dioxin nặng.
tai nạn và lỗi kỹ thuật. Cuối năm 1969 và đầu năm 1970, một số tai nạn đã xảy ra,
Đối với ô nhiễm dioxin ở sân bay Đà Nẵng kết quả phân tích mẫu đã đánh giá
làm rò rỉ khoảng 38.000 lít chất phát quang vào môi trường. Trong đó có: 28.000 lít
tương đối đầy đủ và chính xác nồng độ ô nhiễm cũng như thành phần đồng loại của
chất da cam và 10.000 lít chất trắng. Đây thực sự là sự cố có tác động quan trọng
dioxin trong đất và trầm tích.
đến nồng độ ô nhiễm dioxin và làm cho sân bay Biên Hòa trở thành nơi bị ô nhiễm
dioxin đặc biệt nghiêm trọng.
- Kết quả phân tích hàm lượng tồn lưu dioxin trong mẫu đất
Để đánh giá chính xác nồng độ dioxin tồn lưu trong môi trường đất tại địa điểm
3.2. Đánh giá tồn lƣu ô nhiễm dioxin trong môi trƣờng
sân bay Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu đất tại các khu vực khác nhau của
3.2.1. Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường
sân bay. Trong đó, tập trung chủ yếu vào các khu vực trước đây là nền kho chứa, khu
3.2.1.1. Đánh giá mức độ tồn lưu tại sân bay Đà Nẵng
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến xác định khu vực, diện
tích, mức độ và lượng ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Theo các nghiên cứu đó
vực nạp rửa, khu vực thu gom trong chiến dịch Pacer Ivy (vị trí và ký hiệu mẫu thể
hiện qua bảng 3.8). Kết quả phân tích nồng độ dioxin (PCDD - PCDF) được trình bày
qua bảng 3.9.
có thể phân chia các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng thành 2 vùng cơ
bản: Vùng ô nhiễm nằm ở phía Bắc của sân bay và vùng ô nhiễm thuộc khu vực
phía Nam sân bay [10].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
41
Phân tích bảng 3.6 có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về ô nhiễm dioxin ở sân
bay Đà Nẵng như sau:
Thứ nhất, nồng độ dioxin dao động trong khoảng rất rộng (0,01 - 361000 ng/kg).
Trong đó, nồng độ TCDD ghi nhận được ở mẫu đất thuộc khu trộn nạp (VN58) đạt giá
trị tối cao là 361.000 ng/kg, điều này chứng minh cho sự phức tạp về phân bố ô nhiễm
40
cũng như mức độ ô nhiễm tại các vị trí khác nhau thuộc sân bay Đà Nẵng.
Phân tích còn cho thấy, tần suất xuất hiện các cấu tử khác nhau của dioxin xuất
Bảng 3.6. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng
KH
hiện tương đối đồng đều ở các mẫu VN58, VN59 ,VN68, VN69, VN83, VN74, VN47,
∑ Nồng độ dioxin tuyệt đối ng/kg
HpCDD OCDD TCDF
VN48 (8/13 mẫu).
TCDD
PeCDD
HxCDD
PeCDF
HxCDF
HpCDF
OCDF
TEQ
VN58
361000
2000
972
246
2,5
202
88
20
9,1
0,13
362165.1
Thứ hai: Đa số các mẫu đất được phân tích đều có hàm lượng TCDD là cấu tử
VN59
330000
1670
761
219
2,4
146
83
17
9,5
0,14
330969.8
có độc tính mạnh nhất (hệ số TEF = 1), đều xuất hiện với nồng độ rất cao ( 136 -
0,79
20
0,35
0,34
0,68
0,01
36866.0
33
4,8
4,2
0,07
165620.3
0,20
0,29
0,01
5138.7
0,86
0,01
106140.6
VN63
1190
3,6
0,49
VN68
36800
120
37
11
0,02
0,02
1191.8
VN69
165000
1130
322
107
2,8
53
VN75
5100
72
0,97
1,1
0,20
26
VN78
106000
251
19
4,1
0,31
46
17
VN83
61500
406
39
9,1
1,1
207
1,6
4,5
0,83
0,01
61728.5
VN70
3540
81
72
20
2,4
8,0
4,1
0,91
0,74
0,01
3590.8
VN74
63200
896
276
73
1,5
127
62
9,3
4,2
0,04
63720.2
350000.0
150.3
300000.0
VN43
136
28
2,1
1,0
0,66
0,62
VN47
6080
333
60
16
0,34
20
6,9
2,2
0,02
0,78
0,01
6258.1
VN48
3840
210
55
15
0,35
20
4,7
1,1
0,61
0,01
3955.0
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)
3610000 ng/kg).
ng TEQ
400000.0
362099.9
PCDD
250000.0
200000.0
PCDF
88250.5
150000.0
100000.0
50000.0
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
362165.1
88268.9
18.4
150.20.0004 150.3
WHO - TEQ
65.2
0.0
Min
Mean
Max
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD, PCDF,
WHO - TEQ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên