Tải bản đầy đủ (.doc) (168 trang)

1 lịch sử đảng bộ cô tô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (766.33 KB, 168 trang )

ĐỀ CƯƠNG
Lịch sử Đảng bộ huyện Cô Tô (2004-2014)
LỜI GIỚI THIỆU: Do một đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy hoặc Trung ương

đứng tên.
LỜI NÓI ĐẦU: Của BCH Đảng bộ (Do Bí thư Huyện uỷ đứng tên).

PHẦN 1

ĐẢNG BỘ HUYỆN CÔ TÔ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN
LẦN THỨ III (2005-2010)
I. Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III với quyết tâm chính trị tiếp tục
đẩy mạnh công cuộc đổi mới
1. Khái quát về huyện đảo Cô Tô sau 10 năm thành lập huyện
Là một huyện đảo được thành lập ngày 23-3-1994 theo Nghị định Số 28CP của Chính phủ, đến năm 2004, sau 10 năm thành lập, Cô Tô có những điểm
đặc biệt khác với tất cả các huyện đảo khác trong cả nước: Cô Tô là huyện đảo
biên giới tiền tiêu của Tổ quốc, cách đất liền 100 km về phía Đông Bắc Vịnh
Bắc Bộ, có tổng chiều dài biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc gần 200 km
từ khơi đảo Trần đến ngoài khơi phía Đông đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng.
Huyện Cô Tô có trên 40 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, có 3 đảo lớn là: Cô
Tô, Thanh Lân và đảo Trần (đảo Tràng Tây). Đảo Trần là đảo xa trung tâm
huyện trên 30 km. Tổng diện tích đất nổi của huyện là 4.620 ha. Trong đó: đảo
Cô Tô lớn rộng: 1.780 ha, đảo Thanh Lân rộng: 1.887 ha; đảo Trần rộng: 512
ha, còn lại là diện tích các đảo nhỏ, lẻ. Rừng và đất rừng gồm: 2.200 ha. Cô Tô
là ngư trường lớn của vịnh Bắc Bộ rất thuận lợi cho việc khai thác thuỷ sản. Ngư
trường Cô Tô là nguồn lợi thuỷ sản phong phú, có thể đưa việc khai thác chế
biến hải sản thành sản phẩm hàng hóa để tiêu thụ cho nhân dân trong nước và
1



nước lân cận như: Trung Quốc, Hồng Kông… Ngoài ra, Cô Tô còn một số bãi
biển đẹp phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước.
Huyện đảo Cô Tô có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an
ninh, lãnh hải quốc gia, là một trong những điểm quan trọng để làm cơ sở xác
định đường biên giới quốc gia trên biển, phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung
Quốc. Cô Tô là vị trí tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.
Dân số của huyện gồm 1039 hộ, với 5086 nhân khẩu, bao gồm nhân dân
của 10 tỉnh, thành chuyển ra xây dựng kinh tế mới như: Hải Phòng, Nam Định,
Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh… Dân số sống trên huyện đảo Cô Tô gồm các
dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Mường, Sán Dìu… Trong đó, người kinh chiếm
95%, còn lại là các dân tộc khác là 5%. Huyện có 3 đơn vị hành chính: Thị trấn
Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến.
Ngoài những thuận lợi đó, huyện còn nhiều khó khăn, thách thức: Kinh tế
chủ yếu phụ thuộc vào biển, đời sống văn hoá, vật chất của nhân dân và cán bộ
trên đảo trong diện đặc biệt khó khăn. Khó khăn lớn nhất là địa bàn huyện đảo
xa đất liền, điều kiện giao thông đi lại không thuận tiện… Bên cạnh đó là hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch cũng như diễn biến phức tạp về quản lý
chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến
công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Đảng bộ huyện.
Sau 10 năm thành lập, được sự quan tâm của Trung ương Đảng, của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng bộ huyện, các
cấp chính quyền và nhân dân trên đảo đã đoàn kết một lòng, xây dựng Cô Tô
thành một huyện đảo ngày càng giàu mạnh, đạt được nhiều thành tựu rất đáng
trân trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng ổn định, nâng
cao. An ninh - quốc phòng luôn được giữ vững. Vị trí tiền tiêu của Tổ quốc ngày
càng được củng cố vững chắc.
2. Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III (9-2005)

2



Đại hội Đại biểu Đảng bộ Huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 2005-2010,
được tiến hành từ ngày 14-9 đến ngày 15-9-2005 với tinh thần dân chủ, trí tuệ,
đoàn kết và trách nhiệm.
Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện khóa II, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, nhiệm kỳ 20002005 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2005-2010; Báo cáo kiểm
điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II;
Báo cáo kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VI (lần 2) về xây
dựng và chỉnh đốn Đảng. Đại hội đã biểu quyết nội dung góp ý với Dự thảo Báo
cáo chính trị và Dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi bổ sung) trình Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng; đóng góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo Chính trị
của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII.
Đánh giá về việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện
khóa II (2000-2005), Đại hội khẳng định: Mặc dù trong điều kiện cơ sở vật chất,
kỹ thuật của kinh tế huyện đảo còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; đời sống nhân
dân còn nhiều khó khăn, tình hình an ninh - quốc phòng trên vùng biển vẫn còn
diễn biến phức tạp. Được sự quan tâm của Trung ương Đảng, tỉnh Quảng Ninh
và các ban, ngành, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện đảo đã đoàn kết vượt
qua mọi khó khăn, thử thách, vươn lên giành những thành tựu quan trọng trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội. Hàng năm, hầu hết các ngành kinh tế của
huyện đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng
năm: 10,2%. Kết cấu hạ tầng kinh tế được đầu tư xây dựng với tốc độ nhanh,
phục vụ thiết thực cho sản xuất, lưu thông và an ninh - quốc phòng. Sự nghiệp
giáo dục, văn hóa, y tế, truyền thanh - truyền hình được quan tâm và phát triển
cả về quy mô và chất lượng, phục vụ thiết thực cho nhu cầu của nhân dân huyện
đảo. Các chính sách xã hội được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân trong huyện từng bước được cải thiện; an ninh - quốc phòng được giữ vững.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và công tác vận động quần
chúng từng bước được kiện toàn và có những tiến bộ rõ rệt.

3


Bên cạnh những thành tựu đó, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.
- Tốc độ phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn còn chậm, chưa
bền vững; chưa tổ chức tốt việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, việc vận động
các thành phần kinh tế đầu tư vốn vào nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao
còn ít. Ngành nông, lâm nghiệp cũng còn hạn chế trong thâm canh, chuyển đổi
cơ cấu giống, cây trồng, mùa vụ, chất lượng trồng rừng và công tác bảo vệ rừng
vẫn còn nhiều thiếu sót.
- Công tác giải quyết việc làm chưa đạt hiệu quả cao, tỷ lệ hộ nghèo đã
giảm nhưng vẫn còn ở mức cao.
- Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền có nhiều tiến bộ, nhưng
trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, một số tổ chức cơ sở đảng, chính quyền
còn lúng túng trong lãnh đạo, điều hành. Đặc biệt, một số ít cán bộ, đảng viên
chưa năng động, sáng tạo, nhận thức còn hạn chế, thậm chí còn có biểu hiện suy
thoái về đạo đức, lối sống và vi phạm pháp luật.
Trên cơ sở phân tích sâu sắc thành tựu và hạn chế sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, nhằn đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ mới, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp tổ chức
thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, trong đó tập trung thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ cơ bản:
- Chỉ đạo tổ chức khai thác tốt tiềm năng kinh tế của địa phương, chú
trọng đẩy mạnh phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn, xác định cơ
cấu kinh tế của huyện là: Ngư nghiệp - dịch vụ, thương mại - Du lịch - Nông lâm nghiệp. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm từ 12% đến 15%.
Cụ thể:
+ Ngành thủy sản: Tổ chức, quản lý, chỉ đạo khai thác hải sản trên các
tuyến, chú ý tổ chức tốt khai thác tuyến khơi, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung
ương, của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân vay vốn để đầu tư mua sắm
phương tiện, trang thiết bị, vật tư phục vụ đánh bắt, nuôi trồng hải sản; quản lý

4


tốt tài nguyên - môi trường biển. Phấn đấu đưa sản lượng khai thác thủy sản đến
năm 2010 đạt 5.500 tấn.
+ Ngành nông nghiệp: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng mùa vụ hợp
lý, chú ý đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất. Tăng cường các biện
pháp tưới tiêu và các công trình thủy lợi, thực hiện tốt công tác khuyến nông,
phấn đấu đưa sản lượng lương thực quy thóc hàng năm là 650 tấn.
+ Ngành lâm nghiệp: Nhiệm vụ trọng tâm là giao đất rừng, làm tốt công
tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng hiện có, nâng cao độ che phủ của rừng.
- Tăng cường chỉ đạo phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, du lịch,
dịch vụ, thương mại, xây dựng cơ bản, giao thông, bưu điện, khuyến khích và
tạo điều kiện cho các ngành và các dịch vụ phát triển phục vụ sản xuất và đời
sống. Quản lý, khai thác có hiệu quả các bến tàu, cầu cảng và các trung tâm dịch
vụ. Từng bước bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, mở rộng, nâng cấp hệ
thống điện nội thị và đường xuyên đảo Cô Tô. Mở rộng mạng lưới thông tin và
giao thông vận tải đảm bảo an toàn, tiến tới đưa hệ thống vận tải hành khách và
hàng hóa giữa đảo và đất liền bằng tầu cao tốc. Đảm bảo hệ thống thông tin
thông suốt. Phấn đấu đến năm 2010, có trên 80% số hộ dân được sử dụng nước
sạch, 90 - 95% được sử dụng điện.
Đề nghị tỉnh Quảng Ninh và Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt để
phát triển kinh tế Cô Tô. Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vốn,
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ. Phát triển
Cô Tô để từng bước đưa khu kinh tế tổng hợp (Vân đồn - Cô Tô) vào hoạt động.
- Tăng cường công tác chỉ đạo thu ngân sách: Phấn đấu tăng thu ngân
sách hàng năm từ 10% đến 12%, đến năm 2010, tổng nguồn thu đạt 2.150 triệu
đồng. Đảm bảo chi ngân sách theo đúng kế hoạch; có hiệu quả, thực hiện chi
đúng trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm chi.
- Quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin - thể thao, truyền thanh

- truyền hình, y tế, giáo dục.
5


+ Thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh, tiến bộ. Chú trọng xây dựng gia
đình văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện tốt cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Phát
triển phong trào thể dục thể thao sâu rộng trong nhân dân.
+ Củng cố hệ thống truyền thanh - truyền hình, phấn đấu đến năm 2006,
đưa trang tin lên truyền hình địa phương, 95% số hộ dân có phương tiện nghe
nhìn.
+ Quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục - đào tạo, không ngừng nâng
cao chất lượng dạy và học. Phấn đấu đến năm 2010: 100% các trường tiểu học
và trung học cơ sở và trung học phổ thông có điều kiện học 2 buổi/ngày ở mỗi
bậc học, ngành học từ mầm non đến trung học phổ thông đều có ít nhất 1 trường
đạt chuẩn quốc gia. 100% giáo viên từ mầm non đến phổ thông trung học đạt
trình độ chuẩn, trong đó có 20% đến 30% giáo viên các cấp đạt tiêu chuẩn. 1/3
xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, 100% xã,
thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.
+ Chú trọng công tác khám và chữa bệnh trên địa bàn, tăng cường đội ngũ
y, bác sỹ chuyên khoa sâu, đặc biệt ở hai ngành ngoại và sản. Duy trì, mở rộng
các cơ sở y tế phục vụ nhân dân ở những nơi xa trung tâm, phát huy họat động
chương trình quân - dân y kết hợp. Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy
dinh dưỡng xuống dưới 15%, giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm 0,3% , tốc
độ phát triển dân số là 1%.
+ Thực hiện tốt chính sách xã hội, quan tâm hơn nữa đối với các thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và những người có công.
+ Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2010
giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 7%. Giải quyết việc làm mới hàng năm cho 80
đến 100 lao động.

- Tăng cường công tác quốc phòng - an ninh, thường xuyên nâng cao cảnh
giác, chống các âm mưu thủ đoạn của địch. Thực hiện sự phối hợp các lực lượng
vũ trang trên địa bàn giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Gắn
6


chặt nhiệm vụ củng có quốc phòng với các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội. Đẩy mạnh, nhân rộng hoạt động của phong trào “Giữ đảo bình yên” góp
phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
- Nâng cao hơn nữa chất lượng họat động của Hội đồng nhân dân và sự
điều hành của Uỷ ban nhân dân các cấp, tiếp tục kiện toàn và thực hiện cải cách
hành chính. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Tăng cường sự lãnh đạo hoạt động của các tổ chức quần chúng, các cấp
ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở. Thực hiện tốt mối quan hệ giữa cấp
ủy, chính quyền với các đoàn thể quần chúng. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
quần chúng phải tập hợp, động viên hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện.
- Tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương sáu (lần 2), xây dựng các cơ sở Đảng ngày càng vững mạnh
cả về số lượng và chất lượng nhằm xây dựng Đảng bộ ngày càng vững mạnh.
Đảng viên phải có phẩm chất đạo đức trong sáng và trình độ năng lực lãnh đạo,
thực hiện Nghị quyết của Đảng, Phấn đấu hàng năm phát triển từ 7% đến 10%
đảng viên mới. Mỗi năm có từ 65% đến 70% tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu
“trong sạch vững mạnh”. Tăng cường công tác kiểm tra Đảng hàng năm.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Khóa III, nhiệm kỳ 20052010, gồm 27 đồng chí. Đại hội cũng đã bầu đoàn Đại biểu đi dự Đại hội Đảng
bộ cấp trên gồm 5 đồng chí.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 2005-2010
với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và trách nhiệm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng sau 10 năm thành lập huyện. Đại hội đã đánh giá đúng những thuận lợi,
khó khăn, phân tích sâu sắc những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, thẳng thắn chỉ
ra những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế cần phải khắc phục.
Với tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao, phát huy tinh thần dân chủ, Đại hội
đã tập trung trí tuệ, đề ra mục tiêu, phương hướng, các biện pháp và kế hoạch tổ
7


chc thc hin, nhm thc hin thng li Ngh quyt i hi ng b huyn ln
th III.
II. Lónh o phỏt trin kinh t, tip tc y nhanh chuyn dch c cu
kinh t, xõy dng kt cu h tng kinh t - xó hi
Thc hin Ngh quyt i hi huyn Cụ Tụ ln th III, ng b huyn Cụ
Tụ ó quyt tõm tp trung ch o t chc khai thỏc tt tim nng kinh t ca a
phng, chỳ trng y mnh phỏt trin bn vng cỏc ngnh kinh t mi nhn;
theo nh hung m Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyn lần thứ III đã xỏc nh
l: ng nghip - dch v, thng mi - du lch - nụng - lõm nghip.
1. Lónh o phỏt trin nụng, lõm, ng nghip
Trc khi i hi ng b ln th III huyn Cụ Tụ tin hnh, theo Bỏo
cỏo s 07-BC/HU v Thc hin nhim v 9 thỏng. Mt s nhim v trng tõm
quý IV/2005 ó nhn nh tình hình 9 thỏng u nm 2005 gp nhiu khú khn
thỏch thc: rột m, rột hi u nm, hn hỏn kộo di lm cho nc cỏc h p
cn kit, t ú lm gim din tớch, nng sut, sn lng v ụng Xuõn so vi
cựng k nm trc. Mt khỏc giỏ c hng hoỏ trờn th trng cú s bin ng ó
nh hng n tỡnh hỡnh sn xut, kinh doanh v i sng nhõn dõn trờn a bn.
Bc vo thc hin Ngh quyt i hi ng b huyn ln th III vt lờn
nhng khú khn v thi tit; s gim sỳt v din tớch, nng sut v sn lung
trong v sn xut ụng Xuõn v nhng bin ng ln v giỏ c th trung, Ban
Chp hnh ng b huyn ó quyt tõm lónh o, ch o ti cỏc cp y v
chớnh quyn a phng trong huyn tp trung khc phc khú khn, u tiờn phỏt
trin kinh t. Vi s n lc phn u ca cp y v chớnh quyn cỏc cp, tỡnh

hỡnh kinh t - xó hi ca huyn tip tc n nh, duy trỡ v phỏt trin. Cỏc ch
tiờu kinh t - xó hi ch yu u t k hoch ra v tng trng cao hn so
vi cựng k nm trc, an ninh - quc phũng c gi vng, i sng nhõn dõn
n nh.
Trong sn xut nụng nghip: do thi tit khụng thun li, hn hỏn kộo di,
ngun nc phc v sn xut khụng ch ng nờn ó nh hng ti sn xut v
8


Chiêm Xuân. Vì thế, tổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm chỉ đạt 82,7 ha, bằng
88%. Trong đó, lúa: 54,7 ha (giảm 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước); ngô: 0,5
ha; khoai lang: 5,5 ha; lạc: 4 ha; đậu: 11 ha; sắn: 7 ha.
Trong vụ mùa, do thời tiết thuận lợi, tổng diện tích gieo trồng đạt 170 ha,
tăng 1 ha so với vụ mùa năm trước. Bên cạnh đó, do đưa giống lúa mới, có năng
suất cao vào canh tác, nên năng suất lúa vụ mùa đạt khoảng 36 tạ/ha. Để phục
vụ sản xuất nông nghiệp, huyện đã dùng nguồn vốn ngân sách địa phương để hỗ
trợ cước vận chuyển thóc giống cho nông dân, với 3.700 kg thóc giống (vụ
chiêm: 1.400 kg; vụ mùa: 2.300 kg) chủ yếu là giống mới: Bồi tạp, Khang dân,
Siêu khang dân, Q5 nguyên chủng, Hương thơm, Hoa ưu 86. Phân bón cung
ứng: 108 tấn, trong đó: đạm: 39 tấn; kali: 6 tấn; lân: 18 tấn; NPK: 45 tấn.
Trước sự hoành hành của dịch cúm gia cầm, Huyện ủy đã chỉ đạo các
phòng, ban chuyên môn cùng các địa phương tiến hành tiêu huỷ: 226 con gà,
968 quả trứng gia cầm. Phun thuốc khử trùng phòng dịch cho đàn gia cầm kịp
thời cho nên đã ngăn chặn được dịch bệnh lan rộng. Tổ chức tiêm phòng vacxin
phòng chống bệnh: đóng dấu, dịch tả, thương hàn cho đàn lợn trên địa bàn
huyện. Nhờ làm tốt công tác phòng chống các loại dịch bệnh nên đàn gia súc,
gia cầm phát triển tốt. Năm 2005, tổng đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạch
năm; đàn trâu: 255 con, đạt 98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kế
hoạch năm; gia cầm: 15.000 con, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con,
tăng 3,8% so với cùng kỳ.

Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng chưa được chính quyền địa phương
quan tâm đúng mức. Tình trạng chặt phá rừng làm củi, khai thác gỗ còn xảy ra ở
các địa bàn xã Thanh Lân, xã Đồng Tiến. Chưa xử lý kịp thời những đối tượng
chặt phá rừng, nhất là rừng phòng hộ chắn gió cát ven biển, rừng thông…
Những tháng cuối năm 2005, do cung ứng kịp thời than bùn làm chất đốt cho
nên việc chặt phá rừng làm chất đốt đã giảm đáng kể.
Ngư nghiệp: Tổng sản lượng khai thác đạt 4.120 tấn, bằng 73% kế hoạch
năm. Trong đó, cá: 2.197 tấn, tôm: 55 tấn, mực: 232 tấn, hải sản khác: 1.636 tấn,
9


tăng 295 tấn (7,7%) so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch khai thác đánh bắt hải
sản có sự tăng trưởng là do trong ngư trường huyện đảo đã xuất hiện loài sứa
biển, rong biển. Vì vậy, ngư dân đã tập trung khai thác, sơ chế, xuất bán sang thị
trường Trung Quốc, góp phần tăng thu nhập cho nhân dân trên địa bàn.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơn bão số 2 đã gây thiệt hại đáng kể cho
nuôi trồng thuỷ sản của địa phương, đặc biệt là ở xã Thanh Lân. Tổng thiệt hại
khoảng 437 triệu đồng. Trong đó, tôm Hùm giống chết 3.846 con; cá lồng bè
thiệt hại 110 triệu đồng.
Thực hiện chủ trương phát triển nuôi trồng thuỷ sản, huyện đã tổ chức
đưa các hộ nuôi trồng thuỷ sản đi tham quan, học tập các mô hình nuôi cá lồng
bè theo công nghệ Na-uy tại các tỉnh miền Trung; mô hình nuôi lồng chìm, Ốc
Hương, Tu Hài tại các huyện trong tỉnh. Nhằm động viên các chủ hộ nuôi trồng
thuỷ sản trên địa bàn đi vào ổn định sản xuất, Uỷ ban nhân dân huyện tiếp tục
chỉ đạo công tác nuôi Tôm Hùm, cá lồng bè theo công nghệ Na-uy theo chương
trình nguồn vốn hỗ trợ phát triển kinh tế của tỉnh. Huyện giúp đỡ một hộ dân
đưa vào nuôi thí điểm khoảng 2 vạn con giống Ốc Hương tại khu vực gần vụng
Hồng Vàn. Nếu thành công, sẽ nhân rộng trong các vụ nuôi tiếp theo.
Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm trong
quý IV năm 2005.

Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo nông dân chăm sóc, làm tốt công tác
phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Tập trung phát triển mô hình thí điểm cây
cam đặc sản ở xã Thanh Lân.
Tiến hành chủ động tiêm phòng, đề phòng dịch bệnh, đảm bảo đàn gia
súc, gia cầm phát triển ổn định.
Lâm nghiệp: Tiến hành trồng, chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng trên địa
bàn từ nguồn vốn dự án 661 năm 2005 và ngân sách địa phương. Có biện pháp
xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chặt phá rừng; kiểm tra bảo vệ rừng trên
địa bàn.
10


Ngư nghiệp: Tiếp tục chỉ đạo phát triển dự án nuôi cá lồng bè trên biển.
Xây dựng mô hình nuôi cá lồng theo công nghệ Na-uy. Vận động ngư dân nuôi
các loại hải sản có giá trị cao như: Tôm Hùm, Bào Ngư, Ốc Hương; Vận động
ngư dân khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản sẵn có như: Bào Ngư, Hải Sâm,
Cầu Gai...
Tăng cường công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Quản lý tốt
tàu thuyền hoạt động nghề cá, làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn đảm bảo an toàn
cho người và phương tiện khai thác hải sản trong mùa mưa bão.
Nhờ sự lãnh đạo sát sao, kịp thời của Đảng bộ huyện và sự nỗ lực của
các tầng lớp nhân dân nên, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai nhưng kinh
tế - xã hội của huyện Cô Tô trong năm 2005 đạt được những kết quả hết sức
quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển của các năm sau.
Trong sản xuất nông nghiệp: Do chưa chủ động nguồn nước phục vụ cho
sản xuất, nên diện tích gieo trồng cả năm thực hiện chỉ đạt 252,7 ha, bằng 96%
kế hoạch năm, giảm 10 ha so với cùng kỳ. Trong đó, lúa: 204,7 ha, đạt 94,5%
(giảm: 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước). Tổng sản lượng lương thực đạt 580
tấn, đạt 82,8% kế hoạch năm, giảm 62 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, nên đàn gia súc, gia cầm

phát triển tốt. Huyện tiến hành tiêm phòng cả 2 đợt với số lượng trên 10.000
con. Đồng thời, ngăn chặn việc lưu thông gia cầm từ các địa phương khác đến
địa bàn huyện và gia cầm từ địa bàn huyện đến các địa phương khác. Đến 2011-2005, đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạch năm; đàn trâu: 255 con, đạt
98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kế hoạch năm; gia cầm:
15.000 con, đạt 107,1%, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con, tăng 3,8%
so với cùng kỳ năm trước.
Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng luôn được cấp uỷ, chính quyền các cấp
quan tâm, nhất là trong việc phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng. Năm 2005,
trên huyện đã trồng mới: 9 ha rừng, đạt 62% kế hoạch năm.

11


Ngư nghiệp: Tổng giá trị sản xuất ngư nghiệp ước tính đạt 30 tỷ, tăng
109% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thực hiện đạt 5.700 tấn, bằng 101% kế
hoạch năm. Trong đó, cá: 2.942 tấn; tôm: 90 tấn; mực: 324 tấn, hải sản khác:
2.344 tấn, tăng 710 tấn (10,2%) so với cùng kỳ năm trước.
Trong năm 2005, huyện tiến hành khai thác sứa biển, rong biển sơ chế
xuất tiểu ngạch ra nước ngoài với tổng sản lượng hàng ngàn tấn, đạt giá trị hàng
tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động. Tuy nhiên, do ảnh hưởng trực tiếp
của cơn bão số 2, nên trên: 3.846 con tôm giống chết, gây thiệt hại hàng trăm
triệu đồng.
Trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm
2005 và căn cứ vào tình hình thực tế, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ra Nghị
quyết số 03 - NQ/HU về phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2006.
Nghị quyết chỉ rõ, năm 2006, là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ huyện lần thứ III. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, toàn huyện cũng
đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức: đại dịch cúm gia cầm vẫn
bùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng; giá cả thị trường các mặt hàng tăng
nhanh; thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường; nước ta tham gia hội nhập kinh tế

quốc tế sẽ có những tác động cạnh tranh quyết liệt . Do đó, cần tập trung triển
khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III và nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhằm phát triển mạnh mẽ và đồng bộ các lĩnh vực
kinh tế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khai thác và phát huy
nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Nghị quyết đề ra các
chỉ tiêu kinh tế năm 2006:
- Tăng trưởng kinh tế (GDP): 11% đến 13%.
- Khai thác thuỷ sản các loại: 5.800 tấn.
- Sản lượng lương thực: 650 tấn.
- Thu ngân sách trên địa bàn tăng trên: 10% so với kế hoạch pháp lệnh.

12


Nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2006, Đảng bộ huyện đã
đề ra Nghị quyết số 03 và chương trình công tác số 06, số 19 đã chỉ đạo các ban,
ngành địa phương thực hiện toàn diện các nhiệm vụ. Nhờ vậy, sản xuất đã có
chuyển biến tích cực.
Đối với sản xuất nông nghiệp: Đã khắc phục được hạn hán, thiếu nước,
sâu bệnh hại lúa. Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 259,6 ha; trong đó, diện tích
lúa là: 214,6 ha; diện tích rau màu là: 45 ha.
Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt khoảng: 6,8 tỷ/6 tỷ, đạt 113,33% kế
hoạch năm. Sản lượng thóc đạt 610 tấn, tăng 1,6% kế hoạch năm. Năng suất lúa
bình quân 28,1 tạ/ha. Các giống lúa có năng suất cao được đưa vào sản xuất
đáng chú ý là Khang dân, Hương thơm, Bao thai.
Trong ngành chăn nuôi: Huyện tổ chức tốt công tác phòng chống dịch
bệnh, phòng chống rét cho đàn gia súc gia cầm trong toàn huyện. Tiêm phòng cả
2 đợt với số lượng trên: 12.610 con gà, vịt. Bên cạnh đó, đàn gia súc gia cầm
phát triển tốt.
Lâm nghiệp: Thực hiện chương trình 661 từ nguồn vốn phát triển kinh tế

của huyện, toàn huyện đã trồng được 44,5 ha rừng (trong đó: 14,5 ha rừng thông
mã vị, 30 ha rừng phi lao ven biển); chăm sóc 23,5 ha, bảo vệ 686,9 ha.
Ngư nghiệp: Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III:
“Tiếp tục xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng: Ngư
nghiệp - dịch vụ, du lịch - nông, lâm nghiệp - công nghiệp, trong đó: Ngành
kinh tế mũi nhọn là ngư nghiệp; đẩy mạnh nghề khai thác hải sản tuyến khơi,
chú trọng phát triển khai thác gần bờ truyền thống cùng với việc nuôi trồng
thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao”, trong chương trình phát triển kinh tế, Huyện
ủy xác định, nhiệm vụ sản xuất ngư nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu. Huyện ủy ra
Nghị quyết số 09-NQ/HU Về Chương trình phát triển kinh tế thuỷ sản 5 năm
(2006-2010) và định hướng đến 2015 và Nghị quyết số 10-NQ/HU Về một số
nhiệm vụ cấp bách trong quản lý tài nguyên và môi trường.

13


Huyện ủy Cô Tô chỉ rõ: Phát huy các lợi thế về địa lý, ưu thế về tiềm năng
thuỷ sản hiÖn có trên địa bàn huyện; tập trung đầu tư mở rộng quy mô và đẩy
mạnh tốc độ phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng ngành thủy sản thành ngành
kinh tế mũi nhọn của huyện, thành trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá của tỉnh
Quảng Ninh và khu vực phía Bắc VÞnh B¾c bé. Phát triển kinh tế thủy sản là
nhiệm vụ, trách nhiệm của tất cả các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể
quần chúng trong huyện; phát triển phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và
môi trường sinh thái; khuyến khích các thành phần kinh tế trong vµ ngoµi níc
đầu tư vào phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến xuất khẩu và dịch vụ hậu
cần nghề cá có sự hỗ trợ và quản lý thống nhất của Nhà nước
Sử dụng các nguồn vốn của tỉnh, của huyện hỗ trợ tập huấn kỹ thuật khai
thác, chế biến, nuôi trồng hải sản, tạo cho nhân dân phấn khởi, hăng hái sản
xuất.
Trong báo cáo số 85-BC/HU của Huyện ủy đã đề ra phương hướng,

nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế về nông, lâm, ngư nghiệp năm 2007:
Bước sang năm 2007, năm thứ hai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) cña huyÖn, huyện Cô Tô cũng như tỉnh
Quảng Ninh, cũng như cả nước có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó
khăn, thách thức khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới (WTO).
Trong điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật của Cô Tô còn nhiều khó khăn,
hạn chế, c¸c ngành kinh tế cha phát triển, tổng thu nhập còn thấp, đòi hỏi các
ngành, các cấp cần phải nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội năm 2007, tạo đà phát triển cho các năm tiếp theo.
Đảng bộ huyện đề ra chỉ tiêu chủ yếu năm 2007:
- Tổng sản lượng lương thực: 610 tấn.
- Tổng sản lượng thuỷ h¶i sản: 5.000 tấn.
14


- Thu ngân sách Nhà nước ®¹t trªn: 10% so với kế hoạch tỉnh giao.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): 11% đến 13%.
Cùng với việc xác định chỉ tiêu, Huyện ủy đề ra phương hướng, nhiệm vụ
cụ thể:
Nông nghiệp: N©ng cao diện tích canh tác của từng địa phương, bố trí hợp
lý các giống cây trồng, tổ chức chuyển giao kỹ thuật canh tác các loại giống có
năng suất cao cho nông dân sản xuất. Đảm bảo cung ứng đầy đủ vật tư nông
nghiệp cho bà con nông dân.
Nâng cao chất lượng giống vật nuôi, nhằm tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Tổ chức tốt công tác
phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc
vận chuyển lưu thông buôn bán gia súc, gia cầm khi dịch bệnh xảy ra.
Lâm nghiệp: Thực hiện tốt việc trồng, chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng
trên địa bàn từ nguồn vốn ngân sách huyện và dự án 661 năm 2007. Tăng cường

công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ
rừng, phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng; kiên quyết xử lý nghiêm khắc đối
với các trường hợp chặt phá rừng, các điểm chế biến gỗ không có nguồn gốc
trên địa bàn.
Ngư nghiệp: Từng bước nâng cấp phương tiện, trang thiết bị và kỹ thuật
đảm bảo khai thác dài ngày trên biển, nâng cao hiệu quả đánh bắt, giảm áp lực
khai thác ven bờ. Tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật khai thác, nuôi trồng hải sản
cho ngư dân, thông tin dự báo ngư trường cho ngư dân, chuyển đổi cơ cấu ngành
nghề phù hợp với ngư trường. Lấy nuôi biển là mũi nhọn của nghề nuôi, mà chủ
yếu là nuôi lồng theo công nghệ Na-uy. Khuyến khích ưu tiên các thành phần
kinh tế, các tổ chức, cá nhân phát triển nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao
như: Cá Song, cá Hồng, cá Giũ, Tôm hùm, Bào ngư, Cầu gai, Hải sâm, Ốc
hương.

15


Tăng cường công tác bảo vệ các nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là các rạn
San hô, có biện pháp xử lý nghiêm các đối tượng khai thác hải sản bằng các
nghề cấm, bảo vệ môi trường sinh thái vùng biển Cô Tô.
Với sự lãnh đạo và chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện
và sự phấn đấu nỗ lực cuả nhân dân trong huyện, năm 2007, Cô Tô đã đạt được
những thành tựu quan trọng về nông, lâm, ngư nghiệp:
Trong sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 238 ha.
Trong đó, lúa: 196 ha, năng suất bình quân: 3,2 tấn/ha, sản lượng đạt 575 tấn,
bằng 99,5% kế hoạch. Hoa màu: 42 ha, sản lượng khoảng: 125 tấn.
Huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương chủ động phòng
chống dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định. Tổng đàn trâu là
207 con, đạt 103,5% kế hoạch, bò: 809 con, đạt 89,9% kế hoạch, lợn: 2.160 con,
đạt 108% kế hoạch và gia cầm: 16.000 con.

Lâm nghiệp: Trong năm, huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nào. Uỷ
ban nhân dân tỉnh đã quyết định thành lập Hạt kiểm lâm Cô Tô. Hạt đi vào hoạt
động từ tháng 8-2007, đã tổ chức phối hợp cùng các lực lượng liên quan kiểm
tra, bắt giữ: 10 vụ vi phạm, tịch thu: 3,17 m 3 gỗ rừng trồng, xử phạt: 41,79 triệu
đồng nộp ngân sách.
Diện tích rừng được bảo vệ là: 686,9 ha, chăm sóc: 67,9 ha, gieo ươm: 10
vạn cây con (gồm phi lao và thông mã vĩ). Hưởng ứng tết trồng cây, toàn huyện
đã trồng được: 1 vạn cây phi lao phân tán.
Ngư nghiệp: Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản cả năm đạt khoảng: 5.350
tấn, bằng 107% kế hoạch. Trong đó, cá: 2.640 tấn, đạt 97,7% kế hoạch, tôm: 160
tấn, đạt 53% kế hoạch; mực: 465 tấn, đạt 116,2% kế hoạch; hải sản khác: 2085
tấn, đạt 139% kế hoạch.
Trong năm, huyện đã tạo điều kiện cho các hộ dân đầu tư mở rộng sản
xuất, mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhằm bảo vệ nguồn lợi và các loại
hải sản quý hiếm như: Bào ngư, Hải sâm, Cầu gai. Qua đánh giá cho thấy, việc
16


nuôi trồng trên các bãi triều đạt hiệu quả cao, ít dịch bệnh, sản phẩm dễ tiêu thụ.
Riêng mô hình nuôi cá theo công nghệ lồng Na-uy do bị thiệt hại sau bão nên
chưa khôi phục được lồng bè và chưa có giống thả nuôi. Nuôi cá nước ngọt chủ
yếu theo quy mô hộ gia đình, phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại chỗ, sản lượng thấp.
Lĩnh vực chế biến, chủ yếu là sứa, cá khô và nước mắm. Riêng chế biến
sứa, thời gian tuy ngắn nhưng đã giải quyết được việc làm và thu nhập cho
khoảng 500 lao động, doanh thu ước đạt trên 15 tỷ đồng. Sản lượng chế biến cá
khô đạt khoảng 60 tấn (doanh thu trên 900 triệu) và 10.300 lít nước mắm, đạt
103% kế hoạch.
Bước vào năm 2008, năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội III và kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010, bên cạnh những thuận lợi để phát
triển kinh tế, năm 2007, huyện Cô Tô còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách

thức: Thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả thị trường tiềm ẩn nhiều biến động...
Tình hính đó, đòi hỏi cấp uỷ, chính quyền các cấp phải tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo quyết liệt hơn, sâu sát hơn để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2008 nhằm không ngừng ổn định và nâng
cao đời sống cho nhân dân.
Huyện ủy đề ra các chỉ tiêu chủ yếu năm 2007:
- Tốc độ tăng trưởng GDP: 11% đến 12%.
- Tổng sản lượng thuỷ hải sản: 5.200 tấn.
- Sản lượng lương thực: 620 tấn.
- Tăng thu ngân sách: 10%.
Nông nghiệp: Tăng cường tu sửa hồ đập, kênh mương, tích cực tuyên
truyền vận động nhân dân đưa cây, con giống có năng suất cao vào sản xuất.
Đảm bảo đáp ứng đầy đủ các dịch vụ nông nghiệp cho nhân dân. Tích cực chủ
động phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trong toàn huyện.

17


Lâm nghiệp: Thực hiện tốt việc chăm sóc, bảo vệ rừng hiện có, tăng
cường tuyên truyền giáo dục ý thức trách nhiệm về phòng chống cháy rừng, xử
lý kiên quyết các trường hợp vi phạm luật bảo vệ rừng.
Ngư nghiệp: Chỉ đạo cải tiến phương tiện, trang thiết bị và kỹ thuật để
khai thác có hiệu quả, thực hiện tốt việc dự báo ngư trường cho ngư dân.
Đẩy mạnh mô hình giao mặt đất, mặt nước để nuôi trồng các loại hải sản
có giá trị kinh tế cao như: Hải sâm, Bào ngư... và nuôi cá lồng bè theo công
nghệ lồng Na-uy. Tăng cường công tác bảo vệ các nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ tài
nguyên môi trường.
Nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2008,
Đảng bộ huyện đã đề ra các chương trình, kế hoạch công tác sát với thực tế,
đồng thời chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền và nhân dân huyện đảo tập trung sản

xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Nhờ vậy, kinh tế của huyện đã đạt đuợc những kết
quả khả quan.
Nông nghiệp: Việc cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp được
duy trì nên tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 264 ha. Trong đó, lúa: 225 ha,
tăng 5 ha so với cùng kỳ. Năng suất bình quân cả năm đạt 32,4 tạ/ha, sản lượng
đạt 730 tấn, bằng 121,6% kế hoạch năm, tăng 17,1% so cùng kỳ. Các giống gieo
cấy chủ yếu: Khang dân 18, Mộc hương, Bao thai, Bắc ưu 903 và 025... Qua
theo dõi thì giống lúa Khang dân 18 và Mộc hương phù hợp với chất đất và thực
tế canh tác của địa phương.
Do công tác phòng chống dịch bệnh tốt nên huyện vẫn duy trì và phát
triển được đàn gia súc, gia cầm ở địa phương. Trong năm, không có dịch bệnh
xảy ra. Theo kết quả điều tra ngành chăn nuôi trên toàn huyện, đến 01-10-2008,
tổng số đàn gia súc, gia cầm hiện có: Đàn trâu: 170 con, đạt 87,1% so với cùng
kỳ; đàn bò: 337 con, đạt 50% so với cùng kỳ; đàn lợn 2150 con, tăng 9,1% so
với cùng kỳ; đàn dê: 108 con, đạt 86,4% so với cùng kỳ; đàn gia cầm: 14.200
con, tăng 5,1% so cùng kỳ.

18


Lâm nghiệp: Huyện tổ chức tốt việc chăm sóc rừng đợt 2 và bảo vệ rừng
theo kế hoạch năm 2008: Chăm sóc được 24 ha, trồng và bảo vệ hơn: 700 ha (cả
rừng trồng và rừng bảo vệ tự nhiên). Cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng
trong công tác kiểm tra, quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, một số nơi tình trạng
chặt phá rừng vẫn còn xảy ra. Qua kiểm tra, lực luợng kiểm lâm đã bắt giữ: 08
vụ vi phạm bảo vệ rừng, tịch thu 22 cây rù rì, xử phạt và bán lâm sản tịch thu
15.150.800 đồng.
Ngư nghiệp: Ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài và tác động của
dòng hải lưu lạnh từ phía Bắc, đã ảnh hưởng nhiều đến việc khai thác thuỷ sản.
Sản lượng khai thác trong năm đạt khoảng: 11.250 tấn, bằng 212,2% kế hoạch,

tăng 111,2% so với cùng kỳ. Trong đó, tôm: 120 tấn, mực: 400 tấn, cá: 2.630
tấn, hải sản khác: 8.100 tấn (sứa: 6.000 tấn).
Chế biến hải sản tập trung vào: nước mắm, cá khô và chế biến sứa thành
phẩm ước đạt trên: 80.000 thùng, trị giá trên 24 tỷ đồng.
Huyện tập trung phát triển mô hình nuôi hải sản quý hiếm như: Ốc hương,
Hải sâm, Bào ngư, đang được phát triển. Tập trung vào nuôi cá nước ngọt và
một số mô hình nuôi cá lồng bè. Do đợt rét đậm, rét hại kéo dài nên tình hình
nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại trên 60 triệu đồng (gồm cả cá nước mặn và cá
nước ngọt). Huyện hỗ trợ cho 1 hộ dân triển khai thực hiện mô hình nuôi Tu hài
thương phẩm, nguồn vốn từ sự nghiệp thuỷ sản (số lượng: 1,5 vạn con). Qua thí
nghiệm, Tu hài đang phát triển tốt, thành công sẽ tuyên truyền nhân rộng trên
địa bàn.
Công tác triển khai Quyết định 289 QĐ/TTg ngày 18-3-2008 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu
số, hỗ trợ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân đã được
tuyên truyền, hướng dẫn đến các xã, thị trấn. Đến cuối năm 2005, 100% tổng số
phương tiện tàu cá gắn máy vỏ gỗ công suất dưới 45CV đã hoàn thành việc đăng
ký, đăng kiểm (199 phương tiện). Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định hỗ trợ
đợt I cho 77 phương tiện, với số tiền là 652 triệu đồng; đợt II cho 188 phương
19


tiện với số tiền là: 3.443 triệu đồng. Cả 2 đợt gồm: 205 phương tiện, tổng số tiền
hỗ trợ là: 4.095 triệu đồng. Nhờ vậy, năm 2008 mặc dù bị rét đậm, rét hại nhưng
cơ bản một số chỉ tiêu quan trọng vẫn đạt và vượt.
Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được năm 2008, Đảng bộ huyện
Cô Tô đề ra phương hướng lãnh đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệp năm 2009
như sau: Làm tốt công tác chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, đảm bảo tốt các
dịch vụ nông nghiệp cho nhân dân, tăng cường công tác thú y, đảm bảo phòng
trừ dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng,

xử lý kiên quyết các trường hợp chặt, phá rừng trên địa bàn. Tăng cường công
tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, thực hiện tốt chủ trương cấm khai thác hải sản
bằng nghề lặn, chất nổ, xung điện. Một số chỉ tiêu lớn:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 12% đến 15%.
- Tổng sản lượng thuỷ, hải sản: 5.500 tấn.
- Sản lượng lương thực: 650 tấn.
Được sự quan tâm của Trung ương, của Tỉnh, Đảng bộ huyện tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2009.
Kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp đã đạt được những thành tích đáng kể.
Nông nghiệp: Đến 15-9-2009, diện tích gieo trồng đạt 262 ha, cơ cấu giống có
sự thay đổi theo hướng tích cực, tỷ lệ lúa lai chiếm 23%, mô hình lúa gieo thẳng
đạt tỷ lệ cao.
Do làm tốt công tác phòng chống nên dịch bệnh không xảy ra trên diện
rộng, đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt. Duy trì tốt công tác kiểm tra, kiểm soát,
buôn bán, vận chuyển lưu thông gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện.
Lâm nghiệp: Làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị cây
giống trồng rừng theo kế hoạch 2009. Tuyên truyền về luật bảo vệ và phát triển
rừng, các chủ trương, chính sách về giao đất, giao rừng đến các khu dân cư.

20


Về công tác quản lý bảo vệ rừng: Qua kiểm tra, huyện đã xử lý 10 vụ, tịch
thu 6,384 m3 gỗ, phạt vi phạm hành chính: 3.633.000 đồng, bán phát mại lâm
sản 4.768.000 đồng, với tổng số tiền là: 8.401.000đ. Kiểm tra xác minh khối
lượng nhựa thông đã khai thác là: 5.536 kg nhựa thô.
Ngư nghiệp: Sản lượng khai thác hải sản đạt khoảng: 7.200 tấn, bằng
127% kế hoạch năm. Trong đó, cá: 1.750 tấn, đạt 62,5% kế hoạch năm (bằng
90,6% so cùng kỳ); mực: 280 tấn, đạt 62,2% kế hoạch (bằng 87,5 % so cùng
kỳ); tôm: 105 tấn, đạt 52,5% kế hoạch (tăng 16,6% so cùng kỳ); hải sản khác:

5.065 tấn, đạt 230,2% kế hoạch (trong đó sứa: 3.500 tấn, bằng 58,3% so cùng
kỳ).
Sản lượng chế biến sứa đạt khoảng: 50.000 thùng thành phẩm, giá trị ước
đạt trên 10 tỷ đồng. Chế biến nước mắm 7.500 lít, doanh thu 150 triệu đồng.
Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản bãi triều, nuôi cá biển và Tu hài phát
triển tốt. Mô hình nuôi thí điểm Bào ngư tại xã Thanh Lân với số lượng: 5.000
con, phát triển tốt.
Từ thực tiễn 9 tháng đầu năm 2009, Đảng bộ huyện đề ra phương hướng
lãnh đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệp quý IV năm 2009 và năm 2010 như
sau:
Nông nghiệp: Tổ chức chăm sóc lúa vụ mùa, chú trọng phòng trừ dịch
bệnh cho cây đang trong thời kỳ phát triển. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc công
tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Tổ chức thực hiện tốt các mô
hình phát triển kinh tế như: Trồng cây ăn quả, trồng rau xanh an toàn để phục vụ
tốt nhu cầu tiêu dùng cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên đảo. Tăng cường
công tác khuyến ngư, khuyến nông, khuyến lâm, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa
học vào sản xuất đến các xã và thị trấn.
Lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng, phòng
chống cháy rừng, nhất là các tuyến rừng phòng hộ. Xử lý nghiêm các trường
hợp vi phạm. Để tránh phá rừng, đã cung cấp phục vụ kịp thời than làm chất đốt
cho các bếp ăn tập thể, đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân.
21


Ngư nghiệp: Chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường tuần tra, kiểm
soát, xử lý một cách kiên quyết đối với các trường hợp khai thác hải sản bằng
phương pháp lặn, đánh mìn, xung điện. Các trường hợp chở hàng, gian lậu trốn
thuế qua địa bàn huyện quản lý.
Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện ra Nghị quyết Số 20-NQ/HU (ngày 11-01-2010), Về

phương hướng, nhiệm vụ năm 2010 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm: Triển khai
thực hiện theo quy hoạch phát triển kinh tế ngành, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu
nghề để phù hợp với ngư trường. Tập trung phát triển các mô hình kinh tế khai
thác, nuôi trồng và chế biến hải sản. Tiếp tục tuyên truyền và tăng cường công
tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ các rạn San hô.
Khuyến khích động viên nhân dân tích cực sản xuất các loại rau, củ, vụ
Đông và Đông Xuân năm 2009-2010, đảm bảo cung cấp cho nhu cầu rau xanh
tại chỗ, đặc biệt phục vụ cho nhân dân đón tết Nguyên đán 2010.
Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân trong việc bảo vệ
tài nguyên rừng, công tác phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng. Đảng bộ
huyện xác định chỉ tiêu cụ thể:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ: 13,5 đến 14 %.
- Tổng sản lượng thuỷ sản: 4.845 tấn.
- Tổng sản lượng lương thực: 500 tấn.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Số 20-NQ/HU, Đảng bộ huyện lãnh đạo
các cấp ủy Đảng, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong huyện thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ phát triển nông, lâm, ngư nghiệp năm 2010.
Nông nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng 2 vụ đạt 263 ha (trong đó, diện
tích lúa: 225 ha, tăng 2 ha so với cùng kỳ). Năng suất lúa bình quân 2 vụ đạt
28,5 tạ/ha. Sản lượng lương thực đạt 642 tấn, bằng 128,4% kế hoạch năm, tăng
36,5% so với cùng kỳ. Tổng đàn trâu: 215 con, tăng 5,9% so với cùng kỳ; đàn

22


bò: 420 con, tăng 9% so với cùng kỳ; đàn lợn: 2.500 con, tăng 13,6% so với
cùng kỳ; đàn gia cầm: 16.200 con, tăng 3,2% so với cùng kỳ.
Lâm nghiệp: Trồng 275,5 ha rừng kế hoạch; trong đó, diện tích do Ban
quản lý dự án: 5 triệu ha, rừng trồng là 26,8 ha; diện tích do Ban Chỉ huy Quân
sự huyện trồng là: 248,8 ha; tỷ lệ che phủ của rừng đạt 47%. Trong năm, xảy ra

2 vụ cháy rừng với diện tích nhỏ. Cơ quan Kiểm lâm đã kiểm tra, xử lý 12 vụ vi
phạm, phạt hành chính, nộp ngân sách: 13 triệu đồng.
Ngư nghiệp:
Khai thác: Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản cả năm đạt 14.800 tấn, bằng
305% kế hoạch năm, tăng 74,1% so với cùng kỳ. Trong đó, cá đạt 2.270 tấn,
tôm đạt 85 tấn, mực đạt 325 tấn, hải sản khác ước đạt 12.120 tấn (trong đó sứa:
10.500 tấn).
Chế biến: Toàn huyện có 26 cơ sở thu mua, chế biến sứa; sản lượng sứa
thành phẩm đạt 150 nghìn thùng, giá trị đạt 45 tỷ đồng; sản lượng muối, đạt 125
tấn; chế biến nước mắm, đạt 10.000 lít, giá trị bằng 300 triệu đồng; cá khô: 30
tấn, đạt 1.050 triệu đồng.
Nuôi trồng: Uỷ ban nhân dân huyện đã quyết định cho các hộ gia đình
thuê 70.527 m2 đất có mặt nước và đất ngập mặn để đầu tư nuôi, trồng chế biến
thủy, hải sản. Sản lượng nuôi trồng thủy, hải sản bãi triều trong năm đạt khoảng
250 tấn, bằng 102% kế hoạch năm. Trong đó, nhuyễn thể đạt 230 tấn, cá nước
ngọt đạt 10 tấn, cá biển đạt 10 tấn.
Với sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu của cán bộ, chiến sỹ, nhân dân trong
toàn huyện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ huyện lại được sự quan tâm
của Trung ương và của tỉnh, tất cả các chỉ tiêu đều vượt mức kế hoạch, đặc biệt
là khai thác thủy sản, vượt 305% kế hoạch đề ra.
Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, bên
cạnh những thuận lợi cơ bản, Đảng bộ và nhân dân huyện Cô Tô càng phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Kinh tế thế giới đã rơi vào thời kỳ khủng
23


hoảng, suy thoái đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của kinh tế của đất
nước, của tỉnh nói chung cũng như của huyện Cô Tô nói riêng. Nhưng với sự nỗ
lực quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ và toàn thể nhân dân trong huyện đã đạt
được những kết quả rất đáng khích lệ, thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu quan

trọng, cơ bản mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đề ra.
Về sản xuất Ngư nghiệp
- Về khai thác: Do được đầu tư, hỗ trợ bằng các nguồn vốn của Nhà nước
và cá nhân để đóng mới phương tiện đánh bắt và mua sắm ngư cụ nên sản lượng
khai thác đã tăng dần theo từng năm, năm sau cao hơn năm trước. Nếu như năm
2006 mới đạt 5.500 tấn thì đến năm 2009 sản lượng khai thác đã tăng lên 8.550
tấn, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đề ra là: 204%.
Năm 2005, toàn huyện có 200 phương tiện với tổng công suất 5.884 CV, đến
năm 2010, có 502 phương tiện với tổng công suất 8.670 CV.
Trong 5 năm (2005-2010), Đảng bộ, chính quyền huyện đã chỉ đạo tập
trung khai thác nhiều loại hải sản, nhuyễn thể sẵn có trên địa bàn, tạo thêm công
ăn việc làm, tăng thêm thu nhập hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho ngân sách địa
phương.
- Về nuôi trồng: Huyện đã quan tâm, khuyến khích giao đất, mặt nước
nuôi trồng thuỷ sản cho các chủ hộ, chủ dự án đầu tư mới, các loại có giá trị
kinh tế cao như: Cá song, Bào ngư, Tu hài… và các loại nhuyễn thể khác, bước
đầu đã đạt kết quả tốt.
Bên cạnh việc khai thác và nuôi trồng, huyện đã làm tốt công tác quản lý
tài nguyên biển, có kế hoạch bảo vệ các rạn San hô để giữ gìn giá trị tài nguyên
biển, xử lý nghiêm túc các trường hợp khai thác, đánh bắt hải sản bằng chất nổ,
hoá chất, xung điện, nghề lặn không được Nhà nước cấp phép.
Về sản xuất Nông nghiệp
- Trồng trọt: Được xác định là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh
tế của huyện. Được sự quan tâm của Trung ương, của Tỉnh, huyện Cô Tô đã đầu
24


tư xây dựng mới và sửa chữa hệ thống hồ đập chứa nước, kiên cố hoá hệ thống
kênh mương, tưới tiêu, hỗ trợ cho nông dân về giống, vật tư nông nghiệp; tăng
cường công tác khuyến nông, tập huấn kỹ thuật gieo trồng, áp dụng kỹ thuật,

công nghệ vào sản xuất. Mặc dù tình hình sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt và sự
biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng nhưng
sản lượng lương thực trung bình hàng năm vẫn đạt so với chỉ tiêu Đại hội đã đề
ra.
- Chăn nuôi: Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm soát chặt
chẽ việc vận chuyển lưu thông gia súc, gia cầm từ địa phương khác vào địa bàn,
kiểm soát chặt chẽ các cơ sở giết mổ nên đã không có bệnh dịch lớn xảy ra. Đàn
gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện phát triển tốt. Đàn trâu đạt 98,9%; đàn bò
đạt 95,5%; đàn lợn đạt 104,28%; đàn gia cầm các loại tăng 7,5%.
Về Lâm nghiệp
Từ năm 2005 đến năm 2010, cơ bản không còn diện tích trồng mới.
Huyện tập trung vào việc chăm sóc, bảo vệ rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng đã được đánh giá là làm tương đối
tốt, số vụ cháy rừng xảy ra ít.
2. Lãnh đạo phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch.
Trước những diễn biến phức tạp của giá cả trong năm 2005, Ban Chấp
hành Đảng Bộ huyện đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp,
dịch vụ, thương mại, du lịch quý IVnăm 2005: Tăng cường công tác phối hợp
với các lực lượng trong công tác tuần tra, kiểm soát chống buôn lậu, gian lận
thương mại tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Tận thu, quản lý tốt các nguồn
thu trên địa bàn. Phấn đấu thu đạt chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân khóa
III, kỳ họp thứ 3 đã thông qua. Ưu tiên chi cho đầu tư phát triển và các vấn đề xã
hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện về phát triển công nghiệp, dịch vụ,
thương mại, du lịch quý IV năm 2005 đã thu được những thắng lợi hết sức quan
trọng.
25



×