Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

tieu luan phap luat trong quan ly cong

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.13 KB, 10 trang )

Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý hành chính nhà nước là tác động của chủ thể quản lý hành chính
nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực hành pháp.
Quản lý hành chính nhà nước là bộ phận của bộ máy nhà nước do nhà
nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cơ quan
hành chính nhà nước có hệ thống thống nhất từ trung ương tới địa phương đứng
đầu hệ thống đó là chính phủ. Cơ quan hành chính nhà nước phân danh nhà
nước tham gia vào quan hệ pháp luật để bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh,
nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo trực tiếp,
thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa –xã hội và hành chính –
chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành –
điều hành của nhà nước.
Đất nước ta đang tiến hành cuộc cải cách hành chính, trong đó có cải
cách bộ máy hành chính nhà nước, nhằm xây dựng một nền hành chính gọn
nhẹ, chính quy, hiện đại có hiệu quả quản lý cao. Mà quản lý hành chính nhà
nước là quản lý theo pháp luật của Nhà nước, đảm bảo sự phát triển ổn định,
liên tục, nhưng cũng tạo điều kiện để công tác quản lý nhà nước theo kịp với sự
thay đổi nhanh chóng của xã hội – đối tượng của quản lý trong nền kinh tế thị
trường. Do đó việc xây dựng pháp luật cũng phải được đổi mới sao cho các văn
bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa thực tiễn cao, có tầm bao quát sâu, rộng,
chặt chẽ. Hành chính còn mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh giữa
các chủ thể tham gia hoạt động nhà nước trong hoạt động của cơ quan quản lý
nhà nước trong việc xây dựng công tác nội bộ của cơ quan nhà nước.

Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4


1


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ
QUAN TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
1. Khái niệm:
Bộ máy quản lý Nhà nước theo hiến pháp 1980 cũng như hiến pháp 1992
là một trong bốn hệ thống cơ quan Nhà nước. Như vậy, đứng về mặt hệ thống,
các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta gồm:
- Cơ quan quyền lực;
- Cơ quan quản lý;
- Cơ quan kiểm sát;
- Cơ quan xét xử;
Trong đó, các cơ quan quản lý Nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ
quan quyền lực, được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến
địa phương và cơ sở đẻ trực tiếp quản lý, điều hành các mặt hoạt động của đời
sống xã hội. Như vậy, trong mối quan hệ và mối phân định với hoạt động của
cơ quan quyền lực, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử thì khái niệm quản lý Nhà
nước (hoạt động chấp hành và điều hành, hoạt động hành pháp). Vì vậy, chúng
là chủ thể cơ bản của luật hành chính.
2. Đặc điểm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Các cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan chủ thể chủ yếu của
quan hệ pháp luật hành chính. Là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà
nước, cơ quan quản lý Nhà nước có những đặc điểm chung của cơ Nhà nước đó
là:
a. Là một tổ chức (tập hợp những con người)

b. Có tính độc lập tương đối về tổ chức - cơ cấu:
Có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy
định trước hết bằng nhiệm vụ, chức năng thể hiện vai trò độc lập của nó, nhưng
đồng thời nó có những quan hệ đa dạng về tổ chức và hoạt động với cơ quan
khác trong hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy Nhà nước nói chung mà quan
hệ đó được quy định chính bởi vị trí của từng cơ quan trong hệ thống chung đó.
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

2


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

c. Có thẩm quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền,
nhiệm vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý mà
Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ chức năng Nhà nước.
Các quyền hạn đó - yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền, có hiệu lực
"ra bên ngoài" nghĩa là có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng ngoài phạm
vi cơ quan. Sở dĩ như vậy vì cơ quan nhà nước nhân dân Nhà nước thực hiện
quyền lực nhân dân vì lợi ích của Nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản để phân
biệt cơ quan Nhà nước với các cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước, vì
những cơ quan tổ chức đó không có thẩm quyền (ví dụ: cơ quan tổ chức xã hội,
tổ chức tư nhân…).
Thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước có những giới hạn về không
gian (lãnh thổ) về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động của nó.
Đó là những giới hạn phap lý vì được quy định trong luật pháp. Trong các yếu
tố của thẩm quyền cơ quan Nhà nước thì quyền quan trọng nhất là quyền ban
hành quyết định pháp luật. Mỗi cơ quan có hình thức và phương pháp hoạt

động riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng các biện pháp hoạt động
riêng do pháp luật quy định, kể cả việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà
nước. Quyền thực hiện các hình thức và phương pháp hoạt động đó cũng là yếu
tố quan trọng của thẩm quyền cơ quan Nhà nươc. Các cơ quan Nhà nước chỉ
hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó nó hoạt
động độc lập, chủ động và sáng tạo, thẩm quyền của cơ quan Nhà nước là nghĩa
vụ không phụ thuộc vào ý muốn, sự xét đoán riêng của bản thân cơ quan cũng
như của bất cứ người lãnh đạo nào. Ngoài các đặc điểm chung của cơ quan Nhà
nước, cơ quan quản lý Nhà nước có đặc điểm riêng, quyết định bởi chính bản
chất của hoạt động chấp hành và điều hành.
Thông qua các đặc điểm riêng này mà chúng ta phân biệt rõ cơ quan
quản lý Nhà nước với các cơ quan Nhà nước khác (cơ quan quyền lực, viện
kiểm sát, toà án). Các đặc điểm riêng cơ bản của địa vị pháp lý của cơ quan
quản lý Nhà nước là:
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

3


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

1. Nhìn tổng thể, bộ máy hành chính Nhà nước là bộ máy chấp hành của
các cơ quan quyền lực Nhà nước.
Các cơ quan đầu não của bộ máy hành chính do các cơ quan quyền lực
Nhà nước thành lập (Chính phủ, Bộ và các cơ quan, cơ quan ngang Bộ và các
cơ quan khác thuộc Chính phủ, UBND các cấp). Do đó, chúng trực thuộc, chịu
sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước tương ứng
và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan đó. Có những cơ quan quản

lý Nhà nước không do các cơ quan quyền lực Nhà nước trực tiếp lập ra mà do
các cơ quan quản lý cấp trên thành lập, nhưng về nguyên tắc cũng chịu sự giám
sát, lãnh đạo của các cơ quan quyền lực tương ứng.
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên thực hiện hoạt động chấp hành
và điều hành tức là hoạt động mang tính dưới luật - hoạt động tiến hành trên cơ
sở và để thi hành luật. Đó là hình thức chủ yếu để đưa các đạo luật và các văn
bản pháp luật khác … của các cơ quan quyền lực Nhà nước vào thực tiễn cuộc
sống.
3. Thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ giới hạn trong
phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, chủ yếu được quy định trong các
văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước hoặc các điều lệ, quy chế….
Những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự mà cơ quan quản lý Nhà
nước có thể tham gia tương tự như tất cả các chủ thể khác của pháp luật dân sự
không phải là yếu tố của thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước. Trong phạm
vi thẩm quyền của mình, của các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm
hoạt động thường xuyên hàng ngày một cách chủ động và sáng tạo để đáp ứng
nhu cầu diễn biến nhanh chóng, phức tạp và đa dạng của hoạt động quản lý.
4. Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau (quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo thành
một hệ thống thống nhất có trung tâm chỉ đạo là Chính phủ đảm bảo thực hiện
nhiệm vụ chấp hành và điều hành một cách mau lẹ, nhất quán và hiệu quả.
Nhưng hệ thống quản lý bộ máy rất phức tạp, nhiều về số lượng cơ quan ở tất
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

4


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh


cả các cấp từ trung ương đến cơ sở cũng như sô nhiều về số biên chế. Số lượng
cơ quan và biên chế này bằng gấp nhiều lần số lượng cơ quan và biên chế của
tất cả các cơ quan Nhà nước khác cộng lại. Hạt nhân của các cơ quan quản lý
Nhà nước là công chức.
5. Hoạt động chấp hành và điều hành của bộ máy quản lý hoàn toàn khác
với hoạt động kiểm sát và hoạt động xét xử của toà án. Tuy nhiên, chúng có
quan hệ chặt chẽ với nhau. Bộ máy quản lý, toà án viện kiểm sát là những hệ
thống độc lập với nhau, không có quan hệ trực thuộc. Nhưng hoạt động của các
cơ quan quản lý chịu sự giám sát của viện kiểm sát (trừ hoạt động của Chính
phủ) và toà án. Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm xem xét và trả
lời các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của viện kiểm sát và toà án trong thời
hạn do luật định. Ngược lại, các văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước là
một trong những căn cứ để toà án và viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm
sát và xét xử. Một số vấn đề tổ chức nội bộ của Toá án và Viện kiểm sát so
văieọt nam bản pháp luật của các cơ quan quản lý điều chỉnh (ví dụ: về chính
sách cán bộ, về quản lý cán bộ của toà án) Bộ máy quản lý được giao nhiệm vụ
quản lý các ngành và lĩnh vực quản lý hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội chủ yếu bao gồm rất nhiều các cơ quan, các tổ chức, xí nghiệp trực thuộc
và chịu sự lãnh đạo của nó. Toá án và viện kiểm sát nhân dân không có các đối
tượng quản lý này.
II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ VỚI VIỆC
BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT.
Như phần trên đã trình bày trong các yếu tố của thẩm quyền cơ quan Nhà
nước thì quan trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật. Đối với các
cơ quan quản lý Nhà nước thì việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm
thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. Những văn bản này đều có những
đặc điểm của văn bản Nhà nước nói chung, đặc biệt là tính chất pháp lý của nó
tuy nhiên là những văn bản hành chính Nhà nước bao giờ cũng là những văn
bản dưới luật được ban hành trên cơ sở để chấp hành Hiến pháp, Luật, Pháp
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4


5


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

lệnh và các Nghị quyết của các cơ quan quyền lực. Thực tiễn việc ra các văn
bản quy định pháp luật đã được quy định đầy đủ trong Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ sung 2002) của Quốc hội. Tuỳ vào
vị trí, tính chất pháp lý và hoạt động của từng cơ quan quản lý trong bộ máy
hành chính Nhà nước để ra các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau.
1. Chính phủ Theo hiến pháp 1992 - Điều 109 quy định:"Chính phủ là cơ
quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước
CHXHCNVN" Như vậy Hiến pháp 1992 đã khẳng định rằng về hoạt động
chính Nhà (hoạt động hành pháp) thì Chính phủ là cơ quan cao nhất của Nhà
nước ta, tức là cơ quan đứng đầu hệ thống hành pháp. Địa vị pháp lý của chính
phủ còn được thể hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, quốc
phòng an ninh và đối ngoại của Nhà nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà
nước từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành hiến pháp
và pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân. (Điều 109 khoản 2) Xuất phát từ địa vị pháp lý, từ vai trò nhiệm
vụ của Chính phủ"căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp
lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ
tịch nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết, Nghị định"(Điều 15. Luật ban hành
văieọt nam bản quy định phạm pháp luật). Các văn bản của Chính phủ có hiệu
lực trong phạm vi toàn quốc và là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của
cả hệ thống bộ máy quản lý là phương tiện chủ yếu đảm bảo việc thi hành các

nhiệm vụ, chức năng quản lý trên phạm vi cả nước. Chế độ Thủ tướng thể hiện
cụ thể và rõ nét nhất trong các quyền hạn cụ thể của Thủ tướng. Điều 114 Hiến pháp 1992 đã quy định cụ thể cho Thủ tướng một số quyền hạn rất quan
trọng mà trước đây thuộc quyền hạn của Hội đồng bộ trưởng hoặc của Hội
đồng nhân dân dân tỉnh. Đặc biệt thủ tướng chính phủ còn có thẩm quyền ban
hành quyết định và chỉ thị. (Điều 15 - Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
lý). Các văn bản của Thủ tướng chính phủ có hiệu lực trong toàn quốc trên cơ
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

6


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

sở văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và kiểm tra việc thi hành các
văn bản đó (Điều 115 - Hiến pháp 1992). Như vậy theo Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ sung năm 2002) thì hệ thống văn bản
pháp luật của Chính phủ đã đơn giản và khoa học hơn trước. Theo hiến pháp
mới tập thể Chính phủ và Thủ tướng chính phủ ban hành 4 loại văn bản (Nghị
định, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị) và chúng phân biệt rõ ràng với nhau về
tên gọi, trình tự ban hành. Điều đó chứng tỏ địa vị pháp lý của Chính phủ cũng
đã được thay đổi so với trước kia.
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước ở trung ương.
"Bộ, chính quyền ngang bộ là chính quyền của Chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm
vi cả nước" (Điều 22 Luật tổ chức Chính phủ, thông qua ngày 30/9/1992, Điều
1 Nghị quyết số 15 Công ty cổ phần vật liệu và xây lắp Nghĩa Hưng của Chính
phủ ngày 2/3/1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước
của bộ, cơ quan ngang bộ). Các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương (sau

đây gọi chung là "Bộ" thực hiện chức năng "quản lý Nhà nước của bộ và hoạt
động của các tổ chức kinh doanh sự nghiệp "Điều 2 Nghị định số 15/CP). Đặc
biệt, Hiến pháp 1992 quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng và các thành viên
khác của Chính phủ phải "bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật" (Điều 116) Như vậy vị trí và
tính chất pháp lý của Bộ được quy định khá rõ ràng trong các văn bản luật của
Nhà nước. Để có những quyền hạn cụ thể để quản lý được tốt, Luật ban hành
văn bản quy định pháp luật đã trao thẩm quyền cho Bộ trưởng, Thủ tướng
chính quyền ngang Bộ, Thủ tướng cơ quan thuộc Bộ, Thủ tướng cơ quan Chính
phủ"căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định, Chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, Thủ tướng cơ quan
thuộc Chính phủ ban hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư". Để thực hiện các
quyền hạn của mình ngoài việc ban hành văn bản thì việc đồng thời với nó là
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

7


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

Bộ trưởng và Thủ tướng các cơ quan quản lý ngành và lĩnh vực thuộc Chính
phủ phải kiểm tra việc thi hành các văn bản đó với tất cả các ngành, các địa
phương và cơ sở. Những Quyết định, Chỉ thị, Thông tư trái pháp luật của Bộ
trưởng và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ thì bị Thủ tướng đình chỉ
hoặc bãi bỏ.
3. Các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương.
Hiến pháp 1992 quy định "UBND do Hội đồng nhân dân bầu là chính

quyền chấp hành Hội đồng nhân dân, chính quyền hành chính Nhà nước ở địa
phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của các cơ
quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 123)"
UBND là cơ quan quản lý thẩm quyền chung đứng đầu bộ máy quản lý thuộc
đơn vị hành chính - lãnh thổ của mình. Như tiểu Chính phủ ở địa phương,
UBND thực hiện chức năng quản lý tổng thể theo tổng lãnh thổ đối với mọi
ngành, lĩnh vực trực thuộc địa phương mình, bảo đảm việc thi hành pháp luật,
văn bản của cấp trên và của Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa phương, giám
sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan cấp trên ở điạ phương trong phạm vi
những vấn đề thuộc quyền quản lý theo lãnh thổ, củng cố theo pháp chế
XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân,
của các cơ quan tổ chức. Để thực hiện nhiệm vụ, chức năng, các quyền chung
của mình, UBND được quyền ra Quyết định, Chỉ thị trong phạm vi thẩm quyền
và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó.
III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC
BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC.
Theo Hiến Pháp 1992 đã có nhiều điểm thay đổi, tiến bộ phù hợp với
công tác quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước. Song riêng vấn đề ban hành
các văn bản pháp lý thì còn nhiều bất cập, đó là:
Hiến Pháp 1992 đã bỏ qua nhiều khía cạnh quan trọng trong quan hệ
giữa văn bản của Chính phủ và Chủ tịch nước. Theo Điều 115 văn bản của Thủ
Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

8


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh


tướng Chính phủ vẫn phải phù hợp với văn bản của Chủ tịch nước, nhưng khi
nó không phù hợp thì lại không có quy định nào có thẩm quyền đình chỉ hoặc
bãi bỏ. Chủ tịch nước không có quyền này (Điều 113).
Mặt khác, tổng quan về hiệu lực pháp lý giữa văn bản Chính phủ và Thủ
tướng không rõ ràng. Đây cũng là mấu chốt quan trọng trong “bước chuyển”
sang nguyên tắc kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo và chế độ Thủ tướng đối với
Chính phủ trong Hiến pháp 1992.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung Ương thì Bộ, các cơ quan
chuyên môn của Bộ và các cơ quan khác trực thuộc Bộ đặt tại địa phương phải
chấp hành các quy định của UBND các cấp về vấn đề thuộc chức năng quản lý
về lãnh thổ như: an ninh, trật tự an toàn công cộng, bảo vệ môi trường đất đai,
nhưng trong thực tiễn quản lý vẫn còn nhiều mâu thuẫn giữa Bộ và UBND
phức tạp, khó giải quyết.
Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương thì việc ban hành văn bản
hợp pháp luật thì cả Hiến pháp 1992 và luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 1996 (sửa đổi bổ sung 2002) chưa quy định rõ ràng văn bản nào là của tập
thể UBND, văn bản nào là của Chủ tịch UBND.
Trên đây là những điểm hạn chế với việc ban hành và thực thi các văn
bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước – đây cũng chính là những kiến nghị
với các cơ quan quyền lực Nhà nước xem xét và quy định sao cho phù hợp với
từng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để các cơ quan quản lý xã hội tốt
hơn trong thời gian tới.

Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

9


Đề tài: Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN


GVHD: TS. Trần Thị Diệu Oanh

IV. KẾT LUẬN
Địa vị pháp lý của các cơ quan Bộ máy hành chính Nhà nước đó là tổng
hợp những quyền và nghĩa vụ trong từng lĩnh vực quản lý của mình. Địa vị
pháp lý rất quan trọng đối với từng cơ quan vì nó đã thể hiện chỗ đứng, vị tró,
quyền hạn đối với lĩnh vực mà mình điều chỉnh. Có những quyền và nghĩa vụ
cụ thể thì các cơ quan quản lý mới góp phần và đảm bảo cho xã hội được tốt
hơn.

Họ&tên: Phạm Hoàng Thúy Anh – HC20T4

10



×