Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.09 KB, 21 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận

dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm

Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học
môn Giáo dục công dân ở trường THCS

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Hoàng Thị Hải Vinh
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A

Hà Tĩnh, năm 2015

1


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất
lượng giáo dục THCS nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng bộ môn Giáo dục công dân nói chung, mảng kiến
thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển nhân cách, rèn giũa,
định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển
xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao của hoạt
động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực
(trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối với giáo viên dạy


môn Giáo dục công dân.
1.3. Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Giáo dục công dân trong nhà
trường THCS hiện nay còn nhiều hạn chế về tất cả các mặt từ nội dung, đến phương pháp
cũng như hình thức tổ chức. Giảng dạy môn Giáo dục công dân trong nhà trường phổ
thông những năm gần dây gặt hái được nhiều thành công. Tuy nhiên, phương pháp dạy
học ở nhiều nơi vẫn chủ yếu vẫn được diễn ra theo lối truyền thống, dạy chay học chay,
truyền thụ thụ động, một chiều, thầy giảng, cho ghi chép.
1.4. Phương pháp dạy học bằng tình huống là một phương pháp dạy học tích cực
với có nhiều ưu điểm nổi trội, nó giúp việc dạy học mang lại hiệu quả cao, làm tăng tính
thực tiễn của môn học, giúp học sinh dần hình thành năng lực giải quyết các vấn đề thực
tiễn, làm tăng hứng thú học tập của học sinh,… Giáo dục công dân là môn học có ý nghĩa
cao trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh. Việc áp dụng phương pháp
dạy học bằng tình huống vào giảng dạy môn GDCD là cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, bản thân tôi chọn: “Sử dụng phương pháp dạy
học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh qua dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường THCS ” làm tiểu luận khoa học
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến phương pháp dạy học bằng tình
huống tình huống và những đặc thù của môn Giáo dục công dân, đề tài đi sâu nghiên cứu
việc áp dụng phương pháp này trong dạy học mảng kiến thức pháp luật thuộc môn Giáo
dục công dân với mục đích góp phần hình thành và phát triển năng lực thực tiễn, thái độ,
hành vi đúng đắn cho học sinh.
3. ĐỐI TƯỢNG
Phương pháp dạy học tình huống trong môn Giáo dục công dân tại trường THCS
Hoa Liên - Huyện Nghi Xuân- Tỉnh Hà Tĩnh.

2


4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nếu áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống vào giảng dạy mảng kiến thức
pháp luật ở môn Giáo dục công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS Hoa Liên - Huyện
Nghi Xuân- Tỉnh Hà Tĩnh.
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống vào dạy
học môn Giáo dục công dân ở trường THCS Hoa Liên - Huyện Nghi Xuân- Tỉnh Hà
Tĩnh.
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THCS Hoa Liên - Huyện Nghi Xuân- Tỉnh Hà Tĩnh
.- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn giảng
dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra, xử
lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như tổng kết kinh nghiệm,
quan sát...
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về phương
pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các GV, sinh viên, học sinh.

8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, Tiểu luận kết cấu thành 02 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương II: Tiến trình thực hiện nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
I.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy
học môn GDCD ở trường Trung học cơ sở.
I.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
I.1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học
Trong các tác phẩm về lý luận dạy học, ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về
phương pháp dạy học như:
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp
thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới
mục đích dạy học .
Bất cứ phương pháp nào cũng là hệ thống những hành động có mục đích của giáo
viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm đảm bảo cho trò
lĩnh hội được nội dung trí dục.
Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò, trong quá
trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên cứu, mà kết quả là trò lĩnh
hội được nội dung trí dục.
Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương pháp dạy
học. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy rằng giữa dạy và học có
mối liên hệ mật thiết với nhau.

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, chúng là
hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác động
qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất này
phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương đối,
chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở lại đối
với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng lôgic
của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá) sự
học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó hữu cơ với
nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên chỉ chăm lo
việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai chức năng trên
đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy vừa giảng vừa
truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc tự học của trò. Vì

4


vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương pháp học trong tất cả
các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải tự
điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội dung
do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực chỉ đạo
sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra - đánh giá ).
Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của bài giảng của
thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong phương pháp
học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau,
bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học, và

đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền đạt và
chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối ưu phải là
sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc ba phép biện
chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.
Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong học.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp học
ứng với ba giai đoạn học tập.
Giai đoạn 1: Tiếp thu ban đầu các thông tin.
Trong giai đoạn này thầy giảng bài mới. Trò nghe, nhìn, hiểu, ghi chép và sơ bộ
nhớ những điều thầy giảng.
Giai đoạn 2: Xử lý thông tin khi tự học.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là sự tự học để xử lý thông tin, biến nó thành
học vấn riêng. Ở đây trò phải sử dụng toàn bộ các thao tác tư duy.
Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin để giải bài tập.
Đây là bước kết thúc của quá trình lĩnh hội một vấn đề. Nhiệm vụ của nó là vận
dụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận thức.
Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ đạo trong cả
ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá trình học sẽ đạt kết quả cao.
I.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống
* Quan niệm tình huống:
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn xung
đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án giải quyết
khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốt truyện,
nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứng một vấn

5



đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là những tình huống
thực hoặc mô phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình huống
về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư
duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích cực
đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến thức và
cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là: tình
huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức được
vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì hy vọng
có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là tình huống
đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và giải quyết vấn
đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ
cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và
giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức hành
động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:

Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết.
Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những lúng túng về
cách giả quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó thì những tri thức và kỹ
năng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải. Tất nhiên việc giải quyết vấn đề không đòi
hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh.

6


* Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà trong đó giáo
viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp mâu thuẫn khách quan của
bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả
năng giải quyết mâu thuẫn đó là bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là họ giành được
kiến thức và cả phương pháp giành kiến thức .
Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó cho các em
thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải quyết nó nhưng đồng thời
cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức cần thiết nhưng thiếu sót
này có thể khắc phục nhờ một số nỗ lực của nhận thức.
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh chưa biết cần
tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới.
Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên nhu
cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học sinh chấp nhận mâu
thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh. Từ
những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạt được)
học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.

Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những phương pháp
dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về lý
luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra được
những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không sát thực
tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình huống, hoặc
giải quyết sai.
I.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
I.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm,
dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình trạng
“học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp giảng

7


dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với quá trình
giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá trình
tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó giáo
viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì phương
pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương tác giữa
học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được đặt vào trong
một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ phải dùng hết

khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan điểm đó. Họ không
bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết một tình huống cụ thể
mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh đó, dạy học bằng tình
huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm cho nhau; học được những
ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm phong phú hơn vốn tri thức của
họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận
dụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống, học sinh có thể phải vận
dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của nhiều
môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúp
người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng bản thân chưa đủ
kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khả năng
phát sinh những tình huống mà người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao giờ.
Trong tình huống này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duy độc lập,
sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả năng người
học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức cho cả người học
lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học có thể rèn
luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình”.
Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công trong tương lai.
Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu điểm và hạn chế của bản
thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên khác trong quá trình
giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận
và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tình huống cũng giúp
người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách khúc chiết, mạch
lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách lôgic; hiểu biết thực tế sâu rộng, biết vận dụng
linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản biện, bảo vệ quan điểm

8



cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp nhận các ý kiến khác biệt,
biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm phong phú hơn vốn kiến thức
của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ
năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể đạt
được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của học
sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc phân tích
và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề khác nảy
sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có thể tự định hướng
học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của phần
lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học sinh là
người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên cứu và
học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học vì nó kích
thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu, tìm ra giải
pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình. Sau khi thảo
luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả lời những câu
hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng tình
huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời họ
cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên để làm
giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học sinh có tư
duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình huống, giáo
viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình huống và có
những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
I.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống còn
có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng tình
huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau tùy
thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn kiến thức xã hội và kinh nghiệm của
người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo luận về tình huống sẽ không hướng theo con đường
và dẫn đến một kết cục như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất là trong những

9


lớp học mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khác nhau, và giáo
viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái độ
làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên, hiện
nay có khá nhiều học sinh không quen với phương pháp học bằng tình huống, họ không
có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ lại, không hợp tác từ đó làm giảm hiệu quả của
phương pháp dạy học bằng tình huống”.
Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người
học”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định, giáo
viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống, logic cho học
sinh. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng tình huống, học sinh phải tự
mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin nên sẽ tốn thời gian hơn gấp nhiều lần so
với phương pháp học truyền thống. Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi giảng
viên phải là người tích cực, luôn đổi mới, cập nhật thông tin, kiến thức và kỹ năng mới.
Trong xã hội hiện đại, các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật thay đổi một
cách nhanh chóng nên “tuổi thọ” của một tình huống rất ngắn. Có khi giảng viên mới xây
dựng xong một tình huống, giảng dạy được một lần đã phải thay đổi cho phù hợp.
Có ý kiến cho rằng dạy học bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vì trong
khi người học phải làm việc, người dạy không có việc gì để làm. Đây là một ý kiến sai

lầm vì phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp hơn trong
giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức và khuyến
khích người học thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện… Đây thật sự là
những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng phương pháp này.
I.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng tình
huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết giảng
hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng bối cảnh
sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng các
ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ khoảng 4
- 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của giáo viên

10


nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và (2) kích thích
học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Các tình
huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm gợi mở kiến thức
bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này cần được giao trước
cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các tình huống không cần quá
khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu và ghi nhớ những khái niệm
khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất và
được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp dụng
các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực tiễn và
qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không những phải

nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị theo yêu cầu của
giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình huống, trong đó học sinh
là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh. Về nội dung, tình
huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít nhất ba vấn đề xuyên suốt
trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên
cũng ở mức độ cao nhất”.
Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống theo độ mở
của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây dựng các tình
huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà trong đó lời giải để
ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất tốt trong việc kích thích
khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lý các tình huống
thuộc loại này, vấn đề mấu chốt không phải là bản thân kết luận mà là cách thức để đi
đến kết luận đó. Ngược lại, tình huống đóng là các tình huống dẫn tới một kết quả cố
định. Học sinh vẫn có thể chủ động xử lý tình huống xong giáo viên sẽ định hướng cho
học sinh tới kiến thức chính thống. Loại tình huống này rất tốt để giáo viên bổ sung thêm
cho học sinh kiến thức nội dung.
I.1.3.2. Cách thức xây dựng một tình huống dạy học
Đối với giáo viên tình huống được xây dựng nên là đề giải quyết một vấn đề nào
đó và qua quá trình đó giúp học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, quy trình xây dựng bài
tập tình huống của giáo viên thường đi theo chiều ngược lại với quy trình giải quyết bài
tập tình huống của học sinh. Quy trình này có thể được mô tả bằng các bước sau:
Bước 1 - Xác định kiến thức cần truyền đạt.

11


Bước 2 - Hình thành vấn đề.
Bước 3 – Hình thành tiểu vấn đề.
Bước 4 – Xây dựng tình tiết sự kiện của tình huống.
“Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạt tới

học sinh. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giáo viên muốn học
sinh nắm bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể là một
nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vào thực
tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà thông
thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp thu. Việc
giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề nhỏ khác và
nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn đề và tiểu vấn
đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình huống hoàn chỉnh.
Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng tình tiết sự kiện. Thứ
nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã được giải quyết một cách
sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung kiến thức mà giáo viên
đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết của vụ việc đó rồi điều
chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ hai, nếu không tìm được
vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình huống giả định. Trong
trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân tích trên đây phải được
tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn GDCD
ở trường Trung học cơ sở Hoa Liên:
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát:
Hai xã Cổ Đạm, Xuân Liên là khu vực thuộc vùng bãi ngang của huyện Nghi
Xuân - Hà Tĩnh. Đây là nơi đời sống của người dân còn khó khăn, chật vật. một số nơi
còn tồn tại các tập quán, tư tưởng lạc hậu. Ỏ đây có vài thôn có theo tôn giáo (Thiên
Chúa Giáo). Vì thế tâm sinh lí HS nơi đây sẽ phức tạp hơn ở những nơi khác. Hơn nữa,
do cuộc sống khó khăn nên đời sống về tinh thần cũng chưa phong phú, việc tiếp cận
những thông tin mới còn chưa kịp thời, nhất là những thông tin về pháp luật.
I.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh
trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học cơ sở Hoa Liên:
Môn GDCD có vị trí hết sức quan trọng, nhưng trong thực tế môn GDCD chưa có

được vị trí xứng đáng như nó vốn có. Trong quan niệm của nhiều người coi môn GDCD

12


là môn phụ, ai dạy cũng được. Nên đã dẫn đến hiện tượng cho GV môn khác dạy kiêm
nhiệm điều đó làm ảnh hưỏng đến tâm lý của trò…Hơn nữa việc dạy cũng không có sự
đầu tư, chuẩn bị chu đáo mà chỉ mang tính cung cấp kiến thức đơn thuần, rao giảng lý
thuyết khô khan, chưa biết cách tạo ra sự hứng thú của người học vì thế càng làm cho HS
lơ là hơn với môn học. Do đó kết quả dạy và học không đựơc như mong muốn. GV dạy
chưa có đầu tư về chuyên môn, ít sáng tạo trong sử dụng các phương pháp dạy học:
Cụ thể:

1. PP thuyết trình
2. PP vấn đáp
3. PP trực quan
4. PP phân vai
5. PP hợp tác làm việc theo nhóm
6. PP dạy học bằng tình huống
7. Các phương pháp khác

Thường
xuyên
(%)
x
x

Mức độ vận dụng
Thỉnh
Không

thoảng
bao giờ
(%)
(%)

x
x
x
x
x

I.2.3. Nguyên nhân:
* Khách quan:
- Sự thiếu quan tâm và coi nhẹ môn học của học sinh, của phụ huynh học sinh và
của cả xã hội (Giáo dục công dân bị coi là một môn “phụ”).
- Học sinh chưa đầu tư công sức, chưa giành thời gian cho môn học Giáo dục công
dân.
- Kênh hình ở sách giáo khoa thì nghèo nàn, không thu hút học sinh.
- Thông tin, sự kiện, chuyện đọc ở sách giáo khoa thì quá cũ, không cập nhật.
- Sách tham khảo lại khan hiếm.
*Chủ quan:
Đa số giáo viên chưa đầu tư xứng đáng cho môn học như vẫn còn chú trọng truyền
thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, giảng giải kiến thức, ít phát huy tính
tích cực và phát triển tư duy.

13


Ở trường THCS giáo viên dạy GDCD chủ yếu là kiêm nhiệm, họ chủ yếu lo đầu
tư vào môn chính mình đảm nhận như Văn, Sử...nên ít đầu tư cho monn GDCD.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương I đã đi sâu phân tích các nội dung cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài
nghiên cứu như giải thích những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài. Đặc biệt, tác giả
đã trình bày làm nổi bật các nội dung liên quan đến PPDHBTH trong dạy học như khái
niệm, cấu trúc tiến trình thực hiện, ưu nhược điểm của phương pháp và khả năng vận
dụng vào giảng dạy môn Giáo dục công dân trong các nhà trường phổ thông hiện nay.
Chương II. VẬN DỤNG CÁC LOẠI TÌNH HUỐNG PHÙ HỢP ĐỂ GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS
II.1: Một số tình huông:
Như chương 1 đã trình bày có 3 dạnh tình huống cơ bản để giáo dục pháp luật cho học
sinh là: Tình huống đơn giản, Tình huống phức tạp, Tình huống đầy đủ. nhưng với
khuôn khổ bài tiểu luận đồng thời với đối tượng là học sinh THCS nên tôi chỉ xây dựng
một số tình huống của dạng 1: Tình huống đơn giản.
II.1.1. Khái niệm
II.1.1.1 Khái niệm tình huống:
Hiện nay, trong khoa học giáo dục có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tình
huống:
+ Tình huống là những câu chuyện thực tế với những thông điệp nhằm mục
đích giáo dục.
+ Tình huống là những thông tin trong đó có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức
(muốn biết mà chưa biết) không thể giải quyết chỉ bằng sự tái hiện.
+ Một tình huống tốt và hay không dừng lại ở sự mô tả chung chung. Đó là sự
sắp xếp thông tin để người đọc có cảm thấy mình đang phải đối mặt với mọi thứ như
chính tác giả. Trong khi đó, sự sắp xếp khéo léo sẽ gói ghém mọi thứ theo một trật tự.
Nó cho người đọc biết mọi thứ, kể cả biết trước kết cục. Vì thế, người đọc chẳng phải
động não bao nhiêu cả.
II.1.1.2. Khái niệm về tình huống đơn giản:
“Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng các ví dụ minh họa với tình tiết đơn
giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn
giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh

họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và (2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn
dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
II.2. Ví dụ:
Ví dụ 1:

14


Bài 18: QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
(GDCD8 - đây là một bài khó dạy nhất trong chương trình GDCD ở THCS)
+ Để khai thác nội dung quyền khiếu nại, tố cáo theo chuẩn kiến thức tôi đã xây dựng
những tình huống trên cơ sở những câu chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự.
- GV cho HS theo dõi đoạn phim có nội dung sau:
Bác Tam là người tàn tật nhưng phòng thuế của phường lại định mức đóng thuế cho
cửa hàng của bác bằng mức thuế của những người bình thường khác. Bác Bình khuyên
bác Tam làm đơn khiếu nại vì người tàn tật là đối tượng được xét miễn giảm thuế.
Hỏi: - Em hãy cho biết nội dung đoạn phim nói điều gì?
- Theo em, bác Bình khuyên bác Tam như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
- HS: trả lời cá nhân
GV kết luận: bác Bình khuyên bác Tam như vậy là đúng vì người khuyết tật được quyền
đề nghị xem xét miễn giảm thuế kinh doanh đối với mình.
Ví dụ 2:
Bài 15 “Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí”(GDCD 9)
Ví dụ: khi dạy bài “Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân”,
GV dù có kinh nghiệm đến đâu khi giúp HS hiểu rõ thế nào là một hành vi vi phạm
pháp luật cũng mất rất nhiều thời gian, nhưng với hệ thống bài tập tình huống sau đây
thì HS dễ dàng nhận biết:
Có chủ ý thực
hiện
Có Không

1/ Ông Ân xây nhà x
cao tầng không giấy
phép và đem đổ phế
thải xây dựng xuống
cống thoát nước.
Tình huống

2/ Lê cùng bạn
tham gia đua xe
máy, vượt đèn đỏ,
gây tai nạn giao
thông.
3/ A là bệnh nhân
tâm thần, khi lên
cơn đã đập phá

x

Lỗi

Hậu quả

Vi phạm PL


Xây nhà
trái
phép, đổ
phế thải
xuống

cống
thoát
nước
Đua xe,
vượt
đèn đỏ

Đập phá

15

Không

Tắc cống,
ngập nước,
ô
nhiễm
môi trường

x

Gây
tai
nạn, thiệt
hại
về
người và
của
Thiệt hại
nhiều tài

sản quý

x

x


nhiều tài sản quý
của bệnh viện.
4/ Thiếu tiền tiêu x
Cướp
Gây
tổn
x
xài, N cướp giật dây
tài sản
thất tài sản
chuyền, túi xách của
cho người
người đi dường.
khác
5/ Bà Tư vay tiền x
Vay tiền
Xâm phạm
x
của Chị Ba đã quá
dây dưa
tài sản của
hạn, dây dưa không
không

người
chịu trả nợ.
trả
khác.
6/ Anh Sa là công x
Chặt
Người đi
x
nhân công ti Môi
cây, tỉa
đường bị
trường đô thị. Khi
cành
thương
chặt cây, anh đã
không
không đặt biển báo
đặt biển
nguy hiểm theo quy
báo
định. Hậu quả là
một người đi đường
đã bị thương do
cành cây rơi xuống.
Sau khi giúp học sinh điền vào ô trống, GV có thể đặt câu hỏi:
- Vì sao các hành vi 1,2,4,5,6 là hành vi vi phạm pháp luật?
- Vì sao hành vi 3 không vi phạm pháp luật?
Sau khi HS trả lời: Vì các hành vi 1, 2, 4, 5, 6 là hành vi trái Pháp luật, có lỗi
và do người có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình thực hiện gây
hậu quả xấu cho xã hội. Hành vi 3 không vi phạm pháp luật mặc dầu hành vi của anh

A là có lỗi vì anh A mắc bệnh tâm thần và không cố ý, không ý thức được hành vi
của mình.
GV giảng giải: Người có khả năng nhận thức, điều khiển được việc làm của
mình, được tự do lựa chọn cách ứng xử và chịu trách nhiệm về hành vi của mình
được gọi là người có năng lực trách nhiệm pháp lí.
Năng lực trách nhiệm pháp lí gồm hai yếu tố :
+ Khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và độ tuổi của một người. Ví dụ:
Một em bé lên 5 tuổi nghịch lửa làm cháy gian bếp của nhà hàng xóm. Vì em bé mới
5 tuổi nên em bé chưa có năng lực trách nhiệm pháp lí vì vậy hành vi làm cháy gian
bếp của nhà hàng xóm là không vi phạm Pháp luật.
+ Độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí trong các lĩnh vực khác nhau được qui định
khác nhau.

16


Sau đó GV có thể bổ sung thêm tình huống sau để nhấn mạnh và khắc sâu kiến
thức cho các em: Khôi và Phương bàn nhau về việc lấy trộm xe đạp của một người
trong xóm. Quân theo dõi, nghe được câu chuyện này đã khẳng định Khôi và Phương
vi phạm Pháp luật và gọi điện cho công an đến bắt họ ngay lập tức. Em hãy cho biết ý
kiến của mình về trường hợp này?
Đáp án tình huống: Hành vi của Quân là sai vì Khôi và Phương không vi phạm
pháp luật vì chưa thực hiện hành vi lấy trộm.
GV nhấn mạnh: Hành vi có thể là một hành động cụ thể (ví dụ: đi ăn trộm)
hoặc không hành động (ví dụ: thấy người bị tai nạn nhưng không làm gì để cứu giúp).
Nếu chỉ là ý định, ý tưởng nào đó thì không thể bị coi là vi phạm pháp luật.
GV giảng giải thêm: Ý định, ý tưởng phạm tội trong suy nghĩ không phải là
hành vi vi phạm pháp luật, nhưng nếu đem ý định đó ra đe dọa người khác thì bị coi
là hành vi vi phạm pháp luật vì sự đe dọa là ý định được thể hiện bằng lời nói và hành
động được coi là hành vi đe dọa.

Ví dụ 3:
Bài 16: QUYỀN ĐƯỢC PHÁP LUẬT BẢO HỘ VỀ TÍNH MẠNG, THÂN THỂ,
SỨC KHỎE, DANH DỰ VÀ NHÂN PHẨM (Giáo dục công 6)
+ Để phân tích, đánh giá những tình huống liên quan đến quyền được bảo hộ về tính
mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân tôi đã xây dựng những
tình huống trên cơ sở những câu chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự.
- GV tổ chức thảo luận nhóm.
- GV chia lớp thành 6 nhóm, giao tình huống và giao cho mỗi nhóm thảo luận về một
tình huống sau 5 phút các nhóm cử đại diện trình bày.
- HS các nhóm tiến hành thảo luận và cử người trình bày
- HS các nhóm lắng nghe, nhận xét, bổ sung.
GV: nhận xét, bổ sung và kết luận sau khi mỗi trình bày.
Tình huống 1: Trên đường đi học, Lan bị một nhóm bạn trai lớn hơn trêu ghẹo và có
hành vi sàm sỡ, đụng chạm vào người.
Hỏi: Em có nhận xét gì về hành vi của nhóm bạn trai? Theo em, Lan nên ứng xử như
thế nào trong tình huống đó?
Trả lời: - Hành vi của nhóm bạn trai là không đúng, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm
của người khác.
- Theo em, Lan nên ứng xử: phản đối lại, báo cho nhà trường và cơ quan công an
về sự việc trên, hành vi của nhóm bạn trai đó phải bị phê bình, cảnh cáo.
Tình huống 2: Vì không thích Tân làm lớp trưởng nên một nhóm bạn nữ tung tin đồn,
bịa đặt, nói xấu Tân.

17


Hỏi: Theo em, hành vi của nhóm bạn nữ có vi phạm quyền được bảo hộ về danh dự,
nhân phẩm không? Vi phạm như thế nào? Bạn Tân nên làm gì trong tình huống đó?
Trả lời: - Hành vi của nhóm bạn nữ đã vi phạm quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự
và nhân phẩm. Nhóm bạn nữ đã tung tin đồn, bịa đặt, nói xấu Tân – hành vi đó là vu

khống người khác.
- Tân sẽ giải thích cho các bạn biết hành vi của các bạn như vậy là không tốt và
vi phạm pháp luật, nếu các bạn thấy mình không đủ năng lực làm lớp trưởng thì đề nghị
lớp bầu lại lớp trưởng đồng thời Tân báo sự việc với thầy cô giáo chủ nhiệm biết.
Tình huống 3: Trong lúc ăn sáng ở quán, cho là Trường “nhìn đểu” mình nên tan học,
Quân đã dùng dao đón đường đâm Trường làm Trường bị thương tổn hại 15% sức khỏe.
Hỏi: Theo em, hành vi của Quân đã vi phạm điều gì?
Trả lời: - Quân đã vi phạm pháp luật xâm hại bất hợp pháp đến sức khỏe của người khác
(sức khoẻ của Trường), Quân đã phạm tội cố ý gây thương tích (theo điều 104- tội cố ý
gây thương tích)
Tình huống 4: Nam và Sơn là 2 học sinh lớp 6 ngồi cạnh nhau. Một hôm Sơn bị mất một
cái máy tính vừa mới mua. Tìm mãi không thấy, Sơn đỗ tội cho Nam lấy cắp. Namvà
Sơn to tiếng, tức quá Nam đánh Sơn chảy máu mũi. Cô giáo kịp thời mời 2 bạn lên phòng
hội đồng kỉ luật.
Hỏi: Em hãy nhận xét cách ứng xử của 2 bạn? Nếu là Nam thì em sẽ xử lí như thế
nào? Nếu là bạn cùng lớp của Nam và Sơn thì em sẽ làm gì?
Trả lời: - Cả 2 bạn Sơn và Nam đều sai.
+ Sơn sai: Vì chưa có đủ chứng cứ đã khẳng định Nam ăn cắp, hành vi đó đã xâm hại
đến danh dự, nhân phẩm của Nam - vu khống người khác.
+ Nam sai: Vì không giải quyết khéo léo mà đánh Sơn chảy máu mũi, hành vi đó đã
xâm hại bất hợp pháp đến thân thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của Sơn.
Tình huống 5: Lợi dụng lòng tin và sự tín nhiệm của bạn hàng, Ân vay nợ 25.000.000
đồng để tiêu dùng phung phí và không còn khả năng trả nợ nên đã bỏ trốn. Không chờ
các cơ quan chức năng Nhà nước, Ba là một trong những chủ nợ đã tự đi tìm Ân bắt về
giao nộp cho cơ quan Công an.
Hỏi: Em hãy cho biết hành động của Ba đúng hay sai? Vì sao?
Trả lời: - Hành động của Ba sai. Vì: theo quy định tại điều 71 Hiến Pháp năm 1992
“Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê
chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”. Hành vi của Ba sẽ bị truy tố trước pháp luật theo
điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội bắt người trái pháp luật.

? Từ các tình huống trên, các em thấy đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của người khác chúng ta cần phải có thái độ xử sự như thế nào cho phù hợp với quy định
của pháp luật?

18


DK – Chúng ta cần phải tôn trọng với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của
người khác.
? Mỗi khi các quyền đó của mình bị xâm hại thì chúng ta phải làm gì?
DK - Chúng ta cần phải phản đối và tìm sự giúp đỡ của mọi người ngăn chặn những hành
vi xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (báo cho cha mẹ, thầy
cô, những người có trách nhiệm biết).
GV kết luận: Khi tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm bị xâm hại thì
cần biết phản đối và thông báo, tìm sự giúp đỡ của những người có trách nhiệm.
II.3. Kết quả:
* Đối với giáo viên:
Để gây được sự hứng thú, khơi dậy lòng say mê học tập môn học, thu hút của các
em vào hoạt động dạy - học trong môn Giáo dục công dân ở trường THCS. Trong năm
học 2012 - 2013 tôi đã sử dụng phương pháp dạy học bằng xây dựng những tình huống
nhất là dựa trên các câu chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự vào dạy - học các chủ đề
pháp luật môn Giáo dục công dân 8 đem lại kết quả cao. Trong hội thi giáo viên dạy giỏi
THCS huyện, Ban giám khảo cuộc thi đã đánh giá cao tiết dạy dự thi của tôi
(18,5điểm/20điểm) với bài: Quyền khiếu nại, tố cáo, đây là một bài dạy được xếp vào
loại khó dạy nhất trong chương trình Giáo dục công dân ở THCS. Trong năm học sau đó
tôi đã áp dụng kinh nghiệm trên vào dạy học các chủ đề pháp luật trong môn Giáo dục
công dân 6,8,9 và đã đạt kết quả tốt. Ban giám hiệu cùng một số giáo viên trong trường
đã dự một số giờ dạy của tôi và được đánh giá tốt.
* Đối với học sinh:


Kết quả khảo sát hứng thú học tập môn GDCD của học sinh khi được
giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp bằng tình huống.
Việc xây dựng tình huống nhất là những tình huống dựa trên các câu chuyện, vụ án có
thật, có tính thời sự ở địa phương và trong nước đưa vào bài dạy Giáo dục công dân là
thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và học sinh nhằm gây sự hứng thú trong học tập, tránh
nhàm chán, khô khan; khơi dậy lòng say mê, yêu thích môn học Giáo dục công dân của
học sinh.

Khảo sát hiệu quả giờ dạy:
Đầu năm học 2012 - 2013, khi bắt đầu nhận dạy tôi đã khảo sát HS khối 9 ở 2 lớp
9A và 9B, thu được kết quả như sau:
+) Trước khi áp dụng đề tài:
Lớp

Số lượng

Xếp loại giỏi
SL
%

Xếp loại khá
SL
%

19

Xếp loạiTB
SL
%


Xếp loại yếu
SL
%


9A
9B

39
40

1
2

2,6
5

4
5

10,2
12,5

29
27

74,4
67,5

5

6

12,8
15

Trong cả năm học, tôi đã tiến hành thực nghiệm đề tài ở các lớp tôi được phân
công giảng dạy, trong đó có 2 lớp 9A, 9B và kết quả học tập cuối năm học 2012 - 2013
như sau:
+) Sau khi áp dụng đề tài: :
Lớp

Số lượng

9A
9B

39
40

Xếp loại giỏi
SL
%
11
28,2
12
30

Xếp loại khá
SL
%

19
48,7
21
52,5

Xếp loạiTB
SL
%
9 23,1
7
17,5

Xếp loại yếu
SL
%
0
0
0
0

Qua kết quả trên, rõ ràng sau khi áp dụng đề tài cho thấy kết quả học tập cao hơn nhiều
so với trước đó .
KẾT LUẬN:
Phương pháp dạy học bằng tình huống là một phương pháp dạy học tích cực với
có nhiều ưu điểm nổi trội, nó giúp việc dạy học mang lại hiệu quả cao, làm tăng tính thực
tiễn của môn học, giúp học sinh dần hình thành năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn,
làm tăng hứng thú học tập của học sinh,… Giáo dục công dân là môn học có ý nghĩa cao
trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh. Việc áp dụng phương pháp dạy
học bằng tình huống vào giảng dạy môn GDCD là cấp thiết.
Khi sử dụng hương pháp dạy học bằng tình huống trong giảng dạy môn GDCD

trường THCS nói chung và phần pháp luật nói riêng đã đem lại nhiều hiểu quả, nhất là đã
giúp học sinh nắm rõ kiến thức bài học, những nội dung về pháp luật vốn khô khan, khó
nhớ đã trở nên mềm mại và dễ nhớ hơn. Từ đó giúp các em có được những thái độ đúng
đắn và có những hành vi việc làm đúng mực trong cuộc sống hằng ngày.
Và để sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống đựoc hiệu quả hơn, giáo
viên cần lư ý một số điểm sau:
1. Giáo viên phải hiểu rõ yêu cầu, cấu trúc cũng như cách sử dụng phương
pháp tình huống trong giờ dạy của mình.
2. GV phải dành nhiều thời gian chuẩn bị bài (biên soạn bài tập tình huống)
trước khi đến lớp.
3. Tình huống phải tập trung vào trọng tâm bài học, phải phù hợp với điều
kiện trường lớp.
4. GV kịp thời quan sát lắng nghe, phát hiện những lúng túng của HS để hỗ
trợ và điều chỉnh kịp thời những sai sót của các em.

20


5. Đặc biệt, GV phải nắm rõ ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa giáo dục của những
tình huống đối với từng cá nhân HS, đồng thời người GV cũng có tinh thần trách
nhiệm cao, nhiệt tình trong công tác và tâm huyết với nghề.

21



×