Lời nhà xuất bản
Chúng ta đang sống những năm cuối của thế kỷ XX, và ở vào thời điểm này, trong
sự nhìn lại bức tranh toàn cảnh gần một trăm năm qua, chúng tôi những ngời làm
sách, ý thức đợc đã có thể bớc đầu thực hiện việc lập bảng biên niên các sự kiện
chính yếu và tổng kê danh sách các nhân tài - những con ngời bằng lao động sáng
tạo đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, đất
nớc.
Nhân tài bao giờ cũng là sản phẩm của thời đại, nhng những cống hiến của họ lại
không hề bị thời gian lớt qua để rơi vào quên lãng. Họ, trong từng vị trí, có thể là
những nhà lãnh đạo kiệt xuất bằng những hoạt động sáng tạo đã góp phần tạo nên
những chuyển động quan trọng của đời sống dân tộc; Họ, có thể là các nhà hoạt
động khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, các văn nghệ sĩ trội bật lên với những phát
kiến, sáng tạo độc đáo có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành; Họ, trong tình yêu
bền chặt với đất nớc, bằng lao động nghiêm túc, nhiệt thành, đã có những tác động
sâu sắc đến đời sống vật chất và làm phong phú đời sống tinh thần chúng ta, và
nhiều ngời trong số họ không chỉ toả ảnh hởng trong phạm vi chuyên môn hẹp, và uy
tính không chỉ khuôn trong biên giới quốc gia. Họ là tinh hoa, là niềm tự hào dân
tộc, là tài sản quốc gia, là mẫu hình lý tởng gia nhập vào ký ức cộng đồng, mang sức
lôi cuốn, quyến rũ của cái đẹp đối với nhiều thế hệ.
Công việc su tầm, biên soạn quảng bá tấm gơng nhân tài là việc làm hết sức cần
thiết, tuy không mới mẻ, nhng thực sự là khó khăn khi phải thẩm định các giá trị ở
nhiều mặt của đời sống trải dài suốt một thế kỷ, và nhất là khi công việc lại gia
thêm ý nghĩa tổng kết và hàm ẩn tinh thần chuyển giao các giá trị sang một thời
đoạn mới để kế thừa. Chắc chắn chúng ta không thể quả quyết rằng chân dung các
nhân tài đợc thể hiện nh thế là đã chuẩn xác. Mặc dầu các tác giả là những cây bút
chuyên nghiệp đã hết sức cố gắng trong việc su tầm, tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp
với các nhân vật để phản ánh một cách sát đúng các chân dung, song chúng tôi cho
rằng các bài viết ở đây là mang đậm dấu ấn của ngời viết về cách cảm, cách nghĩ,
cách viết, nghĩa là mang đậm tính chủ quan về nhiều phơng diện. Và nh vậy, trong
trờng hợp nào đó không tạo đợc sự đồng cảm của bạn đọc nào đó cũng là điều có thể
xảy ra. Chúng tôi mong đợc coi đây là một dịp để mở rộng trao đổi trên tinh thần
hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa ngời đọc và ngời viết, cùng các nhân tài. Một
khó khăn nữa là sự lựa chọn các chân dung để đa vào tập sách. Chúng tôi không thể
đa ra tiêu chí cho việc lựa chọn,mà trong nhiều trờng hợp, chủ yếu dựa vào sự thừa
nhận công lao, cũng nh sự khẳng định giá trị các chân dung chủ yếu qua các kênh
thông tin. Mặt khác, cũng do nhiều khó khăn mà trình tự giới thiệu các chân dung
cũng mang tính ngẫu nhiên, phụ thuộc vào kết quả su tầm, biên soạn mà chúng tôi
nhận đợc, chứ không theo sự sắp đặt chủ quan nào.
Nhà xuất bản cố gắng tập hợp và lần lợt xuất bản các tập sách này với tên gọi
chung là "Những ngời lao động sáng tạo của thể kỷ".
Hy vọng rằng, các tập sách này ra đời sẽ có ích đối với bạn đọc.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách và mong đợc bạn đọc góp ý kiến.
Hà Nội, tháng 4 năm 1999
Nhà xuất bản lao động
Vũ Đình Cự
Chất xám của một chiến công
C
Đông Hoa
hiến dịch xuân-hè 1972 bắt đầu. Lần đầu tiên xe tăng hạng nặng của ta
cùng một lúc xuất kích ở Quảng Trị, Tây Nguyên và Nam Bộ. Pháo lớn dồn
dập nã mỗi ngày hàng vạn, hàng chục quả vào Dốc Miếu-Cồn Tiên, Đắc TôTân Cảnh, Lộc Ninh - An Lộc. Chiến lợc "Việt Nam hoá" có cơ bịp há sản! Ních Xơn
phát khùng...
Tháng 4/1972, ngài Tổng thống Mỹ đơng nhiệm ra lệnh ném bom miền Bắc Việt
Nam. Khác với lối đánh của Gôn-xơn, vị tổng thống Mỹ tiền nhiệm, là "leo thang"
từng nấc một, vừa "leo" vừa thăm dò d luận.
Nichxơn dùng lối đánh phủ đầu:
Ngày 10-4, máy bay B.52 giội bom trải thảm xuống thành phố Vinh. Ngày 16-4,
vào lúc 2 giờ 30 phút, B.52 đánh cảng Hải phòng; 9 giờ 30 phút hôm ấy, Mỹ đa
những tốp máy bay cờng kích chiến thuật đánh thẳng vào thủ đô Hà Nội.
Cha đầy một tháng sau, vào lúc 2 giờ ngày 9/5, nhân danh tổng t lệnh các lực lợng
quân sự Mỹ, tổng thống Nichxơn hạ lệnh thả thuỷ lôi phong toả tất cả các cửa biển,
cửa sông ở miền Bắc Việt Nam. Giôn xơn trớc kia cũng đ ã từng nghe trình bày một
kế hoạch phong toả toàn bộ nh thế, nhng không dám gật đầu (ngài tổng thống đó chỉ
dám cho thả một ít thuỷ lôi chiến thuật xuống một số luồng lạch và bến phà ở vùng
khu IV cũ nhằm hạn chế phần nào sự vận chuyển nội địa của ta). Nichxơn táo tợn
hơn. Ông ta không ngần ngại đem dùng cả thuỷ lôi chiến lợc MK52 để theo lời ông ta
- "bịt chặt" cảng Hải Phòng, "bóp nghẹt cổ họng" của đối phơng, chặn đứng sự viện
trợ quốc tế.
Hành động của Nichxơn không phải chỉ giản đơn là một ngọn..."đòn gió"! Ngay
trong những ngày đầu đầu tiên của cuộc phong toả, một số đồng bào ta đi khơi về
lộng đã chết vì thuỷ lôi Mỹ. Tắc đờng chở than từ Quảng Ninh về Hải Phòng và về
các tỉnh! Thiếu than tức là thiếu điện. Tàu ta đi mở luồng chở than, bị trúng thuỷ
lôi, vỡ tung buồng lái, vỏ tàu móp dúm dó. Trong khi đó, ở bến Cửa Ông, than chất
cao nh núi, không có tàu vào ăn. Đờng biển, đờng sông bị phong toả, đờng bộ bị đánh
phá suốt ngày đêm, nội thành Hải Phòng trở thành một hòn đảo chơ vơ rộng sáu
kilomét vuông. Mỗi ngày 30 vạn dân ở "hòn đảo" ấy cần 150 tấn gạo, nhng các tàu
chở gạo viện trợ không cập bờ đợc. Giữ lúc đó, 26 tàu nớc ngoài mắc kẹt tại cảng.
Hầu hết các thuỷ thủ đều lên máy bay trở về nớc, chỉ còn một số rất ít ở lại trông coi
tàu. Những con tàu viễn dơng đã từng vợt qua bao nhiêu biển thẳm và đại dơng, thế
mà nay đành chịu nằm im không cựa quậy bốt buộc dây, chẳng khác nào những
vách đá ngầm, mặc cho hàu hà đến bám. Sáng sáng, con thuyền nan tiêu từ (1) của ta
chở rau tơi, nớc ngọt ra tiếp tế cho mấy chiếc tàu neo lại ngoài xa, bên phao đèn...
Nichxơn những tởng đối phơng của ông ta, bị"bóp nghẹt cổ họng", sẽ kiệt sức dần
vì thiếu gạo, thiếu xăng, thiếu vũ khí....
*
*
*
Việc đầu tiên của tổ GK1(1) là đi tìm hiểu thực tế rà phá thuỷ lôi ở càng Hải
Phòng.
Khoảng 18 giờ hôm ấy, chiếc commăngca của Bộ Giao thông - Vận tải chạy vào
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội. Các anh trong tổ GK1 đã tụ tập sân nhà A.
Anh Kha, vụ trởng Vụ Kỹ thuật Bộ Giao thông - Vận tải một mực nhờng chỗ ngồi
phía trớc cho anh Cự.
- Nớc ta còn hiếm tiến sĩ khoa học, phải hết sức bảo vệ-Anh Kha vui vẻ nói. - Vụ
trởng nh mình có làm sao thì có thể đa vụ phó lên thay, còn tiến sĩ khoa học thì...
phải có công trình, luận án, chứ..."đề bạt" thế nào đợc!...
(1)(1) Không có vật liệu sắt từ có thể làm thuỷ lôi nổ.
(1)(1) Mật danh của nhóm nghiên cứu (G là Giao thông, K là Bách Khoa).
Tất nhiên, anh Cự không chịu. Anh đa ra một cái lý rất bất ngờ:
- Tôi chỉ có một thân một mình, còn anh Kha thì... phải nghĩ đến chị và các cháu
nữa chứ!...
Năm đó, anh Cự cha lập gia đình. Anh em trong Bộ môn Vật lý chất rắn thờng
nói đủa anh Cự" mê phòng thí nghiệm quá, nên chả còn thì giờ và tâm trí đâu mà
dành cho phái đẹp"!
Khoảng 11 giờ đêm, chiếc comăngca vào thành phố Cảng. Suốt một qu ãng dài
hàng chục kilomét, toàn là cảnh đổ nát. ở Bến Hộ, bến ô tô Hà Nội-Hải Phòng, quán
hàng cháy trụi. Khu Thợng Lý, một khu đông dân, bị trúng bom trải thảm tan
hoang.
Xe chạy thẳng đến số nhà 13 Võ Thị Sáu, cơ quan Cục Vận tải Đờng biển . Ngay
trong những năm chiến tranh phá hoại của Giônxơn, đây vẫn là nơi chăng đèn màu,
treo cờ tín hiệu, đón đa thuỷ thủ vào ra nhộn nhịp. Nhng hôm nay, cảnh tợng khác
hẳn. Ngôi nhà hai tầng sập một mảng. Giữa sân gạch vỡ, ngói vụn ngổn ngang.
- Cơ quan chúng tôi vừa bị bom lúc chiều-Anh cán bộ ra đón thanh minh. Nếu các
anh xuống sớm hơn một chút, thế nào chúng tôi cũng mời các anh sang nghỉ bên nhà
khách uỷ ban, chứ bây giờ thì...xin các anh nghỉ tạm...
Anh vừa nói vừa bấm đèn pin, dẫn khách qua phía bên đờng, vào khu nhà tập thể
của cơ quan, đi lên một căn phòng trống trải trên gác hai. Sàn nhà, giát giờng phủ
đầy bụi đất và mảnh kính vỡ.
- Hễ có báo động, xin các anh cứ ra hớng này! - Anh rọi một luồng sáng vào cái
cửa hẩm đá xây ở góc vờn. Mấy hôm trớc, anh Nghinh, kỹ s Cục chúng tôi, chạy ra
hầm chỉ muộn một phút, đã hi sinh...
- Cóp hải anh Lê Nghinh, kỹ s điện tàu thuỷ?
- Đúng đấy. Anh có quen anh Nghinh ? Anh Nghinh ngời khu V tập kết ấy mà. ..
Cạnh căn phòng có một chỗ ống dẫn vỡ, nớc ồng ộc trào ra. Anh Cự rút khăn mặt
dấp nớc, lau qua bụi đờng xa, rồi mở ba lô lấy ra tấm bạt mà anh đ ã cẩn thận mang
theo, trải lên giát giờng ngủ.
Đêm hôm ấy báo động mấy lần, nhng chẳng ai buồn dậy. Đi đờng mệt, ngủ li bì.
Sáng hôm sau, họp ngay trong ngôi nhà sập. Đến 8 giờ có báo động, các anh kéo
nhau xuống hầm họp tiếp. Gian hầm lót nệm mút ô tô nên ngồi khá êm. Cục trởng
Cục Vận tải Đờng biển là một ngời cao lớn, hồng hào, tuổi mới năm mới mà tóc đã
bạc trắng-mặc dù uống khá nhiều rợu hà thủ ô! Ty trởng Ty Bảo Đảm Hàng hải đã
nhiều năm sống trên đảo đèn Long Châu, vốn là cán bộ miền nam tập kết, nay chịu
trách nhiệm trông coi phao đèn, luồng lạch ven biển từ biên giới Việt Nam - Trung
đến vĩ tuyến 17.
Anh cục trởng cho biết: Trung ơng đã chỉ thị là phải mở đờng mà đi, dù đổ máu.
Các tàu ven biển của ta phải chở đợc than từ Hòn Gai, Cẩm Phả về các tỉnh, phải
vận chuyển đợc lơng thực, súng đạn vào cảng sông Gianh để ô tô tải chuyển tiếp vào
miền Nam. Bên Hải quan đã tổ chức các tiểu đoàn rà phá thuỷ lôi, nổi bật nhất là
tiểu đoàn 1 trung đoàn 71. Bên Giao thông cũng vừa thành lập các đội quét mìn Lê
Mã Lơng, Quyết Thắng.
- Tuy nhiên, - anh cục trởng nói tiếp, không rõ các anh bên Hải quân ra sao, chứ
chúng tôi thì cha nắm đợc nguyên lý hoạt động của các loại thuỷ lôi Nichxơn mới t
hả, việc rà phá cha có bài bản hẳn hoi, nên kết quả ít, thơng vong nhiều. Các anh
Bách khoa hiểu sâu khoa học, mong các anh giúp chúng tôi nghiên cứu chế tạo các
loại khí tài rà phá có hiệu quả hơn, đỡ tổn thất hơn.
Hớng nghiên cứu đã rõ.
Buổi chiều, các anh trong tổ GK1 ra thăm cảng. Phòng làm việc của giám đốc
cảng chỉ còn trơ cái nền. Những dãy nhà kho bị tốc mái, trơ khung sắt. Cầu tàu h hại
nặng, Xa xa, dờng nh để giết thì giờ, một thuỷ thủ ngời Âu đứng trên tầng boong cao
chót vót, bẻ vụn những miếng bánh quy tung lên cho hải âu. ở chiếc tàu bên cạnh,
mấy thuỷ thủ trông coi tàu cho nớc vào một số gian hầm trớc mũi, khiến phía mũi
tàu chìm hẳn xuống, còn phía lái thì nổi hẳn lên để tiện cạo hàu hà bám đầy chân
vịt. Loài sinh vật này a bám vào rồi phát triển rất nhanh trên những vật không di
động... ... Nửa tháng sau. Tổ GK1 trở lại Hải Phòng. Anh Thái Phong ở cảng đ ã "bắt
sống" đợc thuỷ lôi chiến lợc của Mỹ! Đó là một ngời to khoẻ, một "con gấu biển" đúng
thế, thời bình làm đội trởng đội trục vớt chuyên lo chuyên kích kéo tàu chìm, thời
chiến kiêm luôn cả việc rà quét thuỷ lôi. "Bắt sống" MK52 - Loại thuỷ lôi khổng lồ
đủ sức đánh chìm tàu mời vạn tấn-Trong khi cha nắm đợc cơ cấu, tính năng của nó,
là một việc làm cực kỳ nguy hiểm. Nhng nếu thiếu những con ngời cảm tử nh anh
Thái Phong, thì thử hỏi các nhà Khoa học và kỹ s ta làm sao có đợc một tên "tù
binh" cỡ bự nh thế để "hỏi cung"?
Đầu tháng 7 dơng lịch. Các anh trong tổ ngời cởi trần, ngời mặc may-ô, tiến hành
các thí nghiệm ở hai gian phòng khác nhau và liên hệ với nhau qua máy bộ đàm.
Máy dao động ký, máy đo từ trờng, dụng cụ đo dòng điện, máy phát âm tần, loa phát
âm thanh... đều đợc chở từ Hà Nội xuống. Quả thuỷ lôi, đ ã rút hết thuốc nổ, dựng
đứng giữa một gian phòng. Vây quanh nó là cuộn dây Hem hôn gồm những vòng dây
nằm sát sàn nhà và những vòng khác treo lơ lửng ngang tầm cao của quả thuỷ lôi.
"Đa lợn về chuồng! Đa lợn về chuồng"1-Câu nói vô nghĩa đó có nghĩa: Đa thiết bị
phá từ vào thí nghiệm! Để giữ bí mật, qua vô tuyến điện thoại, các anh p hải thông
báo cho nhau bằng một thứ tiếng kỳ khôi.
Ngòi nổ của quả thuỷ lôi đợc thay bằng một bóng đèn. Bao giờ các điều kiện gây
nổ đợc thoả mãn thì bóng đèn loé sáng. Từ trờng phải có cờng độ bao nhiêu? Cờng độ
nhỏ quá thì chẳng có tác động gì đến quả thuỷ lôi, nhng nếu lớn quá, thiết bị sẽ cồng
kềnh. Dạng xung phải nh thế nào? Âm thanh có tác động gì không? Tác nhân gây nổ
là gì? Phải kiểm tra sơ đồ nguyên lý hoạt động của quả thuỷ lôi mà tổ dự kiến có
đúng không, xem "bộ óc" của nó tiếp nhận các loại tín hiệu gì và khuếch đại ra sao.
Lõi cuộn cảm và lõi hình xuyến làm bằng vật liệu gì? Dùng điện xoay chiều có đợc
không?
Trên màn hiện sóng của máy dao động ký, hiện lên những đờng loằng ngoằng
màu lục chói. Anh Cự không lúc nào rời đợc cặp kính trắng - anh bị cận thị nặng.
Đứng cạnh anh Cự, tiến sĩ, Nguyễn Bính luôn tay phe phẩy cái quạt nan. Những
chấm sáng nhảy lên nhảy xuống loá cả mắt...
Tại sao ngay sau khi ra lệnh thả thuỷ lôi phong toả vùng biển nớc ta. Nichxơn lại
tuyên bố rằng, trong vòng 72 tiếng đồng hồ, các tàu nớc ngoài vẫn "có thể an toàn rời
khỏi các bến cảng Bắc Việt Nam" vì thuỷ lôi cha hoạt động ? Tại sao có những đoạn
luồng tàu ta đã chạy qua chạy lại nhiều lần mà vẫn không sao cả, thế rồi bỗng một
hôm tàu bị nổ tung buồng lái? Tai sao có những chỗ tàu phá lôi rà đi quét lại, từ
ngày này qua ngày khác, chẳng thấy nổ niếc gì, nhng khi vừa dắt tàu chở hàng lớt qua
là bị nổ ngay?...
Để có thể trả lời bao nhiêu câu "tại sao" đó, cần phải "hỏi cung" kỹ hơn cái tên "tù
binh... không biết nói" kia! Anh Cự cố thuyết phục anh Thái Phong vui lòng cho tổ
GK1 đa "thằng" MK52-mà anh đã phải gần nh đánh đổi cả tính mạng của mình mới
"bắt sống" đợc _ về Hà Nội. Chả là vì chỉ ở thu đô mới có nhiều phòng thí nghiệm
hiện đại.
***
Vũ Đình Cự thuộc thế hệ những nhà khoa học hoàn toàn đợc đào tạo dới mái
trờng cách mạng.
Ngày khai trờng năm 1945, cậu bé Cự mới vào học lớp đồng ấu. Nền giáo dục thực
dân cha kịp in dấu vết vào tâm hồn trắng trong của cậu. Kháng chiến toàn quốc
bùng nổ, cậu bé theo gia đình rời làng quê ở Thái Bình đi tản c và học lên lớp dự
bị(tơng đơng lớp hai hiện nay).
Hà Nội đợc giải phóng. Từ vùng căn cứ kháng chiến, các Giáo s, giảng viên đại
học của ta trở về thủ đô. Ngành y có các Giáo s Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Trần Hũ
Tớc, Đặng Văn Ngữ.. Ngành văn -sử có Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Đào Duy
Anh, Trần Văn Giàu. Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Nhị... Ngành toán -lý có Tạ
Quang Bửu, Nguỵ Nh Kon Tum, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Thúc Hào....
Cũng vào năm ấy, ngời đoàn viên thanh niên cứu quốc tròn 17 tuổi Vũ Đình Cự
vào học Trờng Đại học S phạm Hà Nội. ở đây, anh có những ngời bạn mới; Nguyễn
Văn Hiệu, Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Đạo, Đặng Ngọc Thanh, Phan Huy Lê, Hà
Văn Tấn, Trần Quốc Vợng, Nguyễn Đình Chú, Hà Minh Đức, v. v.. Cả một thế hệ
các nhà khoa học tự nhiên và xã hội đang đợc đào tạo để rồi sẽ nhanh chóng trởng
thành, tiếp bớc thế hệ "bác Bửu, bác Tùng, bác Mai...".
Năm 1956, Vũ Đình Cự tốt nghiệp đại học vào loại xuất sắc và trở thành cán bộ
giảng cạy Khoa Toán - Lý, Trờng Đại học Bách khoa Hà Nội, Anh nhận thấy trong
mấy năm ngắn ngủi học đại học, anh chỉ mới kịp lớt qua các kiến thức, chẳng khác
nào "nhai gạo sống" cho đỡ đói lòng. Ra đời, nếu không chịu khó nghiền ngẫm lại và
đào sâu thêm, thì rồi chẳng bao lâu mớ hiểu biết ít ỏi và hời hợt của mình sẽ rơi
rụng hết.
Căn phòng của anh rộng khoảng mời mét vuông ở cạnh cầu thang nhà A trong
khu Bách khoa. Trong phòng kê một tấm bảng lớn và một giá sách bên chiếc bàn
con. Cuốn sách, cây bút, viên phấn- đó là những ngời bạn của anh. Kê ra, anh còn có
một "ngời bạn" khác nữa: phòng thí nghiệm. Ngày chủ nhật, anh cũng xin phép nhà
trờng ở lại cùng với "ngời bạn" này. "Nếu nh nhìn lên căn gác nhỏ đầu cầu thang nhà
A mà không thấy ánh thì tức là anh Cự đang ở phòng thí nghiệm". Bạn bè anh Cự
thờng mách mỏ mấy cô gái trẻ muốn tìm gặp anh Cự nh vậy đấy!
Anh đọc rất nhiều, lần mò tìm hớng nghiên cứu cho cả cuộc đời khoa học của
mình. Lúc bấy giờ Giáo s Tạ Quang Bửu là hiệu trởng trờng anh. Hết sức trân trọng
những tài năng trẻ. Giáo s gợi ý cho Vũ Đình Cự đi vào một ngành vật lý có nhiều
triển vọng ứng dụng: ngành vật lý chất rắn. Chọn đợc hớng đi, anh cảm thấy đỡ lạc
lối giữa khu rừng sách.
Năm 1965, tại giảng đờng Trờng Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva (trờng Đại
học mang tên nhà bác học Nga vĩ đại M.Lômônôxốp), nghiên cứu sinh Việt Nam Vũ
Đình Cự bảo vệ một cách xuất sắc luận án phó tiến sĩ khoa học toán-lý (1) trớc hội
đồng bác học.
Đây là trờng Đại học tổng hợp lớn nhất Liên xô và cũng là lớn bậc nhất thế giới.
Đợc bảo vệ luận án ở đây là niềm vinh dự lớn, đồng thời là sự thử thách gay go đối
với nghiên cứu sinh, bởi vì hội đồng bác học của trờng gồm nhiều con ngời cự phách
đã từng đợc tặng Giải thởng Lênin, Giải thởng Nôben. Những bậc thầy đó rất "khó
tính", đòi hỏi rất cao, rất nghiêm ngặt, không có thói quen châm chớc cho bất cứ lỗi
lầm, thiếu sót nào trong khoa học.
ấy vậy mà hôm ấy các phản biện cũng nh các thành viên khác của hội đồng bác
(1)(1). Học vị này *** gọi là tiến sĩ.
học đều ngợi khen bản luận án của Vũ Đình Cự, đều nhất trí đề nghị với Đại sứ
quán Việt Nam tại Liên Xô cho phép anh Cự đợc ở lại Liên Xô thêm một thời gian
nữa để phát triển công trình nghiên cứu của anh thành luận án tiến sĩ khoa học.
Sang giai đoạn viết luận án tiến sĩ khoa học ngời nghiên cứu phải tự lập hoàn
toàn, không còn có giáo s hớng dẫn, gợi ý và kiểm tra từng khâu nh trớc nữa. Phải
tự mình mở đờng cho mình đi giữa miền đất lạ. Phải độc lập vạch ra hớng tìm tòi về
lý t huyết và tiến hành các thí nghiệm chứng minh ngày càng mới, càng phức tạp.
Có những thí nghiệm đòi hỏi phải có những thiết bị cha hề có trong các phòng thí
nghiệm hiện đại.
Anh Cự phải tự mình xuống các nhà máy, nêu ra yêu cầu và đặt họ chế tạo theo
mẫu thiết kế mới mẻ và đơn chiếc. Lại còn phải dự các xêmina về vật lý, toán học,
các buổi tiếp xúc với các nhà bác học lớn...
Trong những ngày say mê tuyệt đẹp ấy- say mê vơn tới đỉnh cao vời vợi của trí
tuệ con ngời - anh thanh niên Việt Nam cha đầy 30 tuổi ấy đ ã liên tiếp công bố trên
các tạp chí vật lý quốc tế những công trình nghiên cứu của mình.
Tháng 3/1967, chỉ 15 tháng sau khi bảo vệ luận án phó tiến sĩ, Vũ Đình Cự bảo vệ
một cách thành công luận án tiến sĩ khoa học.
"Với niềm tự hào, Trờng Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva chúng ta tặng học
vị tiến sĩ khoa học toán - lý cho ngời Việt Nam đầu tiên. Nh vậy là chúng ta đã thực
hiện lời hứa với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khi các đồng chí đến thăm trờng:
đào tạo cho Việt Nam những nhà khoa học có trình độ cao. Chúng ta nhờ Tiến sĩ Vũ
Đình Cự báo cáo lên đồng chí Thủ tớng Phạm Văn Đồng kính mến rằng chúng ta đã
và sẽ thực hiện lời hứa của mình "
Đó là lời phát biểu của vị Giáo s đại diện nhà trờng tại buổi bảo vệ luận án.
Luận án tiến sĩ cũng nh những công trình nghiên cứu khác của Vũ Đình Cự có
tiếng cả ở phơng Tây, đợc trích dẫn trong nhiều cuốn sách, bài báo khoa học ở Mỹ,
Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, v.v... Một tạp chí vật lý có uy tín đ ã công bố
công trình thực nghiệm của Mắcccôsi và Tran Cheng nhan đề Sử dụng lý thuyết
màng mỏng từ tính của Vu Đinh Ky chính là tên anh Cự đợc phiên âm từ tiếng Nga
sang tiếng Anh). Tại Hội nghị quốc tế về màng mỏng năm 1970 ở Tiệp Khắc, đoàn
đại biểu Mỹ đã phân phát một cuốn sách giới thiệu các kết quả ứng dụng "lý thuyết
Vu Đinh Ky" vào việc sáng chế các linh kiện mới của máy tính điện tử. Chẳng bao
lâu sau đó, một tập thể các nhà khoa học Pháp đ ã thông báo về công trình nghiên
cứu phát tiển và ứng dụng "lý thuyết của Tiến sĩ khoa học Vu Dinh Ky - Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà " để làm các linh kiện nhớ trong máy tính.
Các công trình của nhà vật lý Việt Nam cũng đợc chú ý ở châu á. Giáo s In Cheng
ở Trờng Đại học Tổng hợp Hồng Kông, trong một bài đăng trên tạp chí Vật lý chất
rắn, đã nhắc đến phát minh của Vũ Đình Cự.
Những ai có dịp tiếp xúc với anh Cự đều cảm thấy đó là một con ngời hiền dịu, nói
năng nhỏ nhẹ, cử chỉ khoan thai. ít ai ngừ rằng nhà vật lý có tiếng nói thờng ngày
không vang xa ấy, lại có một tiếng nói khoa học vọng đến tận những chân trời...
*
*
*
Hoá ra "bộ óc cơ-điện" của MK52 có hộp quy định số giờ hoặc số ngày thuỷ lôi cha
hoạt động. ở những quả thuỷ lôi thả đợt đầu, vào lúc 7 giờ 27 phút ngày 9-5-1972,
Nichxơn cho vặn đúng nấc ghi ba ngày, nhằm khuyến khích các tàu nớc ngoài rời
khỏi các cảng biển của ta trong 72 giờ đồng hồ. ở những quả thuỷ lôi thả về sau, bọn
Mỹ vặn nhiều nấc khác nhau, khiến cho quả này hoạt động sớm, quả kia hoạt động
muộn-có thể hàng tháng sau mới hoạt động - vừa đỡ tiêu hao nặng lợng, vừa gây bất
ngờ cho ta.
Bộ óc MK52 còn có hộp quy đinh số lần tàu đối phơng đi qua, muốn đánh chiếc
tàu thứ bao nhiêu thì vặn để ở nấc đó. Có thể 31 chiếc tàu qua rồi mà chẳng thấy
làm sao, đối phơng tởng lần thuỷ lôi đã bị quết sạch, chiếc tàu thứ 32 bỗng bị nổ
tung!
Sau khi đã có những hiểu biết sơ bộ về đối tợng nghiên cứu, tìm hiểu những kinh
nghiệm rà phát thuỷ lôi của Hải quan và của ngành vận tải đờng biển- Vũ Đình Cự
đề nghị các tổ viên và trợ lý chuẩn bị ý kiến để thảo luận hết sức thẳng thắn. Chính
là qua tranh luận mà chân lý sáng tỏ dần. Các giả thuyết gần nhau hơn. Các phán
đoán khớp hơn với kinh nghiệm thực tế.
Anh Cự trình bày giả thuyết hợp lý đã đợc tập th ể nhất trí, rồi gợi ý cho các nhóm
chuyên đề nên giải quyết dứt điểm những vấn đề gì và cách làm những thí nghiệm
khảo sát ra sao. Về phần mình, anh phải xác định các thông số cho bài toán lý
thuyết. Cái khó ở đây là tìm đợc mẫu cho bài toán và từ đó rút ra phơng trình đủ
chính xác.
Giữa lúc tổ GK1 đang tìm cách "trị" thuỷ lôi chiến lợc MK52 thì các chiến trờng
nêu ra thêm một yêu cầu mới: phải có ngay biện pháp chống các mô đen mới nhất
của thuỷ lôi chiến thuật MK42. Địch chỉ thả MK52 dọc các luồng hàng hải quốc tế
(nh luồng Nam Triệu) và chỉ có những tàu trọng tải lớn tạo ra một sự biến đổi từ
trờng đủ mạnh thì quả thuỷ lôi mới nổ. Các tàu ven biển của ta thờng bị MK42 đe
doạ. Loại thuỷ lôi này có độ nhạy cao hơn, đợc thả dọc các tuyến đờng ven biển,
trong sông (nh tuyến đờng chở than từ Hòn Gai về Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội).
MK42 cũng đợc thả trên đờng bộ, đờng sắt, lúc đó nó thờng đợc gọi là ' bom từ
trờng".
Thế là phạm vi nghiên cứu đợc mở rộng: vừa tiếp tục đi sâu vào thuỷ lôi chiến lợc,
vừa bắt đầu khảo sát thuỷ lôi chiến thuật. Và, trong gian phòng chật chội của tổ,
bên cạnh quả Mk52 dạo nọ, nay có thêm quả MK42 môđen 3 "sống hoàn toàn".
Anh Cự đa "bộ óc" quả MK42 cho kỹ s vô tuyến điện Đào Đức Thành, trợ lý khoa
học:
- Để "bắt sống" đợc một "thằng địch" lành lặn nh thế này, anh em ta thờng phải
hy sinh xơng máu. Mẫu tổ ta có là mẫu duy nhất của ngành đờng biển, ta phải làm
sao khai thác thác nó mà không làm hỏng.
Anh Thành cầm cái đầu quả thuỷ lôi, ngắm nghĩa. Chả biết bọn Mỹ có gài hạt nổ
ở chỗ nào không. Các linh kiện đợc gắn với nhau bằng nhựa êpôxi thành một cục rắn
nh đá để chống ẩm, chống gỉ, không chịu hoà tan trong một hoá chất nào. Làm thế
nào tháo rời các linh kiện bé xíu ấy, riêng ra từng cái một, mà không làm hỏng một
linh kiện nào? Chỉ sau khi làm đợc nh vậy, mới có thể vẽ sơ đồ từng mảnh, rồi tổng
hợp thành sơ đồ kết cấu của "bộ óc" quả thuỷ lôi. Cái cục chỉ bé bằng hộp sữa bột ấy,
thế mà chứa hơn 100 linh kiện bán dẫn, sử dụng hiệu ứng của mảng mỏng từ tính
và nhiều sơ đồ lôgíc.
Bây giờ đến việc phán đoán nguyên lý hoạt động của "bộ óc" ấy. Có những lúc
tởng chừng không sao đoán nổi ý đồ của kẻ địch! Suy nghĩ, lại suy nghĩ, tranh luân,
lại tranh luận, cuối cùng mới đạt đến một giả thuyết hợp lý. Công việc tiếp theo là:
lắp ráp lại và cho "bộ óc" kia hoạt động trở lại để kiểm tra xem giả thuyết của tổ là
đúng hay sai...
Khi viết luận án tiến sĩ khoa học toán lý , anh Cự đ ã chọn đề tài về những tính
chất vật lý của màng mỏng từ tính. Luận án của anh đ ã đợc giới thiệu khoa học
phơng Tây ứng dụng vào việc sáng chế các linh kiện mới của máy tính điện tử. Bộ óc
của quả thuỷ lôi MK42 - mô đen 3 chính là một loại máy điện tử. Trong bộ óc đó
cũng có màng mỏng từ tính. Tất nhiên, anh Cự dễ dàng giải thích nguyên lý hoạt
động của màng mỏng này. Lời chỉ dẫn của anh rất bổ ích cho nhóm chuyên đề mạch
điện tử.
Đợc sự giúp đỡ của các trợ lý, Anh Bùi Minh Tiêu đã thiết lập đợc sơ đồ chức năng
của vũ khí địch, tìm ra dạng tín hiệu tác động vào nó. Những kết quả này đợc các
anh trong nhóm chuyên đề kỹ thuật tự động sử dụng để thiết kế thiết bị phá nổ.
Tổ GK1 cũng đã làm một loạt thí nghiệm để xác định các tín hiệu bất lợi đối với
quả thuỷ lôi, gây nhiễu, làm cho nó không hoạt động bình thờng. Từ đó, có thể thiết
kế thiết bị gây nhiễu.
Trong những ngày tổ GK1 tranh luận sôi nổi để thiết lập sơ đồ chức năng, tìm ra
nguyên lý hoạt động của các loại thuỷ lôi chiến lợc và chiến thuật của Mỹ, Giáo s Tạ
Quang Bửu nhiều lần đến dự các buổi họp của tổ. Nhà khoa học cao tuổi ấy ngồi
xuống sàn nhà, viết và vẽ lên mặt sàn những điều mình đang suy nghĩ, nêu lên
những giả thuyết, những điều nghi vấn. Giáo s xem kỹ những băng ghi từ trờng và
phán đoán. Với tầm hiểu biết rộng về toán học và vật lý, những ý kiến của Giáo s
thờng có tác dụng gợi mở.
*
*
*
Phải tạo ra từ trờng hệt từ trờng do con tàu thật tạo ra thì quả thuỷ lôi mới nổ.
Vậy cờng độ của từ trờng ấy phải là bao nhiêu? Dạng, tần số của tín hiệu phải ra
sao? Quả thuỷ lôi nằm ở các độ sâu khác nhau, độ nghiên của nó cũng không giống
nhau. Vậy chỗ đặt thiết bị phá lôi ở trên thuyền, trên đất nên nh thế nào cho an
toàn? Số vòng của cuộn dây phải là bao nhiêu? Góc quay? Tóm lại, phải giải bài toán
tổng hợp để xác định các thông số cần thiết cho việc thiết kế và chế tạo thiết bị.
áp dụng công thức của Viện sĩ Lép Lanđao, nhà vật lý Xô viết đợc tặng Giải thởng
Lênin và Giải thởng Nôben-Vũ Đình Cự viết Bài toán xác định từ trờng của một
cuộn dây điện tròn và bẹt. Tiến sĩ Nguyễn Bính nhận tìm đáp án cho bài toán này.
Anh liên hệ với Trung tâm Tính toán nhờ giải hộ. Tuy đang bận giải những bài toán
pháo binh, các anh, các chị ở Trung tâm vẫn nhận lập trình và, khoảng một tuần
sau, thì cho kết quả. Đáng tiếc là do tính chất đặc biệt của bài toán, đáng lẽ cần
2.400 điểm tính (mỗi điểm 6 thông số), thì máy chỉ cho 400 điểm. Dùng phơng pháp
kém chính xác hơn thì trên máy lại không có chơng trình mẫu.
- Dạo còn ở Liên Xô, tôi đã gặp một bài toán na ná nh bài này. - Anh Bính nói với
anh Cự- Nếu để các anh ở Trung tâm Tính toán làm hộ cho ta thì cũng xong thôi,
nhng tôi nghĩ ta không nên làm phiền các anh ấy khi mà ta có thể tự mình lập trình.
Anh Cự đồng ý.
Mỗi nghề có những yêu cầu nghề nghiệp riêng. Nghề lập trình cho máy tính điện
tử đòi hỏi phải có đức tính cẩn thận đến chi li, chính xác đến tột độ. Trong cái công
việc này, quả là "sai một li, đi nghìn dậm". Dạo sơ tán, anh Bính ở trong một gia
đình nông dân tại làng Bầu, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, Anh muốn tạm lánh xa Hà
Nội, trở về nơi yên tĩnh ấy. Một cái bàn, một ấm chè rõ đặc, mặc quần cộc, may ô
thoải mái, anh cặm cụi suốt năm ngày. Lúc nào căng quá thì bớc ra đầu hồi, giội
mấy gàu nớc giếng thơi.
Anh Bính chọn phơng pháp giải gần đúng (đúng đến con số thứ t sâu dấu phẩy)
bởi vì, thực ra, không cần đến độ chính xác cao hơn. Cái chính là làm sao máy tính
cho đủ 2.400 điểm. Vì, nếu cho có 400 điểm ghi, ở những ô còn trống, ngời chiến sĩ
phá lôi không biết xử trí ra sao.
Chọn đợc phơng pháp giải rồi, phải viết chơng trình tính, xác định các bớc giải.
Anh làm thật kỹ, một lần là đúng, không phải làm đi làm lại.
Chơng trình đã lập xong gồm 256 lệnh, đòi hỏi máy tính phải 2.400 lần đánh máy
kết quả, mỗi lần 6 thông số.
Trở về Hà Nội, anh đến ngay Trung tâm Tính toán (lúc bấy giờ làm việc dới tầng
hầm một toà nhà kiên cố ở 39 Trần Hng Đạo). Chiếc máy tính điện tử Minxk-22
chạy cả ba ca mà vẫn không thoả mãn đợc yêu cầu tính toán của khách hàng. Anh
Bính tự mình đục lỗ. Toàn bộ chơng trình 256 lệnh phải đợc thể hiện bằng những
băng lỗ chính xác - thứ ngôn ngữ mà thế hệ máy tính lúc đó hiểu đợc.
Cứ mời giây một lần máy tính cho ra kết quả và cái máy chữ của máy tính lại nện
"tạch, tạch, tạch". Máy bắt đầu tính từ lúc 11 giờ đêm, đến khoảng 2 giờ rỡi sáng,
anh Bính đã nhận đợc mấy thúng giấy đánh máy các kết quả. - Có lẽ ta nên dừng lại
ở kết quả trung gian, gửi nó vào một bằng từ trong máy, hôm sau lấy ra, cho chạy
tiếp. Mới giải đợc nửa bải toán mà máy đã phải chạy liền 3 giờ 30 phút!
- Vâng, tuỳ các anh.
Anh Bính tán thành y kiến của các anh ở Trung tâm Tính toán. Trong mấy năm
viết luận án tiến sĩ ở Liên Xô, anh Bính đ ã từng giải những bài toán lớn trên máy
tính. Kinh nghiệm cho biết: thà chậm còn hơn sai.
Từ trong gian phòng có máy điều hoà nhiệt độ bớc ra phố, anh cảm thấy sao mà
bức bối. Đêm tháng 7, trời nóng nh nung. Đờng phố vắng ngắt. Thỉnh thoảng mới
thấy một vài ngời rảo bớc ra ga đi tàu sớm. Trong không gian yên tĩnh vẳng lại tiếng
rù rù của động cơ ô tô. Các đoàn xe quân sự phủ kín bạt vừa sang phà Bác Cổ, nổi
đuôi nhau qua đờng Trần Hng Đạo chạy về phơng nam. Anh Bính nhớ lại những
ngày sống trong quân ngũ.
Dạo đó Bính đang dự "rèn cán, chỉnh quân" sửa soạn lên Điện Biên Phủ. Một
hôm, anh chính trị viên tiểu đoàn mời lên bảo:
- Sáng mai, đồng c hí lên gặp chính uỷ trung đoàn, nhận công tác mới.
Sáng hôm sau, Bính đợc gặp chính uỷ.
- Chúng mình rất muốn giữ cậu ở lại trung đoàn nhng quân khu điều động, biết
làm thế nào? Cậu hãy chuẩn bị tinh thần để đi công tác xa năm năm, mời năm cơ
đấy? Thế nào anh bạn trẻ?
- Báo cáo thủ trởng, tôi xin sẵn sàng.
Trả lời nh vậy, nhng Bính vẫn băn khoăn. "Đi đâu nhỉ" Sang Lào hay vào miền
Nam? Năm, mời năm cơ mà?"
- Ngày mai, đồng chí lên quân khu nhận lệnh Chính uỷ nói tiếp, giọng trang
nghiêm một cách khó hiểu.
Chỉ đến lúc cầm đủ giấy tờ trong tay. Bính mới biết là mình sắp đợc đi học kỹ
thuật ở nớc bạn...
.. Đêm hôm sau, máy tính điện tử giải tiếp bài toán. Lần này kéo dài gần bốn
tiếng đồng hồ. Nh vậy, tổng cộng cả hai lần, máy tính chạy 7 giờ 30 phút, làm
khoảng ...170 triệu phép tính! Nếu dùng máy tính cơ điện, con ngời phải làm tối mát
trong hàng chục năm ròng rã mà cha chắc đ ã xong, và nếu có xong, thì cũng không có
cách gì kiểm tra kết quả thu đợc đúng hay sai!
Anh Bính thở phào nhẹ nhõm khi thấy lần này máy tính cho đủ 2.400 điểm. Đem
so với kết quả lần trớc (do các anh, các chị ở Trung tâm Tính toán trao cho), bốn con
số sau dấu phẩy đều trùng nhau. Nh vậy là số điểm đạt đợc đủ, mức độ chính xác
bảo đảm...
Đến đây coi nh đ ã xây dựng đợc cơ sở lý luận để thiết kế, chế tạo các thiết bị phá
thuỷ lôi từ tính và bom từ trờng.
*
*
*
Trong những ngày miệt mài nghiên cứu ấy, các anh trong tổ không còn để ý đến
giờ giấc, ngày đêm.
Có hôm anh Cự ngồi một mình trong phòng thí nghiệm, chẳng hay trời đ ã tối từ
lúc nào rồi, đến khi chợt nhớ ra thì đã 20 giờ. Bình thờng, vào giờ đó, nhà ăn đ ã đóng
cửa, nhng sao hôm nay trong phòng đèn vẫn sáng, cửa vẫn để ngỏ. Anh Cự lặng lẽ
bớc vào, đến bên quầy nhận cơm.
- Ông đi chơi đâu mà bây giờ mới về? Ông có biết bây giờ là mấy giờ rồi không ?
Nếu cứ theo đúng nội quy, tôi đã khoá cửa về rồi. Chỉ vì những anh chàng "tự do" nh
ông mà đến giờ này, tôi còn phải đứng lại đây!
Chị nhân viên nhà ăn mắng té tát, nói một thôi một hồi không thèm ngoảnh lại
nhìn ngời vừa đến. Đợi cho chị nguôi nguôi cơn giận, anh Cự mới lên tiếng nhẹ
nhàng:
- Chả phải tôi đi chơi đâu, chị ạ. Nhng, dù sao tôi cũng đ ã làm phiền chị. Lần sau,
nếu hết giờ, chị không phải để phần cơm tôi.
Lúc bấy giờ chị nhân viên mới nhạn ra ngời nói chuyện với mình.
- Anh Cự đấy à? Khổ quá, mắt tôi nó gà mờ làm sao ấy! Cứ tởng là ai cơ! Tôi nóng
quá. Thôi anh đừng để bụng. Anh hiểu cho: hết giờ làm việc ở đây, tôi còn bao nhiêu
việc ở nhà. Bao giờ cới vợ, anh sẽ thông cảm hơn với nỗi vất vả của phụ nữ chúng
tôi...
Bị "mắng" nh vậy, nhng chỉ mơi hôm sau, anh Cự lại quên! lần này, anh tạt ra
phố, ăn qua quýt mấy cái bánh xốp, rồi trở về phòng thí nghiệm làm việc đến khuya.
Hầu hết cán bộ, sinh viên đều đã đi sơ tán. Lúc này trong trờng chỉ còn lại những
ai mang giấy phép đặc biệt. Đó là những chiến sĩ tự vệ trong các khẩu đội pháo
phòng không hay súng máy cao xạ trực chiến trên sân thợng và những tổ viên tổ
GK1 làm việc dới tầng hầm. Giảng đờng phủ bụi. Khu nhà nội trú bốn tầng đóng
cửa im ỉm. Bên sông Tô Lịch, trong các dẫy nhà một tầng vách toóc-si, lác đác đôi
phòng sáng điện: vài ba ngời nào đó từ nơi sơ tán đảo về.
- Cậu giúp mình tý nhé!
- Việc gì thế, anh?
- Lắp ngay một bộ tự động để sáng mai kịp giao cho bên giao thông.
Không cần nói gì thêm. Không cần hỏi gì thêm. Cả bộ môn ai cũng biết anh
Nguyễn Trọng Quế đang làm gì trong tổ GK1, không biết đợc cụ thể, nhng mang
máng đoán ra. Và ai cũng sẵn sàng góp một tay.
- Công việc của các anh đạt kết quả tốt lắm nhỉ?
Anh Quế mỉm cời. Những câu thăm dò xa xôi nh vậy của bạn bè khích lệ anh.
Đêm hôm ấy, theo đề nghị của anh Quế. Anh bạn cùng bộ môn - vừa từ nơi sơ tán
đảo vể trờng - loay hoay lắp bộ tự động. Chỉ sau khi bàn giao xong thiết bị đó, anh
mới mợn xe đạp nháo nhào phóng đi gặp ngời yêu.
Lúc bấy giờ, trên các tàu phá lôi, việc đóng -ngắt cầu giao của máy phóng từ đòi
hỏi phải đếm lần rất rắc rối. Chu kỳ đóng-ngắt phải thật đều. Ban đêm, không nhìn
đợc đồng hồ, ngời thuỷ thủ cứ phải đếm "một , hai, ba, bốn, năm... một, hai, ba , bốn,
năm..."để đóng hoặc ngắt. Thần kinh căng thẳng nh sợi dây đàn: vừa lo thuỷ lôi nổ
bất cứ lúc nào, vừa phải không ngớt "tụng niệm" lầm rầm. Tổ GK1 đ ã chế tạo bộ tự
động, giải phóng cho anh em khỏi cái công việc đơn điệu chán ngán ấy. Ngồi trên tàu
lôi, anh em vẫn có thể nhấm nháp miếng mực nớng, xem báo, đánh cờ. Về sau, rà
phá cả ban ngày.
- Mình rất cần một cái rơle có độ nhậy cao, nhng chẳng biết tìm đâu! - Anh Cự
than thở với anh Quế.
Đúng là Cục Vận tải Đờng biển có hứa đáp ứng mọi yêu cầu của tổ GK1. Cục
không thiếu ngoại tệ, khi cần, có thể cho tàu chạy thẳng sang Hồng Công mua, nhng
anh Cự không muốn phiền.
Nghe anh Cự nói, anh Quế đi thẳng về nhà, lục tìm, mang đến cái rơ-le phân cực
có độ nhậy 150 micrôămpe.
- Tốt quá! Cậu moi đâu ra cái của hiếm này?
- Dạo ở Liên Xô, tôi đã có ý tìm, để dành.
Trong những giây phút ấy, vì lợi ích chung, chẳng ai giữ "tủ" giêng của mình.
Có những quả bom quái ác rơi đúng vào trụ cầu, nhà kho, b ãi xe. Chuyển dịch một
thứ gì bằng sắt ở những nơi đó đều làm thay đổi từ trờng, bom sẽ nổ ngay. Dùng
thiết bị phóng từ để phá nổ sẽ gây ra sập cầu, đổ kho, cháy rụi xe cộ. Tổ GK1 sáng
chế một loại thiết bị khác, hết sức độc đáo: thiết bị gây nhiễu. "Máy nhiễu" phát ra
một dạng tín hiệu từ đặc biệt, khiến cho quả thuỷ lôi tạm thời liệt đi, để anh em
công binh, thanh niên xung p hong có thể đến gần, "sờ" vào l ão thần chết đó, tớc cái
lỡi hái của lão đi (hay nói một cách giản đơn hơn: tháo kíp nổ của quả MK42).
Thiết bị phá nổ cũng nh thiết bị gây nhiễu lúc đầu khá cồng kềnh, về sau, nhờ sử
dụng nhiều linh kiện bán dẫn, trở nên gọn nhẹ, xinh xắn, anh công binh, o thanh
niên xung phong đều có thể cầm tay.
*
*
*
ánh chiều tắt hẳn. Vòm trời và mặt nớc cùng một màu đen thẫm. Từ những nơi
tập kết, những con tàu của ngành đờng biển tham gia cuộc thử nghiệm tiến vào các
toạ độ quy định... Bất cứ lúc nào máy bay địch cũng có thể ập tới, và pháo lớn Hạm
đội 7 cũng có thể rót vào; các tàu đợc nguỵ trang, không để lọt một tia sáng ra ngoài.
Từ bờ bên, chiếc tàu chỉ huy nhẹ lớt sóng tiến ra. Trên boong, các đồng chí đại
diện ngành giao thông - vận tải đang trao đổi ý kiến với các nhà khác trong tổ GK1
Vũ Đình Cự đợc giao trách nhiệm chỉ huy toàn bộ quá trình kỹ thuật của cuộc thử
nghiệm.
Đêm tĩnh mịch. Sóng vỗ oàm oạp vào mạn tàu. Các hoạt động thầm lặng triển
khai. Các tiến sĩ, kỹ s, công nhân kiểm tra lại lần cuối máy móc, thiết bị để ở dới tàu
cũng nh ở trên bờ. Các số liệu báo cáo tới tấp gửi về tàu chỉ huỵ: bộ phận đo lờng
hoạt động tốt, bộ phận tính toán và điều khiển tự động tốt, thiết bị phóng từ -tốt
v.v...
Quay sang phía các đồng chí lãnh đạo Cục Vận tải Đờng biển, Vũ Đình Cự nói:
- Tất cả đã sẵn sàng! đề nghị các anh cho bắt đầu.
Ngay lúc đó, từ tàu chỉ huy, tín hiệu phát lệnh đợc truyền đi. Hiện trờng thử
nghiệm bỗng trở mình. Các con tàu lần lợt tiến vào "toạ độ nguy hiểm", lúc đầu là
các tàu nhỏ, về sau dần. Khi thì đâm thẳng vào quả thuỷ lôi, khi đi lớt ngang qua
hoặc đi chênh chếch 15o, 30o, 45o... Thiết bị phá thuỷ lôi đặt trên tàu cha đợc lệnh
hoạt động.
Đứng bên bờ, tiến sĩ Nguyễn Bính theo dõi trên màn hiện sóng các tín hiệu hoạt
động của quả MK52, xem thử con tàu cỡ bao nhiêu, đến khoảng cách bao xa thì quả
thuỷ lôi "nổ" hoặc "không nổ". Một anh trợ lý bấm đèn pin - đ ã đợc bọc khăn mùi soa
để giảm bớt độ sáng - rọi vào trang sổ tay cho anh Bính ghi lại các kết quả quan sát
đợc. Quả thuỷ lôi đã đợc mọi hết thuốc nổ và thay hạt nổ bằng một bóng đèn. Bình
thờng, khi con tàu chạy qua tạo ra một từ trờng đủ mạnh, thoả m ãn các điều kiện nổ
thì ngòi nổ phóng điện làm cháy hạt nổ, và, do đó, làm cháy toàn bộ khối thuốc súng.
Còn bây giờ thì... bóng đèn bật sáng... thế thôi! Bóng đèn này đợc mắc ra ngoài vỏ
quả thuỷ lôi nên có thể trông thấy dễ dàng. Các tín hiệu hoạt động của MK52 còn
đợc đa lên màn hiện sóng để tiện theo dõi; quả thuỷ lôi thì đợc chôn một phần xuống
đất đúng nh trong thực tế nó lún xuống bùn.
Đợt thử nghiệm thứ hai đợc tiến hành với các con tàu vừa chuyển dịch vừa cho
thiết bị phá thuỷ lôi hoạt động để khảo sát xem với cờng độ từ trờng bao nhiêu, dạng
xung nh thế nào, ở khoảng cách bao xa, độ góc lớn nhỏ, thì quả thuỷ lôi nổ. Thuỷ lôi
chiến lợc có độ nhạy thấp, nên tàu phá lôi phải sử dụng những thiết bị phóng từ
mạnh: nặng hàng tạ, mỗi khi đóng cầu giao, dụng cụ sắt thép đặt trên boong cứ
quẫy lên cái búa tạ để gần bị hút bập vào. Đờng sức của từ trờng toả ra trong không
gian làm cho anh em thuỷ thủ rất khó chịu.
Đợt thử nghiệm thứ ba: các con tàu có mang theo thiết bị nhiễu.
Sau khi thử với thuỷ lôi chiến lợc MK52, các anh cho khiêng quả thuỷ lôi chiến
thuật MK42 vào thử tiếp. Và lần này, y nh lần trớc, cũng lại phải tiến hành đủ ba
đợt thử, với các loại tàu to nhỏ không sử dụng hoặc có thể sử dụng thiết bị phá, rồi
thiết bị nhiễu; đâm thẳng, đi lớt ngang qua hay đi chênh chếch theo các độ góc khác
nhau về phía quả thuỷ lôi. Cuộc t hử nghiệm, vì thế, kéo dài mấy đêm ở một vùng
nằm trong tầm pháo của hạm đội 7 và trong phạm vi máy bay Mỹ dễ bắn phá.
Các kết quả thu đợc xác nhận sự đúng đắn của những tính toán lý thuyết. Bảng
tra cứu đợc thiết lập qua máy tính điện tử tỏ ra có cơ sở khoa học.
Tuy thế, các anh trong tổ GK1 vẫn cha hoàn toàn an tâm. Cảng Chùa Vẽ, nơi vừa
tiến hành cuộc thử nghiệm, nằm trên sông Cấm, tàu há mồm không vào đợc. Thế
mà đó lại là một chiếc tàu phá lôi vào loại lợi hại nhất của ta.
Để "chắc ăn" hơn, mấy hôm sau, anh Quế và các trợ lý làm thêm một cuộc thử
nghiệm khác ở đảo Cát Hải. Lại phải chở theo những quả thuỷ lôi nặng, những máy
móc tinh vi cũng nh những thiết bị cồng kềnh. Quả MK52, rồi quả MK42 đợc đặt
trên bãi sú. Con tàu há mồm-loại tàu đổ bộ chở xe tăng mà anh em đờng biển quen
gọi là "tăng kít" - từ từ tiến đến gần. Chung quanh tàu, dây điện quấn loằng
ngoằng. Cả con tàu trở thành một nam châm điện cỡ lớn. Tàu còn cách xa 80 mét,
quả thuỷ lôi đã "nổ" - nghĩa là bóng đèn hiệu loé sáng. Nh vậy là bảo đảm an toàn.
Đặc điểm của nghề chế tạo vũ khí, khí tài quân sự là phải tuyệt đối bảo đảm chất
lợng sản phẩm, bởi vì, nếu không, sẽ gây tai hoạ chết ngời cho ngời sử dụng. Trong
cái nghề này, cách làm việc qua loa, "tài tử" là tội ác.
ít lâu sau, hàng loạt khí tài phá thuỷ lôi mang nh ãn hiệu GK72-2, GK72-3,
GK72-4... đợc chế tạo, cung cấp cho các đội tàu Lê Mã Lơng, Quyết Thắng quét mìn.
Đồng chí Bí th thứ nhất Ban chấp hành Trung ơng Đảng tận mắt xem các loại khí
tài này, trò chuyện với Vũ Đình Cự và căn dặn phải chế tạo thật nhanh, thật
nhiều... Các đồng chí Trờng Chinh, Lê Văn Lơng cũng đến thăm. ..
*
*
*
19 giờ 15 phút ngày 18-12-1972, "chiến dịch Lainơ Bếchcơ 2" (tức chiến dịch dùng
máy bay B.52 ném bom trải thảm Hà Nội, Hải Phòng) bắt đầu và kéo dài đến hết
đêm 29-12-1972.
Một vài con số nhắc ta nhớ lại những ngày và đếm khói lửa ngút trời ấy: mỗi ngày
đêm Nichxơn cho xuất kích 140 lần chiếc "siêu pháo đài bay" B.52, 300 "cánh cụp
cánh xoè" F.111 và 500-700 máy bay ném bom chiến thuật. Tổng số bom giội xuống
Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đếm ấy có sức phá hoại gấp hai quả bom nguyên
tử đã từng huỷ diệt thành phố Hirôsima (Nhật Bản).
Trờng Đại học Bách khoa Hà Nội là mục tiêu ném bom của máy bay chiến thuật.
Dãy nhà số 19 trúng bom hơi.
Tổ GK1 chuyển vào làm việc trong tầng hầm nhà A. Đó là một toà nhà lớn trong
khu Đông Dơng Học xá, nơi lu trú của sinh viên thời thuộc Pháp, rất vững ch ãi, có
tầng hầm chứa rợu chia thành nhiều ngăn uốn vòm nh mái ga xe điện ngầm.
Anh em không thể sơ tán xa trờng, bởi vì, chỉ ở trờng mới có đủ các xởng, các
phòng thí nghiệm hiện đại để chế toạ khí tài gây nhiễu, phá nổ thuỷ lôi và bom từ
trờng (loại khí này gồm nhiều linh kiện bán dẫn tinh vi).
Nhà trờng cho chở đến một xe commăngca bắp cải để anh em luộc ăn dần. Chăn
màn, áo quần, giờng chiếu, bếp dầu, xoong nồi, mì gạo đều đa vào hầm. Cứ mơi, mời
lăm phút còi lại rú lên. Tiếng máy bay B.52 nghe nh tiếng thùng tôn lăn trên đờng
nhựa. Tiếp sau là tiếng bom rền từng đợt, từng đợt dài...
Trong tầng hầm, Tổ GK1 vẫn làm việc, cân nhắc, thêm bớt từng chi tiết của mạch
bán dẫn hay xem thử tụ điện nên tăng giảm bao nhiêu microphara... Cho đến một
buổi sớm...
Một chiếc xe con xịch đỗ cạnh sân bóng đá, bên cạnh cái hố bom tấn to nh cái
giếng làng, Giáo s Tạ Quang Bửu, ngời trực tiếp theo dõi, chỉ đạo sát sao từng việc
làm của Tổ GK1, bớc nh chạy vào gian hầm tối tối mờ mờ.
Ông ôm chầm lấy Vũ Đình Cự làm anh suýt rơi cả cặp kính cận, ôm từng anh em
trong tổ, rồi sung sơng báo tin: 7 giờ sang hôm đó, 30-12-1972, Nichxơn đ ã buộc phải
ngừng ném bom từ tĩ tuyến 20 trở ra để mời "ta cho nối lại cuộc thơng lợng qua
nhiều đắng cay do họ ở phố Clêbe. Pari. tuy vậy, nhiệm vụ của Tổ GK1 vẫn còn rất
nặng nề: mau lẹ chế tạo hàng loạt khí tài để quét nhanh, quét gọn, quét sạch thuỷ
lôi và bom từ trờng ở trên biển, trên sông, trên bộ.
Một chiến dịch vận tải lớn với quy mô cha từng có sắp bắt đầu! Ngay trớc Tết Quý
Sửu! Hoà bình mới trở lại trên ... nửa nớc ... mà thôi...
Tiếng bom rền bỗng nhiên im bặt. Hà Nội, Hải Phòng ngỡ ngàng đón Tết Quý
Sửu.
Sau chín tháng bị địch đánh phá và phong toả, sau 12 ngày đêm bị máy bay B.52
nem bom trải thảm, Thủ đô và thành phố Cảng lại đợc ăn một cái Tết hoà bình. Qua
bao nhiêu đau thơng và náo động, ngời dân lại đợc thấy một vòm trời bình yên, một
mặt biển lặng sóng, đợc ngù những đêm đấy giấc, đợc sống những ngày nhẹ nhõm,
thảnh thơi, đợc trở về với những tập tục, hơng vị của cái Tết nghìn xa: quét dọn bàn
thờ tổ tiên, đốt nén hơng tởng nhớ những ngời đã khuất, lau chùi bàn ghế, đồ đạc,
nấu nồi bánh chứng, kiếm cánh đào, chậu quất hay mấy bông thợc dợc, cúc đại đoá
về cắm trong nhà.
Đặc biệt, ở Hải Phòng, cái Tết Quý Sửu còn mang một vẻ riêng không giống cái
Tết ở một nơi nào khác, vào một năm nào khác.
Sau tám, chín tháng tạm lánh về nớc, các tàu nớc ngoài lục tục quay lại Hải
Phòng. Tàu Việt Nam, tàu nớc ngoài đều treo cờ lễ. Cờ tín hiệu quốc tế kết thành
những dây dài từ mũi đến lái, thật vui mắt. Những con tàu trớc đây phải chịu nằm
yên, thả sức cho hàu hà đeo bám, nay đợc các thuỷ thủ cạo gỉ, gõ sét, sơn phết lại
bằng màu sơn mới tinh khôi. Bến cảng rộn lên không khí chuẩn bị cho những
chuyến tàu rời bên. Trên các luồng, các tàu phá lôi của ta rà đi quét lại, gấp rút
chuẩn bị đón tàu nớc ngoài vào cảng trớc Tết Quý Sửu.
Tàu Cuba tình nguyện vào cảng đầu tiên, đợc bảo đảm an toàn tuyệt đối. Luồng
Nam Triệu đã thông.
Mọi ngời đều biết, theo Nghị định th của Hiệp định Pari về Việt Nam, Hoa Kỳ có
trách nhiệm "quét sạch tất cả mìn mà Hoa Kỳ thả tại vùng biển, các cảng, sông ngòi
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà". Nhng, nh trong Công hàm ngày 16-4-1973 gửi Bộ
ngoại giao các nớc hữu quan, Uỷ ban Quốc tế và Tổng Th ký Liên hợp quốc, Bộ
Ngoại giao ta đã vạch rõ: "Cho tới nay, họ - tức phía Hoa Kỳ - chỉ mới làm nổ đợc ba
quả trong số hàng vạn quả mìn mà họ có trách nhiệm phải quét sạch".
Ba quả trong số ... hàng vạn quả! Một sự ít ỏi đến mức ... nực cời! ấy vậy mà, để
làm đợc cái công việc cỏn con nực cời ấy, họ đã phải huy động lực lợng đặc nhiệm rà
mìn số 78 gồm 500 binh sĩ, 20 tàu, 50 trực thăng, và phải trả bằng cái giá: hai trực
thăng rơi ngay tại chỗ, nhiều sĩ quan và binh sĩ chết vi bị trúng mìn (khí tài rà mìn
của họ do trực thăng kéo lết trên biển).
Vậy thì, ai đã đứng ra rà quét, phá nổ hoặc làm mất hiệu lực vĩnh viễn hàng vạn
quả mìn quỷ quái kia? Chính là phía Việt Nam ta.
Cuộc chiến đấu chống phong toả, quét nhanh, quét gọn, quét sạch thuỷ lôi và bom
từ trờng ở trên biển, trên sông, trên bộ diễn ra hết sức khẩn trơng và thầm lặng
trong những ngày và đêm trớc và sau Tết Quý Sửu, khiến cho cái Tết năm ấy đi vào
ký ức anh em trong Tổ GK1 nh là cái Tết có một không hai: Tết chống phong toả...
Do những thành tích to lớn đóng góp vào cuộc kháng chiến của nhân dân ta, tập
thể Tổ GK1, do Tiến sĩ khoa học Vũ Đình Cự chủ trì, đ ã đợc Nhà nớc ta phong tặng
Giải thởng Hồ Chí Minh cùng một số tập thể khác trong Quân đội và trong ngành
Giao thông - Vận tải.
Giáo s Dơng Quảng Hàm
Quê hơng - Con ngời - Sự nghiệp
Lê Văn Ba
Quê hơng làng Phú Thị
Nhà giáo Dơng Quảng Hàm sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 tại làng Phú Thị,
tổng Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu tỉnh Hng Yên cũ, nay là thôn Phú
Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang tỉnh Hng Yên.
Từ Hà Nội, qua cầu Chơng Dơng, cứ theo bờ đê sông Hồng đi xuôi về phía nam
khoảng 20 cây số thì tới làng Phú Thị, xã Mễ Sở. Một vùng quê ngô, đay, lúa...,các
loại cà chua, khoai tây, tỏi...,cây thuốc sinh địa, ngu tất...trải mầu xanh bát ngát.
Trong các vờn nhà ngày giáp tết đỏ rực quất chín, các loại cây cảnh đua nhau nở đủ
sắc hoa.
Chính vùng đất ven sông Hồng này cách đây mấy nghìn năm đ ã đẹp tới mức công
chúa Tiên Dung con gaí vua Hùng phải dừng thuyền vây màn tắm mát trên b ãi cát
và gặp đợc chàng trai đánh cá họ Chử. Nàng Tiên Dung ở lại lập nghiệp, biến vùng
này thành làng, thành bến chợ thuyền bè qua lại buôn bán sầm uất. Phú Thị, nghĩa
là chợ giầu. Chợ Phú Thị to nhất tổng Mễ vì vậy có câu ví " Dài nh cái chợ Mễ ". Còn
Mễ Sở có nghĩa kho gạo. Theo truyền thuyết thì nơi đây là kho quân lơng của quân
đội nhà Trần trong những năm đánh giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII. Tên " Mễ Sở "
là do vua Trần Nhân Tông đặt, một ân thởng đặc biệt sau ngày chiến thẵng.
Thế kỷ 19, đê Văn Giang vỡ 18 năm liền. Cả vùng Văn Giang, Khoái Châu hoá
đầm vũng, lau sậy mọc đầy trở thành căn cứ chống Pháp của nghĩa quân Tán Thuật.
Làng Phú Thị những năm 1930 có nhà ông s Hân là nơi đồng chí Hoàng Quốc Việt
cùng một số cán bộ lãnh đạo trong Xứ uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam về họp, công tác.
Phú Thị, Mễ Sở cũng là nơi đất lề quê thói. Đây chính là quê hơng tiến sỹ Chu
Mạnh Trinh, một nhà nho tài tử, một nhà thơ tình l ãng mạn. Ông còn là kiến trúc s
tài hoa đã xây dựng chùa Thiên Trù ở động Hơng Tích, đặc biệt xây dựng đền thờ
Chử Đồng Tử-Tiên Dung. Quần thể kiến trúc này với lễ hội dân gian mở ba năm
một lần đang là một trong những điểm du lịch quốc gia.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bến phà Mễ Sở lập
chiến công oanh liệt. Nhân dân Mễ Sở đợc phong tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng
lực lợng vũ trang nhân dân.
Bớc vào thời kỳ đổi mới, làng Phú Thị, x ã Mễ Sở cũng là đơn vị đi đầu trong công
cuộc phát triển kinh tế gia đình, áp dụng kỹ thuật mới, chuyển đổi quỹ đất. Năm
2000, Nhà nớc tuyên dơng Mễ Sở Đơn vị anh hùng lao động trong sự nghiêp xây
dựng nông thôn mới giàu có, văn hoá, văn minh.
Dơng Quảng Hàm đã sinh tại một làng quê ven sông Hồng nh thế. Mặc dù sau
này cả cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với Hà Nội nhng bao giờ ông cũng
nghĩ tới làng quê, nhớ tới cái gốc của mình. Chính vì thế, tại ngôi nhà 98A phố hàng
Bông của ông mà bên dới là cửa hàng bán tạp hóa do bà vợ quản lý, ông đ ã cho treo
tấm biển hiệu Đông Phú hàm ý giới thiệu với mọi ngời nơi xuất phát, sinh cơ lập
nghiệp của vợ chồng, gia đình ông : huyện Đông Yên, làng Phú Thị.
Quê hơng là dòng sữa mẹ. Con ngời lớn lên nhờ sữa mẹ quê hơng. Biết ơn và tự
hào quê hơng làng Phú Thị tổng Mễ Sở của mình, Dơng Quảng Hàm không hề nghĩ
rằng mình đã góp phần làm rạng rỡ , vẻ vang thêm cho làng xóm quê hơng.
Họ Dơng ở làng Phú Thị, một dòng họ nổi tiếng thi th, nhiều ngời đỗ đạt cao, làm
quan, dạy học -, đến đời cụ Dơng Trọng Phổ sinh đợc 7 ngời con trai. Anh con cả
Dơng Bá Trạc 17 tuổi đỗ cử nhân. Ngời con thứ 5 là Dơng Quảng hàm đẹp trai, đức
độ, thông minh chẳng kém cha anh.
Vào những năm này, tiến sỹ Chu Mạnh Trinh ngời cùng làng Phú Thị làm án sát
tỉnh Hng Yên. Giữ chức quan đầu tỉnh nhng nhà thơ họ Chu chỉ thích đi du ngoạn
sơn thuỷ. Ngay cả việc làng dù bà con tín nhiệm bầu chức tiên chỉ, ông cũng phó
mặc quyền hành cho một ngời bạn mà mình coi nh anh vì hơn tuổi, là Trần Khắc Tế,
đỗ tú tài, tính nết hiền lành đợc dân làng quý trọng gọi cụ " Tú Bụt " ( hiền nh ông
bụt ).
Năm 1905 tiến sỹ Chu Mạnh Trinh chết. Một số ngời trong họ Dơng muốn chức
tiên chỉ phải giao lại cho Dơng Bá Trạc vì ông Trạc đỗ cử nhân, mà cử nhân thì cao
hơn Tú tài. Đa số dân làng mến đức cụ Tú Bụt không tán thành việc này, lấy cớ ông
Trạc còn trẻ, mới 20 tuổi.
Quyết hạ cụ Tú để giành phần xôi thịt, ngời ta đặt chuyện vu cho cụ Tú ăn tiền
của dân khi làm đình làng. Quan trên về xem xét, sự thật rõ ràng do những kẻ đặt
điều nói xấu. Đến lợt con cháu họ Trần sắm gậy gộc quyết rửa hận naỳ.
Về phần họ Dơng, khi biết sự việc, cụ Phổ gọi mấy ngời xấu trong họ, mắng cho
một trận tàn tệ. Ông cử Trạc nhận ra tất cả những cái xấu xa mục nát của làng quê
dới chế độ thực dân phong kiến, bỏ ra Hà Nội hoạt động Đông Kinh Nghĩa Thục sau
đó ít lâu bị Pháp bắt đầy ra Côn Đảo.
Ơ nhà, cụ Phổ mất năm trăm đồng lo lót cho tổng đốc Lê Hoan để hắn không bới
to vụ kiện ra nữa.
Và điều lớn hơn, cụ nghĩ đến, là nghĩa xóm tình làng.
Cụ Phổ đến thăm cụ Tú Bụt ngỏ lời trớc:
- Chuyện tụng đình không phải do cụ, cũng chẳng phải ý muốn của tôi. Nhng để
dứt hẳn việc này không để hậu hoạ một đời đi kiện ba đời thù nhau, chúng ta sẽ gả
con cho nhau, chuyển cừu gia thành thông gia.
Thế là cô hai Trần Thị Vân lấy anh năm Dơng Quảng Hàm.
Ngày xa không thiếu những chuyện hai dòng họ, hai làng thù nhau đời đời kiếp
kiếp.Trong cuộc tình duyên đâu phải do ông bà Nguyệt L ão xe kết, vợ chồng anh
Dơng Quảng Hàm ý thức đầy đủ bổn phận làm con của mình, đúng hơn đ ã làm tròn
sứ mệnh đối với cả bà con trong họ ngoài làng. Quê hơng với những truyền thống tốt
đẹp, những con ngời chất phác thuần hậu lấy tình thơng nghĩa cả làm chuẩn mực
giá trị đã in đậm dấu ấn trong cả cuộc đời anh, nhà giáo Dơng Quảng Hàm.
Nhà s phạm mẫu mực,
ngời thầy đáng kính
Năm 1920, Dơng Quảng Hàm tốt nghiệp trờng Cao đẳng s phạm Đông Dơng. Với
luận văn tốt nghiệp "Khổng Tử và học thuyết Khổng Mạnh trong nền giáo dục cũ"
đợc đánh giá xuất sắc, Dơng Quảng Hàm đỗ thủ khoa, khóa đầu tiên của trờng. Anh
đợc bổ ngay về dạy ở trờng Trung học bảo hộ, tức trờng Bởi, một trong số rất ít
trờng trung học đơng thời ở Việt nam.
Dơng Quảng Hàm chính thức bớc vào nghề dạy học, chính thức trở thành một nhà
giáo.
Ngay từ buổi đầu tiên đứng trên bục giảng, Dơng Quảng Hàm đã ý thức đợc trách
nhiệm làm thày, sự cao quý của nghề thày. Anh ghi nhớ những lời của ông nội, của
cha: Dạy học không chỉ đơn giản là dạy chữ, cho dù đó là chữ của thánh hiền, mà
trớc hết là dạy cái đạo làm ngời, dạy nên những con ngời.
Chính vì thế ngời thày phải là tấm gơng sáng về mọi mặt cho học trò noi theo. Vai
trò của ngời thày, ảnh hởng của ngời thày còn bao trùm, rộng rãi toàn x ã hội. Những
ngời thày, trí thức hiền tài bao giờ cũng là nguyên khí quốc gia, có trách nhiệm lớn
đến hng vong của xã tắc, thành đạt của lớp trẻ.
Học trò trờng Bởi không bao giờ quên hình ảnh thày Hàm. : Sáng nào cũng vậy,
trống trờng vừa điểm thày đã đứng trên bực thềm tơi cời dẫn học sinh vào lớp.
Thầy ăn mặc giản dị, đúng kiểu: bộ âu phục là thẳng nếp, áo vét bao giờ cũng cài
đủ ba khuy. Thày thắt ca vát sẫm màu, đôi khi cài nơ đen, đi giầy da.
Vào lớp bao giờ thày Hàm cũng chờ cho tất cả học sinh trật tự yên lặng rồi mới
ngồi xuống ghế. Thày giở cặp, đặt lên bàn sổ điểm danh học sinh, sổ cho điểm, tập
bài giảng. Thày rút từ túi ngực ra hai chiếc bút, một bút mực, một bút chì đầu này
màu đỏ đầu kia màu xanh. Và chiêc đồng hồ quả quýt đặt ngay ngắn giữa bàn.
Giờ học bắt đầu. Sau khi kiểm tra bài cũ xong, thày giảng chậm r ãi, rành rọt bài
mới. Giờ học nào cũng thế, khi thày giảng hết, vừa đúng lúc trống trờng vang lên.
Trờng Bởi có nhiều giáo s giỏi, dạy rất hay, học sinh rất mến.
Thày Dơng Quảng Hàm, vẻ ngoài nghiêm nghị, khô khan. Nhng mọi ngời đều tán
đồng đây là một ông thày uyên bác, phơng pháp s phạm chuẩn mực, thái độ chân
tình và là tấm gơng đạo đức. Học trò trờng Bởi nh mấy anh Hoàng Ngọc Phách,
Nguyễn Xuân Thảo, Đỗ Quang Lu...công nhận theo cách dạy của thày Hàm, học
sinh dễ dàng nắm đợc trọn vẹn tác phẩm văn học và in sâu vào lòng đoạn văn, thơ
hay nhất, tiêu biểu nhất của tác phẩm.Giống nh Hữu Ngọc " tổng kết ": Học thày
Hàm, điều quý nhất là có đợc một cái base solide (nền tảng, căn bản vững chắc). Với
nhiều học sinh khác nữa thì thày giáo Dơng Quảng Hàm là một "kho" kiến thức.
Thày vốn nghiêm, nhng ngoài giờ học có thể hỏi những điều mình cha hiểu, và đợc
thày giảng giải rất tận tình.
Trong thời buổi sùng bái tiếng tây (ăn bánh tây, đi giầy tây, mặc quần áo tây, nói
tiếng tây dù chỉ tiếng tây bồi cũng hãnh diện) thì dạy cho học sinh mỗi tuần 2 tiết
"Annamite " ( tiếng Việt ) quả là rất mệt.
Thực đân Pháp còn tìm mọi cách cho con em ngời Việt coi thờng tiếng mẹ đẻ.
Các môn học tiếng Pháp đều có hệ số điểm cao, môn quốc văn tiếng Việt coi nh
một ngoại ngữ, chỉ là phụ. Giờ học môn tiếng Việt thờng buồn tẻ và đôi khi lớp ồn
ào, học sinh gây mất trật tự. Chúng lễ phép nhng nhạt nhẽo với thày dạy môn tiếng
Việt.
Có thể đó là tình hình chung thời ấy. Nhng học trò trờng Bởi số đông là những
học trò giỏi, có chí. Với lớp ngời nhiệt huyết ấy, chỉ cần ông thày khéo khêu gợi thì
ngọn lửa yêu nớc, tinh thần dân tộc ấp ủ trong trái tim họ sẽ cháy bùng lên.
Trong giảng dạy, Dơng Quảng Hàm luôn chú ý tìm hiểu cách dạy văn của ngời
xa. Cần có phơng pháp giảng dạy nh thế nào để học sinh ham thích, dễ hiểu, tiếp
thu bài tốt hơn? Một tuần lễ, ngời ta chỉ cho thày trò hai tiết học Việt văn mà thôi.
Cho nên, càng trong hạn chế nghiệt ngã, càng phải tìm ra một hớng đi tốt nhất.
Các cụ ta xa thòng giảng văn cho các môn sinh theo lối bình, tán.
Một số sách in gần đây cũng giới thiệu tác phẩm văn chơng theo lối ấy.
Soạn một bài giảng văn, từ năm 1925, Dơng Quảng Hàm đề ra hẳn một trật tự
mới. Bài giảng bao gồm 9 phần, lần lợt học sinh nắm đợc đầy đủ các thông tin : Giới
thiệu tiểu sử tác giả, xuất xứ của tác phẩm, đại ý, bố cục, đoạn trích, giảng nghĩa các
từ mới, từ khó, trình bày ý tởng và văn pháp, nhận định giá trị tác phẩm, kết luận.
Với trật tự giảng một bài văn nh thế này, có bạn đồng nghiệp yêu mến đặt cho cái
tên là "phơng pháp Dơng Quảng Hàm". "Phơng pháp Dơng Quảng Hàm" đợc phổ
biến khá rộng rãi. Uy tín của anh trong giáo giới ngày càng cao.
Nhiều học sinh, không biết có phải vì tấm gơng thày Hàm đã làm cho mình nảy
sinh lòng ngỡng mộ muốn noi gơng thày, muốn sau này mình cũng vào nghề s phạm,
cũng trở thành nhà giáo ? Nên ngay lúc học các em đ ã có ý thức chép bài và lu giữ
bài giảng của thày Hàm rất cẩn thận, coi nh một của quý, đem theo bên mình trong
nhiều năm.
Tất nhiên đời nhà giáo cũng có nhiều niềm vui, nhất là những kỷ niệm với các học
trò, cái lũ nghịch ngợm chỉ thua nhất quỷ nhì ma.
Các cậu học trò đố nhau đứa nào làm cho thày Hàm bớt mô phạm đi!
Chọn đúng lúc thày đi qua hành lang vào lớp, Trần Văn Hà bớc lại ngả mũ kính
cẩn chào :
- Tha, con xin phép hỏi tại sao mặc áo vét bao giờ thày cũng cài đủ ba khuy nh
thế ạ ?
Câu hỏi bất ngờ và hơi...ngớ ngẩn khiến thày Hàm sững ngời lại. Lũ bạn của anh
học sinh táo tợn nọ đứng rình bên cửa lớp đang chờ dịp phá ra cời. Nhng thày Hàm đã
thản nhiên trả lời :
- Có gì lạ? Ngời ta làm ba khuy thì tôi cài đủ ba khuy.
Bọn học trò quái quỷ trêu đợc thày mà không bị thày phạt, thày mắng thì khoái
chí lắm. Thày Hàm cũng rất vui. Học trò có yêu mình, để ý đến mình mới bày ra đợc
những trò vui tếu nh thế. Chỉ trong nhà trờng mới có những chuyện vui nhộn này.
Và những kỷ niệm này sẽ mãi mãi, suốt đời gắn bó với mỗi thày giáo, học sinh. Đó cũng
là hạnh phúc, hạnh phúc riêng có của nghề thày.
Thêm một kỷ niệm đáng nhớ :
Lần ấy có học sinh vì "xấc xợc" với một nữ giáo s ngời Pháp nên bị bà này đa ra
trớc hội đồng kỷ luật nhà trờng xem xét, ý muốn cho đổi học. Buổi họp hôm đó do
giáo s hiệu trởng Perucca làm chủ tịch. Sau khi nghe bà giáo ngời Pháp nổi tiếng
lạnh lùng và bẳn tính quy kết những lời nặng nề về em học sinh, thày Hàm lên
tiếng, nét mặt ông nghiêm nghị nhng giọng nói thật điềm đạm:
- Tôi có thể khẳng định trò này là một học sinh tốt, có t cách đứng đắn, cha hề vi
phạm kỷ luật về đạo đức cũng nh học tập trong các giờ lên lớp của tôi. Vì thế tôi tin
rằng cậu có thể có lỗi, nhng không hề có ý xấc xợc với bất cứ vị giáo s nào trong
chúng ta.
Nhờ đó, anh học sinh đựoc "trắng án".
Một lần khác, vào năm Mặt Trận Bình Dân ở Pháp lên cầm quyền có cử một nghị
sĩ cánh tả là Justin Godard sang thị sát Đông Dơng. Dân chúng Hà Nội đ ã trao cho
ông Goda nhiều bản tố cáo tội ác nhà cầm quyền thực dân Pháp và kiến nghị những
cải cách. Học sinh trờng Bởi hăng hái tham gia những buổi này, sân trờng vắng teo.
Buổi sáng hôm ấy thày Hàm bớc vào lớp, thấy một số học sinh còn ngồi nhấp nhổm.
Thày hỏi :
- Các anh còn ngồi đây?
Hiểu ý thày kín đáo khuyến khích việc đi mít tinh, các học sinh bớc nhanh ra khỏi
lớp học. Nhng thày Hàm đã dơ tay :
- Còn mấy anh này - thày đọc tên một vài học sinh - ở lại tôi nhờ chút việc.
Mấy học sinh này ngồi xuống, ngơ ngác.
Thày Hàm thủng thỉnh lên phòng hội đồng.
Cho đến hết giờ.
Sau này mấy em học sinh mới hiểu sự giúp đỡ thầm lặng của thày Hàm . Trò
Nguyễn Xuân Thảo mạnh dạn tìm gặp, cảm ơn thày. Thày Hàm nói, nh mình không
hề có chủ định gì :
- Mấy em đều con nhà nghèo, nhng có chí. Nếu mất học bổng chắc chắn các em
phải bỏ học.
Có thể nói trờng Bởi là đầu tầu của phong trào học sinh sinh viên Hà Nội. Cùng
với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở đồn điền cao su Phú Riềng, mỏ
than Hòn Gai, các nhà máy dệt Nam định, xi măng Hải Phòng, xe lửa Gia Lâm Hà
Nội... ;Cùng với phong trào đấu tranh của bà con nông dân Nghệ Tĩnh, huỵện Tiền
Hải Thái Bình, xã Cổ Am Hải Dơng ... Phong trào đấu tranh của từng lớp trí thức ở
thành phố phát triển rộng rãi, đặc biệt trí thức trẻ học sinh, sinh viên đợc coi là "ngòi
pháo" cách mạng.
Đến những ngày bãi khoá để tang cụ Phan Chu Trinh, rồi những buổi học sinh
trờng Bởi đứng thành một khối dới tấm biểu ngữ trong lễ truy điệu cụ Phan Bội
Châu thì trong trờng Bởi đã hình thành một tổ chức chính trị có l ãnh đạo, chỉ huy
chặt chẽ.
Học trò trờng Bởi càng qúy trọng thày giáo dạy Việt văn Dơng Quảng Hàm.
Các em nhớ mãi buổi học lịch sử, thày Hàm mang bản đồ nớcViệt Nam thống nhất
không có chữ in tiếng Pháp Cochinchine xứ Nam kỳ thuộc địa, Annam xứ Trung kỳ
và Tonkin xứ Bắc kỳ bảo hộ. Đây là tấm bản đồ do tự tay thày vẽ. Vừa chỉ lên những
đờng nét hình thể núi sông, thày vừa giảng cho học sinh hiểu rõ tổ quốc Việt nam, từ
ngày đầu các vua Hùng dựng nớc trải qua các triều đại đ ã hng thịnh và dần mở
mang bờ cõi . Những trận chiến thắng giặc phơng Bắc oanh liệt, những cuộc chiến