(Lộc) Chương VII: Một thành tựu ít được biết đến – Lí Ngư bàn về kịch
•
Gioi thiệu chung:
- Lí Ngư sinh ở đời Minh nhưng sống chủ yếu ở đời Thanh (thời Minh mạt Thanh sơ). Ông không những là nhà lí
luận mà còn là nhà sáng tác kịch. Những vở kịch tiêu biểu của ông là Phong tranh ngộ, Nhan linh giáp,Trung dung
giải…tuy không có giá trị cao về chất lượng nhưng từ thực tiễn sáng tác đó đã giúp ông đi đến những khái quát lí luận
về kịch, thể hiện qua chuyên luận : Nhàn tình ngẫu kết
- Tại sao tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nở rộ vào đời Minh, đến cuối triều đại này đã được Kim Thánh Thán đúc kết
về mặt lí thuyết, còn kịch Trung Quốc vốn đạt thành tựu rất cao trong đời Nguyên trước đó với những tác phẩm như
Tây sương kí, Đậu Nga oan…và có những tác gia kiệt xuất nhưng đến đầu đời Thanh mới được đúc kết trên bình diện
lí luận:
+ Kịch không thuần túy là một loại hình nghệ thuật,nó là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, phải đợi ít nhiều có một
tư duy tiếp cận liên ngành thì mới nghiên cứu có kết quả được
+ Các nhà nghiên cứu trước Lí Ngư nghiên cứu hí kịch, hí khúc (tương đương với kịch cổ điển ngày nay) thì chỉ chú
trọng về “khúc” (lời ca) mà chưa chú trọng đến “hí” (kịch), và cho rằng hí khúc là con cháu của thơ ca
+ Trong Nhàn tình ngẫu kí Lí Ngư chia làm hai tập Từ khúc bộ bàn về lời ca, Diễn tập bộ bàn về nghệ thuật diễn viên,
nhưng vấn đề không phải chỉ là dấu cộng mà là sự liên đới chuyển hóa giữa hai bộ phận này. Lời ca viết ra không
phải để đọc, mà để diễn, khán giả của kịch là một tập thể công chúng thưởng thức vở diễn trong suốt một thời gian
nhất định. Lí Ngư đã bàn về lời ca theo những yêu cầu đó
Dưới đây sẽ là những đóng góp của Lí Ngư xét về mặt văn học (trong Từ khúc bộ có cả âm luật), xoay quanh vấn đề
hành động, kết cấu, ngôn ngữ…
I,Hành động và cốt truyện kịch
- Về cốt truyện:
+ Sân khấu có sự giới hạn về không gian và thời gian diễn nên cốt truyện của kịch cũng phải thật tập trung. Viết về
một người một việc mới là chủ não của kịch, còn nhiều người nhiều việc chỉ xem được riêng lẻ còn xem toàn vở “chỉ
như châu ngọc đứt chỉ nối,nhà cửa thiếu cột kèo chính”
+ Lí Ngư tán dương những vở kịch triển khai “một tuyến đến cùng, không thêm thắt những tình tiết bên cạnh”, “ thủy
chung không có hai sự việc,quán xuyến một người”,“đầu chư kị phồn” (đầu mối tránh rườm) là một nguyên tắc viết
kịch bản
1
- Về hành động:
+ Khác với truyện kí, nhân vật trong kịch không nhất thiết phải có thật, Lí Ngư cho rằng : kịch không có thật đâu,
phần lớn là có tính chất ngụ ngôn
+ Lí Ngư hay dùng khái niệm “tự chân” (giống như thật), giống như Arixtot cho rằng trong kịch “không viết về
những sự việc đã từng xảy ra mà viết về những sự việc có thể xảy ra”
+ Nhân vật trong kịch phải có hành động kịch, bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, quan hệ, thái độ…Mỗi nhân vật trên sân
khấu sẽ có một hệ thống hành động chính, gọi là hành động xuyên, nhằm thể hiện sứ mạng tư tưởng của mình. Toàn
bộ vở kịch sẽ có một hệ thống tập hợp những hành động xuyên thành hành động quán xuyến, thể hiện tư tưởng chủ đề
chung của toàn vở.
+ Hành động quán xuyến phải dựa trên cốt truyện của kịch bản. Do giới hạn về không gian, thời gian nên hành động
quán xuyến phải thật thống nhất, không thể quá phong phú, phức tạp
- Hành động và cốt truyện kịch phải tập trung, thống nhất, nhưng không có nghĩa là đơn điệu, đều đều, phải “thoát
khuôn sáo”, phải có những chỗ “tân kì”, “phải diễn những điều người ta chưa hề thấy”
- Theo Lí Ngư, ‘thoát khuôn sáo” đi đôi với “tránh hoang đường”, dù có vượt ra “ngoài sự kiến văn” ( ngoài cái nhìn
và nghe thấy)thì cũng phải có căn cứ của “nhân tình vật lí” (tình cảm con người, lí lẽ của sự vật)
II- Kết cẩu kịch
- Lí Ngư rất chú ý đến vấn đề kết cấu trong kịch. Do tính chất thống nhất cao độ trong hành động và cốt truyện nên
kết cấu trong kịch chặt chẽ hơn tiểu thuyết (kết cấu cũng như tạo khuôn hình cho sự vật, giống như kiến trúc của công
trình phải có sự trù hoạch, tính toán trước mới bắt đầu thực hiện)
- Cũng như Kim Thánh Thán,Lí Ngư cho rằng kết cấu phải được “tiền định” trong ý thức sáng tạo của nhà văn “tất cả
đều phải suy nghĩ thấu triệt trước, thà nghĩ đến mà không dùng, đừng để phải dùng đến mà quên chưa nghĩ”
- Kết cấu không chỉ là mối tương quan giữa bộ phận với toàn thể mà còn là giữa các bộ phận với nhau. Kịch đòi hỏi
các tình tiết,sự kiện, nhân vật không những phải cô đúc, gãy gọn mà còn phải liên đới với nhau chặt chẽ, logic, tất
yếu, tự nhiên, Lí Ngư nêu ra khái niệm “mật chân tuyến” (đường kim mũi chỉ đều chặt). Sự vật này gọi sự vật kia, các
chi tiết trong kịch được liên kết chặt chẽ theo quy luật nhân quả, theo hình thức trực tiếp và gián tiếp:
+ Trong hình thức nhân quả trực tiếp: bất kì một tình tiết nào cũng là nguyên nhâ và kết quả trực tiếp của cái liền
trước và sau nó
2
+ trong hình thức nhân quả gián tiếp: tác động nhân quả không liền mạch kề nhau mà cách quãng, không có sự kết nối
nhưng sau đó mới nhận ra sự kì diệu do có sự liên hoàn nào đó đã mai phục bên trong
- Quy luật nhân quả giúp lí giải chính xác những tình huống bất ngờ trong kịch, nhưng không nên làm cho khán giả
bất giờ toàn bằng những việc li kì, ngẫu nhiên. Cũng từ quy luật nhân quả này mà xem xét vấn đề kết thúc của kịch,
không được miễn cưỡng, phải “có một duyên cớ tổng hợp,phải tự nhiên như nước chảy tích thành”
- Tính chặt chẽ của kịch thể hiện ở việc đặt vai hề trong sự gắn bó hữu cơ, toát lên từ tình huống và kết cấu của toàn
vở kịch, không thể xen vào kịch những lớp hề vô tội vạ để mua vui “vai hề không thể không có,nhưng không thể cho
vào tùy tiện”.
Chương III – Chị Chiến
III/ QUAN NIỆM CỦA MẶC GIA
1/ Mặt Tử
- Đứng đầu phái Mặc gia
- Đại diện cho tầng lớp thứ dân (nông dân, thợ thủ công, tiểu thương)
- Tư tưởng chính trị của ông thâu tóm trong ba chữ:
+ kiêm ái (thương yêu lẫn nhau): “yêu ngươi như yêu mình…, xem nhà người như nhà mình, trọng nước ngoài như
nước mình ”
+ tiết dụng (hạn chế tiêu dùng), phê phán giai cấp thống trị sống xa hoa , lãng phí, đàn áp nhân dân
+ phi công (chống chiến tranh)
- Phương pháp luận của ông là phép “tam biểu”
“Thế nào gọi là tam biểu? Nghĩa là có cái làm gốc, có cái làm nguồn, có cái để làm dùng . Gốc ở chỗ nào?
Trên thì gốc ở việc của thánh vương đời xưa. Nguồn ở chỗ nào? Dưới thì dò xét sự thực ở trước tai mắt của trăm
học. Dùng ở chỗ nào? Đưa ra làm việc hành chính xem có lợi cho nước nhà trăm họ hay không?”
2/ Quan niệm văn học của Mặc gia:
- Phương pháp tam biểu trên được ông quán triệt vào quan điểm văn nghệ làm cho nó có tính hiện thực, nhất là có
tính nhân dân.
- Với Mặc Tử, không có đẹp tự thân, không có “nghệ thuật vị nghệ thuật” .-> xem nhẹ mặt nghệ thuật của tp văn
chương
“Một thành tựu về mặt sáng tạo là khéo léo nếu có bổ ích cho con người, và nó là thô lỗ nếu nó không bổ ích”
3
- Mặc Tử không hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của cái đẹp và khả năng của nó tác động vào con người chủ yếu qua
nghệ thuật, nhưng ông không coi trọng âm nhạc, cho nó là phí của, không cứu được dân, không giúp được vua, lại
sinh ra thói xa xỉ
-> khác với Nho gia rất đề cao vai trò cảu âm nhạc trong sinh hoạt của đất nước
-> Gần gũi với quan niệm của Đêmôcrit: “Không phải sự cần thits đã sản sinh ra âm nhạc, nghệ thuật này ra
đời vì thói xa hoa đã phát sinh”
- quan niệm có phần cứng nhắc, thô thiển: cái gì không làm no ấm dân thì vô bổ:
“Những thứ nhạc khí , nếu cũng trúng vào chỗ lợi của dân như thế, ta cũng không dám công kích. Nhưng dân
có ba điều lo là: đói không được ăn, rét không được mặc, mỏi không được nghỉ; ba điều đó là sự lo lớn của dân.
Song nếu vì dân mà gõ chuông lớn, đánh trống kêu, gảy đàn cầm đàn sắt, thổi ống vu ống sinh mà múa cái can cái
thích, thì sự ăn mặc của dân có được gì đâu?”
=> Tóm lại qn văn học có tính hiện thực tính nhân dân nhưng còn phiến diện, thiển cận
IV/ QUAN NIỆM CỦA PHÁP GIA
1/ Tư tưởng Pháp gia cổ đại Trung Hoa
- bắt đầu từ Thương Ưởng và được Hàn Phi phát triển và hoàn chỉnh.
- Đây là một học thuyết về nền chuyên chế cực đoan của vua chúa dựa trên sự tàn bạo, cưỡng bức cả (trong đối nội
và đối ngoại ) và ngu dân nhằm thiết lập và củng cố quyền lợi tối thượng của hoàng đế , không chế toàn bộ xã hội,
biến mọi người thành công cụ phục dịch mù quáng.
- trên thực tế, sau đó được Tần Thủy Hoàng quán triệt xuất sắc, lập nên đế chế Tần nổi tiếng hà khắc, tàn bạo
- ND chủ yếu của nó thâu tóm trong 3 khái niệm : pháp, thuật, thế.
2/ Về quan niệm văn học của Pháp gia:
Đối với văn học nghệ thuật, Pháp gia thể hiện rõ đường lối , chính sách chuyên chế, bạo lực đó.
- bao trùm và nổi bật là chính sách ngu dân nhằm dễ bề cai trị:
“Nếu như mọi người ngu dốt thì dễ cưỡng ép họ lao động nặng nhọc, còn nếu họ thông minh thì cưỡng ép họ
không dễ”
- bài bác văn nghệ , cho nó là vô dụng, có hại cho nông nghiệp, binh nghiệp và đặc biệt cho thi hành pháp luật
“Ngày nay nếu dân trong nước đều cho rằng nghề nông và đi chiến trận là những cái đáng trách…, thì các
bậc hào kiệt sẽ đều có thể đổi nghề, chỉ chăm việc Thi, Thư…nước sẽ nguy vậy” (Thương Ưởng)
“ Trong nước của bậc minh chúa, không cần sách vở văn chương, chỉ lấy pháp luật dạy dân…Đối với người
giỏi văn chương không nên dùng, dùng họ sẽ làm loạn cho pháp độ” (Hàn Phi)
4
Mai Liên
III. Các biện pháp khắc họa nhân vật
Nói về nghệ thuật văn chương mà cụ thể đây là các biện pháp khắc họa nhân vật tuy chưa có những đúc kết rành
mạch về mặt lí thuyết song ông cũng đưa ra được một số biện pháp cụ thể như sau:
•
Nhà tiểu thuyết phải thông qua những chi tiết dồi dào để khắc họa nhân vật.
Ví dụ như nhân vật Tây Môn Khánh trong Thủy Hử là tên chim gái có tiếng. kim Thánh Thán đã khen Thi Nại
Am như sau: “Tả Tây Môn Khánh mấy phen xoay chuyển, khéo về cứu thế, khéo về đổi thay, khéo về cần
gấp, khéo về lạnh lung, khéo về thong thả, khéo về muốn ngay, khéo về phá đi, khéo về mượn lại, khéo về đón
lấy, khéo về đẩy ra… thực là một thiên gấm bột màu hoa, rõ ra văn tự”
•
•
Nhà thiểu thuyết thông qua ngôn ngữ mà khắc họa nhân vật.
•
Kim Thánh Thán nói: “Truyện Thủy Hử tịnh không có một chữ chi, hồ, giả, dã. Mỗi người mỗi lối nói, tả
đúng cho cái giọng nói năng của mỗi người” (Phép đọc)
•
Lối viết vô ngôn: Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, cho nên “vô ngôn”, “vô thanh” tức là lúc im
lặng, cũng có khi là cách bộc lộ sự suy nghĩ, tính cách bên trong. Khác với mọi lần, đến trận Tăng Đầu thị
Tiểu cái quyết đi, Tống Giang im lặng không nói câu nào, mặc dù bản thân hiểu rõ sức mạnh của năm hổ ở
tăng Đầu thị mạnh đến cỡ nào. Cho nên theo Kim thánh Thán, xét cho cùng thì Tiểu Cái đã chết trong tay
Tống Giang rồi, không cần chờ đến muuix tên của Sở Văn cung. Với cách viết “vô ngôn” này Kim Thánh
Thán cũng có lời bàn : “Tác giả với những trận trước thì chép ra Tống Giang khuyên, đến lần này chép thì
bỏ lời khuyên đi, chi rõ cái các tâm của Tống Giang để định tội vậy. Đó là thâm ý của tác giả, dung ngòi
bút kì quan chép sử cho rõ công ngay.” (Lời bàn hồi 59)
Thông qua hành động mà khắc họa nhân vật
Khắc họa nhân vật Võ Tòng vừa cẩn trọng, vừa thô bạo trong hồi “Máu chảy hổi uyên ương” ông viết:
“ khi giết bồi ngựa, thổi tắt đèn đi, mở của mạch lách vào, khép cánh của lại, giết chết Liễu Hoàn, tắt đèn
trong bếp, chạy ra trước cửa… tả những câu đến thế do ngòi bút sắc. Mới đầu tả một canh bốn điểm, trước giở
bọc lấy áo của Thi Ân và liền sau lại lấy ra dung dây gai, đó là bút pháp được nghiêm. Lẻn vào cửa sau giết
tên bồi ngựa, rồi đánh nhoàng ra cửa sau, giở đến bọc đao, mở cánh cửa mạch mấy làn lách ra lách vào khép
cánh, sấn vào trên lầu, giết chết ba tên, rồi lại xuống thành lầu, nhường cho hai người đi lên, rồi trở lên lầu giết
nốt, rồi trở xuống lầu giết nốt phu nhân, trở lại dưới bếp lao dao, chạy tới trung đường, đi ra khỏi cửa, bao
nhiêu lần chuyển hành động, đó là sức bút cứng cáp, lớn lao.” (Lời bàn hổi 30).
•
Dùng lối đối sánh “phản thấn”
“có phép bối diện phản thấn như những đoạn muốn chứng thực sự gian trá của Tống Giang, bất giác lại tả Lý
Quỳ chân thực, và muốn chứng thực Thạch Tú tinh nhanh, bất giác lại tả Dương Hùng là hạng hồ đồ” (Phép
đọc)
5
Kim Thánh Thán phát hiên ra hàng loạt phép đối sánh trong trong việc khắc họa hai nhân vật Tống Giang và
Lý Qùy.
•
Tống Giang đón cha trong thôn gặp thần, Lý Quỳ đón mẹ trong rừng gặp hổ.
•
tống Giang gặp Huyền Nữ là gian hủng đảo quỷ, Lý quỳ gặp Bạch Thỏ là thuận hiếu thấu trời
•
cha Tống Giang không muốn con làm cường đạo, mẹ Lý quỳ muốn con làm quan
•
Tống Giang có em theo giặc, Lý Quỳ có anh là lương dân…
Cũng có khi biện pháp “Bối diện phản thấn” này đưuọc dung để miêu tả tính cách của một nhân vật, từ
mặt trái để làm nổi rõ mặt chính diện. Ví dụ “ Lý quỳ là người thô mãng, tuy hết sức tả ra cũng không tả
nổi, hồi này cốt chép Lý quỳ thô mãng, lại tả lật lại con người gian hoạt, thế mà khiến cho đời thấy càng
gian hoạt lại càng chất phác.” ( Lời bàn hổi 53).
Anh Cường
CHƯƠNG III. VĂN TÂM ĐIÊU LONG CỦA LƯU HIỆP
III. NHÀ VĂN : TÀI ĐỨC, HỌC VẤN, CÁ TÍNH, PHONG CÁCH
- Tài đức :
+ Không chỉ coi trọng đạo đức xã hôi, mà cả tư cách đạo đức cá nhân. Ông viết : “ Chu thư bàn về kẻ sĩ, so sánh họ
với gỗ. Đó là quý kẻ sĩ ở chỗ họ có công dụng lại gồm cả văn thái. Vì vậy gỗ đẽo trắng xong thì bôi thuốc nhuộm.
Nhưng tượng gỗ dựng xong thì gọt những chỗ mọt. Trái lại các nhà từ phú gần đây chỉ lo chuyện hoa mĩ, bỏ mất cái
thực tế. Cho nên Tào Phi cho rằng văn nhân từ xưa tới nay đều không để ý đến những đức hạnh nhỏ” (Trình khí).
+ Lưu Hiệp cho rằng có nhiều người đem lại cái lụy cái xấu cho giới văn sĩ : Tương Như hay ăn của đút, lại tư thông
với vợ kẻ khác. Dương Hùng hay quỵt tiền rượu. Đỗ Dộc và Lệ Túy hay xin xỏ. Ban Cố lại nịnh Độc Hiến để lấy uy.
Mã Dung hám của, thích bè phái… Nhưng ông cho rằng đây không phải chỉ riêng của nhà văn, nên cần xem xét, nhất
là không nên coi đây là nhà văn hư hỏng cả. Lưu Hiệp viết : “Các tướng quân, tể tướng xưa, nết xấu cũng thật nhiều.
Như Quản Trọng cũng ăn trộm. Ngô Khởi tham và dâm. Trần Bình tham của đút. Quan Anh nịnh hót và ghen tài. Cứ
từ đó mà đi xuống thì không kể hết được. Khổng Quang giữ địa vị chủ chốt của quốc gia mà còn đi xu nịnh Đổng
Hiền, huống nữa là Ban Cố, Tư Mã Tương Như ở địa vị hèn, Phan Nhạc ở địa vị thấp…” (Trình khí).
- Không chỉ nhấn mạnh đức, ông còn đề cao tài, và cũng nêu cao việc học tập của nhà văn. Ông viết : “Gừng và quế ở
đất mà ra, nhưng cay là do bản tính. Văn chương do học mà có, nhưng làm giỏi là ở thiên tư. Cái tài là do từ trong ra,
cái lực là do từ ngoài vào. Có người học đầy đủ nhưng trí nông cạn; có người trí nhiều nhưng học nghèo nàn, thì sự
nghiệp gay go khó nhọc; người tài kém trì nhọc mệt ở văn từ và tình cảm” (Sự loại).
- Cá tính : “Trường Khanh là người cao ngạo , cho nên lí lẽ văn từ đều quá sức. Tư Vân là người sâu sắc cho nên ý tứ
sâu kín, mà ý vị thì sâu xa. Tử Chính là người giản dị cho nên ý tứ, sự viễ trong văn chương đều rõ ràng, sáng sủa.
Mạnh Kiên là người trong nhà, cho nên văn chương chặt chẽ , ý tứ thâm trầm…” (Thể tính).
- Cá tính là điều kiện hình thành phong cách, nhưng không phải bất cứ cá tính nào cũng đưa lại phong cách. Chỉ có
những cá tính tạo nên sự độc đáo, đem lại cho con người những cảm xúc thẩm mĩ thì mới làm nên phong cách, là một
phương diện quan trọng trong giá trị của văn học. Lưu Hiệp khen : “Kê Khang lấy tâm làm thầy đi điều khiển lí luận.
6
Nguyễn Tịch lấy khí lực để làm thơ. Họ thanh âm khác nhau nhưng tiếng vang hòa hợp, cách lượn khác nhau nhưng
cùng bay. Phan Nhạc mãn nhuệ, lời và ý đều hòa dịu thông suốt. Chung Vinh lời đẹp khi nói về việc tây chính. Giả
Nghị ý dồi dào khi biểu lộ niềm đau xót. Lục Cơ tài muốn nhìn sâu, lời muốn nhìn rộng, cho nên tứ mới có thể vào
khéo léo mà không bị rườm rà cản trở... Họ không phải là hạng thua kém loài hoa vậy. Người nào cũng có chỗ hay
của họ” (Tài lược).
Có thể thấy sáng tác không chỉ dựa vào cá tính. Nó phải là sự tổng hợp của tài, đức, cá tính, học vấn,... Lưu Hiệp
nói : “Tài năng có cao thấp, khí chất có cứng mềm, học vấn có sâu có nông, tập quán có khéo có vụng, đều do bản
chất và sự rèn luyện hun đúc có thành, vì thế mà văn chương có hay có dở, biến hóa vô cùng, vậy cho nên văn lí sắc
hay cùn, không thể vượt qua khỏi tài năng... Mỗi người theo cái thành tâm của mình, sự khác nhau thật giống như
diện mạo của người ta vậy” (Thể tính).
KL : Đúng là mỗi nhà văn có một nét riêng, nhưng chỉ có những cái riêng nào ha, sắc, sâu, tinh,… thì mới đáng gọi là
phong cách. Phong cách dứt khoát phải muôn màu muôn vẻ. Nhưng trong cái muôn màu muôn vẻ ấy thì có hể phân
loại theo những nét tương đồng nào đó. Ngày nay ta gọi là loại hình phong cách. Điều đó Lưu Hiệp trực cảm được.
Căn cứ vào sáng tác thời ấy mà ông đưa ra cách chia tám loại phong cách là Điển nhã, Viễn ảo, Tinh ước, Hiển phu,
Phồn phục, Tráng lệ, Tân kì, Khinh thị.
CHƯƠNG V : CHUNG QUANH CÔNG THỨC VĂN DĨ TẢI ĐẠO
I. LOẠI VĂN NÀO?
a. Văn từ thời Khổng Tử :
+ Trong Luận ngữ : Văn học Tử Do, Tử Hạ. Nghĩa là Tử Do Tử Hạn là người giỏi văn. Văn ở đây được hiểu là học
thuật nói chung, bao hàm cả lịch sử, triết học,… chứ không là khái niệm nghệ thuật ngôn từ như ngày nay.
b. Thời Hán, các tác phẩm văn học xuất hiện nhiều nên có sự phân chia khái niệm văn và văn chương. Khái niệm văn
như thời Khổng Tử, còn văn chương có nghĩa gần như ngày nay. Trong Hán Thư : Văn chương thì có Tư Mã Thiên và
Tương Như. Gần giống nghĩa là có thể gọi Tư Mã Thiên và Tương Như là nhà văn, vì tác phẩm của hai ông có chất
văn, chứ tác phẩm đó không là tác phẩm văn chương.
c. Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, cùng với Tào Phi, Lưu Hiệp,… thì văn học đã tách ra khỏi kinh học, sử học, huyền
học. Thậm chí phân biệt văn học mĩ cảm và văn học ứng dụng.
d. Đến đời Đường thì lại quay lại hiểu văn như thời Hán, tức là những sáng tác văn và trong những sáng tác ngoài
văn. Những nhà cổ văn Đường chủ yếu viết văn chính luận. Ví dụ như Hàn Dũ.
đ. Đời Tống, không phân biết văn chương và học thuật như đời Hán nữa. Văn mà họ quan niệm như thời Chu Tần :
bao gồm cả học thuật nói chung. Trình Hạo nói : “Người ta thấy lục kinh liền cho rằng thánh nhân cũng làm văn, đâu
có biết rằng thánh nhân chỉ phát những cái ấp ủ thành văn trong lòng mình. Tức là cái gọi là Hữu đức giả, tất hữu
ngôn. Còn bọn Tư Do, Tử Hạ làm văn đấy thì sao? Đáp : Do, Hạ có lúc nào cầm bút học làm từ chương đâu” (Di thư)
Trương Giới : văn thì thiên về nghị luận là không đẹp.
Trần Tử Long : thơ thì nói lí chứ không tả tình.
Vậy văn, theo quan niệm của Tống Nho là chỉ thuyết minh cho kinh kệ, nó không cần phản ánh sư thật và không
cần đẹp.
7
II. THỨ ĐẠO GÌ?
- Lưu Hiệp :
+ Đạo : là đạo Nho. “Từ thời Phục Hi đến thời Khổng Tử, các vị thánh nhân đời xưa khai sáng, vị vua không ngôi
thuật lại, dạy dỗ, không ai không lấy tâm của đạo để trình bày thành văn chương, xét các đạo lí vi diệu để giáo dục”
(Nguyên đạo).
Đạo : là quy luật khách quan tự nhiên : “Đạo trong văn là cùng sinh tồn với trời đất”. “Người là tâm của trời đất, tâm
đã sinh thì ngôn lập, ngôn đã lập thì văn sáng tỏ, đó là đạo của tự nhiên vậy” (Nguyên đạo).
- Chương Đạo Thành đời Thanh : “Đạo bắt đầu từ trời” (Nguyên đạo). “Xem trẻ con bập bẹ, có thanh mà không có
lời, xem hình mà đoán được ý muốn của chúng, qua đó mà biết được cái mở đầu cho việc trước thuật văn chương
vậy” (Thuyết lâm). Ông cho rằng, đạo xuất phát từ tự nhiên, bắt nguồn từ thực tiễn trong đời sống, khi thánh nhân nêu
và gọi là đạo mới gọi “lí đương nhiên”. Rồi “Sự việc còn thay đổi về sau, lục kinh chưa thể nói hết được, cho nên tốt
nhất là nương theo lục kinh, phải tùy thời viết ra các đạo lớn” (Nguyên đạo).
- Hàn Dũ đời Đường : đạo chính là đạo Nho. Vì xã hội Đường bị chiến tranh liên miên, nên ông ta sùng bái đạo Nho,
khôi phục địa vị chính thống đạo Nho. Ông viết : “Sách Đại học nói rằng : Đời xưa muốn cái đức sáng với thiên hạ,
đầu tiên phải trị nước, muốn trị được nước trước hêt phải tề gia, muốn tề gia thì tu thân, muốn tu thân thì trước hết
phải chính tâm, muốn chính tâm trước hết thì thành ý … Về văn chương thì Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh
Xuân thu. Về phép tắc thì lễ nhạc và hành chính. Về việc dân thì sĩ, nông, công, cổ. Về trật tự thì quân thần, phụ tử,
sư sinh, bằng hữu, tân chủ, huynh đệ, phu phụ,…” (Nguyên đạo).
- Đời Tống, Đạo hoàn toàn không có tính chất quan sát và tổng kết quy luật khách quan, mà hoàn toàn dựa vào kinh
bổn của thánh hiền.
+ Y Thưởng : Thánh nhân nói gì, tôi nói nấy; nhất cử nhấ động, nhất ngôn, nhất hành, đều phải rập khuôn theo thánh
hiền.
+ Chu Đôn Di, Trình Di, Trình Hạo đã chú thích Tứ thư, Ngũ kinh theo hướng khai thác những mặt hạn chế, tiêu cực
lạc hậu. Thậm chí họ còn bổ sung thêm nhiều khắc nghiệt về đạo đức lễ giáo, ví dụ như tiết liệt. Trình Di nói :
“Nhưng chết đói là việc cực nhỏ, thất tiết mới là việc lớn” .
Tóm lại, “đạo” của Tống Nho không những duy tâm và giáo điều mà còn phản nhân đạo.
III. VĂN CHỞ ĐẠO RA SAO?
1. Văn dĩ quán đạo
- Nếu “đạo” được hiểu là hiện thực khách quan, thì “văn” không phải chỉ để chở cái “đạo” vốn có, mà người làm văn
còn phát hiện thêm sưh thực trong đời sống, bổ sung bồi đắp cho nguồn cái đạo. Cho nên “văn” không còn là phương
tiện thuần túy nữa. Quan niệm “Văn dĩ quán đạo” manh nha từ Lí Hán đời Đường : “Văn giả, quán đạo chi khí” (Cái
gọi là văn, tức là cái khí cụ để quán xuyến đạo”. Tuy còn nghĩa công cụ, nhưng ít ra còn bao hàm cái ý là “đạo” phải
nhờ “văn” mới thực hiện được. Chương Đạo Thành đời Thanh, dù không trực tiếp phát biểu “Văn dĩ quán đạo”, song
ông cũng tán thành “Lời của Lí Hán có ý vị sâu sắc” (Thuyết lâm)
8
- “Văn dĩ quán đạo” thình hành nhất ở thời Tống. Tô Đông Pha nói : “Ngô sở vi văn, tất dữ đạo văn”, nghĩa là “Văn
mà tôi làm ra cùng xuyên thấm với đạo”. Điều này rất tiến bộ, “Vì làm văn mà dần dần nói đến đạo lí” – đây đúng là
quy luật sáng tác của nhà văn với tư cách là nghệ sĩ đích thực. Văn nghiệp của ông nói lên điều đó. Thơ, từ, phú của
ông là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ đời Tống.
- Ngược lại với quan niệm trên là những quan niệm của những người cho rằng “đạo” là sách vở thánh hiền thì mối
quan hệ văn và đạo hiểu theo cách khác.
+ Hàn Dũ : Văn dĩ minh đạo. “Minh” là gì thì ông không cho biết cụ thể, chỉ nói : “Sư kì ý bất sư kì từ”. Nói chung
các nhà cổ văn cùng thời Hàn Dũ đều có quan niệm như vậy. Hàn Dũ nói : “Chí của Dũ ở chỗ đạo cổ, không phải
thích mà là thích đạo”.
+ Chu Đôn Di nói : “Văn là để chở đạo, cũng như xe dùng để chở vật, bánh và cần xe được trang hoàng mà không
dùng đến, đó là trang hoàng phí công, huống chi là xe không” (Thông thư). Như thế theo Tống Nho, văn chỉ là một cỗ
xe chở đạo nằm hoàn toàn bên ngoài. Mối quan hệ giữa văn và đạo là hoàn toàn cơ giới, máy móc, không có quan hệ
giữa nội dung và hình thức.Theo Tống Nho, trong văn không có đạo, văn chỉ là phương tiện , một công cụ thuần túy,
không nhất thiết phải đẹp, và càng không liên quan gì đến nhận thức đời sống. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai
lầm, hoàn toàn trái với bản chất và chức năng của văn học.
Nguyên nhân : Tống Nho tuyệt đối hóa “đạo”, biến nó thành một thứ cực kì giáo điều và trừu tượng. Trình Di nói :
“Trong cái vĩnh hằng của trời đất không nghe, không ngửi được, cái lí của nó là đạo”. Đó là cái đạo “thiên lí” nói
chung, không phải là bao gồm từng chân lí cụ thể.
Hậu quả : Tống Nho đều khinh thị những quan niệm như “Văn dĩ minh đạo”, “Văn dĩ quán đạo”, chê cả Hàn Dũ, dù
ban đầu coi Hàn Dũ là tổ sư của mình. Họ chê rằng ông ta đã đảo lộn quan hệ “văn” và “đạo”, đã “hại đạo”. Và họ
còn chê tất cả các loại văn chương khác. Trình Hạo nói : “Hỏi làm văn là có hại đạo không? Đáp là có hại. Phàm làm
văn mà chưa truyền ý ắt chưa dụng công,…” (Di thư). Vì chủ trương “Văn tải đạo”, thì người chân chính khó quán
triệt, còn lũ bất tài noi theo thì sáng tác không thể gọi là văn chương. Những người đi theo con đường khác thì bị gọi
là “Văn hại đạo”. Ví dụ như Chu Hi công kích Tô Đông Pha : “Văn vốn trong đạo chảy ra, làm gì có cái lí văn lại có
thể quán được đạo. Nếu cho văn quán được đạo, tức lấy gốc làm ngọn, lấy ngọn làm gốc vậy” (Ngữ loại).
Về việc tu dưỡng, tích lũy của nhà văn, Tống Nho cho rằng phải “cầu đạo”, nghĩa là phải tụng niệm sách vở thánh
hiền. Vì tôn sùng đạo Nho một cách giáo điều nên cần “cầu đạo” là đủ.
KL : Nếu chỉ căn cứ vào chữ nghĩa thì dễ cảm thấy “Văn dĩ tải đạo” không có gì sai trái, thầm chí diễn đạt gãy gọn,
súc tích một chân lí muôn đời : văn chương phải hàm chứa một nội dung đạo đức, đạo lí nào đấy. Nhưng phân tích
lịch sử - cụ thể, khảo sát từng yếu tố trong mối quan hệ hữu cơ bên trong chúng, tiến hành so sánh với các quan niệm
hữu quan,… thì thấy quan niệm “Văn dĩ tải đạo” phiến diện về nội dung “văn|, tiêu cực nội dung “đạo” và sai lầm về
phương pháp “chở”. Nó kết tinh đến cao độ những mặt tiêu cực trong quan niệm của Nho giáo về văn học và để lại di
hại, trở ngại cho đổi mới tư duy văn học hiện đại.
9
Em Thảo
Câu 1. (Phần I. Chương II)
MỘT THỜI KÌ “TRĂM NHÀ ĐUA TIẾNG” – QUAN NIỆM VĂN HỌC VÀ MĨ HỌC CỦA PHÁI NHO,
ĐẠO, MẶC, PHÁP GIA
•
Khái quát chung:
- Đây là thời Chiến Quốc (thế kỉ VIII-II TCN) , nhiều vấn đề bức bách của thời đại cần phải giải quyết: Làm thế nào
kết thúc phân tranh, thống nhất đất nước, thiết lập chế độ chính trị và pháp luật phù hợp phù hợp xã hội mới…
- Xuất hiện nhiều nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, triết học, pháp luật… tranh biện lẫn nhau > tạo cục diện “Bách
gia tranh minh”. Lí luận văn học, mĩ học cũng nằm trong tình trạng “tranh minh” như vậy.
•
Quan niệm của Nho gia.
1. Người tiêu biểu cho học phái Nho gia: Khổng Tử.
- Khổng Tử (551-479 TCN).
- Tư tưởng, ngôn luận của Khổng Tử làm cơ sở lí thuyết cho đạo đức, lễ giáo phong kiến trong suốt mấy nghìn năm
qua.
- Thực tế lịch sử, Khổng Tử phát ngôn cho một giai cấp mới mẻ - thay thế địa vị giai cấp chủ nô trước đó – nên chứa
nhiều nét tiến bộ mang tính nhân dân.
2. Những tiến bộ trong tư tưởng của Khổng Tử:
Thứ nhất: Khổng Tử nêu lên học thuyết chữ “Nhân”.
(1) “Nhân” ở đây được hiểu là: Điều gì mình không muốn chớ gán cho người; yêu người; mình muốn nên
người thì cũng nên gây dựng cho người, muốn thành đạt thì cũng nên giúp người thành đạt.
(2) Điểm cao nhất của “Nhân”: Thi hành rộng rãi khắp cho dân, do đó có thể giúp được nhiều người.
(3) Khổng Tử còn chủ trương con người phải nghe thấy nhiều, không nên tin vào quỷ thần…
Thứ hai: Về văn học:
(1) Trong hệ thống thuật ngữ của Khổng Tử có khái niệm “văn học”, nhưng mang hàm nghĩa “học thuật” nói
chung. Riêng khái niệm “thi” mà ông dùng trong văn học, nghĩa của nó tới người ngày nay vẫn không đổi.
(2) Quan niệm văn học coi trọng đạo đức phong kiến “trung hiếu”:
“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần
thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được tên chim muông cây cỏ”.
=> Xuất phát từ đạo đức phong kiến, Khổng Tử chê thơ ca nước Trịnh: “Thơ ca nước Trịnh dâm, kẻ tiểu nhân nguy
hiểm”.
Việc nhấn mạnh tu thân theo đạo đức phong kiến còn được thể hiện trong đối thoại về Kinh Thi giữa Tử Cống
và Khổng Tử hay sự đối thoại giữa Tử Hạ và Khổng Tử.
10
=> Hệ quả của quan niệm văn học trên: Khổng Tử nhấn mạnh nội dung và tác dụng thiết thực của văn học.
Ông khuyên nhà văn: “Ngôn từ, đủ đạt ý là được rồi”.
Tiếp nhận văn thơ không chỉ là để thưởng thức cái hay cái đẹp mà phải rút ra tác dụng thiết thực của nó: “Đọc
thuộc ba trăm bài Kinh Thi, nhưng giao cho nhiệm vụ chính trị không làm được, sai đi sứ nước ngoài lại không
biết độc lập tự mình ứng đáp, đàm phán, mặc dù thuộc nhiều nhưng phỏng có ích gì?”.
Tiểu kết: Khổng Tử đề xướng quan niệm văn học tuyên truyền, bảo vệ chế độ, đạo đức, lễ giáo phong kiến.
(3) Khổng Tử không đối lập gay gắt việc tuyên truyền đạo đức phong kiến với việc nhận thức hiện thực. Theo
ông, văn học không những phản ánh chân thực cuộc sống mà còn biểu hiện chân thực tình cảm con người. ( “Thơ có
thể làm… cây cỏ”). >< quan niệm của Tống Nho thời sau này.
(4) Khổng Tử chú ý đến cái hay cái đẹp của văn chương:
“Lời không văn vẻ, không đi xa được”.
“Chất nhiều hơn văn thì không tránh khỏi thô thiển, văn nhiều hơn chất thì không tránh khỏi hư rỗng. Văn và
chất phối hợp thích đáng thì đó mới là người quân tử vậy”. (Đây là từ văn mà bàn đến con người).
> Khổng Tử coi trọng sự thống nhất giữa nội dung và hình thức.
(5) Khổng Tử cho rằng nội dung của văn chương không chỉ có đạo đức, tư tưởng, lí trí thuần túy, mà còn có
tình cảm, hứng thú ( >< quan niệm Tống Nho sau này):
“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, bày tỏ nỗi sầu oán”.
Đặc biệt, Khổng Tử khẳng định thơ ca biểu hiện tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Ngay cả với bài “Quan thư” mở đầu
tập Kinh Thi, ông cũng cho rằng: Bài Quan thư vui mà không tà dâm.
(6) Khổng Tử coi trọng đặc trưng, chức năng riêng biệt của văn chương nên ông đề cao tác dụng của nó ( ><
Tống Nho: chủ trương “văn dĩ tải đạo” – gắn với thứ văn chương minh họa cho đạo đức).
“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, giúp quan sát phong tục…”
“Không học thơ, thì không có gì để ăn nói”.
•
Kết luận chung:
•
Tất cả tính chất tiến bộ trong quan niệm văn học của Khổng Tử là ở đó. Khổng Tử chưa hề là tác giả của
công thức “văn dĩ tải đạo”.
•
Dần theo xu hướng thoái hóa của chế độ phong kiến, các nho sĩ triều đại sau chỉ khai thác những khía cạnh
lạc hậu của Khổng Tử làm công cụ đè nén và đầu độc nhân dân.
Câu 2. (Phần II. Chương II)
QUAN NIỆM CỦA ĐẠO GIA
I. Lão Tử.
1. Khái quát: Cuối thời Xuân thu, sự tranh giành và thôn tính khốc liệt dẫn đến sự suy yếu của một số lãnh chúa vừa
và nhỏ. Triết học Lão Tử (thế kỉ VI-V TCN) là đại biểu cho nguyện vọng chính trị-xã hội của lực lượng suy tàn này.
11
2. Triết học Lão Tử:
- Có những yếu tố duy vật, biện chứng thô sơ:
+ Quan niệm bản nguyên thế giới không phải do Chúa Trời, Thượng Đế mà là một khối hỗn mang.
+ Thế giới có thay đổi (có sinh, có trưởng) và có tính chất tuần hoàn.
- Thuyết “vô vi” (không làm gì cả).
+ Học thuyết này gắn mật thiết với lí tưởng thẩm mĩ của Lão Tử.
+ Kêu gọi: Thỏa mãn với những gì thiên nhiên dành cho con người, hạn chế ham muốn, tự giải thoát khỏi đam mê.
+ Lão Tử cụ thể hóa triết học của mình thành những mệnh đề:
“Tuyệt thánh khí trí” (Bỏ thánh hiền, vứt trí tuệ)
“Tuyệt xảo khí lợi” (Vứt cái khéo léo, xa lìa danh lợi)
“Tuyệt học vô ưu” (Bỏ học, không lo lắng gì cả)
•
Hệ quả:
•
Ông chủ trương một nền giáo dục “bất ngôn chi giáo” (dạy bằng cách không nói gì cả).
•
Về tranh luận học thuật, ông khẳng định: “Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện” (Người giỏi không
tranh biện, người hay tranh biện không giỏi đâu).
•
Tuy không phủ nhận cái đẹp vốn có trong hiện thực khách quan (xuất phát từ yếu tố duy vật trong tư
tưởng), nhưng ông lại phủ nhận cái đẹp trong thực tiễn của con người:
Theo Lão Tử, cái đẹp cũng phải “vô vi”, như “gỗ chưa qua tay người” > Cái đẹp thoát li thực tiễn sống và đấu tranh
của con người, phản ánh lí tưởng xã hội muốn quay lại thời hỗn mang của ông.
Ông triệt để khẳng định: “Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp thì không còn đẹp nữa”.
•
Lão Tử phủ định văn nghệ với tư cách hành động sáng tạo của con người, với văn học cũng vậy. Ông phủ
định triệt để nhân tố cơ bản của văn học là “ngôn” và “mĩ”:
“Chính ngôn nhược phản” (Lời nói phải cũng như lời nói trái)
“Mĩ ngôn bất tín, tín ngôn bất mĩ” (Lời nói đẹp không đáng tin, lời nói được không đẹp).
> Phủ nhận mĩ ngôn thì tất yếu Lão Tử không thừa nhận văn học.
II. Trang Tử.
•
Ông đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng mĩ học của Lão Tử.
•
Thường diễn đạt tư tưởng của mình bằng những chuyện ngụ ngôn/trùng ngôn/chi ngôn…
•
Nhất trí với Lão Tử về tư tưởng xã hội, ông phản đối các cuộc tranh luận phải trái.
12
•
Trang Tử nêu ra quan niệm tương đối về nhận thức luận, cho rằng trên đời này, dài ngắn, to nhau, phải
trái, tốt xấu đều như nhau… và chân lí là điều rất tương đối.
=> Hệ quả: Quan điểm mĩ học của Trang Tử: Khẳng định cái đẹp cũng là tương đối, vì thế giới là vĩ đại, vô cùng mà
con người và cả thần linh đều không bao quát được hết vẻ đẹp của nó.
(5) Trang Tử đi từ chủ nghĩa tương đối đến quan niệm có yếu tố bất khả tri trong mĩ học. Ông nói:
“Thiên hạ có cái đẹp lớn nhưng không thể nói ra, bốn mùa có phép tắc nhưng không bàn luận được, vạn vật có
cái lí kết thành nhưng không thuyết minh ra”
Ngay cả việc đọc sách cũng chỉ là “đang tiếp xúc với cặn bã của người xưa” (Truyện “Thiên đạo”)
(6) Tư tưởng mĩ học của Trang Tử cơ bản là duy tâm, nhưng cũng có những yếu tố biện chứng thô sơ.
- Ví như truyện “Thiên đạo”, thông qua chuyện đẽo xe để chứng minh cái đẹp, cái tinh là không giảng giải được, tuy
nhiên nó cũng chứng minh cái đẹp, cái tinh, cái điêu luyện được hình thành trong quá trình rèn luyện và cố gắng lâu
dài trong thực tiễn.
- Ví như chuyện phó mộc Khánh làm giá gỗ, khi ta bỏ đi phần diễn đạt huyền bí thì thấy rõ quan niệm: Nhà nghệ sĩ
phải đam mê sáng tạo đến mức không quan tâm đến điều gì khác, kể cả quyền lợi rất thiết thân và chính đáng…để
thai nghén đứa con tinh thần cho tượng hình rõ nét trong tư duy sáng tạo, rồi mới bắt tay vào chạm trổ.
Mai Huyên : Chương 3: Một công trình tiêu biểu
– “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp
Phần VI – Phê bình văn học
•
Lưu Hiệp phê phán những khuynh hướng phê bình sai lầm
•
Khuynh hướng “quý xưa rẻ nay”: “Thật quả là cái ngay ở trước mắt thì không dùng, chỉ hâm mộ cái tiếng
nghe ở xa vậy.”
•
Khuynh hướng “trọng mình khinh người”
•
Khuynh hướng “nói bừa”
•
Ông cho rằng phê bình đúng đắn không phải là việc giản đơn bởi vì:
•
Những khuynh hướng sai lầm nói trên
•
Trình độ và phong cách của mỗi người khác nhau
•
Tính chất phức tạp của tác phẩm văn học
•
Do đó mà có hiện tượng “nhận xét sai lạc, các tác phẩm sâu sắc thường bị vứt bỏ, trái lại các tác phẩm nông
cạn thường được ưa chuộng”
•
Tuy nhiên không phải là không thể phê bình đúng đắn, vẫn có thể nhận thức được cái “chân lí” của tác phẩm
•
Muốn phê bình cho đúng thì nhà phê bình phải:
13
•
Tránh những khuynh hướng phê bình sai lầm ở trên
•
Rèn luyện cho mình có nhân cách toàn diện
•
Có kiến thức sâu rộng và thái độ công bằng
•
Biết vận dụng toàn diện các tiêu chuẩn phê bình (mà ông gọi là “lục quan”) :
+ Vị thể: Tìm ra nội dung và hình thức tác phẩm
+ Trí từ: Xem cách dùng từ, đặt câu có xác đáng không
+ Thông biến: Xem nội dung và hình thức có hài hòa hay không
+ Kì chính: (Thầy không giải thích )
+ Sự nghĩa: Xét điển cố, dẫn chứng có ổn thỏa không
+ Cung thương: Xét âm điệu của tác phẩm có hài hòa không
•
“Lục quan” bao quát cả nội dung tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Bùi Thùy
Câu 18. VIÊN MAI, NHÀ TỔNG HỢP SÁNG TẠO
Viên Mai (1716-1797) là tập đại thành của nền phê bình lí luận thơ ca cổ điển Trung Quốc, là nhà phê bình
văn học nổi tiếng đời Thanh. Người đời thường gọi ông là Tùy Viên tiên sinh. Ông có tự là Tử Tài, hiệu Giản Trai,
người đất Tiền Đường, Triết Giang (Hàng Châu). Ông bàn về thơ nổi tiếng với cuốn "Tùy viên thi thoại" gồm 16
quyển và "Tùy viên thi thoại bổ di" gồm 10 quyển.
Quan điểm văn học của viên Mai tập trung vào thuyết tính linh bao gồm 3 điểm cơ bản: làm thơ phải có cái tôi
"làm thơ không thể không có cái tôi"; tài năng "Nhà thơ không có tài thì không vận chuyển được tâm linh"; trong
quan hệ giữa tài và tình thì tình là điều kiện số một "Không có tình thì không thể có tài". Viên Mai phê phán mạnh mẽ
lối sùng bái người xưa, lối dùng điển cố một cách sơ cứng. Tuy vậy, ông không phủ nhận ý nghãi của việc học tập
người xưa. Ông đề cao tính chân thật trong văn chương "văn chương truyền cái chân thật chứ không truyền cái giả
dối".
Viên Mai vươn đến một quan niệm thơ khá toàn diện, gần đạt đến mức thống nhất biện chứng giữa nhiều mặt
đối lập, ít rơi vào sai lệch cực đoan. Ông quan niệm thơ phải chân thực nhưng phải sống động. Lí luận của ông luôn
có sự kết hợp hài hào giữa "chân" với "hoạt". Ông cho rằng nếu "tính tình" cần chân thực, thì cũng phải biểu hiện một
cách linh hoạt. Ông nói: "Nếu ngòi bút linh hoạt, thì viết việc trung, hiếu, tiết nghĩa vẫn có sinh khí, nếu ngòi bút
cứng đờ, thì dù vịnh con gái tỏng phòng khuê, vẫn thiếu tình tứ"; "Tất cả thơ văn đều cần chữ đứng trên giấy, không
thể đề chữ nằm trên giấy"; "Người có thể khờ, nhưng thơ không thể khờ".
Trong "Tùy viên thi thoại", Viên Mai nhấn mạnh thơ phải có chất suy nghĩ, sâu xa, gân guốc: "Thơ có thịt mà
không có xương là con sâu mùa hè vậy". Sâu sắc nhưng phải thật nhuần nhuyễn, và cần được biểu hiện một cách hồn
nhiên, không làm mệt óc, làm giảm sức đồng vọng của người nghe. Viên Mai tán thành với Mạn Trai cho rằng: "Thơ
dụng ý phải sâu sắc, nhưng hạ bút phải bình dị". Ông nói: "Cái suy nghĩ được mặc dù khổ đắng, nhưng nói ra phải
14
ngọt ngào. Cái nói ra có thể bất ngờ với người khác, nhưng vẫn nằm trong ý của họ"; "Ý sâu nhưng lời dễ, nghĩ khó
nhọc nhưng lời ngọt ngào" (Ý thâm từ thiển, tứ khổ ngôn cam). Viên Mai còn khái quát những ý nghĩ này thành lời
bàn sâu sắc về thơ ca: "Thơ thích nhạt chứ không thích nồng, nhưng phải là sự nhạt sau khi đã nồng" (Thi nghi đạm
bất nghi nồng, nhiên tất tu nồng hậu chi đạm).
Tuy nhấn mạnh tình cảm nhưng Viên Mai không xem nhẹ tài hoa. Ông chê Tô Thức không tránh khỏi chịu
ảnh hưởng ít nhiều của khuynh hướng thuyết lí đời Tống, cho nên "Thơ có tài mà vô tình". Ông rất kị làm thơ mà
thiếu tình cảm và khuyên người ta: "Chim oanh về già không nên hót. Người về già không nên làm thơ. Thường
thường tinh thần suy thì hay lặp lại những lời nhàm". Nhưng mặt khác, Viên Mai khẳng định: "Nếu không có tài uyên
thâm, thì cũng khó nói được cái kì diệu của những lời hay". Từ đó, ông thấy được mối liên hệ giữa tài và tình trong
thơ ca: "Tài chính là từ tình phát ra, tài cao ắt tình sâu" (Tài giả, tình chi phát, tài thịnh tắc tinh thâm).
Viên Mai cho rằng thơ không nên có cách luật nghiêm ngặt, nhưng cũng phải có chút ít vần điệu. Ông chê
những người "mở miệng ra là Thịnh Đường và ưa dùng những vần của cổ nhân" là "con rối làm trò" và cho đó là việc
làm hại thơ. Nhưng mặt khác, ông cũng chê Tô Thức "thơ nhiều thú vị, nhưng thiếu vần". Ông khẳng định: "Thơ có
thanh mà không có vần là gạch ngói vậy".
Ông phân biệt thơ với văn: "Cũng là trước thuật, nhưng văn thì viết ra, còn thơ thì ngâm thành". Nghĩa là thơ
phải gắn liền với tiết tấu và vần điệu nhất định. Làm thơ phải có kĩ thuật cao, nhưng thơ hay đọc qua thường thấy mộc
mạc, dễ hiểu. Ông cũng không phản đối dùng điển trong thơ: "Dùng điển cũng như bày đồ cổ, mỗi thứ tùy chỗ thích
nghi". Ông còn nói: "Người đẹp trước mắt, rạng rỡ như nắng mai. Cho dù có tiên cốt, nhưng cũng do biết trang điểm.
Không tắm sao sạch. không ướp sao thơm". Nhưng có kĩ thuật mà không cầu kì bí hiểm, mộc mạc mà không hời hợt
dễ dãi "Thơ hợp với chân chất, không hợp với khéo léo, nhưng là cái chân chất của sự khéo léo lớn".
Viên Mai quan niệm tài thơ vừa là "tiên thiên" vừa là "hậu thiên", xem trọng năng khiếu nhưng cũng nhấn
mạnh học tập. Ông nói: "Thơ văn tạo ý dùng bút cũng như tóc da, cười nói của người đẹp là những cái "tiên thiên".
thơ văn đặt câu, dùng điển cũng như quần áo trang sức của người đẹp là những cái "hậu thiên". "Tiên thiên" thuộc về
năng khiếu, còn "hậu thiên" là do học tập mà nên. Những người có tài có "tiên thiên" cũng không nên xem nhẹ việc
học tập. Xem "danh gia" là người chịu khổ công học tập, "đại gia" là người vốn có tài hoc, Viên Mai nhận định:
"Nên tự nhận là danh gia mà làm cho người đời sau liệt tôi vào hạng đại gia, không nên tự xưng là đại gia rồi làm
cho người đời sau loại tôi ra khỏi hạng danh gia". Phải học tập ở nhiều nguồn, chứ không nên chỉ biết tôn sùng một
người, dù đó là vị "văn tổ", "thi thánh".
Đánh giá cao thơ ca dân gian, Viên Mai chủ trương nhà thơ phải học tập lời ăn tiếng nói của nhân dân: "Có
khi đàn bà con gái ít học hành, ngẫu nhiên làm được một hai câu thớ, dẫu Lí Bạch, Đỗ Phủ sống lại cũng phải cúi
đầu bái phục...Trẻ chăn trâu trong xóm, câu nói tiếng cười đều là thầy ta, khéo dùng để thành câu hay cả".
Học tập nhưng phải độc lập sáng tạo, không được rập khuôn. Viên Mai thừa nhận: "Người xưa đã nổi danh,
truyền tiếng lại, thì người đời sau không thể không chỉnh lí hấp thu". Trong cuốn "Y thuật truyện",Viên Mai nói:
"Tiền Ất giỏi nghề thuốc, không dùng phương đơn cũ, luôn luôn vượt ra ngoài. rút cục đã làm phương đơn rất đúng.
Hai câu chuyện đó đều có thể cho ta nhận thấy rõ con đường làm thơ". Viên Mai còn bàn thêm: "Không học người
xưa thì không thể có cách nào cả, hoàn toàn giống người xưa thì không tìn đâu ra mình cả". Đối với người đương
thời cũng không nên học vẹt, phái đóng góp thêm cái mới, in dấu ấn riêng của mình: "Thơ có người mà không có ta là
bù nhìn vậy...Làm thơ cũng như các huyện ở Giang Nam nấu rượu, đều lấy gạo làm nguyên liệu mà nấu thành các vị
rượu riêng. Người thạo uống rượu nếm đủ mà nói, đây là rượu Nam Kinh này, đây là rượu Tô Châu này...cái ngon
giống nhau mà vị khác nhau là vì mỗi nơi có cách nấu khác nhau vậy". Làm thơ không nên lặp lại người, cũng không
15
nên lặp lại mình, cần có sự sáng tạo đổi mới: "Phải lấy việc làm nảy ý mới, bỏ lời cũ làm hàng đầu". Thiên Hương
Đảng có nói: "Thịt tế không để quá ba ngày, quá ba ngày thì không ăn nữa". Đã là người làm thơ giỏi thì chớ để thơ
mình thành ra thứ thịt tế để quá ba ngày".
Viên Mai khuyên vừa phải chú ý câu, vừa coi trọng toàn bài. "Thiên" và "cú" đều phải được coi trọng: "Thơ
có thiên mà không có cú thì toàn bài suông sắn, một mạch viết thành, nhưng không có câu hay thì không ai truyền
tụng. Nhưng nếu có cú mà không có thiên, trong một bài không phải không có những câu đáng truyền tụng, nhưng
chưa thành được một thể thông suốt, thì cũng khó tuyển vào hạng tác gia".
Về việc chữa thơ, ông cũng cso ý kiến sâu sắc và toàn diện: "Chữa thơ khó hơn làm thơ, vì sao vậy? Làm thơ
khi hứng đã đến, dễ làm thành bài. Chữa thơ khi hứng đã đi qua, đại thể đã xong, có một hai chữ chưa được vừa
lòng, để nghìn muôn khí lực ra chữa cũng không xong. Làm thơ xong không thể không chữa, nhưng không nên chữa
nhiều. Không chữa thì ắt hời hợt, chữa lắm lại tắc rối".
Là một nhà thơ, Viên Mai có nhiều thể nghiệm thấm thía về hứng thú sáng tác: "Gọi nghìn lần không ra, đột
ngột lại đến" (Thiên triệu bất lai, thương tốt hốt lai); "Mười năm cưng yêu, một sớm vứt bỏ".
Với những ý kiến tinh tế, toàn diện và biện chứng như trên, có thể nói Viên Mai trên nhiều phương diện được
đã tổng hợp được những thành tựu xuất sắc trong lí luận thơ cổ điển Trung Quốc. Mặc dù thơ ông không hay lắm, ông
lại sống tài tử ngay trong lúc bàn về thơ, có khi ông viện dẫn nhầm lẫn, một điều tối kị với cái học phong khảo cứu
đời Thanh. Cho nên tác dụng của ông trên thi đàn phần nào bị hạn chế, không thật tỏa rộng. Nhưng ông cũng đã gây
ảnh hưởng đáng kể đối với các nhà thơ đương thời và lớp tiếp sau vào giai đoạn cuối cùng của chế độ phong kiến
Trung Hoa nửa sau thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX như Trương Vấn Đao, Triệu Dực, Cung Tử Trân...
Thuyết "tính linh" của Viên Mai có tính hiện thực nhưng thiếu tính nhân dân, do đó tính hiện thực không cao.
Ông đề cao thơ ca dân gian nhưng cũng là để cho mình, chứ chưa lcus nào ông chủ trương thơ ca phải diễn đạt tư
tưởng tình cảm của nhân dân, đem lại sức mạnh cho cuộc sống và đấu tranh của họ. Chỗ hạn chế trong quan niệm của
ông cũng ảnh hưởng đến lí luận về đặc trưng thể loại của thơ. Đi sâu vào từng chi tiết, ý kiến cũng nhưu cách lập luận
của Viên Mai cũng không phải đều đúng đắn cả. Nhưng điều quan trọng là nhiều ý kiến của ông, ở những phần chính
xác của nó, vẫn còn ý nghãi hiện đại.
Chương V – Phần 3
Đề bài: Văn chở đạo ra sao?
“ Văn” trong “văn dĩ tải đạo”chỉ thuộc một phạm vi hạn hẹp, chủ yếu là văn chính luận, chứ không phải văn chương
thẩm mĩ. Đạo trong văn dĩ tải đạo lại chính là giáo lí của Tống Nho duy tâm và thoái hóa. Đạo ở đây là hoàn toàn bị
tuyệt mĩ rồi được biểu đạt đầy đủ trong kinh hệ của thánh hiền rồi,văn chỉ còn việc chuyên chở đi thôi. Để thấy rõ
điều này cần phải đối sánh với những công thức khác về mối quan hệ giữa văn và đạo. Tùy theo những quan niệm
khác nhau về văn và nhất là về đạo, mà sẽ có những sự thiết lập khác nhau về mối quan hệ giữa văn và đạo.
Công thức văn dĩ quán đạo. Nếu hiểu đạo nặng về hiện thực khách quan thì chức năng của văn không chỉ chở đạo
vốn sẵn có mà người làm văn phải phát hiện thêm sự thực suộc sống bổ sung thêm cái nguồn cho đạo. Quan niệm
văn dĩ quán đạo manh nha từ ý kiến của Lí Hán đời Đường “ Văn giả, quán đạo chi khí”. Quán ở đây vẫn bao hàm
được ý là đạo phải nhờ văn mới hiện ra được. Những lí luận không lấy đạo nho làm giáo điều thì đều nghiêng về
thuyết quán đạo. Chương Học Thành cho rằng: cái nguồn lớn nhất của đạo là ở trong trời đất, mặc dù không nêu
trực tiếp chúc năng của văn với đạo nhưng ông rất tán thành chủ trương quán đạo của Lí Hán: Lời của Lí hán có ý vị
16
sâu sắc. Thuyết quán đạo thịnh hành nhất ở đời Tống và nó đối trọng với thuyết tải đạo tiêu biểu là Tô Đông Pha.
Không xem đạo Nho là tín điều ông giải thích quán đạo như sau: “ Ngô sở vi văn, tất dữ đạo câu”. Có nghĩa là văn mà
tôi làm ra là cùng xuyên thấm với đạo. “ Vì làm văn mà dần dần nói đến đạo lí.”. Văn chương phải bằng tiếng nói
riêng của mình mới tiến hành giáo dục được bạn đọc . Văn nghiệp của Tô Đông Pha đã nói lên điều đó.
Ngược lại với thuyết quán đạo thì trong thiên Nguyên đạo , Hàn Dũ chủ trương: “ văn dĩ minh đạo”( văn làm sáng tỏ
đạo). “ Minh” làm sáng tỏ” nhưng ông không cho biết cụ thể chỉ nói: Sư kì ý bất sư kì từ, có nghĩa là học tập cái ý
chứ không học tập văn từ. Hàn Dũ nói: “ Chí của Dũ là ở chỗ cổ, không phải thích lời mà là thích đạo vậy” cho nên có
thể nói văn dĩ minh đạo là tiền thân trực tiếp mở đường cho quan niệm “ văn dĩ tải đạo” của Tống Nho
Nhưng Tống Nho không chỉ trọng đạo mà còn vụ đạo. Chu Đôn Di nói: “ không biết vụ đạo, mà chỉ lấy văn từ làm
khéo thì chỉ là văn nghệ mà thôi”. Vụ đạo đến thế cho nên “ Văn dĩ minh đạo” chưa đủ và chỉ trên cơ sở đối sánh bổ
khuyết cho văn dĩ minh đạo. Chu Đôn Di nói: “ Văn là để chở đạo, cũng như xe để chở vật, bánh và cần xe được
trang hoàng mà không dùng đến, đó là trang hoàng phí công huống chi là xe không” . Như thế theo Tống Nho, văn
chỉ là một cỗ xe dùng để chở một thứ đạo hoàn toàn nằm ở bên ngoài. Quan hệ giữa văn với đạo hoàn toàn là cơ
giới máy móc chứ tuyệt nhiên không phải là quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức. Theo Tống Nho thì
trong văn vốn không có đạo nó chỉ hoàn toàn là hình thức, chẳng qua là một số phương tiện công cụ thuần túy
không nhất thiết phải đẹp và lien quan đến cuộc sống.Đây là quan niệm sai lầm hoàn toàn trái với bản chất và chức
năng của văn học.
Nguyên nhân Tống Nho đã tuyệt đối hóa phạm trù đọa, biến nó thành một thứ cực kì giáo điều và trừu tượng. Trình
Di nói: Học vấn của tôi mặc dù có kế thừa nhưng thiên lí thì tự bản thân thể hội lấy… trong cái vĩnh hằng của trời đất
không nghe không ngửi được, cái lí của nó là đạo. Có thể thấy cái đạo trong của Tống Nho là thiên lí nói chung, chứ
không bao gồm từng chân lí cụ thể. Hàn dũ đã phân biệt giữa cái đạo chung và lí riêng nên ông đã chủ trương “ Học
vì đạo, làm văn vì lí”. Học cần phải có mục tiêu chung ,cho nên phải học đạo. Nhưng văn không phải là nhai lại, minh
họa cho cái đạo ấy mà cần phải khám phá, thuyết minh cho từng cái lí cụ thể
Có thể thấy “văn hại đạo” là hệ luận tất yếu của văn dĩ tải đạo, Đây là hai mệnh đề như hai mặt của của một trang
giấy. Bởi vì chủ trương văn tải đạo những người chân chính khó quán triệt, còn lũ bất tài noi theo thì sáng tác ra
những loại không thể gọi là văn chương thực sự. Những người đi theo con đường khác lại thực sự sáng tác được văn
chương nhưng tác phẩm của họ liền bị công kích là văn hại đạo. Có nghĩa là văn trong văn hại đạo với văn trong văn
dĩ tải đạo là hai thứ khác nhau. ở đây không có sự đối lập nội tại trong quan niệm tống nho, mà chỉ là thể hiện thái
độ nhất quán đối với hai văn đối lập nhau
Việc tu dưỡng, tích lũy của nhà avwn thì những người theo thuyết tải đọa chủ trương pahir cầu đạo nghĩ là phải tụng
niệm sách vở của thánh hiền. Ngược lại Tô Đông Pha lại yêu cầu nhà văn nên trí đạo nghĩa là phải tự mình tìm tòi thể
nghiệm cho ra cái đạo lí cần thiết. Dương Thời có giải thích phương pháp cầu đạo là phải tâm niệm phải lặng lẽ lĩnh
hội cái ý trong từng lời
Tóm lại nếu chỉ đơn thuần xuất phát từ phương diện ngữ nghĩa một cách hời hợt thì cảm thấy văn dĩ tải đạo không
có gì là sai trái nhưng nếu phân tích một cách cụ thể bám sát vào bối cảnh xã hội tư tưởng cùng những ngôn luận
của các học giả Tống Nho thì thấy công thức văn dĩ tải đạo là một quan niệm phiến diện về phạm vi của văn , tiêu
cực về nội dung của đạo và sai lầm về phương pháp chở đạo. Nó đã kết tinh cao độ những mặt tiêu cực trong quan
17
niệm của văn học của Nho giáo và để lại di hại trong suốt hàng nghìn năm qua, làm thành những trở ngại lớn trong
việc đổi mới tư duy văn học hiện đại.
Chị Hằng
Chương VIIIII/ NGÔN NGỮ KỊCH
1/ (Do diễn viên lên sân khấu không phải để đọc lại kịch bản mà là để trình diễn như thực, nên ngôn ngữ trong kịch
phải gần gũi với ngôn ngữ đời sống, phải mang tính khẩu ngữ, chứ không phải như văn viết)
2 / ông phân biệt ngôn ngữ trong kịch với ngôn ngữ thơ văn
“Ngôn ngữ trong thơ văn quý ở chỗ điển nhã, xem thường sự thô thiển, thích hàm súc mà kị sự rõ ràng.
Trong kịch không thế, ngôn ngữ vốn là những lời nói trong chốn thôn cùng ngõ hẻm, sự việc phải được nói thẳng rõ
ràng. Phàm xem kịch mà làm cho người ta khó hiểu, xem mà chưa hiểu cái hay của nó ngay từ đầu, phải nghiền
ngẫm mới hiểu được chỗ ý tứ của nó , thì đó không phải là ngôn ngữ tuyệt diệu…Kịch không thể so sánh được với
văn thơ, văn thơ làm ra để cho người có học xem, cho nên không thể trách cái thâm thúy của nó. Kịch làm ra cho
người có học cùng xem với kẻ vô học, kể cả vợ con họ nữa, cho nên quý ở chỗ giản dị, không phải ở chỗ thâm thúy.”
-> + Thơ, tiểu thuyết là liền mạch, nhưng có thể thưởng thức không liền mạch. Nhưng xem kịch thì phải liền mạch
+ Khác với thơ, tiểu thuyết là thưởng thức cá nhân, người đọc là người có trình độ học vấn cao; Kịch là diễn cho
nhiều người xem, nhiều tầng lớp; là thưởng thức tập thể, có trình độ khác nhau, đa số là trình độ văn hóa thấp,
thậm chí không biết chữ.
-> Ngôn ngữ kịch phải nôm na, dễ hiểu, đại chúng nếu không kịch đang diễn người nghe có thể phản đối làm cho vở
kịch gián đoạn.
-> Tính cách nhân vật kịch vì thế cũng phải rõ ràng, khác tính cách trong thơ, trong tiểu thuyết phức tạp, nhưng
người đọc thơ, đọc tiểu thuyết có thể đọc lại, ngẫm nghĩ
3/ Ngôn ngữ kịch có tính hành động -> kịch tác gia viết lời đối thoại cho nhân vật cần phải hình dung mình là diễn
viên trên sân khấu:
+ “Phải tay thì cầm bút, nhưng miệng thì xem như đã lên sân khấu, nghĩ là toàn thân mình đang trên sân khấu, thần
hồn tiếp xúc với chung quanh, xét hết các giác quan, thử về thanh âm, nghe tốt thì viết, không thì dừng bút”
+ (Do nhân vật lên sân khấu còn phải biểu diễn với nhiều loại hành động khác nhau: hành động hình thể, hành động
tâm lí có tính chất biểu đạt-> ngôn ngữ kịch phải mang tính chất khơi gợi và phối hợp chặt chẽ với những hành động
đó, nhằm tác động trực tiếp đến người nghe, và được điều chỉnh về mặt sắc thái theo những phản ứng tại chỗ của
đối tượng)
4/ Ngôn ngữ trong kịch phải được tính cách hóa thật rõ nét, thể hiện rõ nét, nổi bật tính cách nhân vật
- (Do hạn chế của tg, không gian sân khấu-> cốt truyện kịch phải tập trung-> tính cách nhân vật trong kịch không thể
khắc họa tỉ mỉ nhiều khía cạnh-> tính cách nhân vật kịch phải sắc nét, nổi bật, rõ ràng)
18
- “Trương Tam nói phải ra Trương Tam, chả nhẽ lại giống y Lí Tứ ”; “Ngôn ngữ phải thật giống hình dáng”
- Nhà văn phải nhập vai khi viết lời đối thoại cho nhân vật và Lời ăn tiếng nói của nhân vật phải trải nghiệm, để cho
kịch tự thể hiện mình, nhân vật tự nói, khác tiểu thuyết có người kể chuyện giải thích, bình luận:
“Muốn lập ngôn cho nhân vật này, tốt nhất phải lập tâm cho họ trước đã…Vô luận muốn lập tâm đoan chính
cho ai, phải tưởng tượng nhập vai đâu đấy, để tưởng tượng về sự đoan chính đó. Còn như phải lập tâm cho kẻ tà ác,
thì phải bỏ kinh mà tòng quyền, tạm thời cũng phải có ý nghĩ tà ác. Phải làm cho cả cái tâm sâu kín theo miệng mà
thốt ra , nói lời người nào giống người ấy, tránh nói giống nhau, tránh làm cho nhạt nhẽo”.
Em Đại
Câu II (Chương 6): KẾT CẤU VÀ TÌNH TIẾT CỦA TIỂU THUYẾT
- Đối với tiểu thuyết nói chung, đặc biệt là tiểu thuyết cổ điển thì khái niệm về kết cấu và tình tiết là những khái
niệm quan trọng liên quan trực tiếp đến cấu trúc của tác phẩm. Cụ thể:
1/ Về kết cấu của tiểu thuyết
* Khái niệm kết cấu: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu được hiểu là: “Toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh
động của tác phẩm...Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn. Tổ chức tác phẩm không chỉ
giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên
kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm”.
=> Tiểu thuyết với tư cách là một thể loại tự sự cỡ lớn, chứa đựng trong lòng nó nhiều nhân vật, sự kiện, tình tiết
cho nên kết cấu của nó cũng vô cùng tinh vi và phức tạp. Nói như Kim Thánh Thán “có khởi ra kết lại, gọi đến thưa
ngay, có mở ra đóng vào” (lời bình hồi 28, Thủy Hử).
Một tác phẩm tiểu thuyết khi được viết ra thì các bộ phận của nó không tồn tại độc lập riêng rẽ mà chúng có
mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau (“được xác định trong tương quan với các bộ phận hữu quan” – GS. Phương
Lựu) cùng tồn tại trong một chỉnh thể nghệ thuật nhất định (đọc lời bình của Kim Thánh Thán khi so tiểu thuyết với
thợ may).
- Việc tìm và xây dựng nên kết cấu của một tác phẩm phải được “tiền định” trong ý thức sáng tạo của nhà văn.
Tất cả mọi sự kiện, tình tiết, nhân vật trong tác phẩm đều được nhà văn sắp xếp, cấu tứ theo ý đồ nghệ thuật của mình.
VD: trong Thủy Hử, Thi Nại Am, cho Tống Giang xuất hiện muộn hơn so với các nhân vật chính khác đủ thấy sự cân
nhắc của tác giả trong việc lựa chọn thời điểm xuất hiện của nhân vật.
- Kết cấu của tiểu thuyết cổ điển, tiểu thuyết thuyết chương hồi là kết cấu hình tuyến, trải theo thời gian từ trước
đến sau, tất cả được cấu kết theo trình tự, lớp lang: “kết cấu hay trong tiểu thuyết là phần trước báo hiệu phần sau và
phần sau báo hiệu phần trước”. Chẳng hạn: trong các tiểu thuyết chương hồi, sự việc xảy ra ở chương sau bao giờ
19
cũng được khởi nguồn từ các sự kiện, tình tiết đã diễn ra trong chương trước. Từ đó, nó quy định cách đọc đối với tiểu
thuyết.
* Kết cấu có mang tính nội dung: kết cấu thuộc về hình thức nghệ thuật nhưng không phải vì thế mà nó thiếu đi
tính nội dung. Trong một tác phẩm nghệ thuật đích thực, bất cứ một sự tổ chức, sắp xếp nào đó cũng góp phần làm
sáng tỏ một quan niệm, quan điểm, cách lí giải của tác giả. VD: về sự xuất hiện của nv Tiều Cái trong Thủy Hử (giáo
trình tr. 111).
2/ Về tình tiết của tiểu thuyết
* Khái niệm về tình tiết: tình tiết được hiểu là đơn vị của hành động trong tác phẩm tự sự, kịch, thể hiện một sự
việc xảy ra trong một khoảng thời gian, không gian có thể xác định được.
- Trong tác phẩm tiểu thuyết, việc triển khai, dẫn dắt các tình tiết cũng là một vấn đề quan trọng và việc dẫn dắt
tình tiết phải có sự linh hoạt, nhịp nhàng, biến đổi lúc nhanh, lúc chậm chứ không được khô cứng. VD: trong Thủy
Hử có thủ pháp gọi là “theo cành tiếp lá” (giáo trình tr.111). Thủy Hử với tư cách là “đoản thiên liên hoàn tiểu thuyết”
mỗi chương hồi có thể coi là một truyện hoàn chỉnh nên việc dẫn dắt tình tiết, sự kiện ở mỗi chương hồi ắt phải có sự
thay đổi, biến đổi khác nhau ít nhiều.
- Bên cạnh đó, trong việc dẫn dắt tình tiết, Kim Thánh Thán còn nói về thủ pháp “chính phạm” (phạm trước
tránh sau). “Chính phạm’ được hiểu khái quát là viết về những cái giống nhau nhưng từ trong nội hàm của những cái
giống nhau ấy, tác giả lại chỉ ra cho người đọc những cái khác nhau, đó mới là cái tài của nhà văn. VD: cùng là giết
hổ, đả hổ nhưng Võ Tòng giết hổ trừ ác, trừ họa cho dân lành còn Lí Quỳ cũng giết hổ nhưng lại để trả thù cho mẹ bị
hổ ăn thịt => cùng giết hổ nhưng mđ khác nhau.
- Chú ý: tình tiết có liên quan mật thiết đến nhân vật trong các tác phẩm tiểu thuyết.
Quỳnh Hoa
CHƯƠNG V
Trước nay đối với công thức văn dĩ tải đạo thường có những cách nhìn nhân sau. Một là cho rằng có từ thời Khổng
Tử và là quan niếm của Nho gia. Hai là cho công thức văn dĩ tải đạo là một quan niêm tích cực vì nó coi trọng chân lý
khách quan và chủ trương hình thức gắn bó với nội dung: “ Quan điểm văn dĩ tải đạo nói lên mối tương quan khăng
khít không hề tách rời giữa nội dung và hình thức”. Thật ra quan niệm văn dĩ tải đạo là một quan niệm tiêu cực về
nội dung và sia lầm về phương pháp. Nó đã tác rời nội dung và hình thức trong văn học. Nó chỉ là đạc sản của Tống
Nho của Chu Trình. Khổng tử không hề nói như vậy. Và đến Nho gia, Tống sau này còn nêu nhiều công thức khác
như: Văn dĩ quán đạo, văn dĩ minh đạo. văn dĩ hoằng đạo,…
Vấn đề này vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận. Có thể quan niệm này bắt nguồn từ Khổng Tử nhưng không thể
nói rằng tình thần của nó đã có từ thời Khổng Tử. Bởi tinh thần là nội dung cốt lõi đã được kết tinh của cả hệ thống
chứ không phải là dấu hiệu riêng lẻ.
Để hiểu roc hơn quan niệm nãy chúng ta cần pải làm roc quan hệ giữa văn và đạo.
20
•
Loại văn nào?
Trước hết phải tìm hiểu hàm nghĩa văn và đạo của Tống Nho đối sánh với quan niệm của Nho Gia.
Văn là một trong 4 nội dung giảng dạy của Khổng Tử: Tử dĩ tứ giáo : văn, hành trung tín; Trong luận ngữ lại có
viết: Văn học Tử Do, Tử Hạ có nghĩa là Tử Do, Tử Hạ là môn đệ rất giỏi về văn. Thời Chu Tần khái niệm văn được
hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành học thuật như triết học, lịch sử… chứ chưa được hiểu là nghệ thuật ngôn
từ.
Đến đời Hán do tác phẩm ngày càng nhiều đặc biệt là từ phú cho nên người ta nhận rõ được tính chất của
văn học hơn và đã bắt đầu phân biệt sự khác nhau giữa văn học và học thuật nói chung. Nhưng khái niệm văn được
dùng để chỉ nói học thuật như Nho giáo và khái niệm văn chương được dùng được dùng để chỉ văn học theo nghĩa
ngày nay. Nhưng từ văn chương ở đây vẫn còn nghĩa tương đối rộng bao gồm cả sử truyện và tấu sớ…
Đến dời ngụy Tấn Nam bắc Triều với lí luận của Tào Phi, Lưu Hiệp… văn học đã tách khỏi kinh học sử hoc
huyền học, và đã xác định bằng nội dung đặc thù của nó. Thậm chí còn phân biệt giữa văn với bút tức là phân biệt
giữa văn học mĩ cảm và văn học ứng dụng văn học tình cảm và văn học lí trí thuần văn học với tạp văn học. Đứng về
mặt sáng tác thì tất nhiên những loại văn học mĩ cảm thuần văn học này đã có từ ngàn xưa và đến lúc này vẫn tiếp
tục phát triển mãi mãi về sau. Nhưng trên bình diện quan niệm chính thống thì đến thời Đường người ta quay lại
hiểu văn như đời Hán nghĩa là không phân biệt nó với bút nữa. Điều này thể hiện rõ trong sáng tác của các nhà cổ
văn đời Đường, họ chỉ yêu viết văn chính luân. Điều này đúng cho cả đến đời Hàn Dũ, người tiêu biểu cho phong
trào cổ văn.
Đến Tống Nho thì không còn phân biệt giwuax văn chương và học thuật như đời Hán nữa. Văn mà họ quan
niệm y như thời Chu Tần, nghĩa bao gồm cả học thuật nói cung. Có thể thấy điều này qua ý kiến của những nhà văn
mà cả các nhân vật vốn là chính khách hay triết gia nữa.
Vương An Trachjt hì nói : “ Cái gọi là văn tất phải bổ ích cho đời. Cái gọi là từ cũng như chạm trổ vẽ vời bên
ngoài đồ dùng. Khéo và đẹp bất tất đã thích dụng, còn thích dụng bất tất phải khéo và đẹp.”
Như thế theo Tống Nho vưn chỉ là thuyết minh cho kinh keess nó không cần phản ánh sự thật và có tác dụng
thẩm mĩ. Văn học tống thiên về lý thuyết văn thì thiên về nghị luận mà không đẹp, thơ thì nói lý chứ không tả tình là
vì vậy. Văn trong văn dĩ tải đạo không bao hàm từ chương, nó nhiều lắm chỉ là văn chính luận nghĩa là không phải có
hàm nghĩa văn học như ngày nay chúng ta hiểu.
•
Thứ đạo gì?
Đạo theo nghĩa gốc là con đường và cũng chuyển nghĩa dần thành đạo lí. Nhưng trong thực tế không những
về mặt triết học tư tưởng mà trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc nó cũng mang rất nhiều nghĩa khác nhau.
Phải qua đối chiếu so snahs chúng ta mới hiểu được rõ đạo trong văn dĩ tải đạo là gì?
Có 3 nhà lí luận văn học viết bài Nguyên đạo ( lấy gốc ở đạo) Nói một cách khái quát thì các bài này xoay
quanh vấn đề đạo là quy luật khách quan hay là giáo lí của đạo Nho. Trước hết là Lưu Hiệp quan niệm của ông không
nhất quán. Ông cho rằng : Từ thời Phục Hi đến thời Khổng Tử các vị thánh thần đời xưa khai sáng, vị vua không ngôi
thuật lại dạy dỗ, không ai không lấy đạo làm tâm của đạo để trình bày văn chương, xét các đạo lí vi điệu để giáo dục.
21
Mặt khác ông lại nói: Đạo trong văn là cùng sinh tồn với trời đất. Như thế có nghĩa đạo không phải là đọa
Nho vì nó không dựa vào sách vở của thánh hiền mà dựa vào quy luật của tự nhiên.
Tất nhiên không phải Lưu Hiệp mâu thuẫn mà như trước cũng đã có nói nguyên nhân sâu xa là ở chỗ đạo
Nho trong thời kỳ này còn nhiều yếu tố lịch sử tiến bộ, vẫ tương đối thống nhất với quy luật khách quan. Và khía
cạnh khách quan trong quan niệm văn học của Lưu Hiệp nói chung đã được bạch Cư Dị phát huy. Nhưng cách giải
thích khá duy vật về đạo thì phải đến CHương Học Thành thời Thanh mới tiếp tục phát triển. Cùng gần gũi vơi Lưu
Hiệp ông cho rằng: Đạo bắt nguồn ở trời. Ông còn nói rõ cụ thể hơn: “ Xem trẻ con bập bẹ, có thanh mà không có
lời, xem hình mà đoán được ý muốn của chúng, qua đó mà biết được cái mở đầu cho việc trước thuật văn chương
vậy”
Ý của Chương Học Thành muốn nói văn học sinh ra là từ nhu cầu thực tiễn. Lí luận về nguồn gốc thực tiễn
của đọa của Chương Học Thành cũng thống nhất với lí luận về nguồn gốc văn hoc ngày nay. Ông có nêu một số ví dụ
như sau: ba người cùng một gian phòng tất phải phân cong hợp tác nhau. Muốn hợp tác phải phân công công bằng.
Muốn công bằng phải phối hợp hợp lí có tổ chức có chủ ý “ tôn ti lão ấu..” Đó chính là mở đầu cho đạo. Đạo có bắt
nguồn từ chỗ mọi người “ bất tri kì nhien nhi nhiên” nghĩa là nó được tự nhiên hình thành trong thực tiễn ddwoif
sống hàng ngày của con người. Chẳng qua thánh nhân thấy được điều này nhân lên thành lí luận gọi là đao.
Chương Học Thành truy tân nguồn gốc của đạo là : “ Đạo giả, vạn sự vạn vật chi sở dĩ nhiên. Nhi phi vạn sự vạn vật
chi đương nhiên dã”
Trái với các tác giả nguyên đạo, Hàn Dũ khẳng định đạo chính là đạo Nho. Đế quốc Đườn là một triều đại cực
thịnh nhưng mâu thuẫn xã hội rất sâu sắc. Trrong nươc thì phiên trấn cát cứ, thực lực chính quyền Trung ương thì
dần sa sút hoạn quan lộng quyền… Ngoài nước thì bọn thổ phỉ uy hiếp biên giới liên miên. Đế quốc thống nhất
vương triều Đường duy trì trật tự phong kiến chống ngoiaj xâm một số sĩ phu tiêu biểu Hàn Dũ tích cực sùng bái Đạo
Nho khôi phục địa vị chính thống của Nho Gia.Hàn Dũ đã phát huy đạo của tiên thánh tiên vương quán xuyến từ
Nghiêu, Thuấn, Vũ Thang….
Vì coi trọng đạo Nho nên Hàn Dũ rất nhấn mạnh tầm quan trọng của Đạo. Ông nói sở dĩ làm cổ văn là vì “ chí
ở đạo xưa”. Tuy nhiên đọa nho ở Hàn Dũ vẫn giữ được phần nào những yếu tố tiến bộ như nhân chính, ái dân.. Mặt
khác do có nhiều liên hệ với đời sống thực tế, Hàn Dũ có những chỗ vượt ra ngoài thiên kiến của Nho giáo. Như
trong bài Tống Mạnh Đông Dã, kết hợp với cảnh ngộ bất đắc dĩ của mình. Hàn Dũ cho rằng “ Đại phàm vật bất bình
tắc minh” bênh vực cho tầng lớp trí thức lớp dưới” hoài tài bất ngộ”. Như thế là ông đã phá vỡ thiên kiến của Nho
gia : “ bặc quân tử ghét kẻ ở dưới”.
Đến thời Tống, mâu thuẫn trong lòng chế độ hpong kiến càng trở nên gay gắt trầm trọng. Để cứu vãn tình
hình triều Tống tăng cường chế độ tập quyền đến cao độ. Chế độ chính trị đã thấm sâu vào ý thức của người đời
Tống biến thành tiền đề trong mọi hoạt động văn hóa xã hội của họ. Âu Dương Tu muốn thống nhát cái gì chưa
thống nhất trong thiên hạ. Tư Ma quang toan làm sao khiến cho chín châu thống nhất lại. Về mặt lịch sử giai cấp
thống trị nêu ra quan niệm chính thống, về mặt triết học tư tưởng thì nêu ra quan niệm đạo thống. Đạo của Tống
Nho hoàn toàn không còn tính chất quan sát và tổng kết quy luật khách quan mà hoàn toàn dựa vào kin bồn của
thánh hiền.
22
Tất nhiên Tống Nho chỉ khai thác các mặt tiêu cực lạc hậu trong triết lí Khổng Mnahj. Các tác giả kinh điển
của Tống Nho như Chu Hi, Trình Di.. đã chú thích lại tứ thư ngũ kinh theo tinh thần như vây,..
Tông Nho còn bổ sung thêm những ràng buộc khắc nghiệt về mặt đạo đức lễ giáo. Tống nho còn pha trộn thêm
những phần lac hâu của Khổng giáo, còn pha trộn thêm carphaanf duy tâm của Phật lão, hun đúc thành khoa học lí
học. Tuy họ có thừa nhận khí là điều kiên vật chất để hình thành vạn vật như lí có trước nó là nguồn gốc và căn cứ
cuối cùng của vạn vật. Tóm lại đọa của tống nhi không những duy tâm và giáo điều còn phản nhân đạo:
“ triết học của học phuc vụ cho giai cấp quý tộc phong kiến và bọn địa chủ đương thời, và thành hẳn một thức vũ khí
hung bọa của giai cấp địa chủ phong kiến dùng để chống lại sự đấu tranh giải phóng cá tính của quần chúng nhân
dân”
Quynh Hoa
CHƯƠNG IV
NHỮNG QUAN NIỆM LÝ LUẬN CỦA BẠCH CƯ DỊ
Có thể nói Bạch Cư Dị là nhà thơ hiện thực vĩ đại đời Đường, đồng thời ông cũng là nhà phê bình văn học kiệt
xuất, chủ trương tiến bộ của ông là một đóng góp quan trọng cho lý luận văn học cổ điển Trung Quốc. Bạch Cư Dị đã
nhận thức sâu sắc tác dụng của xã hội của thơ ca, ra sức đề cao thơ phúng dụ. Ông cũng đã tổng kết lý luận thơ ca tiến
bộ trong quá khứ từ “Nhạc ký”, “Thi đại tự” cho đến Trần Tử Ngang, Đỗ Phủ đời Đường, kết hợp với yêu cầu thời
đại, trình bày một cách rõ ràng quan hệ thơ ca với hiện thực và tác dụng xã hội của nó. Chủ trương văn học giàu tính
chiến đấu của ông có ý nghĩa quan trọng trong lý luận thơ ca tiến bộ đời Đường.
Những quan niệm lý luận của BCD được trình bày khá tập trung và có hệ thống trong “Sách lâm”, “Lời tựa Tần
Trung Ngâm”, “Tân nhạc phủ” và “Thư gửi Nguyên Chẩn”.
1. Quan niệm “thơ là gì”?
Ông định nghĩa thơ ca 1 cách đầy thuyết phục: “Làm rung động lòng người không có gì trước hơn tình cảm, sớm
hơn ngôn ngữ, tha thiết hơn âm thanh, sâu sắc hơn ý nghĩa. Thơ, tình là gốc, lời là ngọn, âm thanh là hoa, nghĩa là
quả”. (Thư gửi Nguyên Chẩn)
=> Qua lời phát biểu này, BCD đã thấy trong thơ văn sự thống nhất giữa tình cảm với lý trí, giữa nội dung với hình
thức. Định nghĩa này phù hợp với thực tiễn và ảnh hưởng tới các sáng tác thơ ca Trung Quốc đời sau.
- Tình cảm trong thơ.
Khác với các loại hình khác, thơ là lĩnh vực của tình cảm. Nhưng tình cảm ở đây không phải là những cảm xúc
hời hợt, bản năng, mà là nhận thức, lý trí, tư tưởng đã chín muồi, nhuần nhuyễn. Nó phải hàm chứa một nghĩa lý, một
cách nhìn đời, nhìn người, một thái độ sống nhất định.
- Ngôn ngữ thơ.
Ngôn ngữ là đặc trưng chất liệu của văn học, là mầm lá của thơ.
Một trong những đặc trưng của thơ so với các thể loại khac của văn học là tính nhạc điệu. => “âm thanh là hoa”.
23
- Nội dung và hình thức của thơ.
+ Sự gắn kết mật thiết giữa gốc, rễ, hoa, lá, quả chính là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của thơ.
+ BCD: “Vần luật là điều hòa thì ngôn ngữ mới lưu loát, ngôn ngữ lưu loát thì con người mới dễ tiếp thu. Các sự
việc chọn lọc có rõ ràng thì diễn tả tình cảm mới đc đột xuát mà tình cảm đột xuất thì mới dễ làm người ta rung
động.” (Thư gửi Nguyên Chẩn).
2. Quan niệm “Vị quân, vị dân, vị vật, vị sự nhi tác, bất vị văn nhi tác” (Vì quân, vì thần, vì dân, vì sự , vì vật
mà sáng tác, chứ ko phải vì văn mà sáng tác).
- Qua văn thơ, con người có thể thấy những lời khuyên nhủ và niềm tin trong cuộc sống. Do đó, sáng tác văn thơ là vì
cuộc sống chứ không phải vì chính thơ văn.
Đề tựa “Tân nhạc phủ”, BCD viết:
“Những bài thơ này lời lẽ chất phác, giản dị, người xem hiểu ngay; thẳng thắn, tha thiết, người nghe như đc 1 lời
khuyên sâu sắc; chắc chắn, thực tế, người thu nhặt có thể truyền đạt cho người khác niềm tin….Nói tóm lại, Vì quân,
vì thần, vì dân, vì sự , vì vật mà sáng tác, chứ ko phải vì văn mà sáng tác.”
=> Đây được coi là cương lĩnh sáng tác cho “Tân nhạc phủ”
=> Như vậy, theo ông, thơ văn phải giúp vào việc thi hành chính đạo, tức là cái đạo lý vì dân vì nước của các bậc
minh quân như vua Thuấn, vua Nghiêu.
- Thơ văn có thể nhận thức được cuộc sống từ những mặt phức tạp trong hiên thực đến chỗ sâu kín trong lòng người.
“ Thơ có 1 nội dung rộng rãi, bao hàm đc nhiều ý nghĩa sâu sắc, bộc lộ đc những mặt u uẩn của cuộc sống, đi
sâu vào những chỗ sâu kín nhất của tâm hồn….” (Thư gửi Nguyên Chẩn)
- BCD cho rằng, thơ văn miêu tả cảnh thiên nhiên cũng phải có ý nghĩa với đời sống con người. Ông lấy vd ngay từ
tập thơ cổ xưa nhất. Đó là tập “Kinh thi” với cách dùng “phong, hoa, tuyết, nguyệt”. Ông chỉ ra “các bài thơ đó đều
không phải đơn thuần tả phong hoa tuyết nguyệt mà là phản ánh sâu sắc đời sống của con người.”
Nhưng ở đây, BCD mới chỉ thấy thiên nhiên ý nghĩa tượng trưng cho đời sống con người, chưa thấy thiên nhiệm
là đối tượng thẩm mỹ của thơ ca.
- BCD vạch rõ thơ văn vốn bắt nguồn từ hiện thực.
+ “Đại phàm con người ta đã cảm xúc trước sự vật, thế tất có xúc động trong tình cảm, rồi mới hứng lên ngân
nga mà thành thơ ca vậy”. (Sách lâm)
+ “Làm văn chương phải sát với thời thế, làm thơ phải hợp với sự việc” (Thư gửi Nguyên Chẩn).
+ “Tôi ở Trường An, trong những điều mắt thấy ti nghe có những câu chuyện thật đáng thương, bèn nhân đó viết
thẳng thành thơ gọi là “Tần trung ngâm” (Tựa “Tần trung ngâm”)
+ Ngay cả trong sáng tác của mình, ông cũng nêu khẩu hiệu “Mỗi bài thơ đc ngâm thành là do buồn về 1 sự
việc”.
Buồn vì kẻ giàu sang quyền quý ăn uống, nhậu nhẹt, ca hát, trong khi:
24
“Biết đâu trong ngục Văn Hương kia
Thân tù rét cóng, chết vô khối”
(Ca vũ)
Một người nông dân than thở:
“Rằng: Tiền 1 bó hoa thắm hồng
Bằng thuế 10 hộ nhà dân chúng mình”
(Mua hoa)
=> Qua những ví dụ trên, có thể thấy BCD không những thấy rõ thơ ca bắt nguồn từ hiên thực mà còn phản ánh 1
cách chân thực, đi sâu vào cuộc sống.
“Văn khen chê mà không chân thực, thì việc khuyên răn cũng sẽ thiếu sót…Tuy gọt giũa câu chữ, mà nào có ích gì”
Qua đó ông đề cao thơ văn của Trần Tử Ngang, Bao Phòng, Lý Bạch, Đỗ Phủ…
3. Nguyên tắc “tiết đạo nhân tình”, “bồ sát thời chính”.
Quan niệm hiện thực của BCD gắn liền với quan niệm về tính nhân dân trong văn học. Ông đưa ra nguyên tắc
“tiết đạo nhân tình”, “bồ sát thời chính” (diễn đạt tư tưởng tình cảm của nhân dân và quan sát nền chính trị đương
thời để tìm cách bổ khuyết”. Hai mặt này có liên quan mật thiết với nhau.
“Muốn khai thông những chỗ bế tắc để thấu suốt tình cảm của nhân dân, trước hết phải đòi hỏi ở thơ tinh thần
phúng tích”.
3.1. “Bồ sát thời chính”
- BCD đã xuất phát ngay từ văn học thượng cổ để thuyết minh cho tính chất “Bồ sát thời chính” của văn học. Về
“Kinh thi” ông nói:
“Nghe bài “Nguyên thủ minh ti, cổ quăng lương tai” thì biết nền chính trị Nghiêu Thuấn sáng suốt. Nghe bài
“Ngũ tử lạc hội” thì biết nền chính trị đời Hạ bỏ bế” (Thư gửi Nguyên Chẩn).
Ngay từ thời thượng cổ, đã có chức Thái thi quan chuyên đi thu thập thơ ca để biết rõ phản ứng của nhân dân với
triều đình. Thủ tiêu chức Thái thi quan gây tác hại tới việc phát triển lành mạnh của văn học.
- Tất nhiên, những nhà văn nhà thơ chiến đấu cùng những tác phẩm giàu tinh thần phê phán của họ không ngừng xuất
hiện.
“Nghe những bài “Tần trung ngâm” tôi, bọn cường hòa phú tộc biến sắc. Nghe bài “lạc du viên” tôi làm thì bọn
quan văn nắm tay lại. Nghe bài “Túc Tử Các sơn bắc thôn thi” thì bọn quan võ nghiên răng.” (Thư gửi Nguyên
Chẩn).
3.2. “Tiết đạo nhân tình”
- Dưới khẩu hiệu chung “Vì dân mà sáng tác”, BCD còn viết:
25