LI M U
Trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất và đầu t bùng nổ vào những thập
kỉ gần đây, xuất khẩu lao động đã dần trở thành một phần không thể tách khỏi
của hệ thống kinh tế thế giới. Nó là một lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng
của các quốc gia, đã và đang đem lại những lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể.
Đối với nớc ta, sự phát triển dân số và lao động (với số dân gần 80 triệu
ngời, trong đó lực lợng lao động chiếm khoảng 60%) đã gây ra những vấn đề
kinh tế - xã hội phức tạp và gay gắt không chỉ hiện nay mà còn trong nhiều
năm tới. Để có thể tạo đợc sự cân bằng giữa khả năng về cơ sở vật chất có hạn
và mức tăng dân số, nguồn lao động ở mức chênh lệch khá cao nh hiện nay thì
sẽ phải tạo ra thêm hàng triệu công ăn việc làm nữa cho ngời lao động. Trớc
tình hình đó, xuất khẩu lao động đóng vai trò rất quan trọng, vì nó có thể góp
phần giải quyết đợc hai mục tiêu quan trọng của đất nớc. Thứ nhất là: Mục
tiêu kinh tế - xuất khẩu lao động góp phần mang lại nguồn thu ngoại tệ cho
quốc gia, tăng thu nhập cho ngời lao động và gia đình họ. Thứ hai là: Mục tiêu
xã hội - nó góp phần giải quyết đợc việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao
động trong nớc, tạo sự ổn định cho xã hội.
Việc nớc ta tham gia vào thị trờng lao động quốc tế, mặc dù đã đem lại
những kết quả bớc đầu, song hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động còn
thấp do rất nhiều các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Những
năm gần đây, đợc sự chỉ đạo Đảng và Nhà nớc, vấn đề xuất khẩu lao động
đang dần đợc cải cách và hoàn thiện. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng
và đề ra những giải pháp nhằm đổi mới và tăng cờng công tác quản lý, tổ chức
xuất khẩu lao động là một vấn đề vừa có tính trớc mắt, vừa mang tính chiến lợc lâu dài. Đó chính là lý do mà tôi chọn đề tài này để làm khoá luận tốt
nghiệp.
Tên đề tài: Xuất khẩu lao động của Việt Nam thập kỉ 90. Thực trạng
và giải pháp.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu và phân tích
tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam, khoá luận chủ yếu tập trung đi sâu
vào nghiên cứu thực trạng và từ đó đề ra các giải pháp cho hoạt động xuất
khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn 1992 - 2001.
Phơng pháp nghiên cứu của khoá luận là: tổng hợp từ nhiều phơng
pháp nghiên cứu khác nhau nh: phơng pháp tổng hợp và phân tích; phơng
pháp thống kê, liệt kê, so sánh; kết hợp nghiên cứu lý luận với phân tích thực
tiễn; tiếp cận hệ thống trên cơ sở tham khảo các tài liệu tham khảo có liên
quan tới đề tài nghiên cứu. Khoá luận trình bày từ lý thuyết xuất khẩu lao
động và tình hình xuất khẩu lao động chung của thế giới tới việc phân tích
thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam đồng thời nêu ra một số giải pháp cho
1
xuất khẩu lao động nớc ta.
Nội dung của bài khoá luận:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo, khoá luận
gồm các phần sau:
Chơng 1. Một số vấn đề lý luận chung và đặc điểm của hoạt động
xuất khẩu lao động thế giới.
Chơng 2. Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam trong thập kỉ 90.
Chơng 3. Định hớng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng xuất
khẩu lao động của Việt Nam ra nớc ngoài trong những
năm tới.
Để hoàn thành đợc bài khoá luận này, tôi đã đợc sự hớng dẫn và giúp
đỡ tận tình của cô giáo hớng dẫn trực tiếp - Khu Thị Tuyết Mai, giảng viên trờng Đại học Quốc Gia Hà Nội; TS Phạm Đỗ Nhật Tân, Phó Cục trởng Cục
quản lý lao động với nớc ngoài cùng một số cô chú làm việc tại Cục quản lý
lao động với nớc ngoài, gia đình và bạn bè. Em xin chân thành cám ơn cô Mai
và mọi ngời đã tạo điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt đợc bài khoá
luận này của mình.
Do trình độ của ngời viết còn hạn chế, chắc chắn khoá luận không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc sự góp ý chỉ dẫn của các thầy cô
và các bạn. Tôi xin chân thành cám ơn.
Chơng 1
cơ sở lý luận và đặc điểm của thị trờng
xuất khẩu lao động thế giới
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động
ở các nớc đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn
đề giải quyết việc làm cho số ngời đến độ tuổi lao động là một gánh nặng cho
các quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động (XKLĐ) trở thành vấn đề cấp thiết có
nội dung kinh tế - xã hội (KT - XH) sâu sắc và liên quan chặt chẽ với các yếu
tố KT - XH khác trong việc định hớng và phát triển nền kinh tế quốc gia.
Trớc hết, để có cái nhìn tổng thể và rõ ràng về vấn đề nghiên cứu của
khoá luận này, chúng ta cần thống nhất một số khái niệm có liên quan trong
lĩnh vực lao động, việc làm đợc sử dụng trong nghiên cứu:
2
1. Nguồn lao động: là nguồn lực về con ngời và đợc nghiên cứu dới
nhiều khía cạnh khác nhau.
Đầu tiên, với t cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn
lao động bao gồm toàn bộ dân c có cơ thể phát triển bình thờng (không bị
khiếm khuyết hay dị tật bẩm sinh).
Với t cách là một yếu tố của sự phát triển KT - XH, nguồn lao động là
khả năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân c trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động.
Ngoài ra, còn có thể hiểu nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những
con ngời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật
chất và tinh thần đợc huy động vào quá trình lao động. Nguồn lao động bao
gồm những ngời từ độ tuổi lao động trở lên (ở nớc ta là tròn 15 tuổi).
- Phân loại nguồn lao động:
Có rất nhiều cách để phân loại nguồn lao động. Tuỳ theo giác độ nghiên
cứu mà ngời ta tiến hành phân loại theo các tiêu thức khác nhau nh: căn cứ
theo nguồn gốc hình thành, căn cứ theo vai trò của từng bộ phận nguồn nhân
lực tham gia vào nền sản xuất xã hội hay căn cứ vào trạng thái có việc làm hay
không. Tuy nhiên trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp sẽ chỉ phân loại
nguồn lao động dựa theo nguồn gốc hình thành của lực lợng lao động.
Dựa theo tiêu thức này, nguồn lao động đợc chia thành:
1, Nguồn lao động có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm
toàn bộ những ngời nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không
kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm. Nguồn lao động này thờng chiếm một tỉ lệ tơng đối lớn trong dân số, thờng từ 50% trở lên.
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện tâm sinh lý - tâm lý xã
hội mà con ngời tham gia vào quá trình lao động. Giới hạn về độ tuổi lao động
là tuỳ thuộc vào điều kiện KT - XH của từng nớc và trong từng thời kì. ở nớc
ta mức giới hạn này là từ 15 tuổi đến 60 tuổi (nam) và từ 15 tuổi đến 55 tuổi
(nữ).
2, Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động
kinh tế): đây là số ngời đang có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các
ngành kinh tế - văn hoá của xã hội hay không có việc làm nhng có nhu cầu
tìm kiếm việc làm.
3, Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những ngời nằm trong độ tuổi lao
động nhng vì các lý do khác nhau họ cha có công việc làm ngoài xã hội. Số
ngời này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về lao động. Họ gồm có :
3
- Những ngời làm công việc nội trợ trong gia đình (thờng là phụ nữ).
Đây là một nguồn lao động đáng kể. Khi điều kiện kinh tế của xã hội thuận
lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội, họ có thể nhanh
chóng rời bỏ hoạt động nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội.
- Những ngời tốt nghiệp ở các trờng phổ thông và các trờng chuyên
nghiệp đợc coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lợng. Đây là
nguồn lực trẻ có trình độ học vấn và chuyên môn tơng đối cao.
- Những ngời đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự có khả năng tham gia vào
hoạt động kinh tế. Đây cũng là một nguồn thuộc nguồn lao động dự trữ. Số
ngời thuộc nguồn này bao gồm cả những ngời đã có nghề hay cha có nghề, có
trình độ học vấn cao hay thấp... do vậy cần tìm hiểu rõ để nghiên cứu và tạo
việc làm thích hợp.
- Những ngời trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc
không có nghề) muốn tìm việc làm và luôn sẵn sàng tham gia vào hoạt động
kinh tế.
2. Lao động : là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngời nhằm
thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngời. Lao động là sự
vận dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết
hợp giữa sức lao động và t liệu sản xuất.
3. Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con ngời trong quá
trình tạo ra của cải vật chất. Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động là một
hàng hoá đặc biệt, vì: Trớc hết, nó có giá trị và giá trị sử dụng nh các hàng hoá
khác. Ngoài ra, hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có t duy, có đời
sống tinh thần. Thông qua thị trờng lao động, sức lao động đợc xác định giá
cả. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo qui luật cung - cầu của thị trờng.
Mức cung cao sẽ dẫn tới d thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp,
ngợc lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao
động (tiền công) sẽ trở nên cao hơn.
4. Việc làm: Theo quy định của Bộ luật lao động : Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm.
- Tỉ lệ ngời có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế đợc tính theo
công thức:
Tvl ( % ) = Nvl/Dkt
Trong đó :
. Tvl : % ngời có việc làm
. Nvl : Số ngời có việc làm
. Dkt : Dân số hoạt động kinh tế
4
5. Thất nghiệp: là tình trạng ngời có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên
trong nhóm hoạt động kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhng
có nhu cầu tìm việc.
- Tỉ lệ ngời thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế đợc tính theo
công thức :
Ttn ( % ) = Ntn/Dkt
Trong đó :
. Ttn : Tỷ lệ thất nghiệp
. Ntn : Số ngời thất nghiệp
6. Thị trờng lao động: là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động
giữa một bên là những ngời sở hữu sức lao động và một bên là những ngời cần
thuê sức lao động đó.
Thị trờng lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị
trờng và chịu sự tác động của hệ thống qui luật của nền kinh tế thị trờng. Một
thị trờng lao động tốt là thị trờng mà ở đó lợng cầu về lao động tơng ứng với lợng cung về lao động.
- Cầu lao động là lợng lao động mà ngời thuê có thể thuê ở mỗi mức
giá có thể chấp nhận đợc. Nó mô tả toàn bộ hành vi ngời mua có thể mua đợc
hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.
Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động (tiền
lơng), khi giá cả tăng (hoặc giảm) sẽ làm cho cầu về lao động giảm (hoặc
tăng).
- Cung về lao động là lợng lao động mà ngời làm thuê có thể chấp nhận
đợc ở mỗi mức giá nhất định. Giống nh cầu và lợng cầu, đờng cung lao động
mô tả toàn bộ hành vi của ngời đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt
ra. Cung lao động có quan hệ tỉ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng, lợng cung
lao động sẽ tăng và ngợc lại.
- Điểm cân bằng cung - cầu là điểm gặp nhau của đờng cung và đờng
cầu (điểm E). Tại đó lợng cầu bằng lợng cung.
P
A
D
E
5
0
Q
(Hình 1.1)
Để phân loại thị trờng lao động, tuỳ theo đối tợng nghiên cứu mà ngời
ta chia ra thành: thị trờng lao động trong nớc; thị trờng lao động ngoài nớc; thị
trờng lao động khu vực; thị trờng lao động nông thôn; thị trờng lao động thành
thị; thị trờng lao động có trình độ chuyên môn; thị trờng lao động phổ thông;
thị trờng lao động chất xám; v.v...
7. Xuất khẩu lao động: Là một hiện tợng KT - XH, XKLĐ đợc chính
thức xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ 19. Trải qua một quá trình hình thành và phát
triển lâu dài, ngày nay XKLĐ trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế
chung của thế giới.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ. Nếu nh trớc
đây với thuật ngữ hợp tác quốc tế về lao động, XKLĐ đợc hiểu là sự trao đổi
lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định đợc thoả thuận và kí kết
giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc
gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Trong hành vi trao đổi này, nớc đa lao
động đi đợc coi là nớc XKLĐ, còn nớc tiếp nhận sử dụng lao động thì đợc coi
là nớc nhập khẩu lao động.
Một cách hiểu khác nữa về XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa
nớc thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế
hoạch từ nớc d thừa lao động sang nớc thiếu lao động.
Ngày nay với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh
hơn đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể
hiểu:
XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng
lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có
tính chất pháp quy đợc thống nhất giữa các quốc gia đa và nhận lao động.
Trong nền kinh tế thị trờng, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại,
mang đặc thù của xuất khẩu nói chung. Thực chất XKLĐ là sự di c quốc tế.
Tuy nhiên, đây chỉ là sự di c tạm thời.
- Đặc điểm:
Trớc hết, XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung nên
nó mang tất cả các đặc điểm vốn có của xuất khẩu. Và vì là một bộ phận của
nền kinh tế đối ngoại với những mối quan hệ hợp tác xuyên quốc gia, XKLĐ
là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình hợp tác và chuyên môn hoá
quốc tế trong sản xuất, đa các quốc gia trên thế giới hoà nhập với nền kinh tế
toàn cầu.
6
Tuy nhiên, do XKLĐ không chỉ là xuất khẩu hàng hoá đơn thuần mà là
xuất khẩu con ngời nên bản thân nó cũng có những đặc điểm riêng. Là một
hoạt động đợc sự chỉ đạo thống nhất của nhà nớc, XKLĐ mang một số tính
chất chính trị, trở thành một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng. Việc thực
hiện XKLĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống pháp luật và văn bản
pháp quy của thế giới, quốc gia xuất khẩu cũng nh quốc gia nhập khẩu lao
động.
Tại VN, các hợp đồng đa ngời lao động đi làm việc tại nớc ngoài có
thời hạn đều phải đợc kí kết dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam, pháp luật nớc
sở tại và các điều ớc quốc tế .v.v...
Mặt khác, XKLĐ còn là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội. Nói
tới XKLĐ thực chất là nói tới xuất khẩu sức lao động. Trong khi đó, sức lao
động lại gắn bó chặt chẽ với ngời lao động, không tách rời khỏi ngời lao động.
Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các
chính sách xã hội.
XKLĐ là một phơng thức thực hiện việc phân công lao động quốc tế,
tạo nên các hoạt động chuyên môn hoá sản xuất, thực hiện việc sử dụng lao
động một cách hợp lý và hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi quốc
gia, tận dụng một cách triệt để lợi thế so sánh giữa các nớc nhập và xuất khẩu
lao động.
Trong quan hệ XKLĐ phải đảm bảo đợc lợi ích của ba bên: Nhà nớc,
các doanh nghiệp và ngời lao động. Lợi ích kinh tế của Nhà nớc là khoảng
ngoại tệ mà ngời lao động gửi về và các khoảng thuế thu đợc. Lợi ích của các
doanh nghiệp là các khoảng thu đợc, chủ yếu là các loại phí giải quyết việc
làm ngoài nớc. Còn lợi ích của ngời lao động là khoảng thu nhập thờng là cao
hơn nhiều so với lao động ở trong nớc.
- Phân loại XKLĐ:
Căn cứ vào cơ cấu ngời lao động đa đi:
Lao động có nghề: Là loại lao động trớc khi ra nớc ngoài làm việc đã đợc đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nớc
ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời
gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa.
Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nớc ngoài làm việc
cha đợc đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những
công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nớc ngoài cần
phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trớc khi đa vào sử dụng.
Căn cứ vào nớc xuất khẩu lao động:
. Nhóm các nớc phát triển: Có xu hớng gửi lao động kĩ thuật cao sang
7
các nớc đang phát triển để thu ngoại tệ. Trờng hợp này không phải là chảy
máu chất xám mà là đầu t chất xám có mục đích. Việc đầu t nhằm một phần
thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần
khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kĩ
thuật bậc cao ở nớc ngoài .v.v... để thu ngoại tệ.
. Nhóm các nớc đang phát triển: Có xu hớng gửi lao động bậc trung
hoặc bậc thấp sang các nớc có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ,
giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nớc.
- Các hình thức XKLĐ mà nớc ta đã sử dụng:
Trong quá trình phát triển lĩnh vực XKLĐ, với cha đầy 20 năm kinh
nghiệm nớc ta bớc đầu đã áp dụng đợc một số hình thức khác nhau trong hoạt
động XKLĐ nh:
Đa lao động đi bồi dỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có
thời hạn ở nớc ngoài. Đây là hình thức đợc chúng ta thực hiện chủ yếu trong
giai đoạn 1980 - 1991. Thông qua việc kí hiệp định hợp tác, sử dụng lao động
với các nớc: Liên xô (cũ), CHDC Đức, Tiệp Khắc trớc đây, lao động của nớc
ta ở tại các nớc này đợc sống, sinh hoạt theo đoàn, đội, có sự quản lý thống
nhất từ trên xuống dới và làm việc xen ghép với lao động của các nớc. Đây là
hình thức đợc áp dụng cho cả hai đối tợng là lao động có nghề và lao động
không có nghề.
Hợp tác lao động và chuyên gia: Đây là hình thức đợc áp dụng đối với
các nớc Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia
sang làm việc tại một số nớc. Số lao động này có thể đi theo các đoàn, đội hay
các nhóm, cá nhân...
Đa lao động đi làm tại các công trình doanh nghiệp VN nhận thầu
khoán xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở n ớc ngoài hay đầu
t ra nớc ngoài. Hình thức này đợc áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng.
Đây là hình thức ngời lao động thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp
Việt Nam đợc đi nớc ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình phía nớc ngoài
giao thầu hay giao phần nhân công của công trình cho doanh nghiệp VN.
Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty n ớc ngoài
thông qua các hợp đồng lao động đ ợc kí kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam
làm dịch vụ cung ứng lao động. Đợc hình thành từ sau khi có nghị định
370/HĐBT ngày 9/11/1992 của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) hình
thức này đã trở nên phổ biến nhất hiện nay. Việc cung ứng lao động cho các tổ
chức, cá nhân nớc ngoài chủ yếu đợc giao cho các tổ chức kinh tế có chức
năng đa lao động Việt Nam đi làm việc ở nớc ngoài. Đây là các doanh nghiệp
chuyên doanh về XKLĐ, đợc Nhà nớc cấp giấy phép hành nghề, thực hiên
việc kí kết, đa lao động đi nớc ngoài làm việc và quản lý số lao động đó theo
8
qui định của Nhà nớc. Hình thức này đòi hỏi đối tợng lao động tơng đối đa
dạng, tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc mà bên phía nớc
ngoài yêu cầu lao động giản đơn hay lao động có tay nghề cao.
Ngời lao động trực tiếp kí với cá nhân, tổ chức n ớc ngoài nhng khi làm
thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về XKLĐ để thực
hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nớc, với tổ chức kinh tế đa đi và cũng
là để đảm bảo quyền lợi cho ngời lao động trong quá trình làm việc ở nớc
ngoài. Hình thức này hiện nay ở nớc ta cha phổ biến lắm. Do ngời lao động
vẫn cha có nhiều cơ hội để tiếp xúc và tìm hiểu về các công ty nớc ngoài đang
cần thuê lao động một cách trực tiếp và phổ biến.
XKLĐ tại chỗ là hình thức các tổ chức kinh tế của ta cung ứng lao
động cho các tổ chức kinh tế nớc ngoài ở VN, bao gồm : Các xí nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các
tổ chức, cơ quan ngoại giao của nớc ngoài tại VN.
- Lý thuyết di chuyển nguồn lực và nguyên nhân hình thành XKLĐ
Mặc dù mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ 19 nhng XKLĐ đang ngày càng
khẳng định rõ tính chiến lợc và tất yếu trong hoạt động KT - XH của quốc gia
và thế giới. Cũng giống nh bất kì một hiện tợng kinh tế nào khác, XKLĐ cũng
có những điều kiện và tiền đề phát triển riêng của nó. Quá trình hình thành và
phát triển của XKLĐ bắt đầu từ sự di c quốc tế. Đây là một nhân tố hình thành
khách quan tất yếu kể từ khi xuất hiện xã hội loài ngời.
Di c lao động quốc tế đợc bắt đầu từ việc buôn bán nô lệ. Vào những
năm 1440, các thuỷ thủ Châu Âu đã bắt những ngời Châu Phi và đa họ về
Châu Âu để làm nô lệ cho gia đình mình. Và hơn một thế kỉ sau, chuyến tàu
buôn nô lệ đầu tiên đã đa những ngời da đen từ Châu Phi tới làm việc trên các
đồn điền mía và thuốc lá tại miền Tây Châu Mĩ. 15 triệu ngời đã bị bắt đi làm
nô lệ chỉ trong vòng có vài thế kỉ. Bên cạnh đó là làn sóng những ngời lao
động nghèo từ châu Âu cũng bắt đầu đổ xô sang Châu Mĩ tìm kiếm công việc.
Cho tới thế kỉ 18, nhiều quốc gia ở Châu Âu bắt đầu áp dụng các biện pháp để
hạn chế di c ra nớc ngoài nhằm tránh mất nhiều nguồn nhân lực cần thiết. Nhng tới giữa những năm 1800, Chủ nghĩa tự do kinh tế đã xoá bỏ hoàn toàn
những rào cản này tạo điều kiện cho việc tự do buôn bán và đồng thời cả tự do
di c lao động quốc tế.
Cho tới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất tình hình mới dần đợc cải
thiện, việc quản lý lao động nhập c đợc sử dụng để bảo vệ các thị trờng trong
nớc. Giai đoạn 1920 và 1930, do thất nghiệp hàng loạt xảy ra ở khắp mọi nơi
trên thế giới đã khiến các nớc phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ lao
động trong nớc khỏi sự cạnh tranh của lao động nớc ngoài. Di c lao động
chuyển sang một giai đoạn mới. Tới thời kì 1950 - 1970, do sự chuyển dịch
9
trong cơ cấu ngành và cơ cấu lao động dới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, các quốc gia Châu Âu có nhu cầu rất lớn về lao động phổ thông.
Nhằm đáp ứng nhu cầu đó rất nhiều lao động từ các nớc Châu Phi và Châu á
đã đến làm việc tại khu vực này. Thời gian trôi qua, xã hội loài ngời ngày càng
bớc lên một bậc thang tiến hoá mới văn minh hơn, nhiều thành tựu khoa học
ra đời cùng với sự bùng nổ dân số toàn cầu và do các đặc điểm phân bố địa lý,
dân c ở các vùng là khác nhau, luồng lao động di c lại càng phát triển hơn. Từ
hình thức tự phát, di c lao động bắt đầu chuyển sang hình thức mới có tổ chức
với sự can thiệp và quản lý của Chính phủ. Lao động ở những quốc gia có nền
kinh tế chậm và đang phát triển với mức sống thấp có xu hớng di c tới các
quốc gia có đời sống kinh tế khá hơn, các quốc gia phát triển.
Để có thể lý giải một cách chi tiết về nguyên nhân và tác động của di c
lao động quốc tế, chúng ta hãy cùng xem xét và phân tích mô hình lý thuyết di
chuyển nguồn lực sau:
Lý thuyết di chuyển nguồn lực:
Giả định rằng thế giới chỉ bao gồm có hai quốc gia là nội địa và nớc
ngoài. Để tạo ra đợc các sản phẩm, mỗi nớc đều sử dụng các yếu tố sản xuất
nh vốn, lao động, đất đai... Tuy nhiên, để đơn giản hoá mô hình phân tích, giả
định rằng ngoại trừ lao động, ở hai quốc gia này các yếu tố sản xuất khác coi
nh không đổi, không có cơ hội cho thơng mại thông thờng giữa hai nớc. Cách
duy nhất để các nền kinh tế này hoà nhập với nhau là sự di chuyển của lao
động quốc tế. Có thể thấy, nếu nội địa là nớc có lao động dồi dào hơn so với
lao động tại nớc ngoài thì công nhân nội địa sẽ có mức thu nhập thấp hơn
công nhân nớc ngoài. Điều này tạo động cơ cho yếu tố sản xuất di chuyển.
Công nhân nội địa sẽ muốn đợc chuyển sang nớc ngoài.
Nếu cho phép lao động tự do di chuyển giữa hai nớc, công nhân sẽ di
chuyển từ nội địa ra nớc ngoài. Sự di chuyển này sẽ làm cho lực lợng lao động
nội địa bị giảm sút và gia tăng lực lợng lao động nớc ngoài. Điều này dẫn đến
tiền lơng của công nhân nội địa sẽ tăng lên còn tiền lơng của công nhân tại nớc ngoài sẽ giảm xuống. Nếu không có gì cản trở quá trình này sẽ tiếp tục cho
đến khi sản phẩm biên của lao động là nh nhau ở hai nớc.
Mô hình Macdougall - Kemp
D
E
B
10
N
A
M
C
MPL*
MPL
O
L2
L1
O*
Lao động sử dụng ở
nội địa
Lao động Lao động
di c ra n- sử dụng ở
ớc ngoài nớc ngoài
Tổng lực lợng lao động
(Hình 1.2)
. Phân tích mô hình: OO* biểu thị tổng lực lợng lao động thế giới với
OL1 là số lao động đợc sử dụng ở nội địa và O*L1 là số lao động đợc sử dụng ở
nớc ngoài. Trục tung là trục biểu thị sản phẩm biên của lao động, OM là sản
phẩm biên của lao động ở nội địa và O*N là sản phẩm biên của lao động ở nớc
ngoài. Các đờng MPL và MPL* là các đờng giới hạn sản phẩm biên của lao
động ở hai nớc. Với giả thiết của mô hình, nền kinh tế là cạnh tranh hoàn hảo,
lơng thực tế mà mỗi đơn vị lao động thu đợc đúng bằng với sản phẩm biên của
lao động. Tổng sản phẩm quốc nội của nội địa trớc khi có di c lao động là diện
tích DOL1C và của nớc ngoài là EOL1B. Nếu lao động đợc di chuyển tự do
giữa hai nớc, họ sẽ di chuyển từ nơi có lơng thấp (nội địa) sang nơi có mức lơng cao hơn (nớc ngoài). Sự di chuyển này sẽ dừng lại cho tới khi nào mức lơng thực tế giữa hai nớc là nh nhau (điểm A). Lúc này lực lợng lao động di c
từ nội địa sang nớc ngoài sẽ là L1L2 công nhân, số lao động đợc sử dụng ở nội
địa sẽ giảm xuống còn OL2 công nhân trong khi số lao động ở nớc ngoài sẽ
tăng lên là O*L2 công nhân. Kết quả đạt đợc là việc tăng sản lợng của hai nớc
biểu thị bằng diện tích ABC, đây là phần dôi ra ngoài tổng sản phẩm của hai
nớc trớc khi có sự di c lao động.
. Sự phân bố lại lực lợng lao động thế giới này sẽ dẫn tới:
1, Mức lơng thực tế thế giới sẽ thống nhất, mọi ngời đều đợc hởng một
mức thu nhập nh nhau. Mức lơng thực tế ở nội địa sẽ tăng lên trong khi ở nớc
ngoài lại giảm xuống.
2, Nó làm gia tăng sản lợng thế giới nói chung một khoảng là diện tích
ABC.
3, Song, bên cạnh những mặt lợi, việc di c lao động quốc tế cũng mang
lại thiệt hại cho một số nhóm ngời. Đó là những ngời lao động lúc đầu làm
việc tại nớc ngoài với mức lơng thực tế cao hơn nay sẽ phải nhận một mức lơng thực tế thấp hơn và những ngời thuê lao động ở nội địa lúc ban đầu sẽ
phải trả cho ngời lao động một mức lơng thực tế thấp hơn nay phải trả một
11
mức lơng thực tế cao hơn trớc. Tuy nhiên s thiệt hại này chỉ xảy ra đối với một
số nhóm ngời nhất định, còn trên phơng diện quốc gia, việc di c lao động
mang lại nhiều mặt lợi về kinh tế hơn cho mỗi quốc gia nói riêng và thế giới
nói chung.
Nhìn chung mô hình lý thuyết di chuyển nguồn lực là một mô hình tơng
đối đơn giản, chủ yếu xuất phát từ những điều kiện tự nhiên khách quan, dùng
để lý giải nguyên nhân và hiệu quả phúc lợi đạt đợc khi có di chuyển nguồn
lực quốc tế. Trên thực tế, bên cạnh những nguyên nhân khách quan nh trình độ
phát triển kinh tế khác nhau, sự mất cân đối về dân số và nguồn lao động do
tốc độ tăng trởng kinh tế không đồng đều giữa các quốc gia, việc hình thành
XKLĐ còn do những nguyên nhân khác nh:
- Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại dẫn đến trình độ
công nghệ không đồng đều giữa các nớc. Sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng
quan trọng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, lợi thế của các quốc gia không
ngừng biến đổi. Những quá trình này ngày càng đẩy các nớc kém phát triển
vào thế bất lợi, càng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nớc.
- Do các cuộc chiến tranh thế giới hay các cuộc chiến tranh phi nghĩa
khác cùng với các cuộc chiến tranh cục bộ ở các khu vực khác nhau trên thế
giới làm suy thoái kinh tế nghiêm trọng tại một số quốc gia... gây ảnh hởng tới
đời sống ngời dân.
Những nguyên nhân kinh tế và phi kinh tế nêu trên đã thúc đẩy dòng
lao động di c trên thế giới. Chủ yếu là từ các nớc kinh tế kém phát triển, điều
kiện sống không ổn định sang các nớc phát triển hơn.
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động XKLĐ
Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt đợc và chi phí bỏ ra để đạt
đợc kết quả đó ( Hiệu quả = kết quả - chi phí ). Có hai loại hiệu quả là hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt đợc về mặt
kinh tế, còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt đợc về mặt xã hội. Đây là khái
niệm chung để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ thể
thì việc đánh giá hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh vực
XKLĐ này. Bởi vì để có thể đánh giá chính xác, đầy đủ và đúng về hiệu quả
kinh tế xã hội ở từng thị trờng cụ thể thì chúng ta cần phải đánh giá toàn bộ,
toàn diện một cách tổng hợp những kết quả đạt đợc và chi phí bỏ ra trong quá
trình hoạt động đó, đồng thời, phải xem xét hiệu quả của nó trên cơ sở lợi ích
chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nớc ta. Qua đó một lần nữa thấy
rõ hơn việc đa lao động đi làm việc ở nớc ngoài trong mối liên hệ chung của
nền kinh tế đất nớc quan trọng nh thế nào bởi lẽ kết quả cuối cùng của lĩnh
12
vực này đợc chuyển từ chu trình này sang một chu trình khác, từ ngành này
sang ngành khác, từ nớc này sang nớc khác...Với quan điểm nh vậy, đánh giá
hiệu quả của lĩnh vực này không thể giống nh việc đánh giá hiệu quả của một
quá trình kinh doanh cụ thể trong nớc mà không có phần phức tạp hơn nhiều.
Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của XKLĐ
1.1.2.1. Lợi ích kinh tế đạt đợc
a. Số lợng lao động đợc giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:
L = Lc + Lx - Ln
Trong đó :
L : Số lao động đợc giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trớc vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động đợc đa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nớc trong năm
ý nghĩa của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này nêu ra đợc chi tiết kết quả đạt đợc trong một năm qua của
công tác XKLĐ. Nó chỉ ra đợc những đóng góp của lĩnh vực này đối với việc
tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nớc ta đã không phải bỏ vốn đầu t để
tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạnh ứ đọng lao động của đất nớc
(mặc dù trớc khi đi XKLĐ những ngời lao động này không phải tất cả đều
thuộc diện thất nghiệp).
b. Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động XKLĐ:
Công thức tính:
P = Yj ( j = 1 đến n )
Yj = Xij . Kj
Trong đó:
P : Mức thu của nhà nớc
Y : Mức thu của nhà nớc ở mỗi thị trờng
n : Số thị trờng đa lao động sang
j : Nớc đa lao động sang
13
K : Tỉ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ớc
X : Thuế thu nhập mỗi ngời phải đóng
ý nghĩa chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nớc thu đợc thông qua XKLĐ. Vấn đề
ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to lớn. Tất cả
các hoạt động có thể đem về ngoại tệ cho đất nớc cần đợc khuyến khích.
Cùng với việc xuất khẩu hàng hoá cần hết sức coi trọng, tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động thu ngoại tệ nh phát triển du lịch, cung ứng tàu biển,
dịch vụ hàng không, tổ chức gia công hàng xuất khẩu và đa lao động đi làm
việc ở nớc ngoài là những hình thức thích hợp với hàng triệu ngời lao động d
thừa hiện nay. Khả năng hợp tác lao động với nớc ngoài của nớc ta là rất lớn,
nếu chúng ta biết tổ chức và khai thác hết những tiềm năng đó trong quan hệ
kinh tế đối ngoại thì sẽ thu đợc nguồn ngoại tệ đáng kể thúc đẩy sản xuất
phát triển 1.
c. Mức tiết kiệm đầu t vào việc làm của chính phủ:
Công thức tính:
Mtk = mđt . L
Trong đó:
Mtk : Mức tiết kiệm vốn đầu t tạo ra việc làm
mđt : Mức đầu t trung bình tạo ra một chỗ làm việc mới
L : Số ngời có việc làm thờng xuyên ở nớc ngoài
ý nghĩa chỉ tiêu:
Cho biết mức độ tiết kiệm không phải bỏ vốn đầu t tạo ra chỗ làm việc
mới ở trong nớc và đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn vốn đầu t cho giải
quyết việc làm.
d. Giá trị hàng hoá do ngời lao động đa về:
Công thức tính:
G = Hj (j = 1 đến n)
Hj = hij . Nj
Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do ngời lao động đem về
Nguồn: Văn kiện Đại hội Đảng
khoá VIII, tháng 5/1997.
1
14
H : Giá trị hàng hoá do ngời lao động ở mỗi thị trờng đem về
h : Giá trị hàng hoá trung bình của một ngời lao động đem về
N : Số ngời gửi hàng hoá về trong năm
i : Biến số ngời
j : Biến số thị trờng
ý nghĩa của chỉ tiêu:
Cho biết lợng hàng hoá do ngời lao động đem về góp phần vào việc cân
đối quỹ hàng hoá trong nớc và cải thiện đời sống gia đình, tăng thêm máy
móc thiết bị làm t liệu sản xuất.
g. Thu nhập do lao động đi làm việc ở nớc ngoài bổ sung vào thu nhập
quốc dân
Công thức tính:
Q = (Pj + Vij) . kj (j = 1 đến n)
Trong đó:
Q : Thu nhập của ngời lao động làm việc ở nớc ngoài tính vào thu
nhập quốc dân
P : Các khoảng phải nộp của mỗi ngời lao động
V : Thu nhập của ngời lao động sau khi đã khấu trừ phần phải nộp
k : Tỉ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ
i : Biến số ngời
j : Biến số nớc sử dụng lao động
ý nghĩa của chỉ tiêu :
Chỉ tiêu cho biết phần thu nhập của ngời lao động ở nớc ngoài đợc tính
vào phần thu nhập quốc dân.
Ngoài các chỉ tiêu có thể lợng hoá đợc để so sánh nói trên còn có một
số chỉ tiêu khác cũng có thể lợng hoá đợc nh số lao động có nghề đợc đào tạo
nâng cao trình độ, mức tiết kiệm chi phí đào tạo trên một ngời lao động...
song nói chung còn ở mức thấp. Một số khía cạnh khác nh việc du nhập kỹ
thuật công nghệ và kinh nghiệm sản xuất mới, việc du nhập nếp sống tíên bộ,
tăng cờng mối quan hệ hợp tác giữa hai nớc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế...
phản ánh hiệu quả về mặt xã hội.
1.1.2.2. Chi phí bỏ ra :
Bao gồm có các chi phí cho ngời lao động trong lĩnh vực tham gia, chi
phí cho bộ máy quản lý, tổ chức tuyển mộ, đa đi và quản lý ở nớc ngoài, xử
15
lý các công việc sau khi ngời lao động hết hạn trở về nớc, tiền nộp phạt cho
nớc bạn do ngời lao động tự ý bỏ hợp đồng...
Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do lao
động gây ra ở nớc ngoài. Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắc
phục đợc nếu có biện pháp và chính sách thích hợp.
Trên giác độ tổng quan, chúng ta có mô hình hiệu quả XKLĐ đợc thể
hiện trên sơ đồ sau :
(hình 1.3)
1.2. Đặc điểm của thị trờng XKLĐ trên thế giới và kinh nghiệm của
một số nớc Đông Nam á.
1.2.1. Đặc điểm của thị trờng XKLĐ trên thế giới
Một vấn đề có tính quy luật trong hoạt động XKLĐ thế giới đó là : Nớc
phát triển thì nhập khẩu nhiều lao động phổ thông, lao động không đòi hỏi
trình độ quá cao, lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao trong khi đó họ
lại thờng xuất khẩu một số lao động chuyên gia đến các nớc đang phát triển.
Ngợc lại với các quốc gia này các quốc gia đang phát triển, do nền kinh tế còn
lạc hậu, tỉ lệ phát triển dân số cao, lao động dôi thừa nên chủ yếu là XKLĐ
cha qua đào tạo hoặc lao động có trình độ thấp với tiền lơng thấp hơn nhiều so
với lao động tại các nớc nhập khẩu và phải nhập một số lao động có trình độ
cao mà lao động trong nớc cha đảm nhiệm đợc.
Trong những năm qua, do tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới có
nhiều biến động ảnh hởng tới hầu hết các nền kinh tế của các quốc gia. Tình
hình XKLĐ vì vậy, cũng có những thay đổi lớn. Tổng số lao động đợc xuất
khẩu trên thế giới vẫn đang ngày một tăng lên. Tuy nhiên, tỉ lệ phân bố lao
động xuất khẩu ở các quốc gia và tỉ trọng nghề XKLĐ thì thay đổi rất nhiều.
Tại các quốc gia phát triển, tỉ trọng XKLĐ ngày càng giảm sút trong
khi đó họ lại nhập ngày một nhiều hơn lao động nớc ngoài tới làm việc, chủ
yếu là lao động từ các quốc gia đang phát triển ở Châu á và Châu Phi.
Tại EU, thời gian vừa qua hàng năm có 4,2 triệu công nhân lành nghề
của nớc ngoài tới làm việc, tại Mỹ hàng năm tiếp nhận khoảng 500.000 ngời,
trong đó có một số lao động lành nghề 2...
XKLĐ chủ yếu phát triển mạnh và là một mũi nhọn của thị trờng Châu
á. Là Châu lục có tổng dân số cao nhất thế giới, thời gian qua, để giải quyết
2
Nguồn: Báo cáo của cơ quan T vấn Rủi ro về kinh tế và chính trị - PERC.
16
công ăn việc làm cho ngời lao động, tăng thu nhập quốc gia, thị trờng Châu á
đã tiến hành phát triển rất nhiều chơng trình thúc đẩy tạo việc làm cho ngời
lao động trong đó có chủ trơng khuyến khích phát triển lĩnh vực XKLĐ. Ước
tính trên phạm vi toàn thế giới, số lao động Châu á tham gia XKLĐ chiếm từ
60% đến 85% trong đó có các nớc XKLĐ với số lợng lớn là : Trung Quốc,
Băngladet, ấn độ, Srilanka, Pakistan, Indonesia, Phiilippin, Thái Lan...
Theo báo cáo của Cơ quan t vấn Rủi ro về kinh tế và Chính trị, Trung
Quốc và ấn Độ hiện nay đang là những quốc gia giữ vị trí thống trị về lực lợng lao động ở Châu á nói riêng và cả thế giới nói chung. Đây cũng là những
quốc gia có số lao động tay nghề cao với chi phí tơng đối thấp đang thu hút
các nhà đầu t nớc ngoài. Chỉ tính riêng năm 2000, Trung Quốc đã xuất khẩu đợc khoảng 50.000 lao động làm việc tại hơn 20 quốc gia trên thế giới. Tại các
nền kinh tế phát triển cao nh Mỹ và Australia mặc dù đợc xếp thứ hai và thứ
ba sau Nhật Bản khi nói về lao động có kỹ năng về kỹ thuật và quản lý, nhng
về phát triển lực lợng lao động các quốc gia này cũng chỉ đợc xét ở mức trung
bình. Trong khi đó Trung Quốc và ấn độ đang tạo thêm một phạm vi mới về
thị trờng lao động Châu á và sự nổi lên của họ đặt ra một thách thức lớn đối
với hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Đối với các nớc Châu á - Thái Bình Dơng, việc XKLĐ đợc quan tâm
đặc biệt. Hớng XKLĐ của các nớc này trong những năm qua chủ yếu tập
trung vào các thị trờng Trung Đông nh : Arập Saudi, CôOét, Ôman, Tiểu vơng
quốc Arập thống nhất... ở những nớc này, tỉ lệ lao động Châu á chiếm từ 58%
đến 92 % số lao động nớc ngoài làm việc.
ở khu vực Đông Nam á, sau hậu quả nặng nề của khủng hoảng kinh
tế khu vực, khu vực này hiện nay đang là những nớc có tình trạng lao động
khó khăn nhất. Malaixia, Thái Lan, Philippin đều là những quốc gia có số lợng
lao động lớn nhng gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển lao động quốc
gia. ở Philippin mặc dù lực lợng lao động có sức cạnh tranh về kỹ thuật, nhng
các vấn đề khác nh cuộc nổi dậy của quân Hồi Giáo ly khai và cuộc khủng
hoảng con tin kéo dài năm 2000 đã và đang ngăn cản nớc này tận dụng đầy đủ
lợi thế của nguồn tài sản nhân lực trong lĩnh vực XKLĐ. Trong khi đó tại
Malaixia và Thái Lan lại đang thiếu trầm trọng nguồn lao động giỏi về kỹ
thuật mà không có lợi thế nào về lao động sản xuất về mặt chất lợng và chi phí
để so sánh với Trung Quốc và ấn Độ. Tuy nhiên, do biết cách khai thác lợi thế
sẵn có, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của các thị trờng thuê lao động tốt hơn so
với các quốc gia khác nên trong những năm qua, tỉ lệ XKLĐ ở các nớc này
vẫn đang ngày một tăng cao.
1.2.2. Kinh nghiệm của các quốc gia XKLĐ ở Đông Nam á
1.2.2.1. Đặc điểm một số thị trờng lao động tiêu biểu của các nớc
17
Đông Nam á
Có thể chia khu vực Đông Nam á ra thành hai nhóm chính:
. Nhóm nớc XKLĐ nh : Thái Lan, Philippin, Indonesia, Việt Nam
Mianma
. Nhóm nớc nhập khẩu lao động nh : Malaixia, Singapo, Lào, Brunêi,
Cămpuchia.
Đây là sự phân chia mang tính chất tơng đối, bởi vì tất cả các nớc đều
vừa có xuất khẩu vừa có nhập khẩu lao động với các mức độ khác nhau và yêu
cầu khác nhau về quy mô và cơ cấu lao động xuất phát từ nhu cầu phát triển
của nền kinh tế.
Biểu 1.1: Đặc điểm thị trờng lao động của các nớc
asean
Nớc
Brunêi
Cămpucia
Xuất khẩu lao động
Nhập khẩu lao động
- Nhập lao động: chuyên gia và lao
động bán lành nghề
- Mới thực hiện
- Chỉ nhận lao động kỹ thuật để thực
- XKLĐ bán lành nghề với hiện các dự án có vốn FDI
quy mô rất nhỏ
- Có nhiều lao động không nghề từ
- Đã có thoả thuận khung với các nớc khác có chung đờng biên
giới
Malaixia
18
Lào
- XKLĐ bán lành nghề với - Nhập lao động có tay nghề theo dự
quy mô rất nhỏ
án FDI
Malaixia
- Có khoảng 12.000 lao động nớc
ngoài trong năm 2000
- Chỉ XKLĐ những thị trờng
- Nhập lao động. Nguồn chủ yếu là:
có mức lơng cao nh: Singapor, Philippin, Indonexia, TháiLan
Đài loan, Nhật Bản
Bănglađes
- Tồn tại nhiều lao động nớc ngoài
đến không theo hợp đồng chính thức
- Nhập cả lao động lành nghề và lao
động bán lành nghề
Singapor
- Nhu cầu lớn lao động giúp việc gia
đình
- Có chính sách thu hút lao động lành
nghề.
Indonexia
- XKLĐ quy mô lớn :bình
quân 30 vạn lao động/năm
- Quy mô lao động đi tự do
lớn, chủ yếu tới Malaixia
Mianma
Philippin
- Thị trờng chủ yếu : Trung
Đông và Châu á
- Quy mô lao động tới Thái - Nhập khẩu lao động với số lợng
Lan rất lớn, chủ yếu đi theo giới hạn là lao động kỹ thuật
kênh không chính thức
- Quy mô lao động lớn nhất
trong khối Asean
- Bình quân xuất khẩu 50 vạn
lao động/năm (không bao
gồm lao động đi biển)
Thái Lan
- Thị trờng quan trọng : Trung
Đông, Đông á.
- Quy mô XKLĐ lớn: bình - Có khoảng 1,2 triệu lao động nớc
quân: 19 vạn lao động/năm.
ngoài, chủ yếu lao động bán lành
nghề của Mianma, Lào, Cămpuchia.
- Thị trờng chủ yếu : Đài
Loan, Nhật, Hàn Quốc và tiếp
theo là Singapo, Malaixia.
- Lao động chủ yếu là ng dân, chế
biến và nông nghiệp tại các nớc có
chung biên giới.
Nguồn: Phạm Đỗ Nhật Tân - Xuất khẩu lao động của một số nớc trong khối
ASEAN. Tạp chí: Việc làm nớc ngoài, số 4 năm 2001.
19
- Quy mô XKLĐ của các nớc này :
Ba nớc có quy mô XKLĐ lớn nhất trong khu vực Đông Nam á là: Thái
Lan, Philippin, Indonesia.
Bình quân trong giai đoạn 1996 - 1999, mỗi năm 3 nớc này đa đi trên 1
triệu lao động, trong đó : Philippin đa đi trên nửa triệu lao động, Inđonêsia: 30
vạn lao động, Thái Lan : 19 vạn lao động.
Quy mô XKLĐ hàng năm với số lợng trên ổn định đối với Philippin,
Thái Lan song đối với Inđônêsia, nớc này Chính phủ đang tập trung chỉ đạo để
nâng cao quy mô này cao hơn nữa trong thời gian tới.
biểu 1.2: Quy mô XKLĐ của một số nớc
Đơn vị tính: ngời
năm
1991
THáI LAN
63.200
PHILIPIN INDONEXIA
598.800
86.300
CộNG
748.300
1992
63.800
701.800
149.800
915.400
1993
81.700
549.700
172.200
803.600
1994
137.900
550.900
160.000
848.800
1995
1996
169.700
202.300
565.200
488.600
176.200
120.900
911.100
811.800
1997
185.400
484.700
517.300
1.187.400
1998
183.700
559.200
235.300
1978.200
1999
1996-1999
Bình quân
đầu ngời
1996-1999
191.700
763.100
190.775
562.400
2.094.900
523.725
411.600
1.285.100
312.275
1.165.700
4.943.100
1.035.775
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê
1.2.2.2.Kinh nghiệm thực hiện XKLĐ của các nớc Đông Nam á
Tại Philippin, một thị trờng XKLĐ đứng thứ nhất trên thế giới, Chính
phủ đã thành lập 3 cơ quan riêng biệt trực thuộc Bộ Lao động và Việc làm là:
Ban phát triển việc làm nớc ngoài, hội đồng thuỷ thủ quốc gia và văn phòng
dịch vụ việc làm.
Chính phủ Philippin thực hiện xây dựng nhu cầu tiếp thị việc làm nớc
20
ngoài, xây dựng chính sách và thiết lập một hệ thống tiếp thị. Các chức năng
tuyển mộ, bố trí và quản lý việc XKLĐ đợc tiến hành bởi một cơ quan duy
nhất là Cục quản lý việc làm nớc ngoài. Tất cả việc thuê mớn nhân công
Philippin phải thông qua Cục quản lý việc làm ngoài nớc hoặc các công ty
tuyển mộ đã đợc cấp giấy phép.
Tại Thái Lan, việc XKLĐ cũng đợc quy định trong Bộ Luật Lao động
ban hành năm 1985, trong đó quy định tập trung hoá việc cấp giấy phép và
quản lý các cơ quan tuyển dụng lao động t nhân, thành lập cơ quan tuyển
dụng lao động thuộc Chính phủ, quy định việc gửi ngoại tệ về nớc của ngời
lao động, Tổng cục Lao động (thuộc Bộ Nội vụ) là cơ quan của Chính Phủ duy
nhất thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc về XKLĐ. Chính phủ cho thành lập
quỹ phúc lợi cho ngời lao động, do ngời lao động đóng góp là chủ yếu, Nhà nớc có hỗ trợ một phần.
Chính phủ Thái Lan cũng cho phép XKLĐ lành nghề, cho phép cá
nhân tự đi làm việc ở nớc ngoài, cho phép thu lệ phí XKLĐ bằng một tháng lơng. Các cơ quan, tổ chức kinh tế muốn đợc xét cấp giấy phép XKLĐ phải là
một công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc một công ty công cộng có vốn tối thiểu
là 1 triệu bạt (Bằng 40.000 USD thời điểm năm 1997), 3/4 cổ phần của công
ty phải do ngời mang quốc tịch Thái Lan sở hữu và phải đóng vào quỹ an ninh
do Văn phòng quản lý lao động ngoài nớc một khoảng không dới 500.000 bạt
(bằng 20.000 USD thời điểm 1997).
Tại Malaisia, nớc này vừa nhập khẩu lại vừa XKLĐ. Trong những năm
đầu thập kỉ 90, có hàng chục vạn lao động Indonesia và Philippin đến làm việc
ở Malaisia trong khi đó cũng có hàng vạn lao động Malaisia sang Singapor
làm việc vì ở đó đợc trả lơng cao hơn.
Tình trạng chung của các nớc thuộc khu vực Đông Nam á trong việc
XKLĐ là việc t nhân hoá song song với việc tăng cờng quản lý của Nhà nớc
và trách nhiệm của ngời đi lao động đối với đất nớc và với hợp đồng mà họ đã
ký với nớc ngoài, nhng trong đó nổi bật lên vai trò của Nhà nớc, vấn đề thu
nhập và tạo việc làm khi ngời lao động trở về.
1.3. Kết luận chơng
Toàn bộ Chơng 1 đã nêu đợc một cách khái quát về nội dung các vấn đề
lý luận nói chung của xuất khẩu lao động và tình hình xuất khẩu lao động thế
giới. Xét về mặt lịch sử, di c lao động đã hình thành từ thời kì đầu tiên xuất
hiện con ngời và đợc chính thức hoá thành hoạt động XKLĐ từ hơn một thế kỉ
nay. Đây là một hoạt động mang tính tất yếu khách quan chủ yếu phục vụ cho
các lợi ích về mặt kinh tế và xã hội của các nớc. Tính tất yếu của hoạt động
này đợc thể hiện thông qua nguyên nhân hình thành cũng nh các vấn đề lý
luận chung của XKLĐ.
21
Trong những năm qua, động thái XKLĐ trên thế giới ngày càng phát
triển hơn. Lao động trí thức với trình độ cao đợc các nớc phát triển chủ yếu
xuất khẩu sang các nớc đang phát triển và các nớc đang phát triển thì chủ yếu
xuất khẩu lao động phổ thông sang các nớc phát triển. Đây là một quy luật tự
nhiên, góp phần vào sự phân công lao động quốc tế, mang lại lợi nhuận chung
cho thế giới và đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong đó có các nớc
thuộc khu vực Đông Nam á. ở những nớc này, hiện nay việc phát triển
XKLĐ đang đợc coi là một hoạt động hàng đầu và mang tính chiến lợc. Đứng
trớc tình hình phát triển XKLĐ của thế giới, đợc kiểm nghiệm bằng các kinh
nghiệm tích luỹ đợc từ hoạt động XKLĐ thực tiễn của các nớc trong cùng khu
vực, việc phát triển lĩnh vực này đã và đang trở thành một trong những mục
tiêu cấp bách của nớc ta. Để có thể tiến tới thành công và những bớc đi chắc
chắn của mình đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt rõ và nghiên cứu kỹ về vấn đề
này.
Thông qua việc nêu ra các vấn đề lý luận chung và hoạt động XKLĐ
trên thế giới, toàn bộ Chơng 1 của khoá luận sẽ là tiền đề cho việc phân tích
thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam trong Chơng 2.
chơng 2
thực trạng xuất khẩu lao động việt nam
trong thập kỉ 90
2.1. Lực lợng lao động và nhu cầu XKLĐ ở Việt Nam
2.1.1. Khái quát về lực lợng lao động Việt Nam
Với mức tăng dân số tự nhiên hàng năm trên 1,8% ( xem phụ lục 2.1),
Việt Nam là một nớc có nguồn nhân lực dồi dào, đứng thứ 12 trên thế giới và
đứng thứ 2 trong khối ASEAN 3. Theo kết quả điều tra dân số 10 năm trở lại
Nguồn: CIEM - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương: Lao động, việc làm và thu nhập, Kinh tế Việt
Nam, 2001.
3
22
đây, dân số nớc ta có:
Biểu 2.1 : dân số nớc ta trong 10 năm qua
Đơn vị tính : nghìn ngời
Tổng số
65.611
66.894
68.189
69.510
70.771
71.985
73.166
74.335
75.504
76.597
Năm
Thành thị
Nông thôn
1991
12.798
52.813
1992
13.190
53.704
1993
13.580
54.609
1994
14.017
55.493
1995
14.576
56.195
1996
15.098
56.887
1997
15.643
57.523
1998
16.813
57.504
1999
17.536
57.968
2000
18.046
58.551
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê
Đây mới chỉ là con số thống kê trong vòng mời năm trở lại đây, theo dự
báo dân số nớc ta sẽ còn tăng tới 100 triệu ngời vào năm 2020 với tốc độ tăng
dân số hầu nh không đổi. Tính riêng năm 2001, tổng số lao động của cả nớc ta
ớc tính là 38.643.123 ngời, trong đó, số ngời trong độ tuổi lao động là
36.725.277 ngời, chiếm 95% tổng lực lợng lao động của cả nớc. So với năm
2000, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong năm 2001 vẫn theo chiều
hớng tích cực. Có thể nói nớc ta là một thị trờng cung cấp lao động phong phú,
tạo nên một nguồn lực dồi dào cho đất nớc.
Về cơ cấu ngành kinh tế: tuy là một quốc gia đang phát triển, lao động
và việc làm vẫn luôn là một vấn đề bức xúc của nớc ta, trở thành một trong
những trọng tâm của chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nớc.Theo số liệu
phân tích của Tổng cục thống kê, năm 2001 dân số nớc ta ớc tính có khoảng
22.650.814 ngời làm việc trong khu vực nông - lâm - ng nghiệp, chiếm 62,5%
so với tổng số lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân, giảm
1,1% so với năm trớc; tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng
tăng từ 12,5% năm 2000 lên 13,2% năm 2001 và dịch vụ tăng tơng ứng từ
23,9% lên 24,3%. Việc chuyển dịch cơ cấu hớng theo công nghiệp hoá đang
ngày càng thể hiện rõ.
Xét về độ tuổi : Có thể thấy lao động nớc ta thuộc loại trẻ. Tỉ lệ dân số
dới 15 tuổi chiếm tới 45%, đại bộ phận (52,19%) nằm ở độ tuổi dới 30 và 78%
ở độ tuổi dới 40 4. Điều đó chứng tỏ dân số Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ
4
Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2001
23
phát triển mạnh.
Xét về chất lợng lao động: Chất lợng lao động ở Việt Nam đang là một
vấn đề đáng đợc lu tâm (xem phụ lục 2.2). Số lao động làm việc không có
chuyên môn vẫn chiếm tỉ lệ chủ yếu, trong khi đó lao động đợc đào tạo trung
cấp, đại học và sau đại học thì có quá ít. Tới năm 2001, có khoảng 7,2 triệu
lao động kỹ thuật, chiếm 19,5% lao động đang làm việc. Lao động đô thị thì
thờng có trình độ cao về văn hoá chuyên môn, nghề nghiệp, kiến thức so với
nông thôn. Trong khi đó do không đợc đào tạo, đại bộ phận lao động ở nông
thôn là lao động giản đơn, điều kiện tiếp xúc với khoa học kỹ thuật công nghệ
và thị trờng bị hạn chế..
Xét về cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: năm 2001 tỷ trọng lao
động của nớc ta hoạt động trong khu vực nhà nớc là khoảng 9%, và trong khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh là khoảng 91%. Về lĩnh vực XKLĐ, trong
những năm qua cũng đã đạt đến những thành tựu nhất định. Năm 2001 chúng
ta đã xuất khẩu đợc 31.500 lao động ra nớc ngoài, đặc biệt là XKLĐ gián tiếp
thông qua các khu vực có vốn đầu t nớc ngoài, tạo việc làm cho khoảng
330.000 ngời, thu hút khoảng 1% tổng lực lợng lao động.
Xét về cơ cấu lao động theo khu vực: thì trong vòng 10 năm qua, lao
động tại các thành thị ngày càng tăng cao hơn nhiều so với số lao động tại khu
vực nông thôn. Do việc làm tại các khu vực nông thôn chủ yếu là nông nghiệp,
phụ thuộc vào đất đai canh tác. Đất canh tác bình quân đầu ngời thấp. Giai
đoạn năm 1991 - 1994 lao động nông thôn tăng lên 2 triệu ngời trong khi đất
canh tác giảm xuống trung bình mỗi năm 2000ha. Ruộng đất bị chia nhỏ,
manh mún do quá trình phân chia ruộng đất đang tiếp tục. Cho tới giai đoạn
1997 - 1999, do quá trình tinh giảm biên chế trong khu vực Nhà nớc và sắp
xếp lại nhân lực trong khu vực kinh tế quốc doanh, hơn nửa triệu lao động dôi
d trở về lao động tại nông thôn. Thêm vào đó là quá trình đô thị hoá ở nông
thôn cũng đang diễn ra khá mạnh, làm đất nông nghiệp mất dần. Tuy nhiên
trong 3 năm gần đây từ năm 1999 đến 2000 số lao động trong nông nghiệp
vẫn tăng thêm 1,7 triệu ngời trong khi chỉ có trên 750.000 lao động tăng thêm
trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và 1,4 triệu lao động tăng thêm trong
lĩnh vực dịch vụ. Điều này đồng nghĩa với việc thiếu việc làm tơng đối ở khu
vực nông thôn đặc biệt là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (xem phụ lục
2.4).
Còn tại các khu vực thành thị nhìn chung tỉ lệ thất nghiệp của lực lợng
lao động trong độ tuổi lao động tiếp tục giảm, từ 6,7% năm 2000 xuống còn
6,4% năm 2001. Vấn đề việc làm tại khu vực này luôn diễn ra căng thẳng và
cấp bách. Bình quân thời kỳ 1991 - 2000, mỗi năm nớc ta giải quyết đợc việc
làm cho 0,91 triệu ngời, trong đó mấy năm giải quyết đợc khoảng 1,2 triệu ng24
ời có việc làm tơng ứng với số bổ sung thêm hàng năm của nguồn lao động nớc ta.
Nh vậy: Nhìn chung nớc ta là một quốc gia có nguồn lao động dồi dào,
tốc độ phát triển ở mức cao, lại phân bố không đều, phần lớn tập trung ở khu
vực nông thôn. Chất lợng lao động thấp, đặc biệt là cha qua đào tạo nhiều.
Trong khi đó nớc ta lại đang gặp khó khăn rất lớn trong quá trình tạo việc làm,
tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý. Chúng ta phải thừa nhận rằng : Con ngời
Việt Nam hiện có những mặt hạn chế về thể lực, kiến thức, tay nghề và thói
quen của sản xuất nhỏ. Khắc phục những nhợc điểm đó thì nguồn nhân lực và
nhân tố con ngời mới thực sự trở thành thế mạnh của đất nớc 5.
2.1.2. Chơng trình việc làm quốc gia và nhu cầu XKLĐ
Chơng trình việc làm quốc gia đợc xác định là chơng trình do Nhà nớc
hoạch định, là một bộ phận quan trọng của chơng trình phát triển KT - XH của
đất nớc nhằm hoạch định một hệ thống chính sách tạo mở việc làm, chống
thất nghiệp, giảm nghèo đói, đem lại thịnh vợng chung cho xã hội.
Chơng trình việc làm quốc gia đợc đặt ra bắt đầu từ Đại hội Đảng khoá
VIII, cho đến nay, sau hơn 5 năm thực hiện, chơng trình đã thu đợc nhiều
thành quả to lớn, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho Xã hội. Nghị quyết đại
hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: trong giai đoạn đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh
theo định hớng Xã hội chủ nghĩa, phải Tập trung sức tạo việc làm. Phơng hớng quan trọng nhất là Nhà nớc cùng toàn dân ra sức đầu t phát triển, thực
hiện tốt kế hoạch và các chơng trình KT - XH. Khuyến khích mọi thành phần
kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm
cho ngời lao động. Mọi công dân đều đợc tự do hành nghề, thuê mớn nhân
công theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân c trên
địa bàn có tính chiến lợc về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối
ngoại, đẩy mạnh XKLĐ. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu
việc làm ở nông thôn 6. Để thực hiện phơng hớng, nhiệm vụ trên, phải tích
cực tạo ra nhiều công ăn việc làm ở trong nớc và ngoài nớc.
Để thực hiện đợc mục tiêu tạo đợc việc làm cho một bộ phận lớn dân c
và giảm sự nghèo khổ, Chơng trình việc làm quốc gia đợc hình thành trên cơ
sở xây dựng một hệ thống các chơng trình việc làm trong một số lĩnh vực có
khả năng thu hút nhiều lao động, mở rộng và phát triển các ngành nghề mà thị
trờng có nhu cầu và có định hớng giải quyết việc làm trên một số vùng trọng
điểm có yêu cầu bức bách trong đó có nhu cầu giải quyết mở rộng XKLĐ. Cụ
thể là:
* Tiếp tục mở rộng Chơng trình đa lao động đi làm việc ở nớc ngoài
5
6
Nguồn: Trích dự thảo Chiến lợc ổn định và phát triển KT - XH - NXB Sự thật. HN.1991, trang 6.
Nguồn: Trích văn kiện Đại hội Đảng khoá VIII.NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.1997
25