Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

ĐẠI CƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.67 MB, 28 trang )

ĐẠI CƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ
BS Hồ Hoàng Phương, BS Đỗ Hải Thanh Anh
Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh, Đại học Y dược TP.HCM
* Đối tượng: Sinh viên Y3, YHCT CT2
* Mục tiêu:
1. Nắm được các điểm chính về lịch sử cộng hưởng từ
2. Nắm được những nét chính trong nguyên lý tạo hình cộng hưởng từ
3. Biết các thuật ngữ thường dùng, một số chuỗi xung cơ bản dùng trong cộng
hưởng từ
4. Biết được các ứng dụng của cộng hưởng từ trong từng hệ cơ quan, các kĩ thuật
đặc biệt tương ứng với bệnh lý từng hệ cơ quan
1. Vài nét về lịch sử cộng hưởng từ:
Cộng hưởng từ là một phương tiện hình ảnh mới, hiện đại, và đang ngày càng
được ứng dụng nhiều vào chẩn đoán, theo dõi điều trị, cũng như can thiệp. Lịch sử
của cộng hưởng từ còn khá trẻ, vào khoảng 30 năm, so với quãng đường 110 năm của
tia X. Hiện nay, cộng hưởng từ vẫn đang tiếp tục phát triển với nhiều hướng mở trong
tương lai. Ứng dụng của cộng hưởng từ cũng đã phát triển rộng rãi để khảo sát nhiều
vùng cơ thể.
Ghi hình cộng hưởng từ được phát triển dựa trên nền tảng những hiểu biết về
hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Trong thời gian đầu, kĩ thuật này được gọi là ghi
hình cộng hưởng từ hạt nhân (nuclear magnetic resonance imaging). Tuy nhiên, trong
ngôn ngữ phổ thông, từ “hạt nhân” thường được liên tưởng với việc phơi nhiễm bức
xạ ion hóa nên sau đó, tên gọi này được rút gọn đơn giản là chụp cộng hưởng từ
(magnetic resonance imaging). Đôi khi người ta cũng dùng thuật ngữ “chụp cắt lớp
cộng hưởng từ” (magnetic resonance tomography). Paul C Lauterbur, một trong
những người đóng góp vào kĩ thuật chụp cộng hưởng từ hiện đại, ban đầu gọi kĩ thuật
1


này bằng một thuật ngữ Hy Lạp: zeugmatography, có nghĩa là cái dùng để tạo nên sự
hòa nhập.


Năm 1952, Felix Bloch và Edward Purcell đoạt giải Nobel Vật lý cho phát hiện
về hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Đây chính là nền tảng khoa học cho việc chụp
cộng hưởng từ sau này.
Hình ảnh cộng hưởng từ đầu tiên của nước được Lauterbur công bố tại SUNY
Stony Brook vào năm 1972. Năm 1974, ông công bố hình ảnh cộng hưởng từ đầu tiên
của động vật sống.
Ngày 3 tháng 7 năm 1977, một sự kiện xảy ra làm thay đổi mãi mãi hình ảnh
của nền y học hiện đại: chụp cộng hưởng từ trên con người. Tiến sĩ Raymond Vahan
Damadian và cộng sự đã làm việc suốt 7 năm dài để đạt được thành tựu này. Phải mất
đến 5 giờ đồng hồ để có được một hình cộng hưởng từ mà nếu đánh giá theo tiêu
chuẩn hiện nay là rất xấu! Chiếc máy chụp năm đó đã được tiến sĩ Raymond V
Damadian và cộng sự đặt tên là “Bất khuất – Indomitable” để biểu trưng cho tinh
thần làm việc của các nhà khoa học khi kiên trì theo đuổi điều mà nhiều người lúc đó
cho rằng không thể làm được. Chiếc máy này hiện được đặt ở viện Smithsonian, Hoa
Kì. Đây chính là tiền thân của máy cộng hưởng từ ngày nay. Raymond V Damadian
được coi là người ứng dụng khuynh độ từ trường để ghi hình cộng hưởng từ đơn
hướng.
Năm 2003, Paul C Lauterbur và Peter Mansfield đoạt giải Nobel sinh lý học
hay Y học vì những phát minh cho việc ghi hình cộng hưởng từ. Ủy ban giải Nobel
đã công nhận những hiểu biết sâu sắc của các ông trong việc ứng dụng khuynh độ từ
trường hiệu quả để định vị về mặt không gian, ghi hình hai chiều nhanh, cũng như
đưa vào các thuật toán và phát triển các kĩ thuật của cộng hưởng từ. Nghiên cứu của
Paul C Lauterbur đã tiến hành từ gần 30 năm trước tại Đại học Stony Brook ở Stony
Brook, New York.
Cho đến nay, chụp cộng hưởng từ đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Những gì trước
đó phải mất hàng giờ để làm thì nay chỉ tính trong đơn vị bằng giây.

2



Máy cộng hưởng từ đầu tiên

Máy cộng hưởng từ Avanto, Siemens ngày nay
3


Máy cộng hưởng từ mở

Máy cộng hưởng từ kín

4


2. Sơ lược nguyên lý tạo hình trong cộng hưởng từ:
Việc tạo ảnh cộng hưởng từ thực hiện được là nhờ vào các nhân từ tính. Các
phân tử nước chiếm 63% trọng lượng cơ thể con người, do đó hydro là loại nguyên tố
có độ tập trung cao trong mô cơ thể người. Hơn nữa, nguyên tử hydro sinh ra tín hiệu
từ mạnh nhất. Vì vậy, việc ghi hình cộng hưởng từ hiện nay là dựa vào tính chất từ
hóa của các nguyên tử hydro trong cơ thể. Mỗi nhân từ tính sẽ có một moment từ
mang hai chuyển động: chuyển động xoay tròn quanh mình (spin) và chuyển động
đảo (precession).
Trong trạng thái tự nhiên, các proton trong cơ thể chuyển động hỗn độn.

Khối nam châm của máy cộng hưởng từ sẽ tạo nên một từ trường ngoài Bo.
Tính đến nay đã có 3 loại nam châm dùng để thiết kế máy cộng hưởng từ: nam châm
vĩnh cửu, nam châm điện, và nam châm siêu dẫn. Các máy sử dụng nam châm vĩnh
cửu và nam châm điện cho từ trường ngoài yếu: với nam châm vĩnh cửu vào khoảng
0,3Tesla, nam châm điện 0,7T; nam châm siêu dẫn cho từ trường mạnh 1->3T và có
độ đồng nhất cao.
Khi đưa cơ thể vào trong từ trường của máy cộng hưởng từ, các proton này sẽ

sắp xếp lại với vector tổng hợp từ M cùng hướng với từ trường ngoài Bo.

5


Tiếp đó máy cộng hưởng từ sẽ cung cấp một sóng tần số radio chuyên biệt cho
nguyên tử hydro về phía phần cơ thể cần khảo sát. Sóng radio này sẽ có cùng tần số
với tần số chuyển động của các proton của hydro trong vùng cơ thể cần khảo sát này,
do đó các proton sẽ hấp thụ được năng lượng của sóng radio – đây chính là hiện
tượng cộng hưởng – và sẽ chuyển lên mức năng lượng cao hơn, chuyển động theo
một hướng khác. Tần số đặc biệt để tạo ra được hiện tượng cộng hưởng gọi là tần số
Lamour, và được tính toán theo từng loại mô muốn ghi hình và độ mạnh của từ
trường ngoài.

6


Sóng tần số radio làm cho vector từ hoá dọc ban đầu (cùng hướng với từ
trường ngoài) nghiêng vào trong mặt phẳng ngang, tạo thành một vector nằm trong
mặt phẳng vuông góc với chiều của từ trường ngoài, đây chính là vector từ hoá
ngang.
Sau đó, sóng tần số radio này sẽ được tắt đi, và các proton đang ở mức năng
lượng cao sẽ giải phóng năng lượng để trở về trạng thái bền vững. Năng lượng giải
phóng ra sẽ được máy phát hiện và ghi lại. Vị trí của các proton trong cơ thể được
xác định bởi các từ trường phụ được đưa vào trong khi ghi hình, cho phép tạo nên
hình ảnh của cơ quan. Điều này được thực hiện bằng việc tắt và mở các cuộn thu, tạo
nên âm thanh như tiếng gõ trong suốt quá trình chụp cộng hưởng từ.
Quá trình giải phóng năng lượng của các proton dẫn đến sự thoái triển của
vector từ hóa ngang và phục hồi vector từ hóa dọc. Thời gian để phục hồi vector từ
hóa dọc gọi là thời gian T1, thời gian thoái triển vector từ hóa ngang gọi là thời gian

T2. Tuy nhiên, rất khó xác định chính xác thời điểm mà vector từ hóa dọc được phục
hồi hoàn toàn cũng như thời điểm vector từ hóa ngang thoái triển hoàn toàn. Do đó,
người ta coi thời gian T1 là thời gian tính đến khi vector từ hóa dọc đạt 63% độ lớn
ban đầu và thời gian T2 là tính đến khi vector từ hóa ngang còn 37% độ lớn ban đầu.
Các mô bệnh lý sẽ được phát hiện, vì các loại mô khác nhau sẽ trở về trạng thái
cân bằng ở các mức khác nhau. Bằng việc điều chỉnh các thông số của máy, hiện
tượng này sẽ được ứng dụng để tạo ra sự tương phản giữa các mô khác nhau trong cơ
thể.
Chất tương phản có thể được sử dụng qua đường tĩnh mạch để thấy rõ mạch
máu, khối u, tình trạng viêm; hoặc có thể tiêm trực tiếp vào bao khớp để ghi hình
khớp.
Cộng hưởng từ hiện nay được sử dụng để ghi hình cho hầu hết tất cả các phần
cơ thể.

7


3. Một số khái niệm và thuật ngữ trong cộng hưởng từ:
3.1. Mô tả tín hiệu:
- đồng tín hiệu
- tăng tín hiệu
- giảm tín hiệu
- tín hiệu trống (flow void) của dòng chảy (mạch máu)
3.2. - Thời gian TR (ms): time to repeat - thời gian để lặp lại sóng radio
TR ngắn: < 500ms, TR dài: > 1500ms
- Thời gian TE (ms): time to echo - thời gian từ lúc phát sóng radio đến lúc thu
tín hiệu dội lại
TE ngắn: < 30ms, TE dài: > 80ms
- Với chuỗi xung thông thường spin echo, chọn các thông số TR, TE khác nhau,
ta sẽ có các hình khác nhau:

ƒ TR và TE ngắn: cho hình có tính T1 (T1W)
ƒ TR và TE dài : cho hình có tính T2 (T2W)
ƒ TR dài và TE ngắn: cho hình phản ánh mật độ proton (Pd)
ƒ TR ngắn và TE dài : không sinh đủ tín hiệu để tạo hình ảnh

8


3.3. Mỗi phần tử vật (voxel) có thời gian T1 và T2 khác nhau, biểu thị bằng các độ
xám khác nhau của các phần tử hình (pixel) tương ứng:

------------------------------------------------------------------------------------------

9


3.4. Tín hiệu của một số mô :


Ví dụ

Tín hiệu trên

Tín hiệu trên

phim T1W

phim T2W

Khí


Phổi, ruột

Không

Không

Mô giàu chất khoáng

Xương, sỏi

Rất thấp

Rất thấp

Mô collagen

Dây chằng, gân, mô xơ

Thấp

Thấp

Mỡ

Mỡ, tủy xương

Cao

Cao


Thấp

Cao

Trung gian

Cao

Dịch não tủy, thủy dịch,

Nước tự do

hệ niệu

Dịch protein, dịch
đặc/không

thuần Kén, áp xe, dịch khớp ..

nhất khác
3.5. Cộng hưởng từ có thể ghi hình đa mặt phẳng trực tiếp, ghi hình 2D hoặc 3D để
tái tạo lại trên các mặt phẳng khác nhau, tạo hình thể tích, ghi hình phổ, nội soi
ảo, . . .
3.6. Chất tương phản được dùng nhiều nhất trong cộng hưởng từ là dẫn xuất của
gadolinium, là chất thuận từ, có tác dụng làm rút ngắn thời gian T1. Gadolinium
có độc tính khi ở trạng thái tự do nên được gắn kết với DTPA (Gd-DTPA) để làm
mất độc tính.
Gần đây có các nghiên cứu về chất tương phản oxid sắt siêu thuận từ, tạo nên
hình ảnh tín hiệu rất thấp trên T2* của mô bình thường (gan, hạch..) do mô giữ

chất tương phản này, còn mô bệnh lý thì không.
3.7. Các chuỗi xung chính để thu tín hiệu ảnh:
- Spin echo: là chuỗi xung cổ điển, khởi đầu bằng một sóng RF 900, tiếp đó là
sóng RF 1800 để tạo ra hiện tượng dội lại của các spin, góc lệch (flip angle)
thường là 900.

10


- Inversion recovery - chuỗi xung phục hồi đảo nghịch: khởi đầu bằng một sóng
RF 1800, sau đó là một sóng RF 900. Xung IR này được sử dụng cho 2 mục
đích: 1/ loại bỏ mỡ (STIR), 2/ loại bỏ nước (FLAIR)
- Gradient echo: là xung tạo ảnh nhanh có thời gian TR rút ngắn, không sử dụng
sóng RF 1800 để tụ pha các proton mà sử dụng một chênh từ (gradient) để tạo
ra hiện tượng dội lại.
4. Ứng dụng lâm sàng của cộng hưởng từ:
4.1. Sọ não:
MRI rất nhạy để đánh giá các bất thường của não bộ, và có thể phát hiện những
dấu hiệu không nhìn thấy trên CT. Các chỉ định tiêu biểu cho MRI não bao gồm nhức
đầu, chóng mặt, thay đổi về thị giác, mất thính giác, động kinh, nôn ói, tầm soát di
căn ở bệnh nhân ung thư, bệnh tự miễn, tê tay chân. MRI não giúp phát hiện đột quị,
các bất thường mạch máu, u não và các tổn thương khác, các rối loạn chuyển hoá,
bệnh xơ cứng rải rác, các bệnh lí hủy myelin khác, bệnh Lyme.

1
2

3
A


B

Hình 4.1. Hình cộng hưởng từ não trên mặt phẳng axial với chuỗi xung T1W SE
(hình A) và chuỗi xung T2W FSE (hình B) cho thấy rõ các cấu trúc nhân xám trung
ương, các cuộn não, chất trắng, chất xám, não thất. Trên xung T1W (hình A): chất
xám (1) có màu xám, tín hiệu thấp hơn so với chất trắng (2), ngược với hình T2W
(hình B). Dịch não tủy trong não thất bên (3) có tín hiệu thấp trên T1W và cao trên
T2W.

11


Hình 4.2. Hình cộng
hưởng từ với xung
T2W FSE trên mặt
phẳng đứng dọc giữa
(mid-sagittal)

cho

thấy rõ các cấu trúc
não trên đường giữa

Các chuỗi xung chuyên biệt:
- FLAIR (fluid attenuated inversion recovery): Hình ảnh T2W nhưng đã khử tín hiệu
của dịch, dịch trở thành màu đen, làm nổi bật các sang thương cạnh não thất, trong
não thất, ở các cuộn vỏ não . . . Đây là một xung chụp thường qui trong khảo sát MRI
não, nhạy để phát hiện tổn thương.

Hình 4.3. Hình cộng hưởng từ với chuỗi xung FLAIR tr ên mặt phẳng đứng ngang

(mặt phẳng coronal)

12


- Chuỗi xung khuếch tán (diffusion) và bản đồ hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC
map): Rất có giá trị trong chẩn đoán nhồi máu não trong giai đoạn sớm, phân biệt áp
xe não với u hoại tử hay các tổn thương bắt thuốc viền khác, ...

A

B

C

Hình 4.4. Hình cộng hưởng từ sọ não trên mặt cắt axial của nhồi máu não: tăng tín
hiệu trên chuỗi xung FLAIR (mũi tên - hình A), sáng trên hình khuếch tán (hình B)
tương ứng với vùng tối trên bản đồ hệ số khuếch tán biểu kiến (hình C)

A

B

Hình 4.5. Hình cộng hưởng từ với chuỗi xung T1W SE (hình A) và T2W FSE (hình
B) của dị dạng động tĩnh mạch não (AVM) thùy thái dương (T), các mạch máu dị
dạng, dãn có tín hiệu trống của dòng chảy (thấp đen trên cả T1W và T2W).

13



- T1 inversion recovery: Hình T1W đã được làm mất tín hiệu xương và mô mềm
xung quanh, làm nổi bật cấu trúc nhu mô não, cho hình ảnh giải phẫu rõ ràng, cấu
trúc nhân xám trung ương, bao trong, bao ngoài, các cuộn vỏ não, cho tương phản tốt
giữa chất xám với chất trắng, giúp phát hiện dễ dàng các bất thường cấu trúc não bẩm
sinh.

Hình 4.6. Hình cộng hưởng từ với xung T1 inversion recovery trên mặt phẳng đứng
ngang (mặt phẳng coronal) cho thấy rõ tương phản chất xám - trắng, cấu trúc các
cuộn não
- T2* gradient echo (T2 hemo): Nhạy trong việc phát hiện tín hiệu hemosiderin, giúp
xác định rõ ràng các ổ máu tụ giai đoạn bán cấp sớm, các ổ xuất huyết nhỏ không
hoặc khó thấy trên phim thường qui, xác định các ổ lắng đọng hemosiderin trong dị
dạng mạch máu não

14


A

C

B

D

Hình 4.7. Hình CT scan ổ xuất huyết ở cuống tiểu não trên (mũi tên - hình A). Các
hình qua cùng một mặt cắt trên CT scan (hình B), cộng hưởng từ xung T2W FSE
(hình C) và T2* hemo (hình D) cho thấy xung T2* hemo nhạy hơn so với CT scan và
T2W thông thường trong việc phát hiện các ổ xuất huyết giảm tín hiệu trên T2*hemo;
đóng vôi nhân bèo hai bên (mũi tên) cũng có tín hiệu thấp trên T2*hemo.


15


- T1 dynamic với thuốc tương phản từ chụp cho tuyến yên: Chụp tuyến yên nhanh,
nhiều thì sau khi tiêm thuốc tương phản 30 giây, 60 giây, 90 giây, 120 giây, giúp phát
hiện các u tuyến nhỏ (microadenoma) của tuyến yên ở tuyến yên có kích thước bình
thường.

Hình 4.8. Hình chụp động học trước (hình A, D) và sau khi tiêm thuốc tương phản từ
(hình B, C, E) phát hiện u tuyến của tuyến yên kích thước nhỏ (mũi tên) trên một
tuyến yên kích thước bình thường.
- CISS 3D (Constructive Interference in Steady State), trufisp 3D cho vùng góc cầu tiểu não: Hình chụp với lát cắt mỏng 0,3-<1mm, cho hình ảnh giải phẫu chi tiết về
đường đi, tín hiệu của các dây thần kinh: dây V, VII, VIII, ..., tái tạo được hình ảnh
của ống bán khuyên, ốc tai của tai trong.
Hình 4.9. Hình cộng
hưởng từ với xung CISS
3D qua vùng góc cầutiểu não (P): 6-ống tai
trong, 1-thần kinh ốc tai,
2-thần kinh tiền đình

16


Hình 4.10. Hình tái tạo ba chiều cho thấy rõ cấu trúc ống tai trong, tiền đình, ốc tai,
các ống bán khuyên.
- T1W và T2W xóa mỡ vùng hốc mắt cho thấy rõ các tổn thương thần kinh thị và
trong mô mỡ hậu nhãn cầu.

A


B

Hình 4.11. Hình T1W qua ổ mắt (hình A) với thần kinh thị (ON), cơ thẳng trong
(MR), cơ thẳng ngoài (LR), ròng rọc (pulley). Hình cộng hưởng từ ổ mắt với T1W
xóa mỡ sau tiêm thuốc tương phản của viêm thần kinh thị và mô mỡ hậu nhãn cầu
bên (P), tăng tín hiệu, tăng bắt thuốc tương phản từ.
4.2. Cột sống:
MRI cột sống cung cấp những thông tin tuyệt vời cho chẩn đoán. Các chỉ định
tiêu biểu cho MRI cột sống bao gồm đau cổ, đau lưng, tê tay chân, có tiền căn ung

17


thư hoặc chấn thương, tiêu tiểu mất tự chủ. MRI cột sống giúp phát hiện lồi hoặc
thoát vị đĩa đệm, bệnh lí của khớp, u và các tổn thương khác, phân biệt giữa mô sẹo
sau phẫu thuật hay thoát vị đĩa đệm tái phát và các bất thường cấu trúc, phát hiện
bệnh lí tủy bao gồm cả xơ cứng rải rác.

Hình
nhiễm

4.12.
trùng

Hình
cột

sống trên T2W FSE
coronal (A) và T2

TIRM

(xóa

mỡ)

(B), tăng tín hiệu
thân sống, tạo áp xe

A

cạnh sống.

B

A

B

Hình 4.13. Hình cộng hưởng từ cột sống thắt lưng T2W FSE trên mặt phẳng đứng
dọc giữa (hình A) và mặt phẳng axial hình B) của thoát vị đĩa đệm thắt lưng (mũi
tên).

18


4.3. Vùng cổ:
Chỉ định tiêu biểu cho MRI vùng cổ bao gồm hạch phì đại hay sờ được một
khối ở vùng cổ. MRI vùng cổ giúp phát hiện u và các tổn thương khác, các bất
thường mạch máu và các bất thường cấu trúc khác.

4.4. Cơ xương khớp:

A

MRI có thể đánh giá cả các khớp lớn và khớp nhỏ như khớp vai, khuỷu, cổ tay,
gối, và các cấu trúc khác của chi với hình ảnh giải phẫu cực kì chi tiết.
Các chỉ định tiêu biểu của MRI cho khớp và mô mềm bao gồm đau, sưng, yếu,
tổn thương dạng khối sờ được, giới hạn vận động.

A

B

Hình 4.14. Hình cộng hưởng từ khớp vai có tiêm tương phản nội khớp. (A) Mặt
phẳng coronal với xung T1W SE. (B) Mặt phẳng axial với xung T2W xóa mỡ, cho
thấy tổn thương sụn viền trước - dưới và bờ dưới ổ chảo (tổn thương Bankart) (mũi
tên trắng) và sạn khớp (mũi tên vàng)
MRI khớp và mô mềm có thể phát hiện rách dây chằng, rách sụn (chuỗi xung
mật độ proton – Proton density – Pd), phù (sưng), bệnh lí khớp, u, các tổn thương
khác, viêm xương tủy (nhiễm trùng xương), và các thay đổi cấu trúc khác.

19


A

B

Hình 4.15. Hình cộng hưởng từ khớp vai có tiêm tương phản nội khớp trên mặt phẳng
đứng dọc (sagittal) cho thấy các dây chằng ổ chảo cánh tay (mũi tên)


3

1

4

2

Hình 4.16. Hình cộng hưởng từ khớp gối mặt phẳng đứng dọc (sagittal) T2W: 1-dây
chằng chéo trước, 2-gân bánh chè, 3-gân cơ tứ đầu đùi, 4-dây chằng chéo sau.

20


MRI phát hiện gãy, dập xương (chuỗi xung T2W xóa mỡ), các tổn thương sau
chấn thương khác cũng như u mà không phát hiện được trên X quang, CT, hay y học
hạt nhân. MRI đánh giá rất tốt cổ chân và bàn chân.

Hình 4.17. Hình ảnh tổn thương sừng sau sụn chêm với tăng tín hiệu dạng đường
ngang (mũi tên) trên hình Pd và T2W.
4.5. Bụng:

A

B

Hình 4.18. Axial T1 vibe (hình A) và coronal trufisp (hình B)
21



Với những cải tiến của kĩ thuật ghi hình trong khi nín thở và các thiết bị mới
(cuộn thu), MRI là phương tiện tuyệt vời để khảo sát gan, lách, thận, thượng thận,
tụy. Các chỉ định tiêu biểu của MRI bụng bao gồm có tiền căn ung thư, đau, mất chức
năng cơ quan, chảy máu, xơ gan, viêm gan. MRI giúp phát hiện hạch phì đại, bệnh lí
di căn, u và các tổn thương khác, phình mạch và các bất thường cấu trúc khác.
MRCP (Magnetic Resonance Cholangiopancreatography) và MRU (Magnetic
Resonance Urography) là những kĩ thuật không xâm lấn, không cần dùng thuốc
tương phản nhưng vẫn có được hình ảnh tốt của cây đường mật, ống tụy, cũng như
hình ảnh hệ niệu.

A

B

Hình 4.19. Hình ảnh sỏi đường mật trong gan có tín hiệu thấp trên xung T2W mặt
phẳng coronal (mũi tên – hình A). Hình B: MRCP sau khi dựng hình ba chiều cho
hình ảnh toàn bộ cây đường mật, thấy rõ sỏi đoạn cuối ống mật chủ (mũi tên) ở vị trí
ngay trước chỗ đổ vào tá tràng, gây tắc nghẽn và dãn đường mật ngược dòng.

22


Hình 4.20. Hình
MR
chụp

Urography,
hệ


niệu

không cần dùng
thuốc tương phản,
sau khi tái tạo cho
hình ảnh toàn hệ
niệu.

4.6. Chậu:
MRI vùng chậu ngày càng được sử dụng nhiều ở nữ để đánh giá tử cung, cổ tử
cung, buồng trứng, ở nam để đánh giá tiền liệt tuyến, bàng quang, dương vật, bìu.
MRI vùng chậu giúp đánh giá hạch phì đại, u xơ, nang và u buồng trứng, đánh giá
đau do bệnh lí di căn, đánh giá ung thư tử cung, buồng trứng, tiền liệt tuyến, túi tinh
và các bất thường cấu trúc khác.

Hình 4.21. Hình sagittal
vùng chậu cho thấy các
cấu trúc vùng chậu cùng
như thấy rõ cấu trúc các
1

2

3

lớp thành tử cung: 1-nội
mạc tín hiệu cao, 2-vùng
chuyển tiếp tín hiệu
thấp, 3-lớp cơ tín hiệu
trung gian


23


Hình 4.22. Hình axial T2W FSE vùng chậu cho thấy rõ tiền liệt tuyến và túi tinh. Pvùng ngoại vi, T-vùng trung tâm, B-bàng quang, SV-túi tinh
4.7. Ngực:
MRI rất tốt để đánh giá các mạch máu vùng ngực cũng như hạch bạch huyết,
hạch trung thất, cơ và đám rối cánh tay. Các chỉ định tiêu biểu của MRI vùng ngực
bao gồm bệnh sử có khối u nghi ngờ, lymphoma, ung thư, phình mạch và các bất
thường mạch máu khác. MRI giúp phát hiện bệnh lý di căn, phình động mạch chủ
ngực, bóc tách động mạch chủ ngực.
4.8. Tim:

Các chỉ định tiêu biểu của MRI tim bao gồm các bệnh lí tim bẩm sinh và mắc
phải. Bệnh nhân có thể nhập viện do những lí do thứ phát như đau ngực, bệnh van

24


tim, có tiền sử cơn đau thắt ngực hoặc nghi ngờ cơn đau thắt ngực, đánh giá cấu trúc
và chức năng tim. Đặt cổng thu tín hiệu của tim (cardiac gating) làm giảm các hiệu
ứng do cử động của tim và cho phép nhìn rõ các cấu trúc của tim.
4.9. Vú:

A

B
Hình 4.23. Hình cộng hưởng từ vú, tái tạo 3D (hình A) và biểu đồ biểu diễn sự bắt
thuốc của các vùng và tổn thương trong mô vú (hình B)
MRI có khả năng phân biệt mỡ, nước và silicone, do đó đây là phương tiện

được lựa chọn để khảo sát trên có cấy ghép ở tuyến vú hoặc để đánh giá tình trạng
còn sót silicone sau lấy bỏ chất cấy ghép. Chụp MRI vú để phát hiện hoặc tầm soát

25


×