Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Di sản thế giới AngCo Wat

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (741.67 KB, 31 trang )

I.M Ở ĐẦ U :
Mỗi một quốc gia hay một nền văn minh đều có những dấu ấn riêng mang đậm
tính đặc trưng. Dấu ấn đó thường thể hiện trên các công trình kiến trúc được xây
dựng kỳ công. Campuchia được mệnh danh là đất nước của những đền tháp, vì vậy
người ta nhắc đến đất nước này qua tên của những ngôi đền nổi tiếng. Tiêu biểu là
quần thể kiến trúc đền Angkor. Quần thể Angkor chịu sự ảnh hưởng của nghệ thuật
Khmer cổ với một lối kiến trúc đặc sắc, nổi bật các giá trị nghệ thuật Khmer. Quần
thể Angkor đóng một vai trò quan trong trong quá trình tiến hóa đặc biệt của nó và
có sức ảnh hưởng lớn đến các kiến trúc khác của Campuchia. Angkor được
UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới tháng 02 năm 1992. Angkor bao
gồm đền Angkor Wat, đền Angkor Thom, đền Bayon và nhiều ngôi đền nhỏ xung
quanh.


II. NỘI DUNG :
1.

L ịch sử hình thành Angkor:

Dưới sự tr ị vì của vua Suryavarman II vào đầu thế k ỷ 12, đế chế Khmer ở th ời
kỳ cực thịnh về chính trị và quân sự. Vua Suryavarman II đã cho xây dựng đền
Angkor Wat – một tuyệt tác về kiến trúc – và một số đền đài khác như
Thommanon, Banteay Samre, Beoung Melea. Angkor Wat được xây dựng với mục
đích nhằm thể hiện uy quyền của nhà vua , mục đích thể hiện tham vọng nhưng
cũng có thể đó chính là lăng mộ của v ị vua này để khi chết ông đễ dàng đi đến v ới
thần linh. Do đó , ông mô phỏng lại trên mặt đất về thế gi ới thần linh . Những
chiến công hiển hách trong cuộc chiến với quân Champa cũng được ghi lại trên các
bức phù điêu trên tường thành phía Nam Angkor Wat.
Cuối thế kỷ 12, tình trạnh nổi loạn xảy ra trong nhiều t ỉnh, thất bại trong cuộc
chiến chống người Champa, cộng với những xung đột nội bộ đã dần làm suy yếu
đế chế Khmer. Năm 1165, trong giai đoạn biến động chính tr ị khi các v ị vua


Khmer và các vị vua Champa liên tục gây chiến với nhau, Tribhuvanadityavarman
đã lên chiếm quyền tại Angkor.
Năm 1177, Tribhuvanadityavarman đã bị giết trong một thất bại tồi tệ nhất của
người Khmer dưới tay người Champa. Người Champa đã phối hợp với một số bộ
phận người Khmer tổ chức tấn công bằng đường thuỷ vào Angkor. Một đội thuyền
của Champa đã đi dọc theo sông Tonle Sap lên Biển Hồ Tonle Sap phía nam
Angkor. Những trận chiến trên sông và trên bộ đã kết thúc với kết cục kinh đô
Angkor bị đốt phá và rơi vào tay người Champa. Bức tường phía nam của đền


Bayon đã khắc ghi lại một trận chiến trên sông nhưng không rõ đây là bức tranh
mô tả cuộc chiến diễn ra năm 1177 hay một số cuộc chiến diễn ra sau đó.
Jayavarman VII: Vị vua xây dựng các đền đài.
Người Champa kiểm soát Angkor trong vòng 4 năm cho đến khi v ị vua huyền
thoại Jayavarman VII tổ chức hàng loạt cuộc tấn công trong suốt nhiều năm. Năm
1181, ông đã đánh đuổi quân Champa khỏi đất Campuchia. Sau khi chiến thắng
quân Champa, Jayavarman VII tuyên bố lên ngôi, lấy Phật giáo Bắc Tông
(Mahayana) làm quốc đạo, và ngay lập tức bắt đầu giai đoạn xây dựng các đền đài
Angkor.
Chiến dịch xây dựng các đền đài của Jayavarman VII là chưa có tiền lệ và diễn
ra với tốc độc chóng mặt. Hàng trăm các đền đài đã được xây dựng trong khoảng
thời gian không đến 40 năm. Những đền đài mà Jayavarman VII đã xây dựng bao
gồm Bayon nổi tiếng với tượng mặt người khổng lồ, kinh đô Angkor Thom, đền Ta
Prohm, Banteay Kdei, Preah Khan và hàng trăm đền đài khác. Mặc dù các đền đài
được xây dựng trong thời kỳ này rất nhiều và rất hoành tráng nhưng không thể hiện
nét kiến trúc riêng biệt mà thường hỗn độn và trùng lắp với kiến trúc của các th ời
kỳ trước.
Cùng thời điểm với chiến d ịch xây dựng những công trình của mình, vua
Jayavarman VII còn chỉ huy cuộc chiến chống lại quân Champa. Năm 1190, ông
bắt được vua Champa và giải về Angkor. Năm 1203, ông đã chiếm được toàn bộ

vương quốc Champa và qua đó mở rộng lãnh thổ của Đế chế Khmer đến tận bờ


biển phía đông thuộc miền nam Việt Nam ngày nay. Qua một vài cuộc chinh phục
khác, ông đã mở rộng bờ cõi đếchế Khmer về mọi hướng.
Chiến dịch xây dựng các đền đài của vua Jayavarman VII cũng đánh dấu sự kết
thúc của đếchế Khmer vì sau khi ông băng hà vào năm 1220 không có một đền đài
lớn nào được xây dựng thêm. Việc xây dựng một số đền đài, đặc biệt là Bayon, b ị
ngưng lại trước khi hoàn thành ngay thời điểm vua Jayavarman VII băng hà. Người
kế vị vua Jayavarman VII là vua Indravarman II có tiếp tục cho xây dựng một số
đền đài của vua Jayavarman VII nhưng không đạt được nhiều thành công.
Kết thúc một kỷ nguyên:
Mặc dù việc xây dựng các đền đài b ị đình trệ nhưng kinh đô Angkor vẫn rất sôi
động trong vài năm sau đó. Một phái viên người Trung Quốc tên Zhou Daguan
(Chu Đạt Quan) đến thăm Angkor vào cuối thế kỷ 13 và đã mô tả đây là một thành
phố đầy sức sống trong cuốn “Phong tục Campuchia”.
Đạo Hindu tái du nhập vào Campuchia dưới thời vua Jayavarman VIII vào thời
điểm hầu hết các đền đài Phật giáo tại Angkor đang b ị xuống cấp. Bên cạnh đó,
hàng ngàn bức tượng Phật cũng đã bị người ta tháo dỡ. Thú v ị hơn là một số bức
tượng Phật đã bị hoán cải thành các linga. Du khách có thể tìm thấy một số bức như
vậy tại đền Ta Prohm và Preah Khan.
Vua Jayavarman VIII cũng cho xây dựng đền Bà la môn cuối cùng tại Angkor –
một tháp nhỏ tại East Prasat ở Angkor Thom. Sau khi vua Jayavarman VIII băng
hà, Phật giáo tái du nhập vào Campuchia nhưng dưới hình thức khác. Thay vì Phật


giáo Bắc Tông (Mahayana) như trước kia, Phật giáo Nam Tông (Theravada) du
nhập và trở thành tôn giáo chính của Campuchia cho đến ngày nay.
Sau thế kỷ 13, Angkor liên tiếp hứng ch ịu các cuộc xâm lăng của người Thái từ
phía tây dẫn đến việc dời đô. Sau 7 tháng b ị vây hãm ở Angkor năm 1431, vua

Ponhea Yat đã dời đô từ Angkor về Phnom Penh năm 1432. Việc dời đô này cũng
đánh dấu một bước ngoặt đó là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế
thương mại vì một nơi là hợp lưu của các con sông như Phnom Penh sẽ có nhiều lợi
thế hơn so với v ị trí nằm sâu trong đất liền như Angkor. Sau khi d ời đến Phnom
Penh, thủ đô của Campuchia còn được chuyển thêm 2 lần nữa, đầu tiên là chuyển
đến Lovek rồi sau đó là Oudong, trước khi ấn định lâu dài tại Phnom Penh vào năm
1866.
Sau khi dời đô khỏi Angkor, các đền đài tại đây vẫn hoạt động nhưng chức năng
của chúng thì thay đổi dần theo thời gian. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, một số nhà
thám hiểm và nhà truyền giáo phương Tây đã từng đến Angkor, nhưng người được
đông đảo mọi người biết đến với cương v ị người khám phá ra Angkor là Henri
Mouhot vào năm 1860. Cuốn sách của ông mang tên “Du l ịch tại Thái, Lào,
Campuchia và An Nam” đã dẫn tới sự bùng nổ du lịch tại Angkor
2) ĂngKor Wat :
a) V ị trí:
Angkor Wat (đọc theo tiếng Việt: Ăng-co Vat) thuộc t ỉnh Siem Reap. Angkor
Wat còn có tên cổ tiếng Việt là đền Đế Thiên. Theo tiếng Khmer Angkor: kinh đô,


Wat: đền th ờ hay chùa, là m ột đền th ờ v ị thần Visnu c ủa Ấn Độ Giáo t ại Angkor địa điểm của các thủ đô của Đế quốc Khmer.
Nằm cách thủ đô Phnom Penh 317km về phía Bắc, quần thể đền Angkor Wat
được Quốc vương Suryavarman II cho xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XII, dành
để tôn thờ vị thần Vishnu của Hindu giáo.
Đây là một trong các di tích quan trọng bậc nhất tại Campuchia, được xem là
tuyệt đỉnh của nghệ thuật và kiến trúc Khmer.
Năm 1992, đền Angkor Wat được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế
giới, có thể sánh cùng với Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, đền Taj Malhan
ở Ấn Độ, Kim Tự Tháp ở Ai Cập.
b) Kiến trúc:



Toàn c ảnh Angkorwat
Angkor là quần thể với hơn 100 ngôi đền bằng đá, những đền đài, phù điêu và
hành lang mênh mông được làm từ những tảng đá lớn, xếp chồng lên nhau với dáng
vẻ rất tự nhiên. Đây là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, nó thể hiện một trình độ
rất cao về hình học không gian. Với khoảng 10 triệu viên đá được đẽo gọt vuông
vức, với trọng lượng lớn nhất lên tới 1,6 tấn/viên đã được di chuyển từ các mỏ đá
xa xôi về xây đền. Trong nhiều năm qua, cách thức người Khmer cổ đại sử dụng để
di chuyển những khối đã khổng lồ khiến các chuyên gia khảo cổ dày công nghiên
cứu. Chuyên gia Estuo Uchida của Đại học Waseda, Nhật Bản, đồng tác giả quá
trình nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi tìm thấy mỏ đá có những khối sa thạch tương
tự với loại đá được dùng để xây đền Angkor Wat. Từ đó, tuyến đường vận chuyển
những tảng đá khổng lồ tới xây đền cũng được vạch ra”. Trước đó, người ta cho
rằng những tảng đá khổng lồ được chuyển từ nơi khác tới hồ Tonle Sap, gần nơi
xây dựng ngôi đền qua những con sông. Sau đó, những người vận chuyển buộc
phải chèo thuyền ngược dòng nước để đưa những khối đá khổng lồ lên xây dựng
đềnvới quãng đường hơn 32km có nơi vận chuyển với 80km.
Thời bấy giờ, kỹ thuật và phong cách kiến trúc còn hết sức gi ới hạn thì việc sử
dụng đá có tính chất như sử dụng gỗ với những kết cấu có hình bán nguyệt và mái
vòm là những kỹ thuật mà người ta chưa biết, nhưng hiệu quả toàn diện của nó đã
làm cho con người phải ngạc nhiên.
Tất cả các họa tiết trang trí bằng đá như tượng Phật, vũ nữ, chiến binh và các
hình hoa sen minh họa sử thi Ramayana và Mahabharata đều rất sống động, mềm


mại. Đặc biệt, 1.700 nàng Apsara ở Angkor là 1.700 vũ nữ hoàn toàn khác nhau,
với thân hình tuyệt mỹ, những vẻ mặt và tư thế, động thái không hề trùng lặp.
Trong quần thể kiến trúc này, Angkor Wat là ngôi đền lớn nhất và v ĩ đại nhất,
bởi ngôi đền này là kết tinh của kiến trúc đền núi - đặc trưng của người Khmer cổ,
đồng thời đạt tới đỉnh cao về mặt nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật tạo hình Khmer

cũng như quy mô hoành tráng nhất trong tất cả các đền đài thời Angkor.
Toàn bộ kiến trúc Angkor Wat hoàn toàn được tạo nên từ những phiến đá xanh
rất lớn, khích thước thông thường là 1x2m ghép lại với nhau, được chạm trổ hoa
văn, phù điêu theo tích xưa truyện cổ mà các chuyên gia nói rằng xuất phát từ sử
thi Ấn Độ Mahabharata và Raymana.
Thiết kế của Angkor Wat rất cân đối và xinh đẹp, nằm trong vòng tường thành
rộng tới 83.610m2. Ngôi đền có diện tích khoảng 200ha, chu vi gần 6km, tường đá
cao 8m, bề dày 1m, với năm tháp khổng lồ, tháp chính cao 65m, bốn tháp phụ cao
40m. Mỗi tháp có hình dáng một đóa hoa sen đang nở.
Đường vào đền Angkor Wat là đoạn cầu đá dài bắc qua hồ nước bao quanh đền.
Phía ngoài đầu lối vào có tượng sư tử đá, hai bên bao lơn được trạm trổ tượng rắn
thần Naga bảy đầu.


Đường vào Angkor Wat
Hào nước bao bọc Angkor Wat rộng 190m tạo nên một hình vuông dài 1,5km.
Xung quanh hào có nhiều bậc đểtừ trên có thể bước xuống mặt nước.
Angkor Wat là đền núi duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng Tây,
hướng Mặt Trời lặn. Cách bố cục này gây cảm giác uy nghi, v ĩ đại cho người đi
vào đền, bởi hình ảnh khu đền đồ sộ nổi bật trên ánh sáng chói lòa của Mặt Trời
nhất là dưới ánh hoàng hôn.
Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần,
hành lang, các lan can, cột thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của
người Khmer cổ đại với những phù điêu phong phú, nhiều chi tiết sống động và


tinh xảo dùng để trang trí, hoàn toàn tương xứng với sự thiết kế cân đối và nghiêm
trang.
Những bức phù điêu đá này đã miêu tả nh ững cảnh t ượng trong s ử thi Ấn Độ,
rất nhiều thần linh nam và nữ nhảy múa với nhau. Qua một hành lang phù điêu nối

tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm mét, đã thể hiện nhiều nhân vật chân thật trong
lịch sử của Campuchia.
Hình tượng được mọi người yêu thích và thường xuất hiện trên phù điêu, chính
là vị nữ thần Apsara của Campuchia.

Họa tiết nữ thần Apsara trên tường Angkor Wat


Khu đền chính được xây dựng theo hình gần giống Kim Tự Tháp, với năm tháp
chính tượng trưng cho núi Meru của Ấn Độ.
Theo truyền thuyết, núi Meru nằm giữa đại dương trong vũ trụ và đại dương đó
chính là lớp hào nước sâu và rộng được xây dựng xung quanh Angkor Wat.
Chính điện Angkor Wat là một kiến trúc ba tầng, kết nối với nhau nhờ những
hành lang sâu thẳm.
Tầng 1: Địa ngục
Độc đáo nhất của tầng này là những bức tranh điêu khắc trên tường của dãy
hành lang tầng thấp nhất. Với chiều cao 2,5m , trải dài hơn 800m, có thể coi đây là
những bức tranh điêu khắc bằng tay trên đá lớn nhất, dài nhất trên thế gi ới, miêu tả
những điển tích trong kinh điển Bà La Môn, những chiến công của vua
Suryavarman II.
Phía trong cùng của bức tranh là cuộc chiến khuấy biển sữa trong truyền
thuyết, những chú khỉ và trận chiến của thần Sita, những điệu múa của tiên nữ
Aspara...
Tại các góc của Angkor Wat và từng cm của ngôi đền, không chỗ nào là không
có điêu khắc. Những đường nét điêu khắc trên đá t ỉ m ỉ đến mức người ta lầm tưởng
là chúng được điêu khắc trên một khuôn mẫu có sẵn.
Ngôi đền được xây dựng trên nguyên tắc sắp xếp đá trước, sau đó các kiến trúc
sư mới bắt đầu điêu khắc. Bằng chứng là tại các cây cột ở tầng thứ nhất vẫn còn vết
tích của những bức tranh điêu khắc còn dang dở.



Tầng thấp nhất của Angkor có các hồ nước dùng cho vua tắm hiện nay đã khô
cạn nước.
Tầng 2: Trần gian
Đây là một khoảng sân rộng được bao bọc bởi dãy tường thành, bên trong là các
gian điện thờ các vị thần, khu vực tầng tháp thứ hai là nơi có hệ thống thoát nước
cho cả ngôi đền.
Tại các gian điện thờ các v ị thần Visnu giáo bằng đá đen. Tại tầng 2 có vô số
những bức tranh mô tả các vũ nữ Apsara nhảy múa với bộ ngực trần.
Tầng 3: Thiên đàng
Với độ cao 65m, đây là tầng cao nhất, được xem là nơi cư ngụ của thần thánh.
Tầng thứ ba gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau. Ở điểm giao tiếp c ủa hai hành
lang là trung tâm đền Angkor Wat.
Tháp ở trung tâm đền là tháp cao nhất Angkor Wat, chung quanh tháp là bốn
hành lang hình vuông. Ở mỗi góc hành lang là một tháp.
Tháp trung tâm và bốn tháp chung quanh tạo thành tòa chân tr ời nổi tiếng của
Angkor Wat. Các cầu thang đi lên các tháp trung tâm được chia làm bốn mặt, dốc
đứng gần 45 độ, hẹp và vô cùng khó leo.
Trong những gian phòng lớn của ngôi đền, có một gian rất huyền bí. Du khách
đến đó thường đứng sát tường nắm chặt bàn tay và vỗ lên ngực nhẹ nhẹ thì lập tức
có tiếng vang vọng như mình đang đánh trống. Ngoài ra còn có rất nhiều các tiên
nữ được điêu khắc trên tường rất sinh động.


Đền Angkor Wat là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, thể hiện một trình độ
sâu sắc về mọi mặt, được xây dựng vào nền cực th ịnh của Angkor và chính là viên
ngọc quý nhất của đất nước Chùa Tháp.
Mỗi lần viếng thăm Angkor Wat, người ta không khỏi xúc động và ấn tượng
trước kỳ quan vĩ đại, huyền bí.
Ngày nay, Angkor Wat được biết đến như là một trong những kỳ quan của loài

người, di sản nhân tạo được UNESCO công nhận.
Chính phủ Campuchia đã cho tiến hành phục chế, tu bổ khu di tích và quần thể
này là địa điểm thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới mỗi năm.

2. Angkor Thom
a) vị trí:
Angkor Thom ( Ăng-co Thom) được gọi là đền Đế Thích, cả khu đền Angkor
được gọi chung là Đế Thiên Đế Thích.
Angkor Thom là thủ đô cuối cùng và lâu dài nhất của người Khmer, được vua
Jayavarman VII khôi phục và xây dựng mở rộng vào cuối thế kỷ XII. Thực tế, tại
địa điểm này về phía Tây Bắc, trước Angkor Thom 3 thế kỷ, Yashodharapura đã là
thủ phủ của người Khmer, Angkor Thom được xây dựng trùm lên một phần của
thành phố cổ đó. Các đền thờ nổi tiếng nhất của thời kỳ trước Angkor Thom là
Baphuon - ngôi đền quốc gia cũ, và Phimeanakas - ngôi đền đã được nhập vào
Cung điện Hoàng gia. Tiếp đó, người Khmer đã không phân biệt rõ ràng giữa


Angkor Thom và Yashodharapura, vào thế kỷ 14, có một tấm bia vẫn còn sử dụng
tên thủ đô Angkor Thom là Yashodharapura. Người ta phỏng đoán rằng, tên
Angkor Thom được sử dụng ít nhất từ thế kỷ 16 - có nghĩa là Thành phố vĩ đại.

Angkor Thom
Angkor Thom rộng 9 km², bên trong có nhiều đền thờ đã xây dựng từ các thời
kỳ trước cũng như các đền thờ được vua Jayavarman và những người nối nghiệp
ông xây dựng. Thành phố này nằm cách hồ Tonle Sap khoảng 1/4 dặm. C ổng phía
Nam của Angkor Thom nằm cách thành phố Siem Reap 7,2 km về phía Bắc, cách
cổng vào đền Angkor Wat 1,7 km về phía Bắc.


b) Kiến trúc :

Các bức tường thành cao 8m, dài 3 km, bên ngoài là hào nước bao quanh.
Tường thành được xây bằng đá ong với bờ công sự trên đỉnh. Tại mỗi hướng Đông,
Tây, Nam, Bắc đều có một cổng thành. Các con đường dẫn từ các cổng thành đến
thẳng đền Bayon - trung tâm thành phố. Cách cổng phía Đông 500m là Cổng
Chiến thắng. Con đường Chiến thắng chạy song song với con đường phía Đông
dẫn tới Quảng trường Chiến thắng và Cung điện Hoàng gia ở phía Bắc Bayon.
Ngôi đền cuối cùng được biết xây dựng tại Angkor Thom là Mangalartha, khánh
thành năm 1295. Từ đó, các công trình thỉnh thoảng lại được sửa chữa, nhưng hầu
hết các công trình được xây dựng sau này bằng các vật liệu dễ hỏng đã không tồn
tại được đến nay. Trong các thế kỷ tiếp theo, Angkor Thom vẫn là thủ đô của
vương quốc trong thời kỳ suy tàn cho đến khi nó b ị bỏ hoang bắt đầu từ khoảng
trước năm 1609. Angkor Thom đã được ví "kỳ diệu như Atlantis của Plato" và có
người phương Tây nhầm tưởng nó được xây dựng bởi Hoàng đếLa Mã Trajan.
Angkor Thom thật ra là một quần thể phế tích gồm một cụm đền đài. Angkor
Thom (cũng như Angkor Wat) không phải là nơi hoàng gia ở, cũng chẳng phải n ơi
chùa để thờ nguyện, mà là nơi để thờ các v ị thần và tổ tiên của các vương triều
Khmer. Hầu như đền đài nào trong quần thể Angkor Thom cũng quay về hướng
Đông, và có suy luận rằng người Khmer thời đó có phong tục thờ mặt trời.
Angkor Thom được xây một cách vuông vắn, với chiều dài 3000 m và rộng
3000 m. Nói cách khác, diện tích của quần thể Angkor Thom lên đến 9 km^2!
Chung quanh đền là hào rộng cỡ 100 m, ngày xưa dưới đó nghe nói thả cá sấu và
rắn độc để phòng chống kẻ lạ xâm nhập. Ngày nay, phần lớn những khu chung


quanh là rừng, nhưng xưa kia là một thành phố có thể nói là sầm uất. Như đề cập
trong phần trước, Ankor Thom do vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế k ỉ 12
(Angkor Wat được xây vào đầu thế k ỉ 12). Kiến trúc của Angkor Thom theo mô
tiếp Bayon, rất khác với kiến trúc Angkor Wat.
Tất cả các đền đài trong quần thể Angkor Thom đều được xây bằng đá ong và
sa thạch. Mỗi viên đá có kích thước 20 x 12 x 4 cm đến 30 x 15 x 9 cm, tức l ớn và

nặng. Rất khó tưởng tượng được bằng cách nào mà người Khmer có thể tải những
tảng đá khổng lồ như thế về đây và xây nên một thành quách kì vĩ như thế.
Angkor Thom được xây dựng theo phong cách Bayon (phong cách như nghệ
thuật Baroque – thời Phục Hưng ý, mang hình thức kiểu cách, trang trí rậm rạp).
Điều này thể hiện ở quy mô lớn trong các công trình cũng như việc sử dụng rộng
rãi chất liệu đá ong làm vật liệu xây dựng như lát các lối vào thành phố, làm hình
tượng Naga tại mỗi tháp và tạc các tháp mặt người. Điểm nổi bật là các cổng thành
hiện rõ kiến trúc hình tháp, trên nóc có 4 chân dung to, đường nét từ bi như mặt
Phật. Các khuôn mặt này có thể đại diện cho chính nhà vua, Quan Thế Âm bồ tát
(Avalokitesvara), các thần hộ vệ các hướng của vương quốc, hoặc một kết hợp nào
đó của những vị này. Cổng vào Angkor Thom thường là cổng phía Nam. Trước
mặt mỗi cổng thành có một bờ đường đắp ngang qua hào nước, dọc theo mỗi bên
đường có một hàng các Deva (theo đạo Hindu, đây là các v ị thần), mỗi hàng nâng
một Naga (hình tượng một con rắn dài to khỏe, có nhiều đầu. ) trong tư thế kéo co.
Mỗi bên cổng có 27 tượng các v ị thần ôm chặt một con rắn thần Naga, tượng trưng
cho thần Siva bảo vệ chúng sinh, dẫn dắt chúng sinh từ trần tục đến với thánh thần.
Hai mươi bảy thần thiện một bên, và 27 thần ác một bên. Có vẻ đây là một hình


tượng về truyền thuyết Samudra manthan (một truyền thuyết phổ biến tại Angkor
khuấy Biển Sữa. Nhưng theo George Coèdes thì 54 tượng trên cầu Naga đó là
nhằm bảo vệ sự thịnh vượng của hoàng triều. Đền-núi Bayon, hay chính cổng
thành có thể là cái trục của sự kiện khuấy biển. Các Naga này có lẽ đại diện cho sự
chuyển dịch từ thế giới loài người tới thế giới của thần thánh (đền Bayon), hoặc là
các thần hộ vệ. Các cổng vào có kích thước 3,5 x 7 m và có thể đã được đóng bằng
các cánh cửa gỗ. Cổng phía Nam cho đến nay là nơi được thăm viếng thường
xuyên nhất, do đây là lối vào chính của khách du lịch.
Tại mỗi góc Angkor Thom là một Prasat Chrung (kiểu điện th ờ đặt tại góc)
được xây dựng bằng sa thạch và thờ Quán Thế Âm. Các điện th ờ này có hình chữ
thập với một tháp trung tâm và hướng về phía Đông. Trong khu đền Angkor Thom,

trừ đền Bayon, tất cả các di tích chính đều nằm tại phía Tây hoặc phía Đông của
Quảng trường Chiến thắng.
Các di tích trong khu Angkor Wat và Angkor Thom các mô típ trang trí trên bề
mặt các ngôi đền là Naga, đức Phật, vũ nữ Apsara, sư tử và nhiều lọai hoa văn....
Đường nét khắc tạc trên các công trình kiến trúc rất t ỉ m ỉ, tinh xảo, điêu luyện đến
mức người ta lầm tưởng chúng được dập trên một khuôn mẫu có sẵn. Phương thức
xây dựng các khu đền Angkor trên nguyên tắc: sắp xếp đá trước, sau đó các kiến
trúc sư mới bắt đầu khắc đục các hình. Bằng chứng là tại các cây cột ở tầng thứ
nhất của đền Angkor Wat vẫn còn vết tích của những bức phù điêu đang làm dang
dở.
Đã ngót một nghìn năm trôi qua, các công trình kiến trúc của Angkor đã b ị
chiến tranh và thiên nhiên tàn phá, hầu hết các bức tượng tròn nơi đây đều b ị chặt


mất đầu, nhiều chỗ ngôi đền bị đổ sập để lại biết bao phiến đá đã từng được các
nghệ nhân Khmer gọt dũa, khắc tạc, lắp ghép, dựng xây..... Nhiều phiến đá nằm
ngổn ngang bị rêu phong bám phủ còn hiện rõ hình các vũ nữ, các v ị phật, các mô
típ trang trí …
3. Đền Bayon:
Trung tâm của quần thể Angkor Thom là đền Bayon. Đây là một đền thờ để
thờ phụng Đức Phật Avalokitesvara. Tuy nói rằng những tượng này thể hiện Phật
Avalokitesvara, nhưng nhiều học giả (kể cả George Coedès của trường Viễn Đông
Bác Cổ) nghĩ rằng những bức tượng này là phản ảnh khuôn mặt của vua
Jayavarman VII (người khởi xướng xây dựng công trình này), vì nhà vua xem mình
gần ngang hàng với thần thánh! Có tất cả 54 tượng gương mặt; mỗi tượng có 4 mặt.
Có thuyết cho rằng đó là tượng trưng cho Từ Bi H ỉ Xả, nhưng cũng có thuyết nói
rằng 4 mặt tượng trưng cho 4 hướng ( Đông Tây Nam Bắc) hàm ý Phật có mặt khắp
nơi và có thể nhìn khắp nơi.
Nói cách khác, có tất cả 54 x 4 = 216 gương mặt. Người Khmer giải thích rằng
ba chữ của 216 cộng lại là con số 9, và đây là con số thiêng mà người Khmer th ời

đó sùng bái. Ngay cả từ cổng vào đã có dấu ấn của con số 9. Cổng vào hai bên là
hai con rắn 7 đầu, được 54 v ị thần ôm chặt, 27 v ị thần ác và 27 v ị thần thiện.
Những chữ số 54, 27 đều cộng lại thành con số 9.


Kiến trúc vua đền Bayon
Sự độc đáo ở đây là trong số 216 gương mặt, không có gương mặt nào giống
gương mặt nào! Mỗi gương mặt là đặc thù. Mỗi gương mặt có một nụ cười kì bí
(hay bí hiểm?) làm cho người xem tự hỏi đó là nụ cười gì. Rất vô thường. Tất cả
đều được khắc chạm rất tinh vi. Có thể xem đây là những tác phẩm nghệ thuật trên
đá.


Kiến trúc với những gương mặt mang nụ cười bí ẩn
Hầu như bất cứ phiến đá nào cũng được chạm khắc phù điêu hay hoa văn. Nét
khắc cực kì tinh tế. Phù điêu ở đây mô tả một kinh đô sầm uất, th ịnh vượng. D ĩ
nhiên, không thể thiếu những nữ thần Apsara xuất hiện khắp n ơi, v ới ngực trần n ở
nang, eo thon, hông rộng trong nhiều dáng vẻ khác nhau. Nghe nói có hơn 1000
hình nữ thần Apsara ở đây! Mỗi hình là đặc thù, không hình nào giống hình nào.
Có lẽ mỗi nghệ nhân khắc hoạ một nữ thần chăng?. Từ cơ bắp của đàn ông đến
những eo phụ nữ đều được khắc vẽ cực kì tinh vi, không có vết nứt!


Người Khmer ít đểlại sử sách, nhưng cổ sử của họ lại được tạc trên đá. Các bức
phù điêu ở đền Bayon hình như được khắc khác thời điểm. Các bức phù điêu ở phía
trong có lẽ được chạm khắc trước các bức phù điêu phía ngoài tường (có lẽ vào đầu
thế kỉ 13). Có 8 phần phù điêu trên tường ngoài, mỗi bức dài đến 35 m và cao 3 m.
Những bức phù điêu này mô tả những trận đánh với lính Chăm, nhưng cũng có phù
điêu tả cảnh sinh hoạt hàng ngày như cảnh chợ búa và người đi chợ đang cân hàng,
phụ nữ đùa với trẻ em, cảnh người bắt cá sấu, bắt rùa, cảnh người Tàu đang nấu

nướng, và cảnh đá gà. Nói chung những bức phù điêu này cho chúng ta một số ý
niệm về sinh hoạt và chiến đấu của người Khmer thời thế kỉ 12-13.
Có một bức phù điêu mô tả cảnh diễu hành của triều đình. Bức phù điêu này cũng
nhất quán với những ghi chú của Châu Đạt Quan, một người Tàu đời Nguyên
(1296 – 1297), từng đến đây vào năm 1296. Trong một ghi chú, Chu Đạt Quan mô
tả cảnh tuần hành của triều đình như sau: “Khi nhà vua ra khỏi điện, binh lính đi
dẫn đầu; kế đến là cờ, biểu ngữ và âm nhạc. Cung nữ, từ ba đến năm trăm, mặc y
phục trang trí hoa, hoa cài trên tóc, cầm đèn cây trên tay, và tạo thành một đội.
Ngay cả lúc ban ngày, đèn cầy vẫn được thắp đốt. Kế đến là những tì nữ, mang
giáo và khiêng, nhóm hộ vệ vua, xe kéo bởi dê và ngựa, làm bằng vàng đi kế tiếp.
Các quan lại và hoàng tử ngồi trên lưng voi, và đằng trước họ, người ta có thể thấy
từ xa, hằng hà sa số gọng dù màu đỏ. Sau họ là v ợ và các nàng hầu của vua trong
cáng, xe kéo, trên lưng ngựa và lưng voi. Họ có hơn một trăm lọng trang trí bằng
vàng. Sau họ là nhà vua, đứng trên lưng voi, cầm gươm thiêng. Ngà voi được bao
bọc bằng vàng.”


Bên cạnh đền Bayon có một đấu trường. Sở d ĩ suy luận là đấu trường vì tường
còn ghi lại những cuộc đấu voi. Nơi này cũng từng là nơi trừng tr ị những tội phạm
hay kẻ phản bội. Kẻ có tội bị nhốt ở đây cùng với rắn độc. Người nào không b ị rắn
độc cắn chết thì được xem là … vô tội.
Trong quần thể Angkor Thom còn có một đền nổi tiếng có tên là Ta Prohm
được xây dựng từ cuối thế kỉ 12 đến đầu thế k ỉ 13, nằm phía Đông của quần thể
Angkor Thom. Diện tích rộng 700 m và dài 1000 m. Nghe nói để xây Ta Prohm
triều đình phải tốn đến 5 vạn lượng vàng, 5 vạn lượng bạc và nhiều đá quí. Thật ra,
Ta Prohn là một tu viện Phật giáo đại thừa của vua Jayavarman VII. Trước đây tu
viện này có tên là Rajavihara (tức đền Hoàng gia) mà vua dùng để tôn vinh dòng
họ ông. Đến đời vua Jayavarman VIII thì ông ra lệnh phá huỷ những hình tượng
mang dấu ấn Phật giáo và thay vào đó là những hình tượng Bà La Môn. Những
thăng trầm lịch sử sau đó để lại một phế tích pha trộn giữa Phật giáo và Bà La

Môn.


Đường dẫn vào đền Ta Prohm
Tu viện Ta Prohm được trường Viễn Đông Bác Cổ chọn không “can thiệp”, và
để trong trạng thái nguyên vẹn từ lúc phát hiện vào thế k ỉ 19. Do đó, du khách đến
đây có thể nhìn thấy những cây cổ thụ quấn quyện chung quanh những đền đài như
nuốc chửng vậy. Có những cây nghe nói là Kơnia ôm trọn một đền một cách kì
quái.

Chính vì nét hoang tàn và tình trạng nguyên sơ này mà Ta Prohm là một

trong những điểm đến mà du khách tham quan nhiều nhất trong quần thể Angkor
Thom.


Trong Ta Prohm có một điện để tưởng niệm thân mẫu của vua là
Jayarajachudanami, với ngôi mộ ngay trong điện. Theo người hướng dẫn, điện này
được gắn kim cương trên 4 bức tường, nên vào đêm có thể phản chiếu rực r ỡ vào
những đêm có trăng. vào thế k ỉ 13 những viên kim cương đã b ị quân Thái Lan và
Miến Điện xâm lăng ăn cắp hết, và nay ch ỉ còn lại những lỗ nhỏ trên tường như là
chứng tích của một thời vàng son.
Phnom Bakheng được xem là một ngọn đồi linh thiêng của người Khmer. Ngày
xưa, Phnom Bakheng là trung tâm của vương quốc Khmer đầu tiên ở Angkor. Trên
đỉnh đồi Bakheng là một đền cổ cũng xây bằng đá, nhỏ hơn các đền khác (diện tích
khoảng 50 m x 50 m). Giữa đền là một cái tháp, và chung quanh là bốn bộ linga.
Một điều thú vị là khu này có vài tháp Chăm bằng gạch giống như ở Nha Trang..
Có lẽ ngày xưa đã có một sự giao lưu văn hoá giữa người Chăm và người Khmer,
nhưng cũng có thể các vua Khmer bắt các nghệ nhân Chăm về đây để xây những
tháp này. Nhưng qua thời gian và quên lãng nên những vật thể chung quanh đền đã

đổ nát khá nhiều.Vào những buổi chiều lên núi Bakheng để ngắm hoàn hôn lặn.
Bakheng nằm giữa Angkor Thom và AngkorWat. Từ chân đồi, đi bộ lên đỉnh đồi
tốn khoảng 30 phút . Tất cả đều đến đây với một mục đích đơn giản: nhìn mặt trời
sắp lặn trên Biển Hồ Tonle Sap, một cảnh đẹp mà bất kì du khách nao khi đến đây
cũng không thể bỏ qua.
4.Giá trị văn hóa của đền Angkor:
Trong khi Angkor Wat dùng để thờ thần Vishnu, được mệnh danh là cánh cửa
để đến thiên đường, để sang thế giới bên kia thì Angkor Thom là thủ đô cuối cùng
và lâu dài nhất của đế chế Khmer. Tất cả đền đài trong quần thể kiến trúc Angkor


đều có một giá trị nhất định tồn tại lâu dài trong lịch sử. Các công trình này mang
đậm dấu ấn tâm linh và đặc trưng cai trị của các vua thời kỳ này.
Angkor là một quần thể công trình kiến trúc độc đáo thu hút hàng triệu du
khách đến Campuchia hằng năm. Angkor đã trở thành tiềm lực tăng trưởng kinh tế,
là biểu trưng của sức mạnh văn hóa dân tộc Campuchia. Nó cũng trở thành một
điểm nhấn và được thế giới đánh giá cao trong công tác bảo tồn di sản toàn cầu.
Điều đó đã giúp cho người dân Campuchia thấy được giá tr ị to lớn của di sản này,
đặc biệt trong suốt 25 năm xung đột vũ trang mà người dân Campuchia phải gánh
chịu.
Angkor nằm trong Danh mục Di sản thế giới có nguy cơ b ị đe dọa. Những đoàn
du khách cũng là nguyên nhân làm xói mòn các bức tường và con đường trải đá của
Angkor Wat - ngôi chùa lớn nhất và nổi tiếng nhất của di sản này, bởi ý thích và
nguyên vọng là leo lên di tích theo các linh mục đểcử hành các nghi lễ thờ cúng. Ý
thức bảo tồn của mỗi cá nhân là một điều thiết yếu khi đến tham quan, du lịch.
5) Nh ững điều thú v ị v ề quần thể AngKor :
a. Nụ cười Angkor:
Hình ảnh nổi bật nhất của Bayon là những ngọn tháp cao vút ở trung tâm bằng
đá tảng, chạm khắc thành 2, 3 và chung chung là 4 khuôn mặt nhìn bốn hướng.
Kiến trúc của Bayon được xem như có phong cách của trường phái baroque, trong

khi Angkor thuộc phái cổ điển. Sự tương đồng của vô số khuôn mặt khổng lồ ở trên
các tháp của đền Bayon với các bức tượng khác của vua Jayavarman VII khiến
nhiều học giả đi đến kết luận đây chính là khuôn mặt của nhà vua. Người khác thì


×